ĐỀ TÀI "LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ"

Chia sẻ: hoalydoncoi

Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề cơ bản và lớn trong kinh tế vĩ mô. Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp và không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế . Do vậy vấn đề lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế là một đề tài rất hấp dẫn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay vấn đề này càng trở nên cần thiết....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: ĐỀ TÀI "LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ"

KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BỘ MÔN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ




LẠM PHÁT VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ

Giáo viên hướng dẫn : Trương Tuấn Linh.
Sinh viên thực hiện : Tạ Thị Phương Huế
Vũ Thị Thanh Tâm
Nguyễn Thị Kim Tuyến
Cao Hồng Thúy
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nguyễn Thị Như Quỳnh
Triệu Mai Hường
Trần Đức Hồng
Mai Thị Lý




Thái Nguyên, tháng 11, năm 2009
MỤC LỤC


I - LỜI NÓI ĐẦU ......................................................................................................... 3
II - NỘI DUNG.............................................................................................................. 4
1. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ........................................... 4
1.1. Lạm phát là gì ? ............................................................................................... 4
1.2. Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ................... 5
1.3. Nguyên nhân gây lạm phát .............................................................................. 5
1.4. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ........................................ 5
2. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế đối với nước ta và một số nước tư bản........ 7
2.1. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế đối với nước ta .......................................... 7
2.2. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Mỹ ........................................................ 12
2.3. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở ĐỨC ..................................................... 14
2.4. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở ANH ..................................................... 14
3. Ý kiến của một số chuyên gia kinh tế về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam và một số nước trong khu vực và trên thế giới, cùng với
số liệu thống kê ......................................................................................................... 14
3.1 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam ............................................... 14
3.2. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Châu Á và trên thế giới ....................... 23
III - KẾT LUẬN .......................................................................................................... 30
I - LỜI NÓI ĐẦU
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề cơ bản và lớn trong kinh tế vĩ
mô. Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp và
không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế .
Do vậy vấn đề lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế là
một đề tài rất hấp dẫn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội
nhập và phát triển kinh tế hiện nay vấn đề này càng trở nên cần thiết. Nó không
những là một tiêu thức kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị nữa.
Việc xác định mối quan hệ g i ữ a tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã và đang
thu hút sự chú ý của nhiều nhà kinh tế.
Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế mà việc
nghiên cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc biệt
là nền kinh tế thị trường còn non nớt như nền kinh tế ở nước ta. Chúng ta cần phải
tìm hiểu xem lạm phát lá gì ? Do đâu mà có lạm phát ? Tại sao người ta lại quan tâm
đến lạm phát?
Bài viết này sẽ nêu lên một cách có hệ thống các lý thuyết, các bằng chứng thực
nghiệm về lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, thực tại
về vấn đề lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cũng như một số nước ở Châu
Á và các nước tư bản cùng một số quan điểm của các nhà kinh tế về vấn đề này
cũng như đưa ra một số gợi ý về hướng điều tiết vĩ mô của Việt Nam trong thời gian
tới.
II - NỘI DUNG
1. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
1.1. Lạm phát là gì ?
Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát và mỗi quan điểm đều có
sự chắc chắn về luận điểm và những lý luận của mình.
Theo L.V.chandeler, D.C cliner với trường phái lạm phát giá cả thì khẳng
định :lạm phát là sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn , chu kỳ hay đột
xuất.
G.G. Mtrukhin lại cho rằng : Trong đời sống, tổng mức giá cả tăng trước hết
thông qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá và rút cuộc dẫn tới
việc tăng giá cả nói chung. Với ý nghĩa như vậy có thể xem sự mất giá của đồng
tiền là lạm phát. Ông cũng chỉ rõ: lạm phát, đó là hình thức tràn trề tư bản một cách
tiềm tàng ( tự phát hoặc có dụng ý) là sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân thông qua giá cả giữa các khu vực của quá trình tái sản xuất xã hội, các
ngành kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân cư xã hội.
Ở mức bao quát hơn P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn “Kinh tế
học” đã được dịch ra tiếng việt, xuất bản năm 1989 cho rằng lạm phát xẩy ra khi
mức chung của giá cả chi phí tăng lên.
Với luận thuyết “Lạm phát lưu thông tiền tệ “ J.Bondin và M. Friendman lại
cho rằng lạm phát là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá cả tăng lên.
M.Friedman nói “ lạm phát ở mọi lúc moị nơi đều là hiện tượng của lưu thông
tiền tệ. Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu
thông tăng lên nhanh hơn so với sản xuất”
Như vậy, tất cả những luận thuyết, những quan điểm về lạm phát đã nêu trên
đều đưa ra những biểu hiện ở một mặt nào đó của lạm phát, và theo quan điểm của
em về vấn đề này sau khi nghiên cứu một số luận thuyết ở trên thì e m nhận thấy
ở một khía cạnh nào đó của lạm phát thì: khi mà lượng tiền đi vào lưu thông vượt
mức cho phép thì nó dẫn đến lạm phát, đồng tiền bị mất giá so với tất cả các loại
hàng hoá khác.
1.2. Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
- Lạm phát được coi là một hiện tượng tất yếu của các nền kinh tế đang tăng
trưởng trong khi phải đối phó với những mất cân đối mang tính cơ cấu. Các nhà cơ
cấu tin rằng giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đánh đổi lẫn nhau.
Những lỗ lực nhằm kiềm chế lạm phát có xu hướng làm tăng thất nghiệp và gây
ra tình trạng đình trệ sản xuất, và do đó bất lợi cho tăng trưởng kinh tế. Một xã
hội dành ưu tiên cho tăng trưởng thì phải chấp nhận lạm phát đi kèm với nó.
1.3. Nguyên nhân gây lạm phát
 Cung ứng tiền tệ và lạm phát
 Chi tiêu công ăn việc làm cao và lạm phát
 Thâm hụt ngân sách và lạm phát
 Lạm phát theo tỷ giá hối đoái
1.4. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát thường có mối quan hệ nhất định. Lạm
phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội, là hai vấn đề kinh tế trong nền
kinh tế. Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát có mối quan hệ “chế ước” lẫn nhau.
Lạm phát có thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng nó lại là hai vấn đề luôn
tồn tại song song với nhau. Tuy nhiên mức độ gắn kết giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế như thế nào vẫn là vấn đề tranh cãi. Một số nghiên cứu theo lối kinh nghiệm
cho thấy, lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua
một ngưỡng nhất định. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát là phi
tuyến tính.( Lạm phát chỉ tác động tiêu cực lên tăng trưởng khi đạt ngưỡng nhất định
nào đó (threshold).
Ở mức dưới ngưỡng, lạm không nhất thiết tác động tiêu cực lên tăng trưởng,
thậm chí có thể tác động dương như lý thuyết Kyenes đề cập)
Fischer (1993) là người đầu tiên nhiên cứu vấn đề này với kết luận, khi lạm phát
tăng ở mức độ thấp mối quan hệ này có thể không tồn tại , hoặc thậm trí mang tính
đồng biến, và lạm phát ở mức cao mối quan hệ này là nghịch biến. Một số các nhà
Nhiên cứu sau này như Sarel (1996), Gosh và philíp(1998), Shan và Senhadji(2001),
và một số các nhà nghiên cứu khác đã cố gằng tìm ra đặc điểm đặc biệt về mối quan
hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Bằng các nghiên cứu khác nhau họ đã tìm ra
một ngưỡng lạm phát, mà tại ngưỡng đó nếu lạm phát vượt ngưỡng sẽ có tắc động
tiêu cực (tác động ngược chiều) đến tăng trưởng. Sarel ngưỡng lạm phát là 8%,Shan
và Senhadji ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11-12%, các nước
công nghiệp khoảng 1-3%. Gân đây nhất là nghiên cứu của tác giả Khan(2005) đã
tập trung nghiên cứu xác định mức lạm phát tối ưu . Kết quả Khan đã tìm ra mức
lạm phát tối ưu đối với các nước vùng trung đông và trung á là khoảng 3.2%.
Học thuyết kinh tế vĩ mô đã khẳng định, nếu sản lượng thực tế vượt sản lượng
tiềm năng sẽ làm lạm phát gia tăng. Thực tế 2005-2006 lạm phát thế giới gia tăng,
ngoài nguyên nhân giá dầu còn do nền kinh tế nhiều nước phát triển quá nóng.
Lạm phát của Việt Nam gia tăng trong mấy năm gần đây, phái chăng cũng có
chịu ảnh hưởng bởi sự gia tăng sản lượng vuợt mức tiềm năng?. Theo đánh giá của
IMF(2006) về các nguyên nhân làm tăng lạm phát ở Việt Nam , bắt đầu từ năm 2005
có dấu hiệu bởi sự gia tăng sản lượng vượt mức tiềm năng ( những năm trước đó mối
quan hệ này là không nhất quán và không rõ nét).
Sử dụng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, một số nước đã sử
dụng lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu
kinh tế cho rằng, đây là giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng kém
bền vững. Hay còn nói đó là giải pháp tăng trưởng “ bong bóng”.
Xu hướng các nước phát triển chọn giải pháp tăng trưởng kinh tế thực chất, đó
là dựa trên cơ sở giá cả ổn định ở mức thấp. Căn cứ biện luận cho giải pháp này là:
Trong nền kinh tế thị trường, lạm phát ổn định thì tình dự báo được nâng cao. Điều
đó giúp các nhà đầu tư có thể xây dựng được các phương án đầu tư hiệu quả. Đối với
người tiêu dùng thì chi tiêu yên tâm, họ không phải lo cân nhắc các mặt hàng khác
để thay thế do giá tăng. Tất cả điều đó đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thưc
chất. Hiện nay các nước phát triển chọn mức lạm phát gần 2% là mức tối ưu cho
tăng trưởng. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng, lạm phát ổn định chỉ là điều kiện đủ cho
tăng trưởng kinh tế, còn điều kiện cần cho tăng trưởng phải là vấn đề của Chính phủ
trong việc phát triển nguồn lực, vốn và công nghệ kỹ thuật.....
Trong thực tế, không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng không
tránh khỏi lạm phát. Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã trải qua
các cuộc khủnh hoảng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô khác nhau.
Tỷ lệ lạm phát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền lương danh
nghĩa của các công nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ giảm đi. Để
tồn tại các công nhân sẽ tổ chức đấu tranh, bãi công đòi tăng lương và cho sản xuất
trì trệ, đình đốn khiến cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh
tế giảm.Khi nền kinh tế găp khó khăn, suy thoái sẽ làm thâm hụt ngân sách và đó là
điều kiện , nguyên nhân gây ra lạm phát .
Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ g i ả m rất
nhanh, khi đó người dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tệ. Tệ nạn tham nhũng tăng
cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình trạng đầu cơ trái phép tăng nhanh, trốn thuế
và thuế không thu được đã gây ra tình trạng nguồn thu của nhà nước bị tổn hại
2. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế đối với nước ta và một số nước tư bản
2.1. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế đối với nước ta
1. Giai đoạn từ năm 1976 -1980:
Là giai đoạn được coi là không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị
phổ biến trong các nước xã hội chủ nghĩa đương thời và không được phản ánh
trong các thống kê chính thức .Tuy nhiên, trên thực tế ở việt nam khi đó vẵn có lạm
phát, thể hiện ỏ sự khan hiếm hàng hoá ,dịch vụ và sự giảm sút của chúng, đồng
thời được hi nhận trong sự diễn biến gia tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu
dùng trên thị trường xã hội trên dưới 20% trên một năm và đó là lạm phát của nền
kinh tế kém phát triển và đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế , nơi độc quyền
nhà nước còn mang đậm tính chất phi kinh tế và được dung dưỡng bởi các chỉ thị
của nhà nước và tồn tại thống trị phổ biến trong tất cả các lĩnh vực. Vào thời kỳ này
khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 85 - 87% vốn cố định, 95% lao động lành
nghề mà chỉ tạo ra 30 – 37% tổng sản phẩm xã hội. Trong khi đó khu vực kinh tế tư
nhân chỉ chiếm 13,2% sức lao động xã hội và suốt thời kỳ dài trước năm 1986 bị
nhiều sức ép kiềm chế , xong lại sản xuất ra tới 32 – 43% tổng sản phẩm xã hội và
đạt hiệu quả kinh tế cao nhất so với khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã.
Mặt khác lạm phát ở việt nam diễn ra trong suốt nền kinh tế đóng cửa phụ
thuộc nhiều vào nguồn viện trợ bên ngoài.Trên thực tế , trước năm 1988 không
có đầu tư trực tiếp của nước ngoàI vào Việt Nam. Các biên giới đều bị khép lại với
chế độ xuất nhập cảnh cũng như lưu thông hàng hoá rất nghiêm ngặt, phiền phức
.Cơ cấu chủ yếu có tính hướng nội ,khép kín ,thay thế hàng nhập khẩu và không
khuyết khích xuất khẩu . Cùng với chính sách định hướng phát triển và đầu tư có
nhiều bất cập , nên cơ cấu kinh tế việt nam bị mất cân đối và không hợp lý nghiêm
trọng giữa công nghiệp – nông nghiệp , công nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ, nhất là
ngành sản xuất hàng tiêu dùng , giữa sản xuất – dịch vụ .Đó là nguyên nhân dẫn đến
tình trạng khan hiếm hàng hoá, dịch vụ, tăng chi phí sản xuất, thiếu hụt ngân
sách chiền miên , tăng mức cung tiền không tuân theo quy luật lưu thông tiền tệ và
do đó gây ra lạm phát .
2. Giai đoạn 1981-1988
Là thời kỳ từ năm 1981 đến năm 1988: là thời kỳ lạm phát chuyển từ dạng
“ẩn” sang dạng “mở”.Thực tế cho thấy rằng từ năm 1981 đến năm 1988 chỉ số
tăng giá đều trên 100% một năm . Vào năm 1983 và 1984 đã giãm xuống, nhưng
năm 1986 đã tăng vọt tới mức cao nhất là 557% sau đó có giảm. Nhu vậy mức
lạm phát cao và không ổn định . song vấn đề lạm phát chưa được thừa nhận
trong các văn kiện chính thức. Vấn đề này chỉ được quy vào sử lý các khía cạnh
“giá - lương- tiền, mà lại chủ yếu bằng các giải pháp hành chính ,như xem xét và
đIều chỉnh đơn giản giá cả trong khu vực thị trường có tổ chức những năm
1981,1983,1987,và”bù vào giá lương “dổi tiền năm 1985…Đây là thời kì xuất hiện
siêu lạm phát với 3 chữ số kéo dài suốt 3 năm 1986-1988,và đạt đỉnh cao nhất trong
lịch sử kinh tế hiện đại nước ta suốt nửa thế kỉ nay
3. Giai đoạn 1988-1995
Liên tục từ năm 1988, mọi nỗ lực của chính phủ được tập trung vào kiềm chế,
đẩy lùi lạm phát từ mức 3 chữ số xuống còn 1 chữ số. Đây là kết quả của quá trình
đổi mới và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Trong khi lạm phát được kéo xuống thì kinh
tế vẫn tăng trưởng cao và khá ổn định, bình quân hàng năm tăng 7 – 8%.
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát (tỷ lệ %)


Năm 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995

Tăng trưởng 5,1 8,0 5,1 6,0 8,6 8,1 8,8 9,5



Lạm phát 410,9 34,8 67,2 67,4 17,2 5,2 14,4 12,7

Công cuộc chống lạm phát ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào những vấn đề:
Nối lỏng cơ chế kiểm soát giá cả, phi tập trung hóa tiến trình ra các quyết định về
kinh tế, thống nhất điều hành tỷ giá theo quan hệ cung cầu ngoại tệ, khuyến khích
xuất khẩu đồng thời thi hành một chính sách lãi suất thực dương, kết hợp thắt chặt
đúng mức việc cung ứng tiền trung ương. Các giải pháp lúc đầu được tiếp nối với sử
dụng từng bước có hiệu quả các công cụ tài chính đã nhanh chóng đem lại nhiều
thành quả đáng khích lệ trong điều kiện kiểm soát được lạm phát. Cụ thể:
- Lòng tin của dân chúng vào đồng tiền Việt Nam đã từng bước được khôi phục.
Tiền tệ ổn định khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài tăng nhanh. Tích lũy
đầu tư của cả nước năm 1993 bằng 17,6% GDP, tăng đáng kể so với tỷ lệ tích lũy 11
– 12% những năm trước.
- Ta có bảng số liệu sau:




Năm GDP/người Tốc độ Tốc độ Tỷ lệ tích Tỷ lệ để
tăng GDP lũy/GDP dành/GDP
(Tr đồng) tăng tiêu
(%) (%) (%)
dùng (%)

1989 95 8,0 8,1 11,6 7,2


1990 98 5,1 8,3 12,6 -


1991 109 6,0 3,6 15,0 -


1992 131 8,6 5,4 17,6 6,9
Tổng cục thống kê 1994


- Trong tổng số tích lũy năm 1993, tích lũy Nhà nước chiếm 43%, đầu tư trực tiếp nước
ngoài 40%. Tỷ lệ đầu tư nước ngoài này tương đương tỷ lệ đầu tư nước ngoài vào
Singapo một nền kinh tế được coi là mở cửa rộng nhất ở Châu Á hiện nay.
- Tỷ lệ tiền để dành của cả nền kinh tế trên GDP năm 1992 là 6,9%, năm 1993 là 15%
GDP. Đây là một bước ngoặt lớn về tích lũy so với trước đây.
- Năm 1989, khi các cơ sở sản xuất nông nghiệp được phi tập trung hóa và giá nông
sản được thả nổi, cùng với tác động của các yếu tố khác, chỉ trong vòng 1 năm Việt
Nam đã từ chỗ phải nhập khẩu gạo đã trở thành một nước xuất khẩu gạo, thu nhập của
nông dân tăng lên.
Mức độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong năm qua có được là nhờ kinh tế
tăng trưởng cao trong khi lạm phát bị đẩy lùi và bị khống chế ở mức hợp lý. Điều
này trái ngược hẳn với một số quốc gia khi chống lạm phát thường làm kinh tế
suy thoái.
Bên cạnh những thành tựu đạt được cũng nảy sinh nhiều khó khăn mới:
Lạm phát giảm trong điều kiện nhập siêu vốn nước ngoài (chủ yếu là vay nợ) đã làm
cho đồng tiền Việt Nam có xu hướng lên giá so với một số đồng tiền khác, ảnh
hưởng bất lợi đến việc khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài trong khi đó sản xuất trong nước bị chèn ép, cạnh tranh mảnh
bời hàng nhập đặc biệt là hàng nhập lậu. Năm 1992 tỷ lệ hàng tích lũy phải nhập lên
tới 63,7%, tỷ lệ sản phẩm trung gian dùng trong sản xuất phải nhập lên tới 25%.
Cán cân thương mại do đó tiếp tục thâm hụt trong điều kiện đó việc tăng trưởng
kinh tế cao hơn sẽ kích thích lạm phát gia tăng, gây khó khăn cho việc duy trì
thành quả đạt được.Năm 1994, mức lạm phát do quốc hội thông qua là 10% nhưng
do một số nguyên nhân khách quan như giá cả thị trường thế giới tăng ảnh hưởng
đến trong nước, thiên tai, bội chi ngân sách... đã khiến lạm phát vượt mức dự kiến
14,4%. Mức lạm phát năm 1994 tuy không đạt kế hoạch nhưng có yếu tố có thể
chấp nhận được. Nhiều nhà kinh tế cho rằng cần phải xác lập một tỷ lệ nhất định
giữa tăng trưởng và lạm phát. Có ý kiến cho rằng phải kiềm chế lạm phát thấp, ổn
định giá cả để phát triển kinh tế dù ở nhịp độ thấp nhưng ổn định lâu dài (các nước
nhân NICS). Ngược lại có ý kiến lại cho rằng khuyến khích lạm phát mới tạo điều
kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam đang
trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và xuất phát điểm rất thấp so với các nước khác
nên để tránh khỏi tụt
hậu, kinh tế Việt Nam phải đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm. Muốn vậy, Việt
Nam có thể phải duy trì tỷ lệ lạm phát vài năm đầu cao hơn mức tăng trưởng trong nước một
chút, kéo dần xuống những năm sau. Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thả nổi
hoàn toàn lạm phát.
4. Giai đoạn 1996-1999:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1991-1995 là 8,2% và có khả năng tiếp
tục tăng mạnh khi năm 1995 đạt tỷ lệ tăng trưởng 9,5% đã khiến các nhà hoạch định chính
sách nghĩ đến việc phải kiềm chế tốc độ tăng trưởng cao quá đáng và đề ra những giải pháp
cấp bách để kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên từ năm 1996, cụ thể hơn từ 1997, xuất phát từ
nhiều nguyên nhân trong đó có ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu
vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như mức lạm phát của Việt Nam đã liên tục giảm. Đáng
lưu ý là đã có mầm mống xuất hiện hiện tượng giảm phát thông qua chỉ số giá âm ở một
vài tháng trong các năm 1996, 1997 và 1999. Tuy nhiên xét về chung và dài hạn, tuy tốc độ
tăng trưởng có giảm sút song nền kinh tế nước ta vẫn chủ yếu ở xu hướng lạm phát với mức
độ vừa phải, bình quân 6%/năm kể từ 1995-1999.
2.2. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Mỹ
Lạm phát ở Mỹ tăng cao nhất trong 26 năm(2008)
Bộ Lao động Mỹ cho biết giá tiêu dùng tại nước này trong tháng 6 vừa qua đã tăng
với cấp độ cao nhất trong 26 năm, tăng 1,1% so với tháng 5, vì giá năng lượng tăng vọt.
Theo bộ này, chỉ số giá cơ bản, không gồm năng lượng và lương thực đã tăng 0,3%. Trước đó
các nhà phân tích đã dự đoán rằng chỉ số giá tiêu dùng sẽ tăng 0,7% và chỉ số giá cơ bản sẽ
tăng 0,2%.
Mức tăng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng tháng vừa được Bộ Lao động Mỹ đưa ra này là
cao nhất kể từ tháng 6/1982, trong khi chỉ số lạm phát cơ bản cũng tăng mạnh nhất kể từ tháng
1/2008. Lạm phát tại Mỹ đã gia tăng kể từ tháng 5 khi mà chỉ số CPI tăng 0,6% và chỉ số cơ
bản tăng 0,2%
So với 12 tháng trước, chỉ số CPI đã tăng 5% trong tháng 6/2008, mức tăng cao nhất
hàng năm kể từ tháng 5/1991. Chỉ số CPI cơ bản cũng cao hơn so với hồi tháng 6/2007 đến
2,4%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 3/2008.
.
Theo Bộ Lao động Mỹ, giá năng lượng chiếm "đến khoảng 2/3" mức tăng của chỉ số lạm
phát tổng thể, tăng 6,6% trong tháng 6, sau khi đã tăng 4,4% trong tháng 5 và giá lương thực
cũng tăng 0,8%.
Sau hơn một năm, kinh tế Mỹ tăng trưởng trở lại(2009)
Dữ liệu thống kê chính thức cho thấy, kinh tế Mỹ đã tăng trưởng 3,5% trong quý ba – đây là sự
gia tăng đầu tiên của nước này trong hơn một năm qua.




Kinh tế Mỹ tăng trưởng trở lại, nhưng tỉ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao (Ảnh AP)
Tăng trưởng kinh tế trong quý ba cho thấy, Mỹ dường như đã thoát khỏi cuộc suy thoái tồi tệ
xảy ra từ tháng 12/2007.
Nhà phân tích kinh tế Hugh Pym cho hay, mức 3,5% cao hơn dự đoán 3,3% của hầu hết nhà
bình luận. “Đây là tin tức tốt với kinh tế toàn cầu”,
Theo thống kê mà Bộ Thương mại Mỹ đưa ra, một số lĩnh vực đã góp phần vào tăng trưởng
kinh tế trong quý ba. Tiêu dùng vào các sản phẩm sản xuất lâu bền tăng tới 22,3% - mức tăng
cao nhất trong quý kể từ 2001.
Thị trường nhà đất cũng được cải thiện, chi tiêu cho sản phẩm nhà đất tăng 23,4% - mức tăng
quý lớn nhất trong 23 năm qua. Tổng mức tiêu dùng chính phủ tăng 7,9%. Ngoài ra, xuất khẩu
cũng tăng tới 21,4% 0 mức cao nhất kể từ 1996.
2.3. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở ĐỨC
Văn phòng Thống kê Quốc gia Đức (Destatis) cho hay, thâm hụt ngân sách của
nước này trong 9 tháng đầu năm 2008 đã giảm xuống còn 14,6 tỷ euro. Theo
Destatis, thu ngân sách trong thời gian này tăng 3,2%, lên 760,2 tỷ euro, trong khi
chi tiêu ngân sách tưng 2,5%, lên 774,8 tỷ euro.
Destatis cũng cho biết, lạm phát trung bình năm 2008 của Đức dự kiến ở mức 2,6%,
mức hàng năm cao nhất kể kể năm 1994. Lạm phát dadx có lức tăng lên mức đỉnh
điểm 3,3% hồi tháng 6 và 7/08. Tuy nhiên, giá hàng hóa đang có xu hướng giảm sút
nhanh. Kể từ tháng 11/08, lạm phát đã giảm xuống dưới ngưỡng 2% - mức được coi
là có vai trò quan trọng đối với chính sách tiền tệ của Béclin. Sự biến động về lạm
phát ở Đức trong năm 2008 chủ yếu là do những thay đổi về giá dầu mỏ và lương
thực gây ra.
2.4. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở ANH
Tỷ lệ lạm phát ở Anh trong tháng 9/2009 giảm nhiều hơn so với mức dự báo của các
nhà kinh tế, xuống mức thấp nhất trong 5 năm khi sự suy thoái kinh tế tồi tệ nhất
trong hơn thập kỷ xảy đến đã lọc bỏ phần nào áp lực chi phí tăng lên trong nền kinh
tế.
Giá cả tiêu dùng tăng 1.1% từ mức đầu năm, so với 1.6% trong tháng trước(cơ quan
thống kê quốc gia). Dự báo của 31 nhà kinh tế trong cuộc khảo sát của hãng tin
Bloomberg là 1.3%. Giá cả tiêu dùng là không thay đổi cho lần đầu tiên trong tháng
9 kể từ các mức cao kỷ lục bắt đầu năm 1996.
Các nhà làm chính sách của ngân hàng Anh tháng này kẹt giữa kế hoạch chi 175 tỷ
bảng Anh (tương đương 276 tỷ USD) từ hoạt động bơm tiền vào nền kinh tế gần đây
nhằm khuyến khích nền kinh tế tăng trưởng trở lại sau khi co lại trong 5 quý.
“ Các áp lực thất nghiệp, lạm phát cao là dịu lại”( Alan Clarke- nhà kinh tế của tập
đoàn BNP Paribas SA ở Luân Đôn nhận định).


3. Ý kiến của một số chuyên gia kinh tế về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam và một số nước trong khu vực và trên thế giới, cùng
với số liệu thống kê
3.1 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Lạm phát cao của Việt Nam đã kéo dài trong mấy năm - Ảnh: Getty Images
Đầu năm 2008, khi lạm phát “lồng lên”, Chính phủ đã chuyển mục tiêu ưu tiên
từ tăng trưởng kinh tế sang kiềm chế lạm phát và đã đạt được kết quả tích cực là lạm
phát đã được chặn đứng. Nhưng từ cuối năm 2008 đến nay, do hiệu ứng phụ của việc
kiềm chế lạm phát ở trong nước và tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã giảm mạnh vào quý 4
năm trước và rơi xuống “đáy” vào quý 1 năm nay (tăng 3,1%).
Đứng trước tình hình trên, Chính phủ đã chuyển mạnh mục tiêu ưu tiên từ
kiềm chế lạm phát sang ngăn chặn suy giảm kinh tế, tăng trưởng kinh tế hợp lý. Kết
quả tăng trưởng kinh tế từ quý 2 đã thoát đáy, vượt dốc đi lên (tăng 4,5%), quý 3
tăng, quý 4 sẽ tăng cao hơn và cả năm có thể đạt và vượt mục tiêu điều chỉnh 5%.
Trước hết hãy xem xét riêng từng mục tiêu. Tăng trưởng kinh tế về lâu dài
trong nhiều năm qua cũng như trong nhiều năm tới đều có tầm quan trọng hàng đầu,
do điểm xuất phát của Việt Nam còn rất thấp, khi GDP bình quân đầu người tính
bằng USD còn thấp.




Nếu xét riêng về con số GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 1.034 USD so
với chuẩn cũ, thì có thể Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước kém phát triển, nhưng nếu
loại trừ yếu tố trượt giá thì còn thấp và nếu xét về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, trình
độ công nghệ, trình độ người lao động,... thì vẫn còn nhiều việc phải làm để vượt
lên. Để đạt được điều đó phải dựa trên tăng trưởng kinh tế, tăng tích luỹ và đầu tư.
Đối với Việt Nam, kiềm chế lạm phát cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì
bốn lý do.
Một, thu nhập bình quân đầu người cũng như sức mua có khả năng thanh toán
của người dân còn thấp, trong khi nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các nước có
nền kinh tế chuyển đổi thường tăng nhanh hơn.
Hai, tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh và tính theo chuẩn nghèo của Việt Nam chỉ còn
trên một phần mười, nhưng nếu tính theo chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới vẫn
còn tới trên một phần năm dân số.
Ba, lạm phát cao của Việt Nam đã kéo dài trong mấy năm (nếu tính bình quân
năm nay so với năm trước, thì năm 2004 tăng 7,8%, năm 2005 tăng 8,3%, năm 2006
tăng 7,5%, năm 2007 tăng 8,3%, năm 2008 tăng 22,97%, khả năng năm nay cũng
vẫn còn tăng ở mức trên dưới 7,5%, tuy thấp hơn tốc độ tăng của mấy năm trước,
nhưng mặt bằng giá thì vẫn cao lên).
Bốn, năm nay giá tiêu dùng tính theo năm dương lịch có thể không cao (có thể
chỉ vào khoảng 7%), nhưng chủ yếu do giá lương thực giảm, giá thực phẩm tăng
thấp; lạm phát tuy chưa đến ngay, nhưng đang có xu hướng cao lên.
Xét trong mối quan hệ giữa hai mục tiêu, nếu ưu tiên tăng trưởng, thì đầu tư gia
tăng, tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP sẽ cao, trong khi hiệu quả đầu tư giảm; tốc độ tăng
trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán cao gấp 5-6 lần tốc độ tăng GDP
(gấp hơn hai lần các nước trong khu vực...) thì lạm phát sẽ gia tăng. Đó là chưa nói
tới ở đầu ra, cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu cũng tăng cao hơn tạo sức ép đối
với lạm phát.
Nếu ưu tiên kiềm chế lạm phát (thấp hơn tốc độ tăng GDP chẳng hạn), thì tăng
trưởng kinh tế sẽ không cao hơn, bởi tăng trưởng kinh tế mới vừa thoát đáy, còn
đang leo dốc (chưa thể nói hồi phục), trong khi tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phần
lớn vào đầu tư.
Dung hoà các mối quan hệ trên, có thể đưa ra kịch bản cho năm 2010 so với
năm 2009 là tăng trưởng kinh tế cao hơn (khoảng 6-6,5%), đồng thời lạm phát cũng
phải thấp hơn (dưới 7%); nếu việc kiềm chế lạm phát là khó khăn, thì có thể chấp
nhận tốc độ tăng trưởng thấp hơn (khoảng 6%), vừa để cơ cấu lại nền kinh tế, vừa
kiềm chế lạm phát.
Theo đánh giá của chính phủ cũng như các chuyên gia kinh tế năm 2009 sẽ đi
vào ổn định và năm 2010 sẽ tiếp tục lấy lại đà tăng trưởng. Tuy nhiên, trong tất
cả mọi dự đoán phát triển kinh tế, lạm phát luôn là yếu tố được cảnh báo đầu
tiên và nỗi lo thường trực cho mọi kịch bản phát triển. 2008 kéo lùi thành qủa
hai năm trước
Năm 2008 là thời điểm đánh giá nửa chặng đường thực hiện kế hoạch kinh tế
2006 - 2010. Tuy nhiên, thời điểm đánh giá cũng là lúc nền kinh tế gặp những khó
khăn do lạm phát cũng như tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tốc độ
phát triển kinh tế không những không đạt như kỳ vọng mà sự giảm sút còn trở thành
nhân tố kéo tụt thành quả đã đạt được của hai năm trước đó.
Số liệu thống kê của Bộ KH-ĐT cho thấy, trong hai năm 2006 - 2007, tốc độ
tăng trưởng GDP đạt cao hơn, năm 2006 tăng 8,23%, năm 2007 là 8,4%. Tuy nhiên,
năm 2008 do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu và khó khăn kinh tế trong nước
nên mức tăng trưởng chậm lại và dự đoán cả năm chỉ ở mức ở mức 6,5 – 7%.
Với tốc độ của năm 2008, bình quân tốc độ tăng trưởng GDP cả 3 năm 2006 -
2008 dự kiến chỉ đạt 7,8%/năm so với kế hoạch đề ra là 7,5 – 8% cho cả giai đoạn.
Tuy vẫn nhằm trong khoảng chỉ tiêu đề ra nhưng rõ ràng, tốc độ tăng trưởng cao của
những năm trước đã không được duy trì và thậm chí bị kéo chậm lại do sự sụt giảm
mạnh trong năm 2008.
Trong một số ngành cụ thể nhất là công nghiệp, xây dựng đã có sự suy giảm
mạnh. Giá trị sản xuất công nghiệp 2008 dự kiến chỉ ở mức 16,2% và giá trị gia tăng
chỉ còn 9,4 - 9,6%. Đáng chú ý, giá trị gia tăng trong ngành xây dựng còn bị giảm
nên giá trị gia tăng chung của công nghiệp và xây dựng cả năm 2008 chỉ ở mức 7,3 –
7,5%. Đây được đánh giá là mức thấp nhất trong vòng 17 năm qua.
Năm 2008 là thời điểm đánh giá nửa chặng đường thực hiện kế hoạch kinh tế
2006 - 2010. Tuy nhiên, thời điểm đánh giá cũng là lúc nền kinh tế gặp những khó
khăn do lạm phát cũng như tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tốc độ
phát triển kinh tế không những không đạt như kỳ vọng mà sự giảm sút còn trở thành
nhân tố kéo tụt thành quả đã đạt được của hai năm trước đó.




Ngành xây dựng tăng trưởng âm trong năm 2008. (Ảnh:
VNN)
2009: ám ảnh lạm phát
Theo nhận định của Bộ KH-ĐT, năm 2009, Việt Nam sẽ tiếp tục gánh chịu những
khó khăn từ khủng hoảng tài chính Mỹ đang lan rộng ra toàn cầu. Điều này khiến
cho kinh tế toàn cầu tiếp tục sụt giảm, ảnh hưởng đến hầu hết các nền kinh tế trong
đó có Việt Nam, nhất là các lĩnh vực xuất khẩu, đầu tư...
Trong nước, nền kinh tế sẽ tiếp tục gánh chịu ảnh hưởng lạm phát cao từ năm 2008,
các cân đối vĩ mô chưa ổn định, sức cạnh tranh nền kinh tế thấp, các DN khó khăn
do lạm phát, hoạt động tài chính ngân hàng còn nhiều rủi ro … sẽ ảnh hưởng rất bất
lợi đến việc duy trì tăng trường kinh tế cao cho năm 2009 và năm tiếp theo trong kế
hoạch 2006 – 2010.
Lạm phát vẫn là nguy cơ đe dọa kinh tế trong những năm
tiếp theo. (Ảnh: truong cuong)
Nhiều chuyên gia cho rằng, năm 2009 và cả phần nào 2010 kinh tế Việt Nam sẽ
bước vào giai đoạn phục hồi. Xu hướng hy vọng nhất là kinh tế sẽ ổn định trong
2009 và 2010 sẽ lấy lại được đà phát triển Vì thế, nhiều chuyên gia dự đoán,
tăng trưởng kinh tế 2009 có thể chỉ dừng lại ở mức 6,5% và cố gắng đạt 7,4 -
8% vào 2010.
Trong định hướng phát triển cho 2 năm 2009 - 2010, lạm phát vẫn là yếu tố đầu tiên
được tính đến. Vì thế, các chuyên gia đã đề xuất, Việt Nam vẫn tiếp tục ưu tiên kiếm
chế lạm phát theo hướng giảm dần, đến 2010 đưa lạm phát xuống 1 con số, ổn định
kinh tế vĩ mô và duy trì tăng trường kinh tế ở mức hợp lý. Tốc độ tăng trưởng GDP
trung bình 2009 - 2010 được kỳ vọng là trên 7%.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến kinh tế tăng trưởng 7% và giữ lạm phát dưới 15%
trong năm 2009, song nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, nên đặt mục tiêu thấp hơn
một chút, thậm chí có thể dưới 6%..
> 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn
Báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm qua về tình hình kinh tế - xã hội
năm 2008 và kế hoạch 2009, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc cho biết,
mục tiêu của Chính phủ vẫn là kiềm chế lạm phát trong năm tới và dần đưa tỷ lệ lạm
phát xuống dưới 10% vào 2010.
Bộ đã vạch ra 3 kịch bản tăng trưởng cho năm 2009. Với điều kiện giá các mặt hàng
đầu vào không có đột biến lớn, khó khăn của hệ thống tài chính quốc tế bước đầu
được khắc phục, và những giải pháp của Chính phủ có tác động tích cực đến kinh tế
vĩ mô, tăng trưởng GDP sẽ vào khoảng 7%.Nếu tình hình kinh tế thế giới và trong
nước diễn biến lạc quan hơn, mục tiêu sẽ là 7,5%, trong đó công nghiệp và xây dựng
tăng 8,5%. Riêng trong trường hợp hệ thống tài chính chưa chuyển biến, lạm phát
toàn cầu tiếp tục leo thang, khiến giá cả đầu vào và lãi suất tiếp tục đi lên, GDP sẽ
tăng 6,5%.Người đứng đầu ngành kế hoạch và đầu tư đề xuất, Việt Nam nên chọn
kịch bản tăng trưởng 7% cho năm 2009. ""Phương án này phù hợp với xu thế phát
triển, tốc độ tăng trưởng năm 2009 bằng hoặc cao hơn năm 2008, có căn cứ thực tiễn
trong việc kiềm chế lạm phát trong thời gian qua", ông Võ Hồng Phúc lý giải. Theo
ông, khi lạm phát được kiềm chế và kinh tế vĩ mô ổn định hơn, Việt Nam sẽ tính đến
mức GDP cao hơn.




Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, năm 2009 vẫn nên tập
trung cho kiềm chế lạm phát, tạo cơ sở để đưa mức tăng CPI
xuống dưới 10% vào 2010. Ảnh: Hoàng Hà
Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng với dự báo lạm phát năm 2009 vẫn ở mức cao, các
doanh nghiệp tiếp tục khó khăn do tác động của tăng giá, và hệ thống tài chính vẫn
nhiều rủi ro. Mặt khác, dự báo của các tổ chức trong và ngoài nước đều cho thấy,
kinh tế thế giới có thể còn khó khăn hơn và ít có khả năng phục hồi vào cuối năm
2009 như dự báo trước đây.
Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cũng nhận định, việc kiềm chế lạm phát và ổn định
kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong năm 2008 đã có kết quả bước đầu.
Trong tháng 9 vừa qua, tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) ở mức thấp nhất kể từ đầu
năm (0,18%), và dự báo CPI cả năm vào khoảng 24%.
Tỷ giá ngoại tệ cũng đã giảm mạnh so với đỉnh điểm trong tháng 6 vừa qua, khi ấy
có thời điểm mỗi USD đổi được 19.000 VND. Ngoài ra, ngân sách nhà nước, cán
cân thanh toán quốc tế tương đối ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng lên, nhập siêu giảm và
nợ nước ngoài ở mức cho phép. Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP trong năm sẽ ở mức
6,5-7%, như chỉ tiêu đã được Quốc hội chấp thuận điều chỉnh.
Tuy nhiên, tăng trưởng của ngành công nghiệp năm nay giảm mạnh, trong đó 9
tháng đầu năm đạt 7,09%, so với cùng kỳ năm ngoái là 9,88%. Nhập siêu trong vài
tháng gần đây đã giảm dần, song tính chung 3 quý đầu năm vẫn chiếm 32,5% kim
ngạch xuất nhập khẩu.
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm nay dự kiến đạt trên 1.000 USD,
gần chạm tới mục tiêu của năm 2010 là 1.050-1.100 USD. Theo Bộ trưởng Võ Hồng
Phúc, cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm và khó đạt được mục tiêu của kế hoạch 5
năm 2006-2010.
Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Việt Nam nên đặt mục tiêu tăng trưởng cho
năm 2009 thấp hơn, ở mức 6,5-7%.
Thậm chí, một số thành viên của Ủy ban đã đề xuất lựa chọn tốc độ tăng GDP trên
dưới 6%.
Ông Hà Văn Hiền, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, cho rằng, năm 2009 vẫn nên tập
trung cho kiềm chế lạm phát, để đưa tỷ lệ tăng CPI xuống dưới 10% vào năm 2010.
"Lạm phát được kiềm chế sẽ là điều kiện để đảm bảo duy trì tăng trưởng trong cả
trung và dài hạn", ông Hà Văn Hiền phân tích.
Theo các thành viên của Ủy ban Kinh tế, tăng trưởng của năm 2008 vẫn có khả
năng không đạt 7%, bởi 3 quý đầu năm tốc độ tăng GDP mới là 6,52%. Trong
khi đó, tình hình kinh tế thế giới diễn biến xấu đang tác động tiêu cực đến Việt
Nam, khiến xuất khẩu giảm sút và gây khó khăn cho cán cân thanh toán. Ông Hà
Văn Hiền nói thêm, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khó lường, mục tiêu 6,5-7% phù
hợp hơn với mục tiêu điều hành linh hoạt kiềm chế lạm phát và vẫn giữ tăng trưởng
kinh tế.
Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển cũng
cho rằng, mục tiêu 6,5-7% là khả thi. "Năm 2009 có thể là điểm rơi của quá trình
Việt Nam chịu lạm phát, cùng lúc với độ trễ của chính sách tiền tệ, khiến tăng trưởng
kinh tế chịu ảnh hưởng", ông Hiển phân tích. Đây là chưa kể đến khả năng nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), gián tiếp (FII) cũng như cán cân thanh toán
quốc tế của Việt Nam có thể còn khó khăn, ông Hiển nói thêm.
Ngày mai Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục thảo luận trước khi quyết định có
chấp thuận trình phương án về kinh tế - xã hội do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất lên
Quốc hội vào kỳ họp khai mạc tuần tới.
Chỉ tiêu GDP và CPI theo đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) và Ủy ban
Kinh tế (UB) của Quốc hội:
Mục tiêu 2009
Chỉ tiêu Dự báo 2008
MPI đề xuất UB đề xuất
GDP 6,5-7% 7% 6,5-7%
CPI 24% dưới 15% dưới 15%
Ngọc Châu
. Lạm phát chạm ngưỡng 20%, Chính phủ giảm mục tiêu tăng trưởng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 tăng gần 4%, nâng CPI 5 tháng đầu năm lên mức
cao nhất trong vòng 12 năm qua, đạt 15,96%. Lạm phát tăng cao, Quốc hội đã nhất
trí hạ chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8,5 - 9% xuống còn 7%.
Và cũng nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và những khó khăn trong nước, Chính
phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp, đến nay đã đạt kết quả bước đầu quan trọng.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 6,23%, GDP bình quân đầu người lần đầu tiên
vượt mốc 1.000 USD, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 65 tỷ USD, cao nhất trong 10
năm qua.
Lạm phát được kiềm chế nhưng vẫn ở mức cao. Giá tiêu dùng tháng 12/2008 so với
tháng 12/2007 tăng 19,89% và giá tiêu dùng bình quân năm 2008 so với năm 2007
tăng 22,97%. Nhìn lại năm qua, giá tiêu dùng diễn biến phức tạp, khác thường so với
xu hướng giá tiêu cùng các năm trước.
3.2. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Châu Á và trên thế giới
3.2.1 . Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Châu Á
Dự báo tốc độ phát triển GDP và tỷ lệ lạm phát ở Đông Á, năm 2007 và 2008


Nước / Lãnh thổ Tốc độ phát triển GDP Tỷ lệ lạm phát
2006 2007 2008 2006 2007 2008
Trung Quốc 11.1 11.5 10.6 3.2 3.4 3.2
Hàn Quốc 5.0 4.9 5.0 -0.4 1.6 2.5
Đài Loan 4.9 5.4 4.4 -1.0 0.2 0.8
Hồng Kông 6.8 6.0 5.3 -0.1 2.1 2.4
Singapore 7.9 7.9 6.6 0.2 2.5 2.2
Các nước NIEs ở châu Á 5.5 5.4 5.0 -0.5 1.4 2.1
Indonesia 5.5 6.2 6.4 13.7 6.7 6.6
Thái Lan 5.0 4.6 5.0 5.0 4.2 4.0
Malaysia 5.9 5.7 5.8 4.6 2.2 2.4
Philippine 5.5 6.7 6.3 5.2 2.9 3.3
Việt Nam 8.2 8.4 8.7 7.3 8.6 8.1
5 nước ASEAN 5.6 6.0 6.1 8.5 5.0 5.0
10 nền kinh tế châu Á 8.4 8.7 8.2 3.0 3.1 3.2
(số liệu lạm phát 2007 cập nhật tới tháng 10/2007)




Năm 2009, kinh tế châu Á sẽ tăng trưởng tốt
(CafeF) - Những chuyên gia kinh tế bi quan đã đưa ra dự đoán u ám cho năm 2009.
Thực tế, châu Á mạnh hơn rất nhiều, năm 2009, kinh tế châu Á vẫn tăng trưởng, lạm
phát giảm.




Bao lâu nay, những nền kinh tế mới nổi tại châu Á năng động nhất thế giới,
tăng trưởng GDP của châu Á đứng ở mức 7,5% trong suốt thập kỷ qua, cao gấp 2,5
lần so với phần còn lại của thế giới.
Trong năm 2008, châu Á đã phải chịu tác động từ nhiều yếu tố: kinh tế đi
xuống, tín dụng thắt chặt tại các nước giàu, giá năng lượng và lạm phát tăng vọt. Đây
là vấn đề lớn đối với những nước xuất khẩu hàng hoá và cần tiêu thụ nhiều năng
lượng.
Nhiều người cho rằng vấn đề trên sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng tăng
trưởng kinh tế châu Á.
Những chuyên gia kinh tế bi quan đã đưa ra dự đoán sai cho năm 2009.
Thực tế, châu Á mạnh hơn rất nhiều.
Những nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu của châu Á hưởng lợi hơn bất kỳ
khu vực nào từ việc tiêu dùng người Mỹ bùng nổ. Lĩnh vực sản xuất cho đến nay
chịu tác động tiêu cực từ việc nhu cầu của người Mỹ đi xuống.
Xuất khẩu hàng sang Mỹ sẽ tiếp tục giảm trong năm 2009. Thị trường châu
Âu cũng giảm tiêu thụ hàng, đây cũng không phải là yếu tố tích cực đối với kinh tế
châu Á.
Tỷ lệ lạm phát tại những nước mới nổi châu Á từ năm 2001 đến năm 2008 và
dự báo năm 2009
Thị trường Mỹ và Tây Âu chỉ tiêu thụ khoảng 30% tổng lượng hàng xuất khẩu
của châu Á. Khoảng một nửa hàng xuất khẩu của Trung Quốc đi vào thị trường các
nước mới nổi và nhu cầu của thị trường này vẫn rất cao.
Khắp nơi, tiêu dùng của người dân và đầu tư vào cơ sở hạ tầng vẫn ở mức cao
và sẽ bù lại cho việc lĩnh vực xuất khẩu đi xuống. Doanh số hàng bán lẻ của Trung
Quốc có thể tăng tới 15% trong năm 2009.
Một số nền kinh tế nhỏ hơn như Singapore và Hồng Kông chịu tác động
mạnh hơn, xuất khẩu hàng sang Mỹ chiếm tới 20% đến 30% GDP (trong khi tỷ lệ
này tại Trung Quốc là 8%). Chắc chắn hai nền kinh tế này sẽ chịu rất nhiều ảnh
hưởng.
Ngoại lệ khác là Hàn Quốc, các ngân hàng vay tiền từ nước ngoài khá nhiều
để cho các hộ gia đình và doanh nghiệp vay tiền. Không giống như nhiều nền kinh tế
châu Á khác, thâm hụt tài khoản vãng lai của Hàn Quốc rất lớn. Hậu quả là nền kinh
tế nước này sẽ phải chịu ảnh hưởng của việc thắt chặt tín dụng.
Tình hình kinh tế hiện nay và dự đoán cho năm 2009
Nhìn chung kinh tế châu Á hiện nay không thật sự vượt trội so với cách đây 1
thâp kỷ, nhưng tốt hơn so với nhiều nền kinh tế mới nổi khác tại Đông Âu hay châu
Mỹ Latinh. Trung Quốc, nước chiếm tới 1/3 tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm
2008, sẽ tiếp tục là yếu tố hỗ trợ với nền kinh tế khu vực.
Thị trường chứng khoán châu Á năm 2008 biến động mạnh, tuy nhiên nhiều
nước châu Á đã tránh được áp lực tài chính gây nhiều hậu quả tiêu cục đối với các
nền kinh tế phương Tây.
Tỷ lệ nợ trong lĩnh vực tư nhân thấp, các ngân hàng không nắm giữ quá nhiều
tài sản có độ rủi ro cao và tỷ lệ phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài đã thấp hơn
trước đây rất nhiều.
Tăng trưởng kinh tế tại nước châu Á mới nổi sẽ chững lại chứ không suy giảm
trong năm 2009. GDP tăng trung bình khoảng dưới 7%. Mức tăng trưởng này thấp
hơn nhiều so với mức 9% của năm 2007. Tăng trưởng kinh tế chững lại và phụ thuộc
nhiều hơn vào nhu cầu nội địa.
Nếu việc suy thoái kinh tế toàn cầu có thể khiến chính phủ các nước châu Á
chuyển trọng tâm tăng trưởng từ xuất khẩu sang phát triển tăng trưởng nội địa, tăng
trưởng kinh tế khu vực sẽ bền vững hơn rất nhiều.
Nếu nhu cầu nội địa đi xuống, một số nước như Trung Quốc, Hồng Kông và
Singapore với tiềm lực tài chính tốt sẽ có thể hỗ trợ nền kinh tế bằng việc chi tiêu
nhiều hơn hoặc giảm thuế cho người dân. Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách của Ấn Độ
ở mức 8% GDP sẽ không cho phép nước này tiến hành tương tự.


Tin tức tốt lành nhất là lạm phát sẽ giảm bớt trong năm 2009.
Tỷ lệ lạm phát của khu vực châu Á là 8% vào thời điểm giữa năm 2008, cao
hơn nhiều so với mức trung bình 2,8% từ năm 2000. Tỷ lệ lạm phát của Trung
Quốc đã có lúc lên mức cao nhất trong 12 năm, lạm phát của Singapore và Malaysia
cao nhất trong ¼ thế kỷ.
3.2.2. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở một số nước tư bản trên thế giới
3.2.2. 1. Đối với Mỹ
Quý 3/2009, kinh tế Mỹ tăng trưởng 3,5%, vượt dự báo của các chuyên gia.
Quý tăng trưởng này chấm dứt thời kỳ 4 quý tăng trưởng âm liên tiếp.
Tiêu dùng các hộ gia đình quý 3/2009 tăng trưởng 3,4%, mức tăng mạnh nhất trong
2 năm.
Quý 3/2009, xây dựng nhà ở tăng trưởng 23% (tính theo trung bình năm) và như vậy
đây là mức tăng trưởng mạnh nhất của lĩnh vực này tính từ năm 1986. Xây dựng hồi
phục đóng góp 0,5% tăng trưởng GDP.
Hoạt động xây dựng nhà hồi phục khi doanh số tăng, nguyên nhân chính nhờ chương
trình tín dụng thuế 8 nghìn USD dành cho người mua nhà lần đầu và việc FED mua
chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp giúp hạ lãi suất cho vay.
Tổng lượng hàng tồn kho quý vừa qua tiếp tục giảm, điều này khiến thị trường dự
đoán sản xuất các nhà máy sẽ tiếp tục tăng trưởng.
Kinh tế Mỹ quý 4/2009 được dự báo tăng trưởng 2,4%. Năm 2010 và năm 2011,
mức độ tăng trưởng được dự báo là 2,4% và 2,8%.
Tăng trưởng GDP Mỹ từ quý 4/2007đến hết quý 3/2009 (Nguồn: CNNMoney)




3.2.2.2. Đối với nước Úc
Theo dự báo mới nhất của chính phủ Úc, thâm hụt ngân sách của nước này trong
khoảng thời gian 12 tháng kết thúc ngày 30/06/2010 sẽ là 57,7 tỷ đô la Úc tương
đương 51,8 tỷ USD.
Kinh tế Úc hiện đang tăng trưởng nhanh hơn dự báo của các chuyên gia và tạo ra
được nhiều việc làm hơn dự đoán.
Kinh tế dự kiến sẽ tăng trưởng 1,5%,dự báo trước đó là tăng trưởng âm 0,5%.
Đồng đô la Úc tăng giá sau tuyên bố của Chủ tịch Ngân hàng Trung ương. Đồng
đôla Úc giao dịch với đồng USD ở mức 90,12cent/đôla Úc từ mức 89,91cent/đôla
Úc.
Kinh tế Úc bất ngờ tăng trưởng trong quý 2/2009 với tốc độ mạnh nhất trong hơn 1
năm. Kinh tế Úc quý 2/2009 tăng trưởng 0,6% so với quý 1/2009.
Tăng trưởng chủ yếu bắt nguồn từ tiêu dùng của người dân và chính phủ, trong đó có
kế hoạch chi tiêu 22 tỷ đôla Úc vào đường sá, đường xe lửa và trường học.
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong tuần trước khẳng định lại dự báo kinh tế Úc sẽ tăng
trưởng 0,7% trong năm lịch 2009 và 2% trong năm lịch 2010.
Tỷ lệ lạm phát năm tài khóa hiện tại được dự báo là 2,25%, đúng theo mức mục tiêu
2% đến 3% của Ngân hàng Trung ương. Tỷ lệ lạm phát năm 2010 và năm 2011 được
dự báo tương tự.
Chỉ số giá tiêu dùng quý 3/2009 tăng 1,3% so với 1 năm trước
3.2.2.3. Với Nhật
Theo dự báo, giá nhiên liệu và thực phẩm tăng sẽ khiến tỷ lệ lạm phát của Nhật
- ở mức 0,9% trong tháng 4 - lên tới mức 1,5% hoặc thậm chí là 2% vào cuối năm
nay. Mặc dù vậy, có thể nói, vấn đề lạm phát tại Nhật Bản ít trầm trọng hơn so với ở
các quốc gia phát triển khác trên thế giới như khu vực sử dụng đồng Euro - nơi lạm
phát đã lên tới 3,6% trong tháng 5.
Do đó, tăng trưởng chậm chạp hiện vẫn là mối lo trước mắt của BoJ, đặc biệt
khi giá nguyên vật liệu cao “làm khó” cho khu vực doanh nghiệp - động lực chính
của nền kinh tế nước này.
“Rủi ro kinh tế Nhật rơi vào tình trạng lạm phát đình đốn đang gia tăng cùng với
sự leo thang của lạm phát và tăng trưởng chậm lại




Tỷ lệ lạm phát của 5 thành viên chính của G8 từ 1950 tới 1994
Hồng là Pháp, Lục là Đức, Xám là Nhật Bản, Đỏ là Anh và Lam là Mỹ.
Pháp
Đức
Nhật Bản
Anh
Hoa Kỳ
Được Jeremy Kemp thực hiện bằng Adobe Illustrator, ngày 1 tháng 3 năm 2005
III - KẾT LUẬN
Lạm phát và tăng trường kinh tế là hai vấn đề có quan hệ rất chặt chẽ, phức tạp.
Lạm phát có thể là động lực thúc đẩy kinh tế ngược lại cũng có thể là tác nhân kìm
hãm sự phát triển kinh tế thậm chí . Vì vậy cần chú trọng sự cân đối, mối quan hệ
hài hoà giữa hai vấn đề này ,chỉ có vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững của
Viêt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay. Trong những năm vừa qua Việt Nam
đã đạt được những thành tựu nhất định về kinh tế đó cũng là nhờ một phần đóng
góp của các chính sách điều chỉnh tỉ lệ lạm phát hợp lí. Tuy nhiên những bất ổn sự
mất cân đối giữa lạm phát trong một số thời gian là dấu hiệu để chúng ta cần
điều chỉnh và đưa ra những chính sách có hiệu quả. Hiểu rõ và giải quyết được tốt
vấn đề này sẽ góp phần không nhỏ cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế ở
nước.
Tài liệu tham khảo
1. Lý thuyết lạm phát, giảm phát và thực tiễn ở Việt Nam.
Tập thể tác giả:PTS:Nguyễn Minh Phong,TS:Võ Đại Lược,TS:Nguyễn Thị
Hiền, Và một số tác giả khác.
2. Giáo trình KTVM – DHKTQD
3. Giáo trình Lý Thuyết Tài chính Tiền Tệ


4. Tạp chí Thông tin kinh tế


5. Tạp chí Thông tin tài chính


6. Tạp chí Phát triển kinh tế
7. Tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc- Khoa Kinh tế- Đại học Mở
TPHCM
Và tại một số website:
http://tintuc.xalo.vn
http://www.fpts.com.vn/vn
http://vi.wikipedia.org
http://news.sanotc.com
http://www.vneconomy.vn
http://www.baomoi.com
http://www.tin247.com
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản