Đề tài “Một số vấn đề về xuất khẩu gạo của Việt Nam”

Chia sẻ: nhaquantritaiba

Trong xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá, mỗi nước đều chọn cho mình một hướng đi thích hợp để cùng tiến tới một mục tiêu kinh tế là: ổn định và phát triển lâu dài nền kinh tế. Một hướng đi mà nhiều nước lựa chọn là “Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”. Xét vềđiều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay còn kém so với các nước trong khu vực, do đóđể tránh nguy cơ tụt hậu thì Việt Nam cần phải hoàn thành công cuộc CNH-HĐH đất nước. Việt Nam là một nước nông nghiệp,...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài “Một số vấn đề về xuất khẩu gạo của Việt Nam”

Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân




Đề tài
“Một số vấn đề về xuất khẩu
gạo của Việt Nam”




1
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân




MỤC LỤC


MỞĐẦU ................................ ................................ ................................ ................................ ........... 3
Chương 1 ................................ ................................ ................................ ................................ ......... 3
1.1. Về tự nhiên. ................................ ................................ ................................ ............................. 3
1.2. Về lao động. ................................ ................................ ................................ .............................. 5
1.3. Về kết cấu hạ tầng. ................................ ................................ ................................ .................... 5
1.4. Về thể chế, chính sách. ................................ ................................ ................................ .............. 6
1.5. Mức tiêu thụ gạo của thế giới................................. ................................ ................................ ... 6
Chương 2 ................................ ................................ ................................ ................................ ......... 9
2.1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo. ................................ ................................ ..................... 9
2.2. Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam. ................................ ................................ ...................13
2.3. Khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới ................................. ..............17
2.4. Hệ thống tổ chức xuất khẩu gạo. ................................ ................................ .............................. 23
2.5. Đánh giá về hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam thời gian qua. ................................ ...........25
Chương 3 ................................ ................................ ................................ ................................ ........29
MỘTSỐGIẢIPHÁPNÂNGCAOHIỆUQUẢ ................................ ................................ ............29
HOẠTĐỘNGXUẤTKHẨUGẠOCỦA VIỆTNAM. ................................ ................................ 29
3.1. Dự báo thị trường gạo thế giới đến năm 2010. ................................ ................................ .........29
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo của Việt nam. ............................ 31
KẾTLUẬN................................ ................................ ................................ ................................ .........36
Tài liệu tham khảo................................ ................................ ................................ .......................... 37




2
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

MỞĐẦU
Trong xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá, mỗi nước đều chọn cho mình một hướng đi thích hợp
để cùng tiến tới một mục tiêu kinh tế là: ổn định và phát triển lâu dài nền kinh tế. Một hướng đi mà
nhiều nước lựa chọn là “Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”. Xét vềđiều kiện kinh tế Việt Nam
hiện nay còn kém so với các nước trong khu vực, do đóđể tránh nguy cơ tụt hậu thì Việt Nam cầ n
phải hoà n thành công cuộc CNH-HĐH đất nước. Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới hơ n
80% dân số làm việc trong ngành này, do đó hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ngoài dầu mỏ và
than thì chủ yếu là hàng nông sản trong đó mặt hàng gạo chiếm tỷ trọng lớn nhất của Việt Nam. Và
nă m 1997 Việt Nam đãđứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu
hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam để từđóđề ra những giải pháp thích hợp nhằ m đẩy mạ nh hoạt
động xuất khẩu gạo ở Việt Nam trong thời gian tới là hết sức cần thiết.


Xuất phát từ thực tiễn đó tôi chọn đề tài Khoá Luận Tốt Nghiệp của mình là: “Một số vấn
đề về xuất khẩu gạo của Việt Nam”.

Ngoài phầ n mởđầu và kết luậ n, nội dung khoá luận gồm 3 chương:

Chương 1: Lợi thế vàđiều kiện phát triển sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng của xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những năm gần đây.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Do trình độ và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên Khoá luận tốt nghiệp này không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong được sự quan tâm và góp ý của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn.

Sinh viên: Phạ m Thị Thanh Vân



Chương 1
LỢITHẾVÀĐIỀUKIỆNPHÁTTRIỂNSẢNXUẤTVÀXUẤTK
HẨUGẠOỞ VIỆT NAM.


1.1. Về tự nhiên.
Việt Nam có lợi thế về nguồn tài nguyên và các điều kiện tự nhiên, khí hậu ưu đãi và thuận lợi
cho việc phát triển nông nghiệp đặc biệt là cây lúa nước. Những yếu tốđóđã tạo cho Việt Nam c ó
một lợi thế so sánh về mặt hàng gạ o so với nhiều nước trên thế giới.


3
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

1.1.1 Đất đai.

Ở Việt Nam sản xuất lúa gạo là ngành sản xuất cổ truyền, có từ lâu đời và gắn với lịch sử phát
triển nông nghiệp. Đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp là sử dụng một diện tích lớn ruộng đất
để gieo trồng thì Việt Nam có một nguồn tài nguyên đất rất giàu có. Với diện tích đất trồng lúa hiện
có 4,4 triệu hecta chiếm 55% trong tổng số 8 triệu hecta đất trồng trọt nông nghiệp, 43% trong tổng
diện tích 10,3 triệu hecta đất đang sử dụng (không kểđất rừng của cả nước) và 13,3% diện tích lãnh
thổ, trong đó diện tích Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là xấp xỉ 3954 triệu hecta, diện tích
Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) là 1251 triệu hecta và diện tích Đồng Bằng Nam Bộ (ĐBNB) là
2347 triệu hecta. Đặc biệt ĐBSCL vàĐBSH là hai đồng bằng rộng lớn, hàng nă m được hai sông lớn
bùđắp phù sa, được đánh giá vào loạ i phì nhiêu trên thế giới, rất thích hợp cho việc trồng câ y lúa
nước. Độ màu mỡ của đất đã giúp sản xuất lúa gạo của Việt Nam từ nă m 1989 đến nay, tăng cả về
sản lượng, diện tích và năng suất, nhờđó mà Việt Nam không những đảm bảo lương thực trong nước
mà còn dư thừa để xuất khẩu.

1.1.2. Khí hậu và nguồn nư ớc.

Tài nguyên nước dồi dào là một trong những lợi thế nổi bật trong nghề trồng lúa ở Việt Nam. S ố
ngày mưa lý tưởng 120-140 ngày trong một nă m ở hai đồng bằng lớn, không chỉ cung cấp cho lúa
nguồn nước trời phú quý giá mà còn bồi bổ cho lúa một nguồn đạm tự nhiên dễ hấp thụ. Ngoài ra hệ
thống thuỷ lợi nước ta với 10% ngâ n sách nhà nước đầu tư hằng nă m đãđạt được những thành
quảđáng mừng. Với trị giá tài sản khoảng 25.800 tỷđồng cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống thu ỷ
lợi đã tạo ra tổng năng lực tưới cho 3 triệu hecta canh tác và năng lực tiêu cho 1,4 triệu hecta. Hơn
nữa Việt Nam còn sở hữu một hệ thống sông, hồ, kênh rạch phong phú phù hợp với cây lúa nước,
thuận lợi cho thu hoạch, vậ n chuyển và thực hiện xuất khẩu gạo.

Sựưu việt của tài nguyên nước cóý nghĩa quyết định cho việc thâ m canh, tăng vụ thắng lợi và
giả m giá thành sản phẩm nông sản. Lợi thế của tài nguyên nước còn cóý nghĩa đặc biệt cho tài
nguyên đất phát huy được đầy đủ trong quá trình sản xuất nông nghiệp và trồng lúa.

Thực tế gạo là một sản phẩm mà không phải nước nàơ cũng có thể sản xuất và cung cấp ra thị
trường thế giới. Ngoài lợi thế vềđất đai và nguồn nước ra,Việt Nam còn có khí hậu nhiệt đới gió mùa
rất phù hợp cho hai vựa lúa của Việt Nam làĐBSH vàĐBSCL cóđiều kiện lý tưởng trồng cây lúa
nước, cùng với sự kết hợp chặt chẽ các yếu tố khí hậu như: nhiệt độ, độẩm, lượng mưa cũng như
nắng gió. Điều kiện khí hậu ưu đãi hiếm có này còn là lợi thế tuyệt vời cho phép ởĐBSCL vàĐBSH
sản xuất lúa quanh nă m (3 vụ) trên diện rộng và thích nghi với nhiều giống lúa cao sản, lúa đặc
chủng có nă ng suất cao. Lợi thế này tạo cho Việt Nam những bước đột phá trong sản xuất và xuất
khẩu gạo.


4
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

1.2. Về lao động.
Trong điều kiện kinh tế Việt Nam, nông nghiệp và nông thôn là khu vực tạo việc là m chủ
yếu.Với dâ n số 78 triệu người, trong đó 75% dân số sống ở nông thôn và 50% dân sốở trong độ tuổi
lao động, Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ . Đây là một lợi thếđối với việc
sản xuất và xuất khẩu gạo ở nước ta. Lực lượng lao động ở nông thôn tuy có kinh nghiệm về nghề
trồng lúa của ông cha truyền lại nhưng lao động có trình độở khu vực này nhìn chung còn bất cập, về
cơ bản vẫn chỉ là lao động phổ thông. Hiểu biết của nông dân về khoa học kỹ thuật (nhất là công
nghệ sinh học) còn kém, về thị trường còn rất hạn chế vì vậ y họ rất dè dặt trong việc thay đổi các
giống lúa, áp dụng những thành tựu mới vào sản xuất lúa gạo,… để nâng cao chất lượng phù hợp với
thị trường, điều đó làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu gạo. Do đóđể phát triển sản xuất
nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng thì trong thời gian tới Việt Nam cần đầu tư
ngân sách Nhà nước vào phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và củng cố các trường dạy nghề phục
vụ phát triển nông nghiệp, bên cạnh đó cũng cần có các chính sách thoảđáng đối với đội ngũ trí thức
tình nguyện là m việc tại nông thôn…Nâng cao chất lượng lực lượng lao động trong nông nghiệp là
cơ sởđể hạt gạo Việt Nam bay xa hơn.



1.3. Về kết cấu hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng của sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn được Nhà nước ta quan tâm đầu
tư và nâng cấp nhằ m nâng cao nă ng suất, sản lượng lúa cũng như hiệu quả và chất lượng xuất khẩu
gạo của Việt Nam.

Trước hết, đối với sản xuất gạo, các công trình thuỷ lợi được đầu tư tu bổ và xây mới thuận lợi
cho tưới tiêu, nâng cao nă ng suất lúa. Bên cạnh đó phải kểđến trình độ cơ giới hoá ngà y càng nâng
cao đã làm giả m tổn thất tỷ lệ tổn thất trước và sau thu hoạch lúa, và là m giả m chi phí sản xuất
gạo…

Thứ hai làđối với gạ o xuất khẩu, bấy lâu nay hầu hết khối lượng gạo buôn bán quốc tế của Việt
Nam thường được vận tải bằng đường biển. So với phương tiện vận tải đưòng sắt, đưòng hàng
không , vận tải bằng đưòng biển quốc tếđả m bảo thuậ n lợi, thông dụng và giá rẻ hơn. Trong thực tế
chuyên chở gạo bằng đưòng biển Việt Nam có nhiều lợi thế nổi bật. Đưòng biển nước ta hình chữ S,
dài trên 3000 km suốt từ Bắc – Trung - Nam, nước ta có nhiều cảng thuận lợi như: Cửa Ông, Hải
phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài Gòn… Hệthống hải cảng Việt Nam nói chung đều nằ m sát đường

Á,Đông Nam Á,
hàng hải quốc tế và có thể hành trình theo tất cả các tuyến đường đi Đông Bắc

Á, Châu Phi, Châu Mỹ. Vì vậy Việt Nam có cơ hội
Thái Bình Dương, Trung Cận Đông, Châu

đểđả m bảo thời gian và giá cước phí vận chuyển gạ o xuất khẩu tương đương so với nước khác.


5
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

1.4. Về thể chế, chính sách.
Xuất khẩu của Việt Nam nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng phát triển một cách mạnh mẽđó là
nhờ nền chính trịổn định và chính sách kinh tế hợp lí. Chính sách mở cửa nền kinh tếđã mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế giữa Việt Nam và thế giới, với mọi quốc gia và tổ chức kinh tế quốc tế. Điều
đó tạo cơ hội cho hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam có thêm những bạn hàng mới. Nhà nước
luôn có những chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất lương thực và xuất
khẩu như thưởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng, thưởng thành tích xuất khẩu,
hỗ trợ xúc tiến thương mạ i nhằ m nâ ng cao hơn nữa giá trị kim ngạch xuất khẩu, khối lượng gạ o xuất
khẩu ra thị trường quốc tế, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Năm 2001-2002, thực hiện chính sách thưởng kim ngạ ch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng
đã góp phần là m tăng số lượng gạo xuất khẩu, giúp nông dân tiêu thụđược sản phẩ m, giá gạo đã tăng
khiến cho người dân yên tâm hơn trong sản xuất. Bên cạnh đó nhờ các cơ chế, chính sách khuyến
khích xuất khẩu, các Doanh nghiệp xuất khẩu đã giả m bớt khó khăn về tài chính. Trong nă m 2001,
Quỹ Hỗ trợ Xuất khẩu đã thưởng kim ngạch xuất khẩu cho mặt hàng gạo là 26,39 tỷđồng, tính riêng
5 tháng đầu năm 2002 cơ chế hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng mua tạm trữ mặt hàng gạo là 43,7
tỷđồng.

Ngoài ra Nhà Nước còn khuyến khích các Doanh nghiệp hình thành các tổ chức hiệp hội, hợp tác
để thống nhất về quy cách, ký kết hợp đồng dài hạn, bảo đảm thanh toán để giả m bớt rủi ro, tránh
hiện tượng ép cấp, ép giá trong buôn bán.

Tăng cường các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu gạo như: cung cấp miễn phí các thông tin về thị
trường và các văn bản có liên quan đến xuất khẩu cho các Doanh nghiệp.

Bên cạnh đó các thông lệ thương mạ i luôn ưu tiên vàđảm bảo quyền lợi cho xuất khẩu gạo.

Việc Nhà nước đặt mục tiêu xuất khẩu hàng nông sản là mũi nhọn trong hoạt động kinh tếđối
ngoại và phát triển kinh tếđất nước cũng đã tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
gạo mạ nh mẽ hơn.



1.5. Mức tiêu thụ gạo của thế giới.
Từ năm 1989 – 2001, sản lượng tăng 2%/nă m, đạt mức 908 triệu tấn vào nă m 2001, trong đ ó
90% là m lương thực cho người, số còn lại phục vụ cho chăn nuôi và chế biến công nghiệp. Tuy
nhiên nhu cầu gạo ở mỗi quốc gia và mỗi vùng là khác nhau.

Châu Mỹ La Tinh, Châu Âu, Bắc Mỹ , Caribê: mức tiêu dùng cho một người trong một nă m là
tăng, trong khi đóở vùng Trung cận đông có xu hướng giả m, ở khu vực viễn đông: Hàn Quốc, Nhật
Bản, Malaysia, Thái Lan, Singapore, tuy thu nhập bình quân đầu người có tăng nhưng nhu cầu tiêu
dùng gạo giả m do cơ cấu bữa ăn có sự thay đổi.
6
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Châu Phi dự kiến tiêu dùng bình quân đầu người là 16 kg, tăng 2 kg/người so với thời kỳ trước

Á vào
đây. Châu Phi đang ngày càng trở thành một thị trường gạo hấp dẫn. Nhập khẩu gạo Châu

Châu Phi ngày một tăng và tiếp tục tăng hơn nữa. Châu Á là nơi sản xuất lượng gạo nhiều nhất,

chiếm 79% trong đó Trung Quốc chiếm 34%, Ấn Độ chiếm gần 20%, Inđônêsia chiếm 8 – 9%.

Nhu cầu nhập khẩu gạo thực chất còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán hạn hẹp của bản thân
những nước nghèo ở Trung Đông và Châu Phi, vìđâ y là những nước nhập khẩu gạ o với số lượng
lớn. Tính đến cuối nă m 1999 có 52 triệu dân ở 35 nước bị thiếu lương thực nghiêm trọng do ảnh
hưởng của thiên tai và do các thả m hoạ do con người gây ra.

Năm 2000 nước nhập khẩu gạo lớn nhất vẫn là Inđônêsia- khoả ng 2 triệu tấn- mặc dù giả m còn
một nửa so với nă m trước. Nhập khẩu gạo của Philippin cũng giả m so với mức 1 triệu tấn nă m 1999.
Bănglađét là nước nhập khẩu gạo lớn. Năm 1998 nước này đã nhập 2,5 triệu tấn sau khi bị lũ lụt
nặng nề. Iran là nước 2 năm liên tiếp bị hạn hán đã phải nhập khẩu gạo với khối lượng khá lớn- 1
triệu tấn.

Trong nă m 2000, sản lượng tăng mạnh sau cải cách thị trường nội địa đã làm cho Việt Nam trở
thành một trong số các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.

Sang nă m 2001, theo số liệu thống kê nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới chỉđạt 23,3 triệu tấn, thấp

Á
hơn chút ít so với nă m 2000. Nhập khẩu tăng mạnh ở Trung Đông, Châu Phi và vài nước Châu

do thời tiết xấu, điều này giúp cho giá gạo xuất khẩu ở các nước Châu Áđược lợi. Những nước nhập

khẩu lớn nă m 2002 là Iran, Ni-giê- ria, Ả-Rập-XêUt, Irắc, Philippin, Nhật Bản. Bảy nước này nhập

khẩu tới 6,42 triệu tấn, chiếm 27,5% lượng gạo giao dịch thế giới. Điều khá ngạc nhiên là giá gạo
tăng trong khi nguồn cung lại khá dồi dà o. Các nhà kinh doanh giải thích rằng giá gạo được nâng đỡ
bởi các thương nhâ n đang tranh già nh mua gạo để thanh toán các hợp đồng đã ký trước đó. Năm
2001 Việt Nam trúng thầu hai đợt gạo xuất sang Philippin với tổng sản lượng 400 nghìn tấn, ngoài ra
Việt Nam còn tiếp tục thanh toán các hợp đồng xuất gạo sang Châu Phi, Inđônêsia, CuBa. Các hợp
đồng nà y đã nâng mức xuất khẩu của Việt Nam trong 5 tháng đầu nă m lên 1,792 triệu tấn, trị giá
280,2 triệu USD, giá bình quân bằng 81% so với cùng kỳ nă m trước.

Có thể nói 2002 là năm nhu cầu gạo của nhiều khu vực nhập khẩu chính. Theo FAO, nă m nay
Trung Quốc tăng gấp 6 lần lượng gạo nhập khẩu so với nă m 2001 do sản xuất nội địa giả m và theo
yêu cầu của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), khi gia nhập tổ chức này Trung Quốc buộc phải
mở rộng cửa nhập khẩu gạo từ nă m 2002 và tăng dần hạn ngạch qua mỗi nă m đểđến nă m 2004 mở
cửa cho 4 triệu tấn gạo nhập vào đây với thuế suất rất thấp chỉ 1%. Cũng theo cam kết với WTO,


7
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Á tăng lượng nhập 1,2
Đài Loan sẽ tăng nhập khẩu gạo 31 lần so với nă m 2001. Cả khu vực Châu

triệu tấn so với nă m trước. Các nước tăng nhập mạnh là: Inđônêsia 600 nghìn tấn, Iran 100 nghìn
tấn, Trung Quốc 900 nghìn tấn, Yê-men 100 nghìn tấn, Đài Loan trên 100 nghìn tấn… Trên phạ m vi
toàn cầu, lượng gạo mậu dịch đạt tới 23,3 triệu tấn, tăng mạnh so với nă m 2001 và tăng 700 nghìn
tấn so với dự báo trước đây của FAO. Điểm thuận lợi cho các nước xuất khẩu gạo nă m 2002 là ngoà i
Trung Quốc, Đài Loan mở rộng cửa thị trường, mới đây chính phủ Inđônêsia lại tuyên bố không

đánh thuế giá trị gia tăng đối với gạo nhập khẩu. Tin này được nhiều hãng thông tấn của Châu Á và

Châu Âu cùng đưa vì Inđônêsia là nước tiêu thụ gạo lớn thứ 3 thế giới, hơn nữa mức thuế giá trịđối
với gạo đang ở mức khá cao. Trong bối cảnh mậu dịch gạo thế giới có nhiều diễn biến thuận lợi,
xuất khẩu và giá gạo Việt Nam mở ra nhiều triển vọng tươi sáng. Hầu như các nước tăng lượng nhập
khẩu cũng là những bạn hàng chính đã quen ăn gạo của Việt Nam. Ngay trong tháng 1/2002 Bộ
trưởng thương mại IRắc cho biết, theo kế hoặch đổi dầu lấy lương thực, Irắc sẽ nhập 900 nghìn tấn
gạo, chủ yếu mua của 4 nước: Thái Lan, Việt Nam, Ai Cập và Pakixtan. Trong đó riêng Việt Nam
chiếm tới 500 nghìn tấn.

Hiện nay trên thế giới, gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm 15 - 18% thị phần thế giới. Với xu thế
phát triển của nền nông nghiệp, Việt Nam sẽđáp ứng được nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước trên
thế giới. Tuy nhiên trong bối cảnh cạnh tranh bám đuổi mạ nh mẽ giữa các nước thì việc tăng thêm
thị phần trong thời kỳ tới là một thách thức lớn đối với Việt Nam.




8
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Chương 2
THỰCTRẠNGXUẤTKHẨUGẠOCỦA

VIỆT NAMTRONGNHỮNGNĂMGẦNĐÂY


2.1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo.
Lúa là cây lương thực chính của Việt Nam, từ khi đổi mới (1986) đến nay (2002) sản xuất lúa
tăng trưởng liên tục cả diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 1986, diện tích gieo trồng lúa chỉ c ó
5688,6 nghìn ha, năng suất bình quân 28,1 tạ/ha/vụ và sản lượng là 16,9 triệu tấn thìđến nă m 2002
con số tương ứng là: 7463 nghìn ha, 45,1ta/ha và 35,9 triệu tấn. Xu hướng này còn tiếp tục tăng
trong những nă m tới vì tiềm năng tăng nă ng suất vẫn còn. Tốc độ tăng sản lượng lương thực luôn
luôn cao hơn tốc độ tăng dân số, nên lương thực bình quân đầu người của Việt Nam tăng dần. Nếu
như nă m 1990 lương thực bình quân đầu người mỗi năm là 324,4 kg thìđến nă m 1995 là 372 kg và
nă m 2002 là 435 kg. Đây là xu hướng ít thấy trong lịch sử sản xúât lúa gạo của các nước Châu Á, và
lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nước ta. Theo Tổ chức nông lương Liên hợp quốc (FAO), trong
17 năm qua (1986-2002) sản lượng lúa gạo thế giới tăng thêm khoả ng 70 triệu tấn, thì Việt Nam
đãđóng góp 10 triệu tấn. Chính sự tăng nhanh vàổn định của sản lượng lúa gạ o Việt Nam đã góp
phần tích cực giả m sự căng thẳng về thiếu lương thực trên thế giới. Đối với nước ta xu hướng này đã
khắc phục một cách cơ bản tình trạng thiếu đói giáp hạt kéo dài nhiều thập kỷ trước đổi mới, tạo đà
cho việc ổn định an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh được hoạt động xuất khẩu gạo với vị trí
nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan) và dẫ n đầu thế giới về tăng sản lượng
lương thực. Điều nà y được thể hiện ở bảng sau:



Bảng 1: Sản lượng gạo của một số nước xuất khẩu chính trên thế giới.

( Đơn vị tính: triệu tấn)

Năm 1999-2000 2000-2001 2001-2002

Việt Nam 20,93 20,53 21,00

Thái Lan 16,50 16,83 16,83

Ấn Độ 89,48 86,30 88,00

Pakistan 5,16 4,70 4,50

(Nguồn: Tạp chí ngoại thương 21-2002)
9
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Các con sốở bảng 1 cho ta thấy rằng trong khi sản lượng gạo của các nước xuất khẩu gạo như:
Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan giữ nguyên hoặc giả m xuống thì sản lượng gạ o của Việt Nam tính chung
lại tăng lên qua từng vụ thu hoạch, trong niên vụ 2001 – 2002 sản lượng gạo của Việt Nam đạt 21
triệu tấn, tăng khoả ng 1 triệu tấn so với niên vụ 2000 – 2001 và vươn lên dẫn đầu thế giới về tốc độ
tăng sản lượng gạo.

Do sản xuất tăng nhanh vàổn định, mức sản xuất lúa gạo liên tục tăng nên trong 14 nă m xuất
khẩu gạo, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam ngà y càng tăng nhanh hơn. Điều
đóđược thể hiện trong bảng sau:




Bảng 2: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam từ 1989- 2002.

Năm Sản lượng xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu

Sản lượng Thay đổi so Kim ngạch Thay đổi so
với nă m trước( (triệu USD) vối năm
( triệu tấn)
%) . trước(%),


1989 1,420 __ 290,0 __

1996 3,003 +51,05 868,4 +63,82

1999 4,550 +19,74 1.012,0 - 1,84

2000 3,500 - 23,08 668,0 - 33,99

2001 3,729 +6,54 624,4 - 6,48

2002 3,24 - 13,11 725,5 +16,12

( Nguồn: Tổng cục thống kê - Bộ Thương mại)

Năm 1989, Việt Nam chính thức tham gia vào thị trường lúa gạo thế giới với số lượng khá lớn là
1,4 triệu tấn, thu về 290 triệu USD, giá bình quân 204 USD/tấn. Tuy sản lượng gạo xuất khẩu chưa

10
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

nhiều, giá còn thấp, chất lượng chưa phù hợp với thị hiếu thế giới, nhưng đối với nước ta kết
quảđóđánh dấu sự sang trang của sản xuất lúa gạo từ tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá, gắ n
với xuất khẩu. Các số liệu ở bảng 2 đã cho thấy rằng xuất khẩu gạo tăng tương đối qua các năm, vớ i
1,6 triệu tấn gạo xuất khẩu trong nă m 1990 đãđưa Việt Nam giành vị trí nứơc xuất khẩu gạo lớn thứ
3 trên thế giới.

Năm 1996, Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu gạo với mức lớn hơn. Lần đầu tiên kể từ nă m 1989
khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vượt mức 3 triệu tấn/nă m, tăng 51% vàđưa kim ngạch xuất
khẩu đạt 868 triệu USD, tăng 63% so với nă m 1995. Đặc biệt đến nă m 1997 đãđánh dấu bước ngoặt
lớn đối với nền kinh tế và ngoại thương nước ta, Việt Nam xuất hiện trên thị trường gạ o với vị trí là
nước xuất khẩu gạo thứ 2 (sau Thái Lan), với lượng gạo xuất khẩu là 3,6 triệu tấn, đạt kim ngạch
xuất khẩu gạo 900triệu USD; lý do là trong nă m 1997 Việt Nam ký kết được nhiều Hiệp định
thương mại, điển hình là hiệp định với Iran về xuất khẩ u gạo.

Bước vào nă m 1998, có thể nói cơ hội đang mở ra cho Việt Nam khi hiện tượng El nino gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến mùa mà ng của một số nước Châu Á màđặc biệt là Inđônêsia và Philippin
đã gây ra cơn sốt gạ o ở Châu Á. Và chính trong nă m 1998, kim ngạch xuất khẩu của 3,8 triệu tấ n
gạo đãđạt mức 1 tỉ USD. Tuy chỉ tăng 5,56% về lượng nhưng lại tăng 14,56% về giá trị. Điều này đã
củng cố vững hơn vị trí thứ 2 về xuất khẩu gạo của Việt Nam trên thế giới và tôđậ m thêm hình ảnh
một nước Việt Nam xuất khẩu gạo đối với các nhà kinh doanh, người tiêu dùng gạo trên thế giới.

Điều đáng chúý là nă m 1999, mặc dù chịu thiệt hại nặng nề của các đợt lũ lớn ở Miền Trung, sản
xuất lương thực vẫn đạt 31,4 triệu tấn và xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, kim ngạch trên 1 tỷ 10 triệu
USD như vậy về số lượng so với nă m 1998 tăng 20%, đây cũng là số lượng cao nhất từ trước đến
nay, nhưng xét về kim ngạch lại giả m 2%, xảy ra điều này là do trong nă m 1999 các nước nhập khẩu
gạo truyền thống hạn chế khối lượng nhập khẩu, do đó là m cho giá gạo xuất khẩu trên thị trường thế
giới giả m xuống thấp. Chính điều đóđã làm cho giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam giả m.

Sang nă m 2000, thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai lũ lụt xảy ra ở nhiều nơi trên phạ m vi cả
nước, đặc biệt làĐBSCL nhưng nhờ có sự chỉđạo vàđiều hành sát sao của Chính Phủ, của các cấp,
các ngành cùng với sự nỗ lực của nhân dân các địa phương nên nhìn chung sản xuất nông nghiệp nói
chung và sản xuất lương thực nói riêng nhanh chóng được khôi phục vàđạt kết quả khá, đời sống
nhân dâ n sớm đi vào ổn định. Theo đánh giá của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, tổng
sản lượng lúa cả nước nă m 2000 vẫn đạt 32,6 triệu tấn, tăng gầ n 1,2 triệu tấn so với nă m 1999, điều
này đưa nguồn cung gạo cho xuất khẩu vẫn duy trìở mức cao 3,5 triệu tấn. Hơn nữa cuộc khủng
hoảng tài chính trong khu vực và cuộc khủng hoảng dầu lửa trong nă m 2000 đãảnh hưởng phần nà o
đến nhịp độ buôn bán các mặt hầng nguyên liệu thô trong đó có gạo. Các tác động này đã làm giá
gạo trên thị trường thế giới bắt đầu giảm xuống từđầu năm, cho đến cuối nă m xuất khẩu gạo của

11
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Việt Nam so với nă m 1999 đã bị giả m đi 16% về giá, hạ kim ngạch xuất khẩu gạo 2000 xuống còn
668 triệu USD (giả m 34% so với nă m 1999). Tuy nhiên cũng cần phải kểđến một nguyên nhân nữa
là m giả m giá gạo trên thế giới đó chính là ngành gạo của các nước nhập khẩu gạo lớn như:
Inđônêsia, Philippin, Trung Quốc… đang dần dầ n phục hồi sau 2 năm mất mùa vì biến động thờ i
tiết, các nước này đều tuyên bố có khả năng tự cung cấ p tự cấp gạo.

Năm 2001 xuất khẩu gạo đạt trên 3,7 triệu tấn, trợ giá hơn 600 triệu USD, măc dù tăng khoả ng
7% về lượng song cũng là thành công vìđã hoàn thành được những nhiệm vụ cơ bản: xuất khẩu vượt
chỉ tiêu 3,5 triệu tấn do chính phủđề ra, tiêu thụ hết thóc hà ng hoá, chặn đà giảm sút giả m sút của
giá thóc, gạo trong nước. Tuy vậy xét về kim ngạch thì vẫ n giả m 6%. Nguyên nhân là trong những
tháng đầu năm 2001 giá gạo vẫn giả m mạnh do ảnh hưởng từ năm 2000, các Doanh nghiệp của Việt
Nam vẫn ký hợp đồng bán gạo với giá thấp, nhưng bắt đầu từ tháng 6-2001 giá gạ o tăng cao dần thì
ta lại không có gạo để xuất vì phải xuất gạo theo hợp đồng đã ký. Đó chính là lý do là m cho lượng
gạo xuất khẩu tăng mà gía trị xuất khẩu gạo lại giả m trong nă m 2001.

Sản xuất nông nghiệp trong năm 2002 gặp nhiều khó khăn to lớn, có mặt gay gắt hơn 2001 đó là
thiên tai diễn ra trên diện rộng, kéo dài từđầu năm dến cuối nă m: hạn hán gay gắt ởĐông Nam
Bộ,Tây Nguyên và Miền Trung, lũ lớn kéo dài và ngập sâu ở vùng ĐBSCL, mưa lớn, lốc xoáy và
lũ quét xảy ra gây thiệt hại nặng nề về tài sản, mùa màng và sinh mạng ở nhiều vùng vàđịa
phương.Tuy vậy sản xuất nông nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng khá, năng xuất lúa cả năm đạt 45,1
tạ/hecta, sản lượng đạt 35,9 triệu tấn. Nhờđó mà khối lượng gạo xuất khẩu đạt 3,24 triệu tấn (giả m
13%) vàđạt kim ngạch trên 700 triệu USD (tăng 16%) so với nă m 2001. Đó là vì chất lượng gạo xuất
khẩu của Việt Nam trong nă m 2002 đãđược nâng cao rõ rệt, do đó giá thành cũng cao hơn những
nă m trước.

Trong những nă m qua, kim ngạch xuất khẩu gạo đãđóng một vai trò quan trọng trong sản lượng
tích luỹ vốn cho quá trình phát triển đất nước. Từ năm 1989 dến nă m 2002, Việt Nam đã xuất khẩu
trên 87 triệu tấn gạo đạt kim ngạch xuất khẩu gần 8 tỉ USD. Gạo đã trở thành một trong 10 mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩ u gạo chiếm một tỷ trọng đáng kể trong kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Dưới đây là bảng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam:

Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu gạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu.


Nă m KNXK Gạo Tỷ trọng (%)
 KNXK
(triệu USD)
(triệu USD)

1990 2.404 304,6 13


12
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân


1997 9.185 900,0 9,8

1998 9.360 1.031,0 11

1999 11.540 1.012,0 8,8

2000 14.308 668,0 4,6

2001 15.027 624,4 4,2

2002 16.530 725,5 4,4

( Nguồn: Bộ Thương mại )

Từ bảng 3 cho thấy, trong những năm 90 kim ngạch xuất khẩu gạo luô n
chiế m một tỷ trọng tương đối (khoảng 8-12%) trong tổng kim ngạch xuất khẩ u
của cả nước. Cóđược kết quảđó là do Việt Nam đã xuất khẩu gạo với số lượng
tương đối lớn cùng với giá cả khá cao. Nhưng qua bảng trên ta thấy rằng tỷ
trọng kim ngạch xuất khẩu gạo từ năm 2000 trở lại đây đã giả m trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước so với những năm trước. Đó là do thị trường gạo
thế giới có nhiều biến động, cầu về gạo trên thế giới đã giảm, hiện nay thị hiế u
về gạo chất lượng cao ngày càng tăng mà gạo của Việt Nam thì vẫn chưa đáp
ứng được những yêu cầu khắt khe của quốc tế về chất lượng, vì vậy giá gạo
Việt Nam thấp làm cho kim ngạch xuất khẩu gạo giảm. Những năm gần đâ y
kim ngạch xuất khẩu của cả nước đang tăng dần, để nâng cao tỷ trọng kim
ngạch xuất khẩu gạo thì một trong những điều kiện cần là Việt Nam phải chú
trọng đến chất lượng gạo xuất khẩu, do đó dù gạo xuất khẩu của Việt Nam
khối lượng có giảm nhưng giá trị xuất lại cao.


2.2. Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Việt Nam chỉ thực sự là nước xuất khẩu gạo lớn từ năm 1989. Từđó việc xâm nhập và mở rộng
thị trường của Việt Nam trong những nă m đầu đã gặp không ít khó khă n vì thường đụng đến những

13
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

khu vực là thị trường quen thuộc của các nước xuất khẩu truyền thống đặc biệt là Thái Lan. Những
nă m qua Việt Nam đã tích cực mở rộng các mối quan hệ, tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế.
Trên thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt theo hướng đa dạng
hơn.

Bảng 4: Quy mô và thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 1991- 2002.

Năm Lượng gạ o xuất khẩu Lượng gạ o mậu dịch Thị phần của
của Việt Nam ( triệu Thế Giới ( triệu
Việt Nam (%)
tấn) tấn)

1991 1,033 12,700 8,1

1995 1,988 21,000 9,4

1998 3,800 25,600 14,8

1999 4,550 25,100 18,2

2000 3,500 22,300 15,7

2001 3,729 24,453 15,2

2002 3,240 24,949 13,0

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

Ngay từ những nă m đầu xuất khẩu gạo, Việt Nam đã chiếm một thị phầ n khá trong tổng lượng
gạo mậu dịch thế giới, thị phần gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng dầ n theo nhu cầu thế giới qua
các nă m. Nhu cầu gạo trên thế giới ngày càng tăng do chịu ảnh hưởng chính tác động của yếu tố thờ i
tiết, các điều kiện kinh tế và tốc độ tăng dâ n số.Thị phần của Việt Nam tăng từ 8,1% nă m 1991 tới
18% năm 1999 và năm 2002 là 13%. Trong thời gian đầu do gạ o Việt Nam vẫn còn xa lạ so với thị
trường quốc tế vì vậ y thị phầ n chưa cao. Những nă m gần đây, gạo Việt Nam đã tạo được tên tuổi
bằng cách giữ vững vị trí nước xuất khẩu thứ 2 trên thị trường thế giới, do đó thị phần tăng lên đáng
kể. Đặc biệt nă m 1999 do hậu quả của hiện tượng El nino mà lượng gạo mậu dịch trên thế giới đạt
mức kỷ lục là 25 triệu tấn trong đó thị phần của Việt Nam đạt mức cao nhất là 18%. Hiện nay lượng
gạo giao dịch trên thế giới vẫ n duy trìở mức cao (23 – 24 triệu tấn), trong đó thị phần của Việt Nam
vẫn chiếm một tỷ trọng khá, vàổn định qua các năm.


Á, kếđến là Châu Phi và
Thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam vẫ n là khu vực Châu

Châu Mỹ. Cơ cấu thị trường gạo Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 5: Cơ cấu giá trị kim ngạch phân theo thị trường.

14
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

( Đơn vị tính %)

Khu vực 1990 19 19 19 20 20 20
95 98 99 00 01 02

Châu Á 45,0 51, 52, 78, 76, 55, 70,
0 2 0 0 0 0

Châu Phi 39,0 32, 25, 14, 14, 18, 12,
0 0 0 0 5 0

Châu Mỹ 9,6 5,0 6,0 3,0
12, 16, 16,
0 81 5

6,4 5,0 3,0 4,0
Các thị trường 5,9 10, 15,
khác 9 0 0

Tổng cộng 100 10 10 10 10 10 10
0 0 0 0 0 0


( Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số 95, 97-2001, số 75-2002).

Từ khi bắt đầu xuất khẩu gạo đến nay thì thị trường chủ yếu của Việt Nam vẫ n là thị trường Châu
Á (chiếm khoả ng 50% tổng giá trị kim ngạch). Thị trường nà y luôn được Việt Nam theo dõi chặt
chẽ, vì hầu hết các nước Châu Á thường có tập quán lâu đời tiêu dùng lúa gạo, đều coi lúa gạo là
lương thực chủ yếu của mình. Từđó Việt Nam chuẩn bị nguồn cung, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu nhập
bổ sung đột xuất của khu vực nà y nhất là thị trường Inđônêsia, Philippin, Iran, Irăc, Trung Quốc…

Hiện nay các thị trường khác của Việt Nam cũng đang có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực,
nhất là thị trường tiềm năng lớn như Châu Phi thì lượng gạo Việt Nam xuất khẩu vào tương đối ổn
định qua các nă m. Vì vậ y đối với thịtrường này Việt Nam luôn quan tâ m, giữ vững và phát triển hơ n
nữa. Ngoài ra, các thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam thường xuyên như: Nam Mỹ, Trung Đông và
Bắc Mỹ, Việt Nam đang từng bước nghiên cứu để không chỉ xuất sang đây loại gạo phẩ m cấp trung
bình mà là gạo phẩ m cấp cao sẽ chiếm ưu thế hơn.

Qua nhiều nă m xuất khẩu gạo, Việt Nam đã từng bước củng cố và giữ vững được thị trường cá c
nước như: Malaysia, Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc, hiện nay Việt Nam đang từng bước thâ m
nhập vào thị trường khó tính nhưng lại đầy tiềm năng như Nhật Bản.

Năm 1998 là nă m thị trường lúa gạo quốc tế biến động lớn do 2 nguyên nhâ n: Hiện tượng El nino

Á. Trong năm 1998 cũng một phần từảnh hưởng của El nino làm cho
và khủng hoảng tiền tệ Châu

15
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới tăng, Việt Nam lần đầu tiên đãđạt kim ngạch xuất khẩu gạo vượt
ngưỡng 1 tỉ USD. Sang nă m 1999, thị trường xuất khẩu gạo của ta tiếp tục được mở rộng so với nă m
1998, trong đó có thể kểđến các thị trường trước đây và trong nă m 1998 không nhập khẩu hoặc nhập

khẩu ít như: BaLan, các Tiểu Vương Quốc Ả Rập thống nhất, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Inđônêsia

vẫn là thị trường xuất khẩu chủ yếu cho gạo Việt Nam, với lượng gạo xuất khẩu vào thị trường nà y
đạt gần 1,15 triệu tấn trong nă m 1999, chiếm 42,5% lượng gạ o nhập khẩu của nước này và một
trong những nước nhập khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Cũng trong nă m này nước ta xuất khẩu gạ o
vào Iran và Irắc khoảng 2,6%, vào thị trường Châu Phi chiếm 23,67% tổng lượng gạo nhập khẩu.

Trong nă m 2000, cơ cấu thị trường xuất khẩu gạ o của Việt Nam vẫ n ổn định, các thị trường lớ n
vẫn nhập khẩu gạo đó là: Philippin, Inđônêsia, Malaysia và Hồng Kông. Trong đó thị trường nhập
khẩu gạo lớn nhất là Irắc, riêng thá ng 11 nă m 2000 ta xuất sang Irắc 57,5 nghìn tấn gạo. Cũng trong
tháng này, thị trường mới xuất khẩu gạo là Thổ Nhĩ Kỳ (22 tấn).

Năm 2001, công việc tìm hiểu và mở rộng thị trường được thực hiện khá thành công, nhiều đoà n

Á, Châu Phi, Trung Đông,
công tác cấp Chính Phủ, cấp Bộđãđược cửđi các thị trường Đông Nam

Châu Mỹ… Kết quả là nhiều thoả thuận Chính phủ về xuất khẩu gạo đãđược ký, các hiệp định
thương mạ i được ký với một số nước nhập khẩu gạo lớn ở Châu Phi. Đây cũng chính là cơ sở pháp
lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp xuất khẩu của ta thâm nhập vào các thị trường tiềm
năng nà y, qua đóđẩy mạnh việc xuất khẩu trực tiếp tới các nhà nhập khẩu của họ. Việc xuất khẩu
gạo vào các thị trường truyền thống như Nga và một số nước Đông Âu được phục hồi và có mức
tăng khá. Trong nă m 2001 Việt Nam trúng thầu 2 đợt gạo xuất sang Philippin với tổng sản lượng
400 nghìn tấn, thời hạn giao hàng từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2001. Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục
thanh toán các hợp đồng xuất khẩu gạo sang Châu Phi, Inđônêsia, Cuba. Các hợp đồng này đã nâng
mức xuất khẩu gạo của Việt Nam 5 tháng đầu nă m 2001 lên 1,8 triệu tấn, trị giá 280,2 triệu USD,
tăng gầ n 64,4% về lượng và 24,4% về giá trị so với cùng kỳ.

Với phương châ m lượng giả m- chất tăng, năm 2002 nước ta đã xuất khẩu 3,24 triệu tấn gạo thu

Á là 1580 triệu USD; Trung Đông: 900 USD;
về 725,500 triệu USD. Trong đó, thị trường Châu

Châu Phi: 287 triệu USD; Châu Mỹ: 254 triệu USD; Châu Âu: 180 triệu USD. Thị trường xuất khẩu
gạo nă m nay của Việt Nam được mở rộng hơn, giá cả cũng được cải thiện hơn.

Đến nay tuy gạo Việt Nam đã có mặt trên 80 nước thuộc tất cả các Đại lục, nhưng số lượng gạ o
do các tổ chức Việt Nam trực tiếp ký kết với các thị trường còn chiếm tỷ lệ thấp, số bán qua trung
gian nước ngoà i vẫn chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt là thị trường Châu Phi – nơi tiêu thụ khối lượng lớn
gạo Việt Nam thì hầu hết do các trung gian nước ngoà i đứng ra thực hiện, vì vậy gạo của Việt Nam
luôn bịép bán với gía thấp hơn giá thực tế, điều đóđã là m ảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu gạ o

16
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

của Việt Nam. Cho đến nay Việt Nam chưa xây dựng được cho mình một hệ thống bạn hàng trực
tiếp tin cậy, có mối quan hệ chặt chẽ, chưa có chính sách thích hợp về bạn hàng và thị trường quốc
tế. Hiện nay thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn là vấn đề bức xúc đòi hỏi sự nỗ lực từ phía
Nhà nước và các Doanh nghiệp. Thị trường là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của sản
xuất. Trong những nă m tới nước ta cần tiếp tục củng cố và khai thác các thị trường truyền thống
đồng thời tìm kiếm thị trường mới.



2.3. Khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới .
2.3.1. Về chất lượng.

Mặc dù gạo xuất khẩu của Việt Nam được xếp vào hàng “Top ten” một số mặt hàng nông sản
nhưng đó chỉ là về phương diện sản lượng. Thực tế giá trị xuất khẩu của mặt hàng gạo so với sản
phẩ m cùng loại của nhiều nước khác thì vẫ n ở mức thấp. Có thể thấy rằng thách thức lớn nhất đối
với gạo xuất khẩu của Việt nam là chất lượng và công nghệ chế biến. Chất lượng gạ o được đánh giá
theo tỷ lệ tấm trong gạ o và kỹ thuật đánh bóng. Hiện tại trong cơ cấu sản xuất gạo chất lượng cao
của ta còn ít chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong sản lượng, do đó mới chỉđáp ứng được nhu cầu xuất
khẩu. Trong cùng thời gian Thái Lan xuất khẩu gạo phẩ m cấp cao thường chiếm tới 60 – 62% còn
Việt Nam chỉở 40 – 45% tổng lượng gạo xuất khẩu. Chính vì hạn chế này mà gạ o Việt Nam chưa
vào được các thị trường cao cấp mà gạo Mỹ, Thái Lan đang chiếm lĩnh.

Bảng 6: Phân loại chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.(%)

Loại Phẩm cấp cao Phẩm cấp trung Phẩm cấp Tổn
gạo (5-10% tấm) g số
bình (15- thấp (>25%
20% tấm) tấm)


Năm


1993 27,3 21,5 51,2 100


1995 23,6 22,4 54,0 100


1997 39,2 8,4 52,4 100


1998 40 12 48 100


1999 47 15 44 100


17
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

2000 42 26 32 100


2001 41 17 42 100


2002 42 35 23 100


(Nguồn: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Số 3/2003)

Trong những nă m đầu xuất khẩu gạ o Nam thường ít xuất khẩu trực tiếp mà xuất khẩu qua trung
gian, bởi chất lượng gạo không cao. Chúng ta bán gạo cho Thái Lan, Singapore, các nước này là m
trung gian thực hiện chế biến lại và sau đó tái xuất khẩu cho các nước khác. Năm 1989 là nă m đầu
tiên đất nước ta trở lại xuất khẩu gạo chủ yếu là gạ o cấp thấp chiếm 97,42% (tỷ lệ tấ m 25%). Trong
thời kỳ này gạo xuất khẩu của ta không có khả năng cạnh tranh với gạo Thái Lan và các nước có
truyền thống xuất khẩu gạo. Từ các năm sau đểđáp ứng nhu cầu cạnh tranh gay gắt trên thị trường
quốc tế nước ta đã tập trung lớn vào việc sản xuất các loại gạo có phẩ m cấp cao, về sản xuất ta thu
thêm được giống mới, cải tạo giống tăng thêm lượng gạo hạt dài có hương vịđậ m đà hơn, về chế
biến đã cải tiến đổi mới, tổ chức bảo quản tốt hơn từ nă m 1998 đến nay, chất lượng gạo được cả i
thiện r õ rệt, gạo cấp cao thường xuyên chiếm tỷ trọng khoảng 40% (nă m 1999 đạt tới 47%) tỷ trọng
gạo cấp thấp giả m đáng kể, từ 51,2% năm 1993, xuống còn 44% nă m 1999. Đến nă m 2002, sự thay
đổi chất lượng gạo được thể hiện qua: tỷ trọng lượng gạo cao cấp 42%, tỷ trọng gạo cấp thấp là 23%.
Sở dĩ tỷ trọng gạ o chất lượng cao và gạo chất lượng thấp chiếm phần lớn trong khối lượng gạ o xuất
khẩu của Việt Nam là do thị trường gạo tập trung chủ yếu vào Châu Phi và Châu Á, nơi có nhu cầu
gạo phẩ m cấp thấp, còn gạo phẩ m cấp cao là thể hiện sự nhạy bén của Việt Nam theo nhu cầu thế
giới. Từ những con số trong bảng ta có thể thấy được những tiến bộ của ngà nh sản xuất lúa gạo nói
chung, lĩnh vực xuất khẩu gạo nói riêng, điều đóđược chứng minh qua chất lượng gạo xuất khẩu của
Việt Nam ngày càng được cải thiện tốt hơn.

Chúng ta đều biết chất lượng gạo có liên quan đến hà ng loạt các yếu tố từ khâu sản xuất đến khâu
bảo quản, vận chuyển và chế biến thìở Việt Nam đa số nông dâ n có tập quán phơi mớ và kéo dài
thời gian thu hoặch …khiến hạt lúa dễ hút ẩm vào ban đêm, là m cho phân tử nước hấp thu mặt ngoài
của tinh thể bột sẽ chịu một lực cản không đều, dẫn đến hiện tượng nứt hạt gạo.

Ngoài ra trong quá trình tuốt lúa, lực va chạ m của hạt gạo quá khô vào khung máy tuốt cũng tạ o
điều kiện cho hiện tượng nứt hạt gạo xảy ra ở tần suất lớn; tỷ lệ thóc thất thoát do không được là m
khô và bảo quản kịp thời vào khoảng 10 - 15% thậm chí tới 15 - 20% khi thu hoặch vào vụ mưa.

Thiết bị và công nghệ chế biến gạo thì phần lớn là lạc hậu, ít đầu tư cải tiến, chi phí sản xuất cao,
chất lượng thành phẩ m thấp; ở các tỉnh phía Bắc hiện có 278 cơ sở xay xát gạo quốc doanh, trong đó

18
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

có 4 nhà máy công suất 60 tấn/ca, 46 nhà máy công suất 15 - 30 tấn/ca và 13000 cơ sở xay xát ngoà i
quốc doanh qui mô 3 - 5 tấn/ca. Còn ở các tỉnh phía Nam hiện có khoảng 348 cơ sở xay xát gạo
quốc doanh và trên 30.000 cơ sở tư nhân. Trong khi đó, gạo xuất khẩu cần phải có các cơ sở xay xát
lớn nhất (các cơ sở này có khả năng là m từ khâu đầu đến khâu cuối gạo xuất khẩu, tức là từ xay xát
đến là m bóng) thì số lượng lại thật khiêm tốn. Còn lại là các cơ sở nhỏ chỉ là m công việc xay xát lại
chiếm đa số.Có thể khẳng định, hiện nay, công nghệ thiết bị chế biến gạo của nước ta còn những bất
cập so với các nước tiên tiến trong khu vực, tỷ lệ thu hồi sau quá trình xay xát chỉđạt 60 - 62%, trong
đó 40 - 42% gạ o nguyên; chỉ có một sốít nhà máy do Nhà Nước quả n lý có tỷ lệ thu hồi đạt 75 -
76% (52 - 55% gạo nguyên). Hơn nữa, các nhà máy xay xát có máy phân hạt theo kích cỡ làkhông
phổ biến ở Việt Nam, chỉ có sốít nhà má y xay xát loại lớn có khả năng chọn màu vàđảm bảo với nhà
xuất khẩu là loại gạo mất màu đãđược loại. Vì vậy vấn đềđặt ra là nước ta không chỉđầu tư bổ sung
cho sự nghiên cứu các loại giống thích hợp với điều kiện Việt Nam mà còn cần đầu tư máy móc,
trang thiết bị và công nghệ hiện đại.

Những thực tế bức xúc đóđã dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu nước ta chỉđạt mức trung bình
trong khu vực, thể hiện qua các mặt sau: độđồng nhất kém, độ trắng và hình dạ ng, kích thước hạt
không đồng đều, độ bạc bụng cao, tỷ lệ hạt khác màu, hạt vàng, hạt hỏng, hạt đen, độẩ m, hạt
vỡ…đều cao hơn gạo của các nước khác.

Về chủng loại, gạ o xuất khẩu Việt Nam chủ yếu vẫn là gạo tẻ hạt dài được sản xuất hầu hết
ởĐBSCL. Còn loại gạo hạt trắng số 1 với 100% hạt nguyên, gạo đặc sản, gạo thơm còn rất ít. Việt
Nam chỉ mới bước đầu xuất khẩu gạo tám thơm được trồng ở Miền Bắc, gạo Nàng Hương, ChợĐá o
ở Miền Nam với số lượng nhỏ và không đều đặn qua các nă m.

Nhìn chung chất lượng và chủng loại gạo xuất khẩu của nước ta trong chừng mực nà o đó còn
thấp, nhất là so với gạo Thái Lan, chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu, thị hiếu của khách hà ng. Với
những cố gắng hiện nay của ngành trồng lúa trong việc cải tạo giống, công nghệ xay xát, đánh bóng,
chọn màu, chúng ta có thể hy vọng rằng phẩ m cấp gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽđược cải thiện
nhiều hơn trong vài nă m tới.

2.3.2. Về giá.

Giá cả do chất lượng, điều kiện thương mại, quan hệ cung cầu quyết định. Hiện nay trên thị
trường thế giới có rất nhiều loại gạo, với mỗi loại gạ o, sự biến động về giá cũng khác nhau, giá cả
biến động còn phụ thuộc vào thời vụ. Giá gạo của thế giới trong những nă m qua thường xuyên biến
động, do đó giá gạo Việt Nam cũng có xu hướng dao động theo giá cả của thị trường thế giới. Mặc
dù chúng ta đạt kết quả cao trong xuất khẩu gạo nhưng hiệu quả chưa cao. Giá gạo của Việt Nam
thường thấp hơn so với giá gạ o xuất khẩu bình quân trên thế giới (FOB - Thái Lan). Trong 5 nă m
qua giá gạo bình quân của Việt Nam là 262,6 USD/tấn, còn của Thái Lan bán cùng kỳ là 295

19
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

USD/tấn. Như vậy giá gạo của Thái Lan luôn cao hơn giá gạo của Việt Nam 10 – 13%, nhưng không
phải do Việt Nam tựđộng hạ giá mà buộc phải chấp nhận mức giá thấp, cách biệt khá xa so với mặt
hàng gạo quốc tế vì chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thị trường như: chất lượng
sản phẩ m còn thấp và không đồng đều, cơ sở hạ tầng phụcvụ xuất khẩu gạo vừa thiếu vừa kém, năng
lực bốc xếp thấp, chi phí cao, thiếu ổn định trong việc cung ứng hà ng. Bảng dưới đây cho thấy sự
thua thiệt về gía gạo xuất khẩu của Việt Nam so với Thái Lan.

Bảng7: Giá gạo của Việt Nam và Thái Lan trên thị trường thế giới.

(Đơn vị: USD/tấn).


Năm Giá FOB Thái Giá FOB Việt Chênh lệch
Lan- loại 5% tấm Nam- loạ i 5% tấm

1989 311 236 - 75

1997 265 245 - 20

1998 285 270 -15

1999 240 232 -8

2000 190 174 -16

2001 181 198 +17

2002 200 197 -3

(Nguồn: Ngoại thương 1 – 2002)

Từ thập kỷ 60 trở lại đây người ta thường dựa vào giá xuất khẩu gạo của Thái Lan (điều kiện giao
hàng FOB – Băngkok) là m giá quốc tế mặt hàng gạo, giá này được xem là giá chuẩn mực, phả n ánh
được thực chất quan hệ cung – cầu và quy luật vận động của giá cả trên thị trường gạo thế giới. Giá
gạo thế giới trong những nă m qua thường xuyên thay đổi và có xu hướng giả m. Trong thập kỷ 90,
cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á và yếu tố thời tiết đã làm giả m nhu cầu gạo trên thị trường, gây
ra việc giả m giá gạ o quốc tế. Có thể dẫ n ra đây giá gạ o FOB – Bangkok, loại gạo 5% tấm: nă m 1989
là 311 USD/tấn, thìđến nă m 1999 là 240 USD/tấn. Tuy nhiên từ năm 2000 trở lại đây, giá gạo trên
thị trường thế giới đã “khởi sắc” hơn do các nước Đông Á nền kinh tếđang đi vào giai đoạn phục hồi
nên nhu cầu nhập khẩu gạo tăng lên, cộng với tốc độ tăng thu nhập bình quâ n trên đầu người cao ở
một số nước Châu Á dẫ n đến nhu cầu gạo tăng đặc biệt là gạo phẩm cấp cao.

20
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Cho đến nay Việt Nam hầu như chỉ xuất khẩu gạo theo điều kiện FOB là chính, thêm vào đó xuất
khẩu gạo của Việt Nam còn mang tính chất từng chuyến, từng đợt nên khó tìm được bạn hàng và thị
trường ổn định. Phần lớn gạo xuất khẩu của Việt Nam phải xuất sang Singapore để tái xuất khẩu vì
không tìm được thị trường trực tiếp. Đây cũng là nguyên nhâ n là m cho giá gạo Việt Nam thua thiệt

rất nhiều. Mặt khác nước ta nằm trong khu vực Châu Á, nơi có nhiều nước cũng xuất khẩu gạo nên

thường bị cạnh tranh, chèn ép giá trên thị trường xuất khẩu. Việc thiếu hụt thông tin thị trường và
kinh nghiệm kinh doanh đã làm cho giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn các nước láng giềng.

Một trong những nguyên nhân chính của sự chênh lệch giữa giá gạo Thái Lan và giá gạoViệt
Nam vẫn là yếu tố chất lượng. Giá gạo Việt Nam cũng tăng dầ n cùng xu hướng tăng của chất lượng
gạo và quan hệ cung cầu với thị trường lúa gạo thế giới. Khoả ng cách giữa giá gạo Việt Nam với giá
gạo Thái Lan đã giả m dần: từ 40 - 55 USD/tấn những nă m 1989 - 1994 xuống còn 20 - 25 USD/tấn
những nă m 1995 - 2000. Năm 1998 do đồng Batt Thái Lan mất giá, nên giá gạo Việt Nam đã tiếp
cận giá gạo Thái Lan. Do nhu cầu giả m so với cùng kỳ nă m 1998 giá thị trường thế giới nă m 1999
luôn ở mức thấp, vì vậy nên giá gạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, giá xuất khẩu cả năm trung
bình chỉở mức xấp xỉ 221 USD/tấn. Đây là mức giá thấp nhất so với giá trung bình từ nă m 1995 trở
lại đây.

Sang nă m 2000 tổng lượng xuất khẩu đạt 3,5 triệu tấn, tổng kim ngạch đạt 668 triệu USD, so với
nă m 1999 thì lượng giả m 1,17 triệu tấn và giá trị giảm 360 triệu USD. Với kết quả xuất khẩu như
trên, tính toán cho thấy giá xuất khẩu bình quân nă m 2000 đạt 188 USD/tấn, thấp hơn mức giá bình
quân nă m 1999 là 3USD/tấn và năm 1998 tới trên 87 USD/tấn. Nguyên nhâ n là do lượng gạ o
giao dịch trên thị trường thế giới giả m liên tục từ 25 triệu tấn năm 1999, xuống còn 22,3 triệu tấn
nă m 2000. Sự sút giả m liên tục như vậy đã là m cho giá thị trường gạo thế giới giả m mạ nh và cạnh
tranh ngà y càng gay gắt hơn.

Cuối nă m 2000 vàđầu năm 2001 giá gạ o thế giới liên tục giả m, nhưng bắt đầu tăng từ tháng 6 đến
tháng 11 năm 2001. Cụ thể giá gạo FOB tại Việt Nam vào tháng 5/2001, loại 5% tấm là 158
USD/tấn, loại 25% tấm là 137 USD/tấn. Song từ tháng 8/2001giá gạo Việt Nam đột ngột tăng, lầ n
đầu tiên kể từ nhiều nă m nay giá gạo Việt Nam đắt hơn giá gạo Thái Lan trên thị trường quốc tế, giá
gạo 5% tấm của Việt Nam giá 175 USD/tấn trong khi đó giá gạo Thái Lan cùng loại là 169 USD/tấn.
Tính đến cuối tháng 12/2001 giá gạo Việt Nam cao hơn trên 20 USD/tấn so với giá gạo xuất khẩu
cùng loại của Thái Lan, trong khi thông thường giá gạo Việt Nam rẻ hơn 15 – 25 USD/tấn. Nguyên
nhân là do trong nă m 2001 lũ lụt lại xảy ra ởĐBSCL, mặc dù không gâ y thiệt hại nhiều tới sản lượng
nhưng việc thu gom, phơi sấy và vận chuyển gạ o gặp nhiều khó khă n, đẩy chi phí lên cao. Cùng với
chi phí cao là việc Việt Nam khan hiếm nguồn cung gạ o xuất khẩu do các nhà xuất khẩu đã mua gạ o
bằng mọi giáđể gấp rút hoàn thành những hợp đồng đã ký với Irăc, Châu Phi, Philippin và Cuba,

21
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

trong khi đó nông dân lại không muốn bán thóc ra vì chưa biết tiến triển lũ lụt và sản lượng vụ thu
hoạch sau thế nào.

Bước sang 2002, chất lượng gạ o được nâng cao, các loại gạo cao cấp, gạo tám thơm, gạo đồ của
DNTN khi đưa mẫu chào hàng đãđược các công ty nước ngoài đặt mua ngay với giá cao. Năm 2002,
Việt Nam tuy xuất khẩu gạo với khối lượng thấp hơn 2001 nhưng lại thu về giá trị cao hơn.

Như vậy trong cạnh tranh xuất khẩu gạo thì vấn đề chất lượng và giá cả có mối quan hệ hữu cơ
với nhau. Hiện trạng của gạo xuất khẩu trên thị trường thế giới là không khả quan, giá gạo không ổn
định và bị cạnh tranh khốc liệt thường ở mức thấp so với các nước khác đặc biệt là Thái Lan. Điều
này lý giải tại sao kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam chưa tương xứng với khối lượng xuất
khẩu.

Để xuất khẩu đạt hiệu quả cao chúng ta cần cóđầy đủ thông tin, nhu cầu khách hàng, xu hướng biến
động giá cả trên thị trường đồng thời phải thay đổi chiến lược phương thức kinh doanh, cần phải tính toán
nên xuất khẩu một khối lượng nào mà tương ứng với nó là quy môđầu tư tối ưu.

2.3.3.Phương thức thanh toán.

Trong những nă m đầu của công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và thử
thách vì vậy chương trình xuất khẩu gạo của ta chủ yếu làđổi hàng và trả nợ, còn bán theo phương
thức thanh toán L/C chỉở mức độ nhỏ, do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của Việt
Nam thời gian này rất kém.

Qua nhiều nă m xuất khẩu gạo phương thức thanh toán có nhiều tiến bộ, phương thức L/C dần
chiếm tỷ trọng cao hơn vàđã trở thành phương thức thanh toán chủ yếu. Điều đóđã từng bước nâ ng
cao khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam trên trường quốc tế.

Do khó khă n về thị trường, bạn hàng và giá cả nên trong những nă m đầu Việt Nam quay lại thị
trường xuất khẩu thì phương thức đổi hàng vẫ n còn chiếm tỷ trọng không nhỏ. Tuy nhiên trong
nhiều trường hợp hiện tượng này lại có tác dụng quan trọng đôí với Doanh nghiệp để có chỗđứng
trên thị trường gạo thế giới. Đến nă m 1994 - 1995 thì hai phương thức thanh toán trực tiếp vàđổi
hàng không còn nữa mà thay vào đó là hình thức thanh toán qua L/C, gần như chiếm tỷ trọng tuyệt
đối.

Hiện nay trong phạ m vi quy định chung của Nhà nước, phương thức kinh doanh và thanh toá n
được vận dụng linh hoạt ở tầm Doanh nghiệp, đảm bảo nguyên tác thu hồi vốn và kinh doanh có
hiệu quả. Hiệp Hội Xuất khẩu lương thực Việt Nam cảnh báo, các Doanh nghiệp tham gia vào thị
trường gạ o thế giới muốn là m ăn có lãi và tránh thua thiệt thì cần phải có phương thức kinh doanh và
thanh toán linh hoạt, đa dạng.



22
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Phương thức thanh toán của hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam hiện nay kháđa dạng và linh hoạt
cụ thể là: bán trả chậ m, đại lý, gửi bán, đổi hàng, tham gia đấu thầu bán lẻ cho các siêu thị, hợp tác
liên doanh với người tiêu thụ. Kết quảđóđã có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu gạo của
nước ta.

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay trên thị trường gạ o quốc tế, các Doanh nghiệp
xuất khẩu gạo của Việt Nam đã luôn linh hoạt phương thức thanh toá n để chiếm được nhiều thị
trường khác nhau. Ví dụ nhưở thị trường Châu Phi, hiện nay khối lượng gạ o Việt Nam được tiêu thụ
nhiều hơn gạo Thái Lan đó là do Việt Nam đã xác định rằng, thị trường này tuy nhập khẩu nhiều gạ o
nhưng lại có khả năng thanh toán kém, do đó Việt Nam đãáp dụng phương thức trả chậ m, phương
thức trả sau và phương thức tuần hoà n cho thị trường này, nhờ vậy mà gạ o Việt Nam cóưu thế hơ n
gạo Thái Lan. Hay với thị trường Irắc, ngoài các hợp đồng mua bán gạ o thông thường Việt Nam còn
xuất khẩu gạo sang nước nà y theo chương trình “Đổi dầu lấy lương thực”, qua đóViệt Nam không
chỉ bán được gạo mà còn giữ vững và mở rộng hơn thị trường nà y.

Trong giai đoạn hiện nay Việt Nam đang nghiên cứu và mở rộng phạ m vi thanh toá n nhằ m đa
dạng hoá phương thức thanh toá n. Đây cũng làđiều kiện để thu hút và giữ khách hà ng, mở rộng thị
trường xuất khẩu, giúp gạo của Việt Nam có khả năng bán được và phù hợp với những đặc điểm mớ i
của thanh toán quốc tế.



2.4. Hệ thống tổ chức xuất khẩu gạo.
Từ năm 1989 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo với số lượng lớn, nhanh chóng chiếm được vị trí là
một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới. Xuất khẩu gạo tăng nhanh cả về số
lượng và kim ngạch, chất lượng gạo đã có những tiến bộ. Một trong những yếu tố dẫ n đến kết quả
trên là chúng ta đã có cơ chếđièu hành xuất khẩu gạo. Cơ chế này được hoàn thiện liên tục qua từng
nă m. Trong đó, Nhà nước thực hiện tổ chức thu mua gạo xuất khẩu thông qua các đầu mối xuất
khẩu, và hạn ngạch xuất khẩu gạo, nhằ m điều tiết lượng gạ o xuất khẩu.

Nhà Nước phân bổđầu mối cho các tỉnh vùng lúa, Nhà Nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động
xuất khẩu gạo nhằ m thực hiện nguyên tắc ưu tiên hàng đầu cho mục tiêu an ninh lương thực quốc
gia. Ngoài ra Chính Phủ còn phân bổ hạn ngạch cho các tỉnh vùng lúa, uỷ nhiệm cho lãnh đạo các
tỉnh điều hành và quản lý nhằ m đảm bảo cơ chế xuất khẩu gạo được linh hoạt hơn.

Nhiều nă m qua đầu mối xuất khẩu gạo là một điểm nóng trong hoạt động xuất khẩu gạo. Thời
gian đầu, nhiều Doanh nghiệp nhà nước tìm mọi cách đểđược trực tiếp xuất khẩu gạo. Nhiều hoạt
động tranh mua tranh bán trong nước thương nhân nước ngoà i lợi dụng đểép giá, ép cấp gây tổn hạ i
lợi ích quốc gia trong xuất khẩu gạo. Nhằm khắc phục tình trạng cạnh tranh tự phát hỗn loạ n, nă m
1992 Bộ Thương Mại không chỉ quyết định mức giá tối thiểu mà còn cùng Bộ Nông nghiệp và Phát

23
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

triển nông thôn chủ trương tinh giả m số doanh nghiệp nhà nước được phép xuất khẩu gạo nhằ m
nâng cao trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá xuất khẩu, tăng sức cạ nh tranh tr ên thị trường
thế giới. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện có nhiều trở ngại phức tạp nảy sinh. Tuy Nhà Nước quy
tụđược phần lớn (khoảng 70%) lượng gạo xuất khẩu vào sốít doanh ngiệp đầu mối chính nhưng số
doanh nghiệp nhỏ vẫn còn kháđông. Do đó tổng số doanh nghiệp xuất khẩu gạo vẫn nhiều, thậm chí
còn tăng qua các năm như sau: năm 1989 : 23 đầu mối xuất khẩu gạo, 1991:26, 1992:43, 1993:43,
1994:45, 1996:15, 1997:16, 1998: 33, 1999:40

Sau khi sắp xếp lại hệ thống lương thực quốc doanh thành 2 Tổng Công ty lương thực Trung
Ương vào nă m 1995, sang nă m 1996 chính phủ lại rà soát kĩ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Do
vậy lầ n đầu tiên và o nă m 1996 cả nước chỉ còn 15 doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu trực tiếp và cũng
là lần đầu tiên đảm bảo xuất khẩu gạo vượt ngưỡng 3 triệu tấn. Đến các nă m gần đây sốđầu mối lạ i
có hướng tăng nhanh và thực tế lại xuất khẩu với không ít bất cập.

Hàng nă m Chính phủ có quyết định riêng vềđiều hành xuất khẩu gạo và tiêu thụ lúa gạo. Nhà
nước còn hỗ trợ tài chính mua lúa gạo tạ m trữ, lượng mua tạm trữ năm 1999 là 1,5 triệu tấn quy ra
thóc, năm 2000 là 1 triệu tấn quy gạo được hỗ trợ lãi vay Ngân hàng trong 6 tháng. Trong thời gian
gần đây, cùng với quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, chính sách khuyến khích xuất khẩu, mức
thuế xuất khẩu của Việt Nam đã giảm dầ n và năm 1999 thuế xuất khẩu gạo được quy định: gạo 25%
tấm thuế suất 0%, các loại khác thuế suất 1%.

Từ cuối năm 1999 đến nay, giá gạo thị trường thế giới liên tục giả m là m cho giá gạo Việt Nam
xuất khẩu cũng phải giả m theo. Để tiêu thụ kịp thời lúa hàng hoá cho nông dâ n vàđể ngă n chặn tình
trạng giá lúa liên tục xuống thấp, Chính phủ quyết định giao cho tổng công ty lương thục Miền Nam
và công ty kinh doanh xuất khẩu gạo ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long mua tạm trữ 1 triệu tấn
gạo và doanh nghiệp được hỗ trợ lãi vay ngân hà ng trong 12 tháng, đồng thời áp dụng các giải pháp
kích cầu và hạn chế cung.

Đến nă m 2001 Nhà nước thực hiện bãi bỏ qui định về hạn ngạch xuất khẩu gạo, để bất cứ Doanh
nghiệp nào cóđă ng ký kinh doanh trong ngà nh lương thực cũng có thể xuất khẩu gạo trực tiếp. Bên
cạnh đó Chính phủ còn chủ trương quy hoạch gắn các công ty kinh doanh lương thực xuất khẩu vơí
từng vùng lúa gạo để công ty phối hợp với địa phương có nhiệm vụ bao tiêu sản phẩm, thu mua lúa
cho nông dân, trực tiếp hỗ trợ cho nông dân các yếu tốđầu vào của sản xuất, đảm bảo lợi ích của
người nông dân và ổn định thị trường các doanh nghiệp chế biến kinh doanh gạo đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu.

Ngoài ra còn có một số trung tâm giao dịch ở những vùng lúa tập trung được xây dựng để ngườ i
sản xuất có thể giao dịch trực tiếp với các doanh nghiệp thu mua lương thực theo phương thức và giá
sàn qui định của Nhà nước.

24
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Mục đích hệ thống tổ chức xuất khẩu gạo này là nhằ m làm cho gạo Việt Nam có sức cạnh tranh
hơn trên thị trường thế giới.



2.5. Đánh giá về hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam thời gian qua.
2.5.1. Những thành tự u đạt được.

Tổng cộng 14 năm (1989 – 2002) sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam đãđạt được bốn thành
tựu nổi bật sau:

Thứ nhất: Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà Nước, kinh tế nông nghiệp và nông
thôn nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng với nhịp độ
cao và kháổn định (tăng bình quân 4,5% một nă m). Đặc biệt sản xuất lương thực tăng bình quâ n
khoảng 1 triệu tấn/nă m, từ một đất nước thiếu lương thực, trở thành một nước không chỉ bảo đảm
đầy đủ các nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn có khối lượng ngày một tăng, là nước đứng thứ 2
(sau Thái Lan) về xuất khẩu gạo.

Thứ hai: Góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn, ổn định kinh tế, chính tr ị
và xã hội, tạo tiền đề bước vào giai đoạn phát triển mới CNH- HĐH. Từ năm 1989 đến nay, xuất
khẩu gạo của Việt Nam đãđạt được những thành tựu rực rỡ. Theo đánh giá tổng quát của các cơ
quan chức năng mặc dù trong cùng thời gian qua tỷ lệ tăng dâ n số vẫ n ở mức khá cao với bình quân
từ 1,8 - 2%/năm, đồng thời những nă m gần đây những thiệt hại do thiên tai bão lụt gây ra nặng nề
trên diện rộng song chúng ta vẫn có lượng gạo dư thừa cho xuất khẩu hằ ng nă m. Những kết quả xuất
khẩu cho thấy đã tiêu thụ hết lúa hằng nă m của nông dân khiến nông dâ n phấn khởi đẩy mạnh việc
sản xuất lương thực.

Thứ ba: Sau 14 năm xuất khẩu gạo (1989 - 2002), lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đãđạt mức
trên 35 triệu tấn. Thu nhập từ xuất khẩu gạo đã gần 8 tỷ USD dù giá gạo thị trường thế giới không
ổn định. Xuất khẩu gạ o có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp – nông thôn, những
nă m qua xuất khẩu gạo góp phần khai thông đầu ra cho sản phẩ m thóc của nông dân ở thời vụ thu
hoạch, ngăn chặn sựép giá của tư thương nhằ m giữ giá cho nông dân có lợi nhuận 25 - 40%. Do vậ y
chính xuất khẩu gạo đang góp phầ n tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy nông dân canh
tác hơn nữa.

Thứ tư: Xuất khẩu gạo góp phần tạo thêm việc là m ở khu vực nông thôn, sản xuất và dịch vụ
xuất khẩu gạo mở rộng nhanh chóng đang thu hút nhiều lao động nông thôn và o các khâu xay xát,
chế biến, kho tàng vận chuyển…Xuất khẩu gạo khai thác được lợi thế về phâ n công lao động, tranh
thủđược cơ hội trên thị trường gạ o thế giới, có lợi cho người sản xuất và xuất khẩu gạo. Do vậy xuất
khẩu gạo mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho tích luỹ và tiêu dùng, cải thiện đời sống và xoáđói giả m
nghèo. Đời sống ở nông thôn không ngừng được nâng cao, bình quân thu nhập năm 1998 đạt 9,8
25
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

triệu đồng/hộ/nă m, 58% số hộ có má y thu hình. Tuổi thọ bình quân nă m 1990 là 65 tuổi thìđến nă m
1999 là 67 tuổi. Tỷ lệ hộđói nghèo giả m bình quân 2%/1 năm. Hộ giàu tăng từ 8,08% năm 1990 lên
20% năm 2000.

2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân.

Bên cạnh những thành tựu đạt được hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng có những hạ n
chế như sau:

2.5.2.1.Thị trường xuất khẩu:

Trong thời gian qua, thị trường xuất khẩu của Việt Nam vẫn là thị trường có sức mua thấp thiếu
tính bền vững, tính rủi ro cao. Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam chủ yếu vẫn là thị trường các
nước trong khu vực và thị trường Châu Á chiếm đến 6% đến 65% kim ngạch xuất khẩu. Thị trường
xuất khẩu tuy nhiều nhưng không vững chắc, gạo trong nhiều thời điểm còn phải xuất qua trung
gian, nên bịép cấp và bị thua thiệt về giá. Hơn nữa thị trường sức mua thấp hoặc tái chế, tái xuất
không phù hợp với định hướng chiến lược xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao của Việt
Nam trong giai đoạn tới. Triển vọng về mở rộng thị trường các nước và khu vực (Châu Âu, Châu
Mỹ, EU, Nhật Bản, Mỹ…) vẫn gặp nhiều khó khăn trước yêu cầu đổi mới và cải tiến liên tục về tiêu
chuẩn vệ sinh thành phẩ m, chất lượng, mẫu mã và kể cả các quy định và thông lệ thương mạ i quốc
tế.

2.5.2.2.Về chất lượng gạo xuất khẩu:

Chất lượng gạo của Việt Nam còn kém là do hai nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất: Là do giống lúa kém. Mặc dùđã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu và triển khai
chương trình cải tạo giống lúa nhưng diện tích gieo trồng các loại giống có chất lượng cao chưa
nhiều. Người nông dâ n mới chỉ chú trọng đến việc nâ ng cao năng suất mà chưa quan tâm đến việc
nâng cao giống lúa và các biện pháp kỹ thuật để cải thiện chất lượng gạo phù hợp với thị trường
trong và ngoài nước. Cóđến 90% diện tích hiện đang sử dụng các giống lúa ngắ n ngà y cho năng suất
cao nhưng chất lượng thấp. Các giống lúa đặc sản truyền thống của Việt Nam chiếm một diện tích
không đáng kể, trong khi có qúa nhiều giống lúa khác nhau được gieo trồng trên cùng một khu vực,
trong cùng một mùa vụ là một thực trạng đáng lo ngại cả cho việc sản xuất lúa đến chế biến gạo hiện
nay. Theo số liệu từ Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, hàng nă m chưa kể nhập khẩu, chúng ta
công nhận vàđưa vào sản xuất 60 đến 80 giống lúa mới chưa kể sử dụng thóc thịt làm giống khá phổ
biến.

Thứ hai: Công nghệ chế biến lạc hậu cũng đang là những trở ngại lớn. Cơ sở vật chất kỹ thuật
phục vụ chế biến, bảo quản xuất khẩu còn yếu kém lại phân bố không đều. Hệ thống nhà máy xay
xát, đánh bóng gạo xuất khẩu những nă m gần đây tuy cóđược trang bị thêm má y móc, thiết bị hiện

26
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

đại hơn nhưng số lượng còn ít, chủ yếu được bố tríở các thành phố HCM, Cần Thơ, Mỹ Tho trong
khi đó những vùng xa vàđịa phương có nhiều lúa hàng hoá phục vụ xuất khẩu như An Giang, Đồng
Tháp, Sóc Trăng…..lại không có các nhà máy chế biến vàđánh bóng gạ o xuất khẩu hiện đại. Ở khu
vực vựa lúa ĐBSCL, đến nay năng lực sấy chỉ bảo đảm được từ 10% - 15% sản lượng thóc hè thu
cộng thêm vấn đề kho tàng và công nghệ bảo quản lương thực còn lạc hậu, chủ yếu vẫ n là thông
thoáng tự nhiên, đảo trộn và bốc dỡ thủ công nên tổn thất trong quá trình bảo quản còn cao (1,5% -
2%). Hiện nay hệ thống kho tàng chuyên dụng hầu như không có, đa phần là loại kho cuốn và kho
khung thép, xây dựng đã lâu, hết thời hạn sử dụng, hư hỏng và cần phải sửa chữa nhiều. Nhìn chung
công nghệ và thiết bị xay sát gạo phần lớn là lạc hậu, ít cải tiến chi phí sản xuất cao, chất lượng
thành phẩ m thấp. Đây là nguyên nhâ n chính là m cho gạo xuất khẩu của Việt Nam thiếu khả năng
cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả kinh tế chưa cao.

2.5.2.3.Về giá gạo xuất khẩu:

Khi bước vào thị trường xuất khẩu gạo thế giới, giá gạo của Việt Nam luôn thấp hơn trên dưới
20USD/ tấn so với giá gạo của một số nước xuất khẩu gạo như Thái Lan, Ấn Độ, Mỹ…Tuy nhiên
sau nhiều nỗ lực, khoảnh cách nà y từng bước được thu hẹp vàđến nă m 2000, chênh lệch giá gạ o của
ta so với giá gạo các nước nói trên chỉ còn dưới 10 USD/1 tấn. Nhiều người nghĩ rằng, chẳ ng mấ y
giá gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ theo kịp giá gạo của thế giới. Nhưng thực tế lại không diễn ra
như vậ y, phải đến nă m 2001 sự chênh lệch đã bịđẩy lên hơn 10USD/1tấn. Đây là vấn đề bức xúc cần
được giải quyết, nhưng trước hết ta phải xem xét những nhâ n tố tác động đến giá gạo xuất khẩu:

Thứ nhất: Là chất lượng gạo xuất khẩu còn kém, phẩm cấp thấp, mẫu mã chưa đáp ứng được cá c
thị trường khó tính đã làm giá gạo của ta thấp hơn giá gạo quốc tế.

Thứ hai: Là khả năng dự báo dự phòng các loại rủi ro trong sản xuất chưa cao, chưa đủ sức dự
báo chính xác, nhất là phòng chống thiên tai.

Thứ ba:Việc quản lý gạ o trong xuất khẩu còn bị buông lỏng, gạo có chất lượng kém vẫn được
tham gia vào thị trường xuất khẩu đãảnh hưởng đến uy tín gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Mặt khác các chi phí từ sản xuất lúa đến vận chuyển và bảo quản còn khá cao so với các nước trong
khu vực cũng trực tiếp ảnh hưởng đến xuất khẩu của ta trong thời gian qua.

Thứ tư: Dự báo thị trường nông sản của các nước trong khu vực và trên thế giới chưa nhanh
nhạy, thiếu chính xác. Chưa phân tích đầy đủ các yếu tố tác động tới giá cả gạo trong nhiều nă m.
Hơn nữa phải kểđến khả năng hạn chế của Doanh nghiệp xuất khẩu về maketing trong việc tiếp cậ n
thông tin nắ m bắt thị trường cũng như trong khâu giao dịch và ký kết hợp đồng.




27
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Thứ năm: Mức chênh lệch giá gạo quốc tế và giá gạo xuất khẩu của Việt Nam còn do những
nguyên nhân khác nữa như Việt Nam chưa cóđược hệ thống bạn hà ng tin cậy từ nhiều nă m như Thái
Lan, do đó doanh thu xuất khẩu cũng giả m do phải chi khoản hoa hồng môi giới.

 Trong thực tế, còn một hạn chế nữa đang là m đau đầu các nhà quản lý kinh tế và hoạch định
chính sách là hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam xảy ra hiện tượng càng xuất khẩu thì cà ng lỗ.
Trong nhiều nă m hoạt động xuất khẩu gạo vẫn rơi vào cái vòng luẩn quẩn: lúa trúng mùa rớt giá,
Nhà nước bỏ tiền bù giá mua tạm trữ; gạo xuất khẩu lỗ, Nhà nước lại dốc tiền bù lỗ cho Doanh
nghiệp. Điều này xảy ra do những nguyên nhân sau:

- Đó là công tác nhận định đánh giá tình hình sản xuất lúa gạo, đặc biệt trong bối cảnh thiên
tai liên tục diễn ra, chưa được quan tâm đúng mức và chưa chuẩn xác.

- Do các Doanh nghiệp xuất khẩu gạo không chủđộng được nguồn hàng. Các Doanh nghiệp
đã ký hợp đồng khi kho rỗng, không có châ n hàng. Còn lượng hàng hoá lại nằm trong tay các trung
gian như lại vựa, chủ xay xát. Doanh nghiệp còn nhậ n định sai, dẫn đến việc ký hợp đồng với giá
thấp, đến khi giao hàng phải mua với giá cao nên phát sinh lỗ.

- Mặt khác việc thực hiện các quyết định của Chính Phủ về tạm trữ gạo đều nhằ m điều chỉnh
giá lúa không xuống dưới giá sàn và khi đạt sẽ ngừng mua tạm trữ, về cơ bả n các Doanh Nghiệp đã
thực hiện khá nghiêm túc. Nhưng như thực tế xảy ra, nhiều Doanh nghiệp không mua lúa gạo để tạ m
trữ mà làđể mua bán lòng vòng. Ví dụ trong nă m 2001, kể từ tháng 5, khi giá thóc trong nước đã
vượt 1300 đồng/kg, nhiều Doanh nghiệp được giao nhận vụ này đã không còn giữ lượng gạo tạm trữ
trong kho theo đúng chỉ tiêu nữa. Theo con sốđược công bốđến ngày 31 tháng 7 lượng gạ o trong kho
của các Doanh nghiệp chỉđạt 661.000 tấn, do đóđã không đủ lượng gạo để trả nợ cho các hợp đồng
đã ký kết. Các Doanh nghiệp phải tìm mọi cách mua gom, giá gạo trên thị trường lên tới 2600
đồng/kg. Sự tăng giáảo khiến nhiều Doanh nghiệp kinh doanh thóc gạo chịu lỗ cả chục USD/tấn.
Bước vào những tháng cuối nă m, giá gạo vẫn lên cao, có lúc gạo xuất khẩu lên đến mức cao nhất
(5% tấm: 198 - 200 USD/tấn, gạo 25% tấm: 178 - 180 USD/tấn) tất cả các đầu mối đều không c ó
gạo tạm trữ cũng như không thể mua gạo nguyên liệu đáp ứng nhu cầu xuất khẩu vì giá quá cao. Vấn
đề không phả i chúng ta thiếu gạo theo ước tính mà lượng gạo tạ m trữở trong dân còn nhiều nhưng do
yếu tố tâ m lý nên các hộ sản xuất giữ lại không bán ra, tạo ra sự thiếu ảo trong quan hệ cung cầu trên
thị trường. Chính từ việc gạo ta đánh gạ o ta trên thị trường thế giới nên các thương nhân nước ngoà i
đã tận dụng triệt đểđểép giá gạo Việt Nam, đặc biệt trong thời điểm giá xuống, việc tìm đầu ra cho
xuất khẩu gặp khó khăn.




28
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Chương 3
MỘTSỐGIẢIPHÁPNÂNGCAOHIỆUQUẢ
HOẠTĐỘNGXUẤTKHẨUGẠOCỦA VIỆTNAM.



3.1. Dự báo thị trường gạo thế giới đến năm 2010.
Theo dự báo của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA), dân số thế giới nă m 2010 sẽđạt 6,7 tỷ người,
trong đó có khoảng 4 tỷ người dùng gạ o là lương thực chính. Châu Phi và Trung Đông có tốc độ
tăng dân số bình quân cao nhất là 2,3% và 2,5%. Các khu vực có tốc độ tăng dân số thấp hơn là
Châu Á và Châu Mỹ – Latinh 1,3% và 1,4%. Tốc độ tăng dân sốở các nước phát triển và các nước
có nền kinh tế chuyển đổi thấp hơn 0,5%, thấp nhất ở Nga, Đông Âu, Nhật và Cộng đồng chung
châu Âu. Vì vậy các thị trường xuất khẩu gạo lớn trên thế giới trong 10 nă m tới sẽ như sau:

Thị trường Châu Á: dâ n số 3637 triệu người, tỷ lệ nghèo lương thực còn chiếm 4% dâ n số –
khoảng 145,5 triệu người, hiện hằng nă m phải nhập khẩu 11 - 12 triệu tấn gạo. Châu Á thiếu gạo tập
trung ở một số nước đông dân là Trung Quốc (2,3 triệu tấn), Ấn Độ (1,9 triệu tấn), Inđônêsia (1,2
triệu tấn), Bănglađet (1 triệu tấn), Iran (0,5 triệu tấn), Irắc (0,3 triệu tấn). Trong thời gian tới sản xuất
tuy có tăng lên nhưng chưa đủđảm bảo cung cấp theo đà tăng dâ n số. Đến nă m 2010 với mức tăng
dân số và tăng trưởng bình quân 1,3% và 5-6%, dân số Châu Á lên đến 4328 triệu người, nhu cầu
gạo cần 415 triệu tấn. Thành phần gạo trong cơ cấu khẩu phần lương thực có xu hướng giả m xuống
10 - 15% vàđược thay thế bằng các lương thực thực phẩm khác ở nhiều nước. Vì vậy tuy dân số tăng
lên nhưng nhu cầu tiêu dùng gạ o sẽ tăng chậ m hơn. Các nước nhập khẩu gạo quan trọng ở Châu Á
vẫn là: Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin, Malaisia, Iran, Irắc, Inđônêsia vàẤn Độ. Nhu cầu gạo nhập
khẩu ổn định từ 10 - 11 triệu tấn/nă m.

Thị trường Châu Phi: dân số 771 triệu người, trong đó 231,3 triệu người chiếm 30% dâ n sốđang
ở trong tình trạng nghèo lương thực. Ngoài các lương thực khác, hiện gạo đang phải nhập khẩu ổn
định từ 10-11 triệu tấn mỗi nă m. Châu Phi hiện sản xuất được 4 triệu tấn lúa. Dự kiến đến 2010 dâ n
số Châu Phi lên đến 963,7 triệu người, trong khi khả năng mở rộng sản xuất ngô, lúa mì, tiểu mạch
vàđại mạch tăng chậ m, vì vậy nhu cầu phải nhập thêm gạo sẽ tiếp tục tăng. Với tốc độ tăng trưởng
kinh tế 3,5 - 4%, Châu Phi vẫn còn nhiều khó khă n để giả m tỷ lệ dân số nghèo lương thực, đến hết
thập kỷ tới ước tính vẫ n còn khoả ng 20% dân sốđói nghèo, trong đó 10% là nghèo lương thực.

Thị trường Mỹ La Tinh và Caribê: dân số 513 triệu người, tỷ lệ nghèo lương thực chiếm 3%
dân số tương đương 15,4 triệu người, đang phải nhập khẩu hàng nă m 1 - 1,5 triệu tấn gạo. Khu vực
Mỹ La Tinh và Caribê hiện sản xuất được 6 triệu tấn gạo mỗi nă m, với tốc độ tăng dâ n số bình quâ n
1,7%, đến nă m 2010 dự kiến có khoảng 615 triệu người, với tốc độ sản lượng 2,5% năm có thểđủđáp



29
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

ứng nhu cầu tiêu dùng gạo. Trong thời gian tới khu vực này vẫn tiếp tục nhập khẩu 5 - 5,5 triệu tấn
gạo mỗi nă m để thay thế sản xuất trong nước.

Các khu vực khác( Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Đại Dương): hiện mỗi nă m nhập khẩu khoảng
0,8 triệu tấn; chủ yếu là gạo chất lượng cao. Đến 2010, các thị trường nà y- đặc biệt là Bắc Mỹ do chi
phí lao động cao nên sẽ thay thế sản xuất bằng nhập khẩu gạo lên 1,4 triệu tấn một nă m. Vì vậy đâ y
sẽ là thị trường tiềm năng cho các nước xuất khẩu gạo phẩ m cấp cao.

Dựđoán đến nă m 2010 sản lượng gạo thế giới sẽđạt 429 triệu tấn, tính bình quân mỗi nă m tăng
2,7%. Sản lượng gạo tăng chủ yếu do năng suất tăng 21,1% năm, diện tích gieo trồng lúa 0,51%
nă m. Theo USDA thương mại gạo toàn cầu sẽ tăng với tốc độ 2%/nă m, và sẽđạt 26,7 triệu tấn vào
nă m 2010. Trong tương lai nhu cầu về gạo phẩ m cấp cao sẽ tăng lên, nhu cầu về gạo phẩm cấp thấp
giả m. Các nước xuất khẩu chính trên thế giới vẫn là Thái Lan, Việt Nam, Mỹ vàẤn Độ. Thái Lan
tiếp tục dẫ n đầu song sẽ bị mất thị phầ n cho Việt Nam. Qua đó có thể thấy rằng tiềm năng thị trường
gạo thế giới trong tương lai vẫn còn rất lớn cho các nước xuất khẩu gạo.

Đối với Việt Nam trong kế hoạch xuất khẩu gạo đến năm 2010, Bộ Thương mạ i dự báo, Việt
Nam vẫn là một trong 4 nước xuất khẩu gạo lớn nhất trong 10 năm tới. Xuất khẩu gạo của Việt Nam
sẽđạt cao nhất khoảng 4,6 triệu tấn/nă m trong giai đoạn 2001- 2005 và 5,4 triệu tấn/nă m giai đoạn
2006 - 2010. Khách hàng tiêu thụ gạo quan trọng của Việt Nam vẫ n là Châu Phi với lượng gạo xuất
khẩu hàng nă m đạt 1,9 - 2,7 triệu tấn, Châu Á: 1,3 - 1,5 triệu tấn, khu vực Mỹ La Tinh và Caribê: 0,5
- 0,9 triệu tấn. Tuy nhiên đểđạt được mục tiêu này Việt Nam cần đầu tư thoảđáng cho nông nghiệp.

Bảng 8: Thị trường nhập khẩu gạo thế giới giai đoạn 2000-2010.

(Đơn vị: triệu tấn)


Thị trường 2000 2005 2010

Thế Giới 23,8 28,5 32,7

11,5 11 10,5
Châu Á

Châu Phi 10,3 13 15,5


Mỹ Latinh và Caribê 1,2 3,5 5,3


Các khu vực khác 0,8 1 1,4


( Nguồn: Nghiên cứu kinh tế số 284- tháng 1/2002)


30
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo của
Việt nam.
3.2.1. Củng cố thị trường hiện có và mở thêm thị trường mới:

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các nước về xuất khẩu gạo như hiện nay và các năm tới,
để hạt gạo Việt Nam ngày càng đi xa hơn và gây được nhiều tiếng tă m trên thế giới, Việt Nam nhất
thiết phải có hệ thống các giải pháp hữu hiệu về thị trường tiêu thụ và xuất khẩu gạo. Đó là:

 Để củng cố và mở thêm thị trường mới, Việt Nam cầ n tăng năng suất và chất lượng sản xuất
lúa gạo trong nước để giả m chi phíđả m bảo an ninh lương thực quốc gia, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phân công lao động xã hội, từng bước tham gia vào công cuộc hợp tác quốc tế, thực hiện
chính sách thương mại mở.

 Trên cơ sở tăng cường công tác tiếp thị, không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ lúa gạ o
ngoài nước. Đối với thị trường truyền thống đặc biệt là thị trường các nước Châu Á có mối quan hệ
tốt đối với nước ta (Inđônêsia, Ấn Độ…) và một số nước Trung Đông (Iran, Irắc) Việt Nam cầ n
nâng cao sức cạnh tranh của gạ o Việt Nam. Với thị trường Châu Phi, tuy có nhu cầu lớn về gạ o
nhưng khả năng thanh toán lại có hạn và một phần còn dựa vào nguồn vốn viện trợ quốc tếđể thanh
toán, do đó ta sẽ bán gạo cho Châu Phi qua phương cá ch khai thác các nguồn vốn viện trợ quốc tế.
Việc mở rộng thị trường xuất khẩu gạo sang những thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, thì bên
cạnh việc tiếp thị thì Việt Nam cần phải sản xuất, chế biến các loại gạo phù hợp với yêu cầu của thị
trường và thị hiếu của người tiêu dùng, chỉ bán gạo ở thị trường cao cấp thì mới có hiệu quả cao do
bán được giá cao.

 Cần đa dạng hoá các kênh lưu thông với các cấp độ lưu thông lúa gạo, chú trọng các hình
thức lưu thông vừa và nhỏ tương ứng với quy mô cung- cầu ở thị trường từng vùng và cơ sở hạ tầng,
đồng thời xây dựng các kênh và cấp độ lớn nhằ m thúc đẩy mở rộng và thống nhất thị trường toà n
quốc, tạo điều kiện cho việc xuất khẩu gạo của Việt Nam nhằ m đáp ứng thị trường thế giới. Ngoà i
ra trong tương lai cần giả m bớt và dần dần đi đến chấ m dứt việc bán gạo qua trung gian, đẩy mạnh
bán trực tiếp để tăng khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam.

Tóm lại để tăng sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trong bối cảnh hiện nay còn phải có nhiều
giải pháp đồng bộ hơn, bên cạnh việc mở rộng và ổn định thị trường theo hướng đa dạng hoá, đa
phương hoá cần đả m bảo chữ tín với khách hà ng, tăng cường tiếp thị, đầu tư nghiên cứu và dự báo
thị trường…..bỏ Quota xuất khẩu gạo, mở rộng và khuyến khích sự tham gia của tư nhân vào hoạt
động xuất khẩu gạo, tiến tới thành lập các tập đoàn xuất khẩu gạo lớn có quan hệ với các tập đoàn
xuất khẩu gạo của Thái Lan. Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp trên sẽ xây dựng được thương
hiệu gạ o Việt Nam trên thị trường thế giới.

3.2.2. Nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu.
31
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

Chất lượng gạo là quyết định hiệu qủa của kinh doanh xuất khẩu gạo, bởi nó là yếu tố quan trọng
nhất quyết định giá cả và khả năng cạnh tranh, trên thị trường, gạo chất lượng càng cao bán được giá
càng cao. Gạo chất lượng cao được hiểu là gạo được xay xát ở mức độ vừa phải sao cho giữđược
phần lớn hoặc toàn bộ giá trị dinh dưỡng. Vấn đề chất lượng liên quan đến nhiều yếu tố do đó phả i
giải quyết đồng bộ các yếu tốđó:

 Giống lúa: Để nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu cần tăng cường đầu tư và mở rộng dựá n
giống lúa xuất khẩu có năng suất cao và phù hợp với thị hiếu của thị trường quốc tế. Trước hết cầ n
hoàn thiện bộ giống lúa xuất khẩu, xây dựng vùng lúa nguyên liệu tập trung sản xuất 1-2 giống chủ
lực cóđủ cơ sở hạ tầng (cơ sở nhân giống, giao thông thuận lợi, cụm thu mua, chế biến, hệ thống
kho, bến bãi). Có chính sách hỗ trợ giá giống, xác nhận, khuyến cáo nông dân chỉ sử dụng nhóm
giống lúa xuất khẩu. Việt Nam cần nghiên cứu thị hiếu của từng khu vực thị trường để có những
giống lúa thích hợp với đòi hỏi của thị trường đó, hiện nay, ở nước ta đa số giống lúa đang trồng
phục vụ cho xuất khẩu như: IR 64, OM 2031, OM 1490, 23MTL 250, VNĐ 95-20 đều đáp ứng đủ
tiêu chuẩ n chung của thế giới về gạo dài.

 Khâu chế biến: Sau khi có giống lúa tốt thì khâu xay xát chế biến đóng vai trò quyết định
trong việc tạo ra gạo thành phẩ m xuất khẩu chất lượng cao. Việt Nam cần huy động vốn đầu tư từ
ngân hàng, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào khâu chế biến, tích cực ứng dụng các thành tựu mới của
khoa học – công nghệ vào sản xuất để vừa tăng sản lượng lúa gạo cho tiêu dùng và cho xuất khẩu,
vừa không ngừng nâng cao chất lượng gạ o xuất khẩu, vừa bảo vệđược môi trường sinh thái. Đầu tư
và quy hoạch theo chiều sâu mạng lưới xay xát theo hướng CNH-HĐH. Các Doanh nghiệp tham gia
xuất khẩu nên hợp tác và cùng với Nhà nước nhập các công nghệ xay xát chế biến hiện đại của Nhật
Bản, Nam Triều Tiên để giả m tỷ lệ tấm, đánh bóng gạo, giảm độẩ m trong gạo. Điều này đòi hỏi một
hệ thống kho đệm để bảo quả n bao gói và vận chuyển phải đả m bảo các yêu cầu kỹ thuật mới có khả
năng bảo quản và tăng được chất lượng gạ o cho xuất khẩu.

 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn gạo quốc gia phù hợp với tổ chức quốc tếđể tăng sức cạnh
tranh. Chất lượng gạo chính là kết quả cuối cùng khi cóđầu tư thoảđáng, có kế hoạch và theo dõi tốt
việc thực hiện. Do đóđể có sản phẩm gạo chất lượng cao Nhà nước cần phối hợp với các cơ quan
kiểm định, giá m sát chặt chẽ chất lượng gạo khi chế biến xong vàđặc biệt là chất lượng gạo xuất
cảng, không nên để gạ o chất lượng thấp xuất ra ngoài vì nó gây thiệt hại về giá, khó cạnh tranh trên
thị trường. Có như vậy các doanh nghiệp xuất khẩu mới chúý vào chất lượng, tạo điều kiện áp lực
nâng cao chất lượng gạ o. Để thực hiện được điều đó biện pháp quyết định là quản lý kiểm tra chặt
đầu vào bao gồm : giống, kỹ thuật canh tác, thu hoạch và phơi sấy, thu mua và chế biến, tồn trữ, tiếp
thị và phân phối… Bên cạ nh đó cần có hình thức tổ chức bình chọn khen thưởng các doanh nghiệp
sản xuất gạo chất lượng cao.


32
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

3.2.3. Nâng cao giá gạo xuất khẩu.

Trong nhiều nă m nay khối lượng gạ o xuất khẩu của Việt Nam khá lớn nhưng kim ngạch thu về
lại không tương xứng. Giá gạo Việt Nam trên thịtrường thế giới luôn luôn thấp hơn các nước xuất
khẩu gạo chính khác nhất là so với Thái Lan. Giá gạo xuất khẩu thì do nhiều yếu tố cấu thành nên,
vậy để nâng cao giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế thì ta cần xem xét vàđề ra
biện pháp cho từng yếu tố:

 Giá gạo và chất lượng gạo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chất lượng gạ o xuất khẩu
quyết định giá gạo xuất khẩu. Gạo có chất lượng càng cao thì bán được giá càng cao, do đóđể tăng
giá gạo thì cần quan tâm đến khâu chất lượng gạ o. Trước hết cần khẩn trương hoàn thành quy hoạch
vùng lúa xuất khẩu cả nước và kế hoạch cụ thểưu tiên, đầu tư vốn và khoa học kỹ thuật để phát triển
lúa trong từng thời kỳ phù hợp với quy hoạch và kế hoạch xuất khẩu gạo của cả nước. Bên cạnh đó
cần thâm canh tăng năng suất lúa gạo chọn giống lúa xuất khẩu có chất lượng cao cộng với công
nghệ chế biến hiện đại, hệ thống kho tàng bến bãi bảo quản gạo xuất khẩu đúng tiêu chuẩ n quốc tế…
Khi chất lượng gạo xuất khẩu được nâng cao sẽ dẫ n đến giá gạo của Việt Nam cũng cao hơn.

 Những nă m qua thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam chủ yếu là nước đang và kém phát
triển, do đó gạo phẩ m cấp thấp, cụ thể là tỷ lệ gạo gãy 2 – 2,5%, vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể
trong tổng lượng gạo xuất khẩu, tuy nhiên để giá gạo cao hơn Việt Nam cần sản xuất nhiều gạo chất
lượng cao phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của các thị trường khó tính. Đặc biệt các loại gạo đặc sản
truyền thống cần được phát triển sản xuất trên quy mô lớn hơn nhằ m đáp ứng nhu cầu của một số
nước như Nhật Bản, Mỹ… ưa chuộng gạo thơm của Việt Nam.Thực tế cho thấy giá các loại gạo đặc
sản thường cao gấp đôi những loại gạ o khác, chẳng hạn như gạo đặc sản Hoa nhài của Thái Lan luôn
xuất đi với mức giá từ 740-800 USD/tấn trong khi đó loại gạo 5% tấm chỉ bán được với giá và o
khoảng 280-320 USD/tấn.

 Giá gạo xuất khẩu còn chịu ảnh hưởng của giá thóc gạo trong nước. Vì vậy muốn ổn định và
nâng cao giá gạo xuất khẩu thì cần quan tâm ổn định giágạo trong nước. Hiện nay Nhà nước đã thực
hiện chính sách thu mua tạm trữ và quy định giá sàn. Trước hết nhằ m giả m bớt thiệt hại cho nông
dân trồng lúa, Chính Phủđãáp dụng quy định giá sàn đối với hoạt động thu mua thóc, đồng thời nă m
2000 vàđầu năm 2001 thực hiện mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo với mục tiêu quan trọng là nhằ m xuất
khẩu gạo đạt được giá cao ở mức có thểđạt được chứ không phải làđể xuất khẩu ồạt vào thời điểm
mất giá nhiều nhất như thực tếđã xảy ra. Nhà Nước còn hỗ trợ chi phí vay vốn và những khoản lỗ
phát sinh cho các DN thực hiện mua tạm trữ và xuất khẩu lượng gạo dự trữ. Nhà nước rất quan tâ m
đến việc bình ổn giá cả và thu mua lúa gạo. Chính sách nà y nhằ m hạn chế tình trạng tranh mua –
tranh bán và là m cho người nông dân có lợi ích thoảđáng. Tránh tình trạng như vụĐông Xuâ n nă m
1997, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long được mùa, các công ty quốc doanh tổ chức các điểm mua

33
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

bán lúa tận dân với giá sàn 1500 – 1600 đ/kg. Tuy nhiên khi bước vào vụ thu hoạch lại để cho tư
thương thao túng thị trường mua ép với giá khoả ng 1000đ/kg. Do vậy, Nhà nước cầ n quan tâ m,
chỉđạo thu mua nông sản nói chung và lúa gạo nói riêng một cách thống nhất vàđồng bộ nhằ m
khuyến khích người dân sản xuất cũng như tăng hiệu quả xuất khẩu gạo. Trong chính sách này Nhà
nước cần có chính sách hỗ trợ nông dân khi giá lúa xuống thấp hơn giá sàn, cần phát huy vai trò
quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân các tỉnh trong vùng trong vấn đề vốn và tổ chức thu mua,
cuối cùng nên có những chính sách điều tiết lợi nhuận cho người trồng lúa.

 Phân tích và dự báo thị trường thế giới để có các biện pháp phù hợp nhằ m giả m thiểu sự
xuống giá của gạo xuất khẩu Việt Nam.

 Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng tới giá gạo xuất khẩu của Việt Nam. Chính phủ có thể quả n
lý vàđiều khiển hoạt động xuất khẩu gạo qua tỷ giá hối đoái, nhằ m ổn định giá gạo của Việt Nam so
với giá gạo quốc tế. Tỷ giá hối đoái cóả nh hưởng trực tiếp tới hiệu quả xuất khẩu gạo vì nó biểu hiện
mối quan hệ tương đối về giá (giữa đồng nội tệ vàđồng ngoại tệ USD). Nếu giá trịđồng đôla lên cao
hơn so với tiền Việt Nam thì xuất khẩu là có lợi do thu mua bằng tiền Việt Nam và bán bằng đôla,
nhưng điều này lại có hại đến các nhà xuất khẩu hàng hoá khác. Vì tỷ giá luôn có sự biến động nên
các Doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếđều bịả nh hưởng nhất định
theo hướng có lợi và bất lợi. Nhưng tỷ giá nào là phù hợp ? Đó là cả quá trình điều chỉnh có tính
nghệ thuật xuất phát từ lợi ích của nền kinh tế xã hội. Do vậ y cần có sự linh hoạt cần thiết. Đối vớ i
Việt Nam trước cạnh tranh ưu thế về chất lượng kỹ thuật, giá thành và trợ giá hàng nông phẩ m so
với các nước xuất khẩu khác thì nới rộng tỷ giá hối đoái là một trong những biện pháp khắc phục
tình thếđể tăng khả năng cạnh tranh đối đầu, giữ thị trường cho hàng hoá xuất khẩu của mình. Theo
dựđoán tốc độ tăng tỷ giá hối đoái của các nước trong khu vực ở mức 1 - 2%, giá trịđồng đôla vẫn
tiếp tục tăng cùng nhịp tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ. Vì vậy đểđả m bảo khả năng cạnh tranh
trong thanh toán giao dịch của đồng bản tệ cho xuất khẩu gạo so với các nước xung quanh, tỷ giá hối
đoái của đồng tiền Việt Nam cần được nới lỏng xung quanh mức bình quân 3 - 4% năm trong thời
kỳ tới. Hiện nay chúng ta đang áp dụng chính sách tỷ giá cốđịnh có linh hoạt, xét ở góc độ nào đó nó
thể hiện sựổn định của một nền kinh tế, nhưng chúng ta duy trì quá lâu, lạc hậu so với thị trường tự
do nên phần nào ảnh hưởng tới xuất khẩu và hầu hết các Doanh nghiệp xuất khẩu rơi vào tình trạng
khó khă n, thiếu vốn và không có lãi. Từ tháng 3 năm 1997 chính phủđãáp dụng chính sách phá
giáđồng tiền, gần đây nhất là năm 1998 (tháng 7 - 8) theo các cách thức khác nhau bằng: hạ thấp tỷ
giá chính thức (VNĐ/USD) hoặc thông qua điều chỉnh phạ m vi giá thương mại. Đến nay thời gian
hoạt động chính thức VNĐ/USD đãđược hai lần điều chỉnh, tăng lên 16,3%. Những tiến bộ này cho
thấy sự phản ứng với các điều kiện của thị trường, tạo lợi thế về giá tương dối cho hàng xuất khẩu
nói chung và củng cố khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩ m gạo nói riêng.


34
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

 Nhà Nước cần thiết phải tham gia vào quá trình kinh doanh xuất khẩu gạo. Chính Phủ cần
tăng cường tìm kiếm các hợp đồng xuất khẩu gạo dạng G - G (hợp đồng ký kết giữa 2 chính phủ) để
phân bổ lạ i cho Doanh nghiệp thực hiện. Chính phủ cầ n có những chuyên gia dự báo thị trường gạ o
thế giới dà y dạn kinh nghiệm để Việt Nam không bị thiệt thòi lớn khi giá gạo thế giới tăng lên.




35
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân

KẾTLUẬN
Trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới hiện nay, đểđả m bảo sự tăng trưởng cao thì
Việt Nam cần đa dạng hoá sản phẩm với chuyên môn hoá mặt hàng chủ lực trọng điểm. Đẩ y mạnh
sản xuất và xuất khẩu gạo là kết tinh sức mạnh truyền thống với hiện đại, giữa Quốc gia và Quốc
tếđể khai thác lợi thế tối đa. Xuất khẩu gạo Việt Nam là một hoạt động ngoại thương, góp phần nâng
cao kim ngạch xuất khẩu do đó việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằ m nâ ng cao hiệu quả
xuất khẩu gạo là cần thiết .Trong khoá luận tốt nghiệp này đãđưa ra một số vấn đề về hoạt động
xuất khẩu gạo của Việt Nam, từđó cũng đãđưa ra một số giải pháp cụ thể nhằ m nâng cao hiệu quả
của hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam như về chính sách, về mở rộng thị trường tiêu thụ gạo,
về chất lượng gạ o xuất khẩu, về giá gạo xuất khẩu ...

Nhìn chung , những thành công đãđạt được trong những nă m qua , xuất khẩu gạo Việt Nam
đãđóng góp một phần không nhỏ vào việc là m giả m tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam, tăng ngoại tệ cho
đất nước. Cùng với sự nỗ lực và cố gắ ng của mình thì hoạt động xuất khẩu gạ o của Việt Nam sẽ
ngày càng tạo được uy tín và có chỗđứng trên thị trường thế giới.




36
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân



Tài liệu tham khảo
1. Báo nghiên cứu kinh tế: số 278- tháng 7-2001, số 295-tháng 12-2002.

2. Báo Thương mại: số 17-2001. Số 1,2,3,4,5-2002.

3. Báo thông tin- kinh tế - xã hội : số 2-2002

4. Nguyễn Tiến Mạnh: Phát huy lợi thế nâ ng cao khả năng cạnh tranh của nông sản xuất
khẩu Việt Nam – NXB Nông Nghiệp 2001.

5. Nguyễn Trung Vâ n: Lúa gạo Việt Nam trước thiên niên kỷ mới- Hướng xuất khẩu. NXB
Chính Trị Quốc Gia 2001.

6. Những vấn đề kinh tế thế giới (kinh tế Việt Nam) số 2-2002.

7. Số liệu thống kê nă m 2000- 2001, NXB Thống Kê.

8. Tạp chí thông tin tài chính : số 4 tháng 2-2001, số 15 tháng 8-2001, số 12 tháng 6-2002

9. Tạp chí thị trường giá cả: số 3,4,9-2001; số 8,11-2002

10. Tạp chí kinh tế và dự báo : số 4-2001

11. Tạp chí ngoại thương : tháng 1,2,3,11,12- 2001; tháng 3,4,5,6,7-2002

12. Tạp chí Nông Nghiệp và Nông Thôn số 3-2003.

13. Tạp chí Cộng Sản số 6 tháng 2-2002.

14. Thời báo kinh tế Việt Nam : số 95, 97 năm 2001, số 54, 60, 75-2002.




37

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản