Đề tài “Một số ý kiến về phưong hướng công tác phát triển kiểm toán ở nướcta hiện nay”

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:18

0
82
lượt xem
30
download

Đề tài “Một số ý kiến về phưong hướng công tác phát triển kiểm toán ở nướcta hiện nay”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm gần đây, cùng sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế hệ thống quản lý kinh tế của nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc. Đóng góp cho sự phát triển này là nỗ lực phán đấu không ngừng của nghành kiểm toán nói chung .

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài “Một số ý kiến về phưong hướng công tác phát triển kiểm toán ở nướcta hiện nay”

  1. Luận văn Đề tài “Một số ý kiến về phưong hướng công tác phát triển kiểm toán ở nướcta hiện nay”
  2. LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm gần đây, cùng sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế hệ thống quản lý kinh tế của nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc. Đóng góp cho sự phát triển này là nỗ lực phán đấu không ngừng của nghành kiểm toán nói chung .KTNN nói riêng . Để cho nền kinh tế phát triển ổn định cần có một bộ phận kiểm tra , giám sát các hoạt động của đơn vị kinh tế, ngân sách thu chi của các đơn vị đó chính là bộ phận của nghành kiểm toán nó là một ngành có vị trí quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước, nó tạo tiền đề cho việc thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được của nghành kiểm toán, nó còn bộc lộ nhiều tồn tại cần phải khắc phục nổi nên hàng đầu là tình trạng thất thoát và lãng phí nguồn tài chính , chốn thuế gian lận trong kinh doanh. Không trung thực với thực tế số liệu hoạt động của đơn vị . Yêu cầu đặt ra đối với cấp quản lý là phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp phát và sử dụng vốn tại các đơn vị kinh tế . Kiểm toán là công việc hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho cấp quản lý phục vụ mục tiêu tăng trưởng và phát triển của đất nước, doanh nghiệp. Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa thực tế của nghành kiểm toán. Trong thời gian nghiên cứu lý luận trong trường học và thông qua tài liệu công tác kiểm toán nhà nước. Em đã đi sâu nghiên cứu đề tài “Một số ý kiến về phưong hướng công tác phát triển kiểm toán ở nướcta hiện nay” Được thông qua phương pháp phân tích những mặt còn hạn chế cần được khắc phục và xây dựng một hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh hơn Trong bài viết này gồm hai phần chính: Phần I : Lý luận chung về kiểm toán. Phần II: Thực trạng và một số ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm toán. Do trình độ có hạn song với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, bài viết này không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự đóng góp, bổ xung thêm để cho bài viết này được hoàn chỉnh hơn . Em xin trân thành cảm ơn.
  3. PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN I. HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN MỘT NHU CẦU TẤT YẾU CỦA NỀN KINH TẾ. Kiểm toán nhà nước là cơ quan thuộc chính phủ. Ở nước ta nó mới được thành lập và phát triển trong mấy năm nay nhưng nó đã hệ thống thể hiện một cách rõ rệt về vị trí vai trò của mình. Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. đặc biệt là quá trình quản ký kinh tế góp phần thúc đẩy nhiệm vụ kinh tế xã hôịo của đất nước truớc tình hình mới, thực hiện công cuộc phát triển kinh tế năng động, toàn diện đủ sức hội nhập theo xu hướng khu vục hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế. Hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán nhà nứơc nói riêng đã trở thành một nhu cầu tất yếu của nền kinh tế chuyển đổi. Nhà nước cần phải giải quyết nhiều vấn đè trong mối quan hệ giữa các cấp, các nghành, các đị phương và các tổ chức kinh tế, đặc biệt là quá trình xây đựng và hình thành pháp luật kiểm toán nhà nuớc hay luật kiểm toán nhà nước trong tương lai. Để thực hiện các mục tiêu đề ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh phấn đấu đạt hiệu quả cao nhất với chi phí tháp nhất người quản lý quá trình diễn biểu của hoạt động sản xuất từ đầu vào đến đầu ra và quá trình hạch toán kinh tế có đảm bảo đúng mục đích hay không? Có đúng phát luật hiện hành của nhà nước không? đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển năng động đảm bảo “sân chơi” chung phù hợp với luật pháp trong nước và thông lệ quốc tế. Hoạt động kiểm toán nói chung và hoạt động kiểm toán nhà nước nói riêng được tiến hành một cách thường xuyên và đi vào nề nếp thì chắc chắn sẽ giúp cho cơ quan lãnh đạo và các nhà quản lý thâý rõ tác dụng của nó. Hoạt động kiểm toán nhà nước có vị trí hết sức quan trọng đối với quảnlý kinh tế không chỉ ở tầm vĩ mô mà còn cả ở tầm vi mô. II. VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ. Bất cứ một chế độ xã hội nào , ngân sách nhà nước cũng là nguồn lực quan trọng nhất đảm bảo tài chính cho mọi lĩnh vực.
  4. Hoạt động của bộ máy nhà nước, một trong những công cụ để góp phần quản lý và sử dụng có hiệu lực nguồn lực ấy là cơ quan kiểm toán nhà nước nhất là trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi như nước ta hiện nay. Kiểm toán nhà nước đã khẳng định sự cần thiết và vai trò ngày càng lớn của mình trong việc góp phần quản lý kinh tế vĩ mô nói chung vã trong lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước công quỹ quốc gia nói riêng. Với chức năng kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn chung thực, chính xác ,hợp pháp, hợp lệ của số liệu kiểm toán , báo cáo kiểm toán của các đơn vị nhà nước, đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp , các đoàn thể quần chúng và các tổ chức xã hội. Kiểm toán nhà nước bước đầu khẳng định được vai trò không thể thiếu được của mình trong hệ thống kiểm tra, kiểm soát của nhà nước ta. Những kết quả kiểm toán trung thực, chính xác , khách quan của cơ quan kiểm toán nhà nước không chỉ giúp chính phủ, quốc hội đánh giá đúng tình hình thực trạng tài chính ngân sách nhà nước mà còn cung cấp các thông tin làm căn cứ cho việc hoạch định các chính sách kinh tế , ra các quyết định có hiệu lực cao , đề ra các biện pháp tăng cường quản lý thu chi ngân sách đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trong việc sử dụng ngân sách. Kiểm toán nhà nước không chỉ thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ như kiểm toán tư nhân mà còn có chức năng được đảm bảo bằng chính địa vị pháp lý của nó là thúc đẩy việc thực thi các kiến nghị và điều chỉnh đã nêu trong các báo cáo kiểm toán , trong việc kiểm soát và quản lý nền kinh tế đã thấy rõ kiểm toán nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng kiểm tra, giám sát , kiểm soát và quản lý nền kinh tế. Kiểm toán nhà nước là cơ quan chức năng của nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận cho bản thân cơ quan kiểm toán mà vì toàn bộ nền kinh tế, nên hoạt động của kiểm toán nhà nước mang tính khach quan, không trục lợi. Kiểm toán nhà nước là cơ quan có địa vị pháp lý đủ mạnh để thực hiện các chức năng kiểm tra , kiểm soát , cảnh báo và trên giác độ vi mô , có thể góp phần ngăn chặn các nguy cơ dẫn đến phá sản cho doanh nghiệp được kiểm toán, và mở rộng hơn trên giác độ vĩ mô có thể cảnh báo cá nguy cơ dẫn đến các khó khăn tài chính , khủng hoảng cho các nghành cũng như cho toàn bộ nền kinh tế. Hơn nữa, kiểm toán nhà nước có thể liên kết với các cơ quan hữu quan đẻ thuc đẩy quá trình thực thi các kiến nghị kiểm toán, và trên phương diện nhất định có
  5. thẩm quyền pháp lý để buộc các đối tượng kiểm toán và các bên liên quan thực hiện điều chỉnh quản lý , khắc phục các vi phạm sửa sai và chấn chỉnh trong công tác tài chính . Trong quá trình hoạt động vai trò của kiểm toán nhà không ngừng được củng cố và tăng cường đáp ứng một phần yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn trong việc quản lý điều hành đất nước, nó được thể hiện một số mặt chủ yếu sau. - Thứ nhất góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện hành về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước ,thực hiện nộp đúng, nộp đủ theo quy định của pháp luật. - Thứ hai kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách nhà nước chống thất thoát, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước. - Thứ ba cung cấp cơ sở dữ liệu để thực hiện việc quyết định và quản lý ngân sách nhà nước sát thực và có hiệu quả hơn. Một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nhà nước và công quỹ quốc gia trong việc quản lý điều tiết nền kinh tế là dự toán ngân sách nhà nước. Thông qua việc kiêm tra tài chính. Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra những bất họp lý trong việc xác định những chỉ tiêu thu, chi ngân sách nhà nước, góp phần tạo lập cơ sở, căn cứ để xây dựng dự toán ngân sách nhà nước cho những năm sau, nhằm thu đúng thu đủ, chống thất thu cho ngân sách nhà nước. Đồng thời kiến nghị việc phân bổ ngân sách nhà nước cho các ngành, các địa phương một cách hợp lý. Ngoài ra ngành kiểm toán nhà nước đã góp phần đánh giá một cách sát thực tình hình tài chính của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước làm căn cứ cải tiến quản lý doanh nghiệp, điều chỉnh các chính sách kinh tế, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước cùng với việc huy động vốn đầu tư phát triển. -Thứ tư thông qua hoạt động kiểm toán, kiểm toán nhà nước đã đề xuất, kiến nghi nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về kinh tế tài chính và ngân sách nhà nước ở các cơ quan, đơn vị trung ương và địa phương. III. NHỮNG THÀNH QUẢ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH. Đối với mọi quốc gia trên thế giới có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều có một đặc điểm chung nhất là hoạt động kiểm toán trong nền kinh tế được coi là một thiết chế để duy trì sự công bằng và tạo niềm tin cậy trong các
  6. quan hệ kinh tế xã hội trong điều kiện cạnh tranh. Một nền kinh tế thi trường phát triển lành mạnh có sức cạnh tranh và hiệu quả cao. Cách đây hơn 6 năm mgày 11/7/1994. Kiểm toán nhà nước chính thức được thành lập trên cơ sở nghị định 70/CP của chính phủ. Theo đó: Kiểm toán nhà nước là cơ quan thuộc chính phủ và là cơ quan kiểm tra tài chính công của nước công hoà XHCN việt nam thực hiện việc kiểm toán đối với các cơ quan nhà nước các cấp, các đơn vị có nhiệm vụ thu chi ngân sách nhà nước và các tổ chức , đơn vị có quản lý, sử dụng công quỹ và tài sản nhà nước. Kiểm toán nhà nước ra đời là một yêu cầu thị trường tất yếu của xu thế đổi mới , là sự đòi hỏi khách quan của cơ chế thi trường trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một cơ quan mới, trước đó chưa có một tổ chức tiền thân , chưa có một tiền lệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước nên trong buổi đầu kiểm toán nhà nươc không gặp ít khó khăn từ cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức con người đến công tác chuyên môn, cơ sở pháp lý cho hoạt động . Trên cơ sở điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước, đến nay bộ máy tổ chức của ngành đã đi vào thế ổn định và tiếp tục phát triển, từ chỗ ban đầu (1994) chỉ có hơn 30 người đến nay kiểm toán nhà nước có hơn 500 cán bộ công nhân viên, trongg đó hơn 400 người là kiểm toán viên. Tuy còn thiếu nhiều so với nhiệm vụ lâu dài của ngành nhưng số cán bộ hiện có đã đáp ứng được nhiệm vụ trong giai đoạn đầu thành lập. Nhìn chung đội ngũ cán bộ đều được đào tạo có hệ thống, số tốt nghiệp trở nên 88%, riêng kiểm toán viên 100% đều đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành tài chính kiểm toán và một số chuyên ngành kĩ thuật khác. Nhìn lại những năm qua kiểm toán nhà nước đã có bước phát triển đáng kể trong việc triển khai kế hoạch kiểm toán hàng năm với quy mô và chất lượng năm sau cao hơn năm trước. Kiểm toán là một nghề mới ở nước ta, do đó kiểm toán viên nhà nước nhìn chung chưa được đào tạo một cách có hệ thống và bài bảng. Vì vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ kiểm toán đã được đặc biệt coi trọng. Sáu năm qua kiểm toán đã thu được một số kết quả nhất định trong lĩnh vực hợp tác quốc tế. Tháng 4 năm 1996,kiểm toán nhà nước đã ra nhập tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) vào tháng 11 năm 1997 trở thành thành viên của tổ chứccác cơ quan kiểm toán tối cao Châu á (ASOSAI) ngoài ra kiểm toán nhà nước còn mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương với các cơ quan kiểm toán tối cao của nhiều nước trên thế giới. Bước đầu đã thực hiện có kết quả những dự án do ngân sách phát triển Châu á(ADB).
  7. Ngày nay ngành kiểm toán đã trở thành một ngành có thế mạnh, có tổ chức chặt chẽ giữa các khâu, các bộ phận với nhau, một ngành mạnh trong cơ quan kiểm tra của nhà nước. PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM TOÁN. I . THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM TOÁN NƯỚC TA HIỆN NAY. Đối tượng kiểm toán của cơ quan kiểm toán Nhà nước là nền tài chính công, các đơn vị có liên quan đến quá trình quản lý sử dụng ngân sách Nhà nước và các tài sản cùng công quỹ quốc gia. Để thực thi quyền chức năng và trách nhiệm của mình, kiểm toán Nhà nước phải tiên hành 3 loại hình kiểm toán: - Kiểm toán báo cáo tài chính. - Kiểm toán tuân thủ. - Kiểm toán hoạt động. Để cho kiểm toán hoạt động đúng với bản chất và hoạt động có hiệu quả, phải chú trọng tới chất lượng kiểm toán. Chất lượng kiểm toán là thước đo về tính hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Chất lượng kiểm toán được thể hiện bằng việc đưa ra lời nhận xét đúng đắn và trung thực hợp lý, hợp pháp các thông tin được kiểm toán nhằm phục vụ cho công tác quản lý và điều hành ngân sách Nhà nước của các cấp chính quyền, các doanh nghiệp quản trị doanh nghiệp đối với các nhà quản lý, các hoạt động đầu tư tài chính và các quan hệ giao dịch kinh tế khác. Hiện nay chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vai trò quản lý của Nhà nước giữ đúng định hướng phát triển của nền kinh tế theo mục tiêu quan điểm và đường lối của đảng, phát huy nhiều mặt tích cực, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực vốn có của cơ chế thị trường. Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, những mặt trái của cơ chế thị trường cũng ngày càng bộc lộ rõ nét và gây ảnh hưởng không nhỏ, thâm chí có một số biểu hiện đáng lo ngại về
  8. kinh tế - xã hội. Mặc dù, chúng ta có nhiều cố gắng ngăn chặn và xử lý song tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hoạt động kinh doanh trái pháp luật, trốn thuế, gây thất thoát ngân sách và tài sản Nhà nước ngày càng lớn và phổ biến ở nhiều nơi. Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều nguyên nhân: - Đó là, khi đi vào kinh tế thị trường chúng ta quá chậm và chưa tập trung đúng mức cần thiết cho việc hình thành và tăng năng lực hệ thống kiểm toán. bao gồm, kiểm toán Nhà nước , kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ ở các đơn vị kinh tế cơ sở, trước hết là doanh nghiệp Nhà nước. Qua kinh nghiệm thực tế cho chúng ta thấy, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều cần có hệ thống kiểm toán mạnh. Có thể nói đây là một công cụ đắc lực không thể thiếu được để quản lý kinh tế của mỗi quốc gia. Hơn nữa, ở nước ta cho đến nay hệ thống đó mới hoạt động theo những văn bản pháp quy dưới luật cho nên cơ sở và tính pháp lý còn rất hạn chế. Mặc dù, trong 5 năm qua đã có nhiều cố gắng, song đến nay hệ thống kiểm toán Nhà nước mới có khoảng 450 kiểm toán viên, trình độ quản lý Nhà nước, quản lý tài chính, đặc biệt là nghiệp vụ chuyên môn của kiểm toán còn nhiều mặt hạn chế. Do vậy, hoạt động kiểm toán mới triển khai bước đầu ở một số ngành, địa phương và doanh nghiệp trọng điểm. - Bộ máy quản lý tài chính, bảo vệ phát luật được tổ chức rất đồ sộ, nhiều khâu nhiều cấp rất hệ thống, từ Trung ương đến địa phương biên chế lớn, song chưa được quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, hoạt động còn chồng chéo chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan với nhau nói chung và hệ thống kiểm toán nói riêng. Tình trạng vi phạm phát luật như tham nhũng làm thất thoát hàng tỷ đồng, tài sản của doanh nghiệp, của Nhà nước dưới nhiều hình thức vẫn cứ xảy ra và ngày càng nhiều vụ việc mang tính chất phổ biến và nghiêm trọng, thậm chí có vụ mang tính tập thể có tổ chức cả trong và ngoài doanh nghiệp. Rõ ràng chí xét về mặt quản lý tài chính, ngân sách Nhà nước ở nhiều doanh nghiệp Nhà nước có thể kết luận là: Công tác này, lâu nay bị buông lỏng, bộ máy quản lý cấp trên và trong doanh nghiệp vô cùng đồ sộ nhưng kém hiệu lực và hiệu quả, không thể xác định được trách nhiệm về khâu nào, cấp nào, cơ quan tổ chức nào. Trong khi đó sự tác động của hệ thống kiểm toán còn quá mỏng manh và hụt hẫng, rất xa so với nhu cầu công tác kiểm toán đối với các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị sự nghiệp đứng trên góc độ phát luật. Những sai
  9. sót, gian lận và sự vi phạm các văn bản phát luật của đối tượng kiểm toán, tuỳ mức độ nặng nhẹ, tuỳ nguyên nhân chủ quan hay khách quan, kiểm toán viên và đoàn thể kiểm toán có sự phân tích đánh giá và kết luận. Có thể nêu ra một số dấu hiệu chủ yếu của việc không tuân thủ các quy phạm pháp luật. 1. Những dấu hiệu sai phạm trong khâu tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh. - Tổ chức cơ quan, đơn vị không đúng với quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thành lập và vi phạm điều lệ quy chế về tổ chức và hoạt động của đơn vị. - Tổ chức quản lý và hạch toán tuỳ tiện không tuân theo 1 mô hình nhất quán và chặt chẽ, phân cấp hạch toán và tổ chức bộ máy kiểm toán tuỳ tiện, không phù hợp với quy định của pháp lệnh kiểm toán thống kê và chế độ kiểm toán hiện hành. - Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các công chức và viên chức lãnh đạo và kiểm toán trưởng trái các quy định của luật pháp. Tuyển dụng công chức, cán bộ và viên chức không tuân theo 1 trình tự, thủ tục, tiêu chuẩn cho phép. - Phát triển các hoạt động một cách tự phát không theo chức năng nhiệm vụ. Liên doanh, liên kết không có cơ sở pháp lý và luân chức hợp lý, hợp pháp dẫn đến rối loạn trong quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh gây thiệt hại về nguồn nhân lực. 2. Những dấu hiệu sai phạm về các hoạt động kinh tế. - Tiến hành các hoạt động vụ lợi trái quy định pháp luật ngoài vi phạm thẩm quyền. - Vi phạm các chế định của pháp lệnh hợp đồngkt, đặc biệt là trong quan hệ thầu, ký kết hợp đồng kinh tế. Gian lận khi tiến hành các thủ tục hợp đồng. Vận dụng sai nguyên tắc các chế định về giá cả. - Gian lận và man trá trong thủ tục đấu thầu. - Vi phạm các chế định luật pháp về quản lý sử dụng tài sản vật tư, nhân lực, tiền vốn trong triển khai các hoạt động kinh tế. - Không làm hoặc làm sai các quy định về kiểm kê, đặc biệt là việc kiểm kê hình thức. Không có quy trách nhiệm vật chất trong biên bản kiểm kê và không có quyết định xử lý kiểm kê.
  10. - Sử dụng một cách vô nguyên tắc thiếu hiệu quả các khoản chi phí tiếp thị, lợi dụng để biển thủ các khoản kinh phí dành cho tiếp thị, ký kết hợp đồng kinh tế. - Vi phạm các quy định luật pháp và các quy định nội ngành, nội bộ về quản lý và điều hành đơn vị về mặt kinh tế. 3. Những dấu hiệu sai phạm về xử lý các quan hệ tài chính, các quan hệ lợi ích. - Không có quy tắc chuẩn mực hoặc vi phạm các chế định luật pháp khi xử lý các quan hệ tài chính dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, gặp đâu làm đó, làm rối loạn các quan hệ tài chính, đặc biệt là khâu giải quyết công nợ thanh toán và tất nhiên là sự gây nên sự căng thẳng về quan hệ tài chính, hạn chế, thậm chí triệt tiêu hiệu quả các hoạt động kinh tế tài chính. - Trốn, lậu thuế, đặc biệt là những đơn vị trốn lậu thế kéo dài. - Vi phạm các quy tắc và quy định chế độ tián dụng, xâm hại lợi ích của ngân hàng, của người cho vay, làm thất thoát tài sản khi cho vay, cho tạm ứng, vi phạm các chế định luật pháp, về lãi suất, tiền vay, tiền gửi. Về kế ước nhận vốn của người góp vốn. - Vi phạm các chế định pháp luật khác về thị trường vốn, các giao dịch cổ phiếu, trái phiếu và các quy định luật pháp về thị trường chứng khoán nói chung. - Vi phạm luật hoặc các quy định về chống độc quyền, gian lận trong thương mại. - Đầu cơ, trục lợi trong hoạt động kinh tế và sản xuất - kinh doanh. - Vi phạm các quy định về luật thương mại, luật bản quyền hoặc các công ước quốc tế mà chính phủ đã cam kết thực hiện. 4. Những dấu hiệu sai phạm về công tác tài chính. - Không thực thi các quy định về bảo toàn tồn phát triển nguồn vốn trong quy định của biên bản giao nhận vốn. - Vi phạm các cam kếttài chính trong khế ước vay vốn, góp vốn nhận nợ. - Vi phạm các quy định về tài chính trong hợp đồng kinh tế, cả trong hợp đồng tập thể giữa thủ trưởng và người lao động.
  11. - Vi phạm các quy định về phân chia lợi nhuận, chia cổ tức khi phân phối lợi nhuận hoặc sử dụng các quỹ khi giải quyết quan hệ lợi ích với các bên liên quan. - Vi phạm về phân cấp quản lý vốn, điều hoà chu chuyển vốn, thanh toán trong nội bộ. - - Vi phạm các quy định về các nguyên tắc quản lý nguồn vốn chủ sơ hữu, nguồn đi vay, phần vốn góp và các quỹ của đơn vị. - áp dụng sai các quy tắc về luật pháp về định giá tài sản, làm thất thuát, xâm hại nguồn tài chínhcủa đơn vị. - Dùng công quỹ để hối lộ, để vụ lợi, để che dấu các hoạt động bất minh. 5. Những dấu hiệu vi phạm về kiểm toán. - Vi phạm các nguyên tắc về tổ chức kiểm toán, bao gồm cả tổ chức bộ máy và tổ chức công tác kiểm toán nhất là về phân cấp hạch toán. - Vi phạm về khâu hạch toán ban đầu, đặc biệt là sử dụng lưu hành các chứng từ kiểm toán bất hợp pháp, không hợp lệ. - Vi phạm chế độ tài khoản , làm rối loạn khâu hạch toán đặc biệt nghiêm trọng là chủ tâm gây nhiễu khi thiết kế sơ đồ hạch toán và vi phạm các nguyên tắc ghi sổ, che dấu các quan hệ tài chính bất minh. - Vi phạm nguyên tắc định giá, nguyên tắc bảo toàn vốn, nguyên tắc phản ánh trung thực khách quan các tài sản của đơn vị. Cố ý sử dụng sai tỷ giá hối đoái để vụ lợi bất chính. - Vi phạm nguyên tắc hạch toán kiểm toán chỉ dùng đồng Việt Nam. - Hạch toán sai doanh thu, chi phí, thu nhập. - Xuyên tác kết quả sản xuất kinh doanh, biến lãi thành lỗ và ngược lại. - Lên báo cáo tài chính sai quy tắc kiểm toán, gian lận khi lên các chỉ tiêu tổng hợp, xuyên tạc thực trạng tài chính của đơn vị. - Không duy trì, hoặc có ý không duy trì sự hạch toán liên tục, đúng kỳ, vi phạm, quy định về lập báo cáo kiểm toán. - Vi phạm quy định bảo quản, lưu trữ hồ sơ kiểm toán. cố tình che dấu, làm thất lạc hoặc huỷ hoại tài liệu, hồ sơ kiểm toán.
  12. - Không điều chỉnh sổ sách theo quyết định kiểm kê, theo quyết định của các đoàn kiểm tra, kiểm toán có thẩm quyền. Những tồn tại yếu kém của ngành còn được thể hiện trong nhiều mặt. Song những gì ngành đóng góp cho việc quản lý nguồn lực tài chính của đơn vị, tổ chức, quốc gia nó được thể hiện qua 1 số ưu nhược điểm sau: Ưu điểm: Thông quan kiểm toán kiểm toán Nhà nước đã phát hiện và kiến nghị tăng thu, tiết kiệm chi cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là qua kiểm toán đã giúp đỡ các đơn vị thấy được thực trạng tình hình tài chính nhiều yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh. Những số liệu kiểm toán còn cung cấp cho cơ quan quản lý và sử dụng nguồn nhân lực NSNN trong từng địa phương và đơn vị cung cấp thông tin xác thực cho cơ quan quản lý Nhà nước về thực trạng thu chi, điều hành và quyết toán NSNN... nó cũng là 1 trong những căn cứ để Quốc hội xem xét quyết định phân bổ và phê chuẩn quyết toán NSNN, đồng thời giúp chính phủ hoạch định chính sách và đề ra các biện pháp tăng cường quản lý vĩ mô nền kinh tế. Bên cạnh các chức năng chuyên biệt của kiểm toán, kiểm toán còn tực hiện một chức năng quan trọng khách là phát hiện và cảnh báo các nguy cơ nổ ra ọt cuộc khủng hoảng kinh tế. Thông qua kiểm toán để có biện pháp ngăn chặn, hạn chế mức thiệt hại thấp nhất. Thông qua kiểm toán còn phát hiện ra các vụ tham nhũng, tham ô ngân sách Nhà nước, trốn thuế, tệ nạn buôn lậu, làm thất thoát ngân sách Nhà nước. Có thể khẳng định một cách nghiêm túc kiểm toán Nhà nước là cơ quan quyết định trong bộ máy tổ chức quyền lực quan trong của Nhà nước nó là tích cực giúp cho Quốc hội chính phủ có những cơ sở để hoạch định chính sách phát triển lâu dài của nền kinh tế. Nhược điểm: Song những mặt tích cực của kiểm toán nó vẫn còn tồn tại những hạn chế cần có biên pháp khắc phục, nhưng hiệu lực kiểm toán còn hạn chế, chưa đủ mạnh để đi sâu làm rõ sai phạm trong quản lý điều hành phân phối và sử dụng NSNN. Vi phạm hoạt động trong kiểm toán Nhà nước còn hạn hẹp, chất lượng kiểm toán chưa cao, mới chỉ dừng lại ở việc xem xét, xử lý những vấn đề riêng lẻ của từng đối tượng kiểm toán mà chưa đi sâu vào phân tích tổnghợp, đội ngũ
  13. kiểm toán viên nhìn chung có phẩm chất tốt, cần cù, chịu khó trong công việc nhưng trình độ chưa tương xứng với đòi hỏi nhiệm vụ được giao. Nó đã xuất hiện 1 vài hiện tượng cá biệt phản ảnh sự thiết trong sáng trong công việc và sinh hoạt, đã xuất hiện việc che dấu những vụ làm ăn phí pháp không trung thực với kết quả kiểm tra phản ánh không đúng thực té tổ chức nhiều khâu làm cho công việc tiến hành đồ sộ qua nhiêu bước gây mất nhiều thời gian tiền của trong việc thực thi công việc. Nhiều khi còn tạo kẽ hở cho bạn trốn thuế, việc tham nhũng, buôn lậu, làm ăn bất chính. Chức năng, nhiệm vụ chưa quy định rõ dàng. Bộ máy hoạt động còn chồng chéo và đồ sộ, phạm vi hoạt động không quy định rõ dàng. Chính vì vậy mà nó tạo cho việc thực thi công việc mấtthời gian, phức tạp hiệu quả công tác chưa cao. Giữa các bộ phận không thống nhất còn nhiều sơ hở trong khâu quản lý và điều hành. II. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT. Để kiểm toán Nhà nước hoạt động có kết quả tốt thì một hệ thống chuẩn mực kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán cần sớm được ban hành các chế độ, chính sách của Nhà nước cần phải thốngnhất, và trên cơ sở đó xác định đúng địa vị pháp lý của kiểm toán Nhà nước đẻ xứng đáng là 1 trong những công cụ kiểm kê, kiểm soát đáng tin cậy, góp phần làm lành mạnh tình hình tài chính Nhà nước. 1. Mấy kiến nghị tăng cường hệ thống kiểm toán trong quản lý tài chính ngân sách Nhà nước. - Kiểm toán Nhà nước phải sớm phát triển mạnh để thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc với mọi cơ quan, đơn vị có sử dụng ngân sách Nhà nước. Nhà nước sớm ban hành luật kiểm toán trước mắt là pháp lệnh lkiểm toán trong đó quy định rõ vị trí pháp lý, chức năng, từng bộ phận cấu thành và của mỗi kiểm toám viên Nhà nước. Trong luật kiểm toán cũng phải xác định giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán và trách nhiệm phối hợp trong kiểm toán nói riêng và giữa kiểm toán với hoạt động của cơ quan khác, thanh tra, quản lý tài chính, điều tra, giám sát trong và ngoài doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức cơ sở kinh tế sự nghiệp nói chung. - Mở rộng mạng lưới kiểm toán độc lập, đáp ứng nhu cầu kiểm toán mọi doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh. Mạng lưới kiểm toán này bao gồm các
  14. oong ty, kiểm toán thuộc mọi thành phần kinh tế, hoạt động theo pháp luật Nhà nước và hợp đồng trách nhiệm giữa đơn vị kiểm toán với đơn vị kinh tế, sự nghiệp, các cơ quan tổ chức chủ dự án, chủ đầu tư. - Cùng với việc sớm ban hành luật kiểm toán mới thay thế pháp lệnh hiện hành (vì ban hành từ năm 1988 nay đã có những nội dung không phù hợp) Củng cố phòng tài chính kiểm toán của doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cần tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp lớn. Bộ phận kiểm toán nội bộ doanh nghiệp hoạt động độc lập với phòng tài chính - kiểm toán của Nhà nước theo pháp luật, dưới sự đầo tạo, hướng dẫn và kiểm tra về nghiệp vụ chuyên môn kiểm toán Nhà nước. Nhà nước cần tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy thanh tra Nhà nước, kho bạc Nhà nước, Tổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp, Tổng cục đầu tư phát triển theo hướng tinh giảm khâu cấp, giảm biên chế, đồng thời quy định rõ và bảo đảm hoạt động đúng chức năng có sự phối hợp chặt chẽ giữa các loại cơ quan đó với nhau và với hệ thống kiểm toán nhằm phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước nói chung, quản lý tài chính, ngân sách và quản lý doanh nghiệp nói chung. Hệ thống kiểm toán không ngừng được mở rộng và kiện toàn theo sự phát triển và đa dạng của nền kinh tế quốc dân nó là 1 công cụ đắc lực không thể thiếu được của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường. 2. Mấy ý kiến về xác lập quyền hạn của kiểm toán Nhà nước trong bộ máy quyền lực của Nhà nước. Mỗi cơ quan đều có những quyền hạn nhất định theo các quy định của pháp luật, đối với cơ quan kiểm toán Nhà nước cũng vậy, quyền lực của Nhà nước, quyền hạn của co quan kiểm toán Nhà nước chính là điều kiện quan trọng để giúp cho cơ quan này hoàn thanhf tốt chức năng và nhiệm vụ của mình. Các quyền hạn của KTNN phải được xác lập 1 cách rõ ràng trên 3 phương diện: - Quyền hạn nhằm bảo đảm tính tự chủ và tính độc lập cao để KTNN thực hiện được các chức năng nhiệm vụ 1 cách khách quan, vô tư đạt hiệu quả cao. - Các quyền hạn của KTNN đối với các đơn vị được kiểm toán và các hoạt động liên quan, nhằm thực hiện và bảo đảm chất lượng các cuộc kiểm toán. - Các quyền hạn của KTNN về công bố báo cáo kiểm toán và đưa ra các kiến nghị có liên quan đến việc xử lý các sai phạm được phát hiện.
  15. Trên cơ sở phân loại quyền hạn của KTNN, cần xác lập các quyền hạn bằng các điều khoản cụ thể trong luật hay pháp lệnh KTNN. 2.1. Về quyền hạn chung của KTNN. - Quyền hạn về phạm vị kiểm toán. Việc tách 1 số lĩnh vực để kiểm tra phải có quy định cụ thể, ngoài ra quyền hạn KTNN phải bao quát các lĩnh vực, các đơn vị phi chính phủ, các tổ chức. - Quyền tự chủ về lập kế hoạch kiểm toán và lựa chọn đối tượng kiểm toán mà không 1 cơ quan hoặc cá nhân nào có quyền can thiệp, phần lớn các cơ quan KTNN tự lập kế hoạch ra quyết định kiểm toán ngoài ra KTNN có thể kiểm toán theo yêu cầu của chính phủ hoặc Quốc hội.. Hiện nay ở nước ta, KTNN lập kế hoạch kiểm toán hàng năm trình chính phủ phê duyệt. Tổng kiểm toán Nhà nước ra quyết định kiểm toán theo kế hoạch kiểm toán đã được chínhphủ phê duyệt, theo em để đảm bảo tính độc lập cao của cơ quan kiểm toán Nhà nước nên cho phép KTNN quyền tự chủ lập kế hoạch kiểm toán và thông qua quyết định kiểm toán theo cơ chế hội đồng. - Nguồn kinh phí để hoạt động của cơ kiểm toán Nhà nước dựa vào đâu? Ngân sách cấp hay có phần đống góp của đơn vị kiểm toán, theo em để đảm bảo tính độc lập cần thiết về mặt kinh tế cho cơ quan KTNN cần cho Kiểm toán Nhà nước quyền hạn tự lập kế hoạch về ngân sách của mình đảm bảo đầy đủ các chi tiết cần thiết theo quy định. 2.2. Các quyền điều tra và các quyền thi hành nhiệm vụ. - Quyền yêu cầu các cơ quan đơn vị, tổ chức thuộc đối tượng kiểm toán cung cấp các báo cáo quyết toán và các thông tin tài liệu cần thết để thực hiệ kiểm toán. - Quyền yêu cầu các cá nhân, tổ chức trong xã hội cung cấp các thông tin, dịch vụ chuyên ngành và tư vấn có liên quan đến cuộc kiểm toán. - Quyền phỏng vấn trực tiếp hoặc yêu cầu giải trình tài kiệu đối với các cá nhân thuộc đối tượng kiểm toán. - Quyền đưa ra các giải pháp để ngăn chặn kịp thời các sai phạm, vi phạm nghiêm trọng mà kiểm toán Nhà nước phát hiện khi thực hiện kiểm toán có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích Nhà nước, lợi ích quốc gia.
  16. 2.3. Quyền báo cáo kiểm toán và công bố kết quả kiểm toán. Sự thuyết phục đối với các lực lượng của xã hội của cơ quan kiểm toán Nhà nước chủ yếu thông qua các kết luận và kết quả phản ánh trong báo cáo kiểm toám. theo luật định những kiểm toán cần phải công báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua việc công bố kết qả kiểm toán, một mặt đảm bảo cho công luận ghi nhận được các thông tin về hoạt động kiểm toán tài chính, mặt khác được thảo luận công khai về những sai phạm đã được công bố sẽ tạo nên áp lực buộc các đơn vị được kiểm toán có trách nhiệm sửa chữa và khắc phục ngay những sai phạm. 3. Có những chính sách ưu đãi đối với ngành nói chung và đối với mỗi kiểm toán nói riêng. Có những chính sách ưu đãi đối với ngành nói chung và đối với mỗi kiểm toán nói riêng tạo nên động lực cho họ phát huy thế mạnh trong công tác góp phần xây dựng một hệ thống kiểm soát, giám soát ngày càng hoàn thiện, hoàn chỉnh hơn. II. KẾT KUẬN. Cùng với sự đổi mới cơ chế kinh tế. Ngành kiểm toán Nhà nước một công cụ mới thuộc hệ thống các công cụ kiểm soát vĩ mô của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghiã Việt Nam. Em muốn phân tích, đánh giá chiến lược của sự phát triển kiểm toán Nhà nước. Trong phạm vi bài viết này, em trình bày những thành tựu và hạn chế, những vấn đề mà theo có quan hệ đến cách nhìn, đến việc lựa chọn hướng đi, tạo dựng hành lang pháp lý và hệ thống các phương pháp chuyên môn là cơ sở cho sự phát triển và hoàn thiện tổ chức, cho hoạt động kiểm toán Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua. Với bài viết này có luận cứ, phù hợp với xu thế phát triển khách quan của kiểm toán Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi và trong môi trường nước ta đang thực hiện cải cách sâu rộng nền hành chính quốc gia. Với kết quả nghiên cứu, trong bài viết này em đã đưa ra những vấn đề nổi bật còn tồn tại
  17. hiện nay và đưa ra một số ý kiến cá nhân. Em hy vọng với bài viết này sẽ đóng góp một khía cạnh nào đó để cho kiểm toán Nhà nước ta ngày càng hoàn thiện hơn, giúp cho các nhà quản lý có cách nhìn, một cách thực tế hơn để đưa ra cách chính sách phù hợp với thực tế và có các kế hoạch đúng đắn trong việc xây dựng hoàn thiện ngành kiểm toán ở nước ta.
  18. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tạp chí kiểm toán - Số 2,3,4,5,6,12 năm 1999 Số 1, 4 năm 2000 Tạp chí thương mại - Số 16/1997 Tạp chí tài chính - Số 8/1998 Tạp chí kinh tế phát triển - Số 93/1998 Sách lý thuyết kiểm toán - Tác giả Vương Đình Huệ và Đàm Xuân Tiêm
  19. Mục lục Lời nói đầu........................................................................................................ 1 Phần I: Lý luận chung về kiểm toán ............................................................... 2 I. Hoạt động kiểm toán một nhu cầu tất yếu của nền kinh tế........................... 2 II. Vai trò của kiểm toán nhà nước trong nền kinh tế. .................................... 2 III. Những thành quả kiểm toán nhà nước trong những năm xây dựng và trưởng thành. ............................................................................................. 4 Phần II: thực trạng và một số ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm toán.................................................................................................... 6 I . Thực trạng hệ thống kiểm toấn nước ta hiện nay. ....................................... 6 1. Những dấu hiệu sai phạm trong khâu tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh................................................................................ 8 2. Những dấu hiệu sai phạm về các hoạt động kinh tế. ............................... 8 3. Những dấu hiệu sai phạm về xử lý các quan hệ tài chính, các quan hệ lợi ích................................................................................................. 9 4. Những dấu hiệu sai phạm về công tác tài chính. ..................................... 9 5. Những dấu hiệu vi phạm về kiểm toán.................................................. 10 II. Một số ý kiến đề xuất............................................................................... 12 1. Mấy kiến nghị tăng cường hệ thống kiểm toán trong quản lý tài chính ngân sách Nhà nước.................................................................... 12 2. Mấy ý kiến về xác lập quyền hạn của kiểm toán Nhà nước trong bộ máy quyền lực của Nhà nước........................................................... 13 2.1. Về quyền hạn chung của KTNN. ................................................... 14 2.2. Các quyền điều tra và các quyền thi hành nhiệm vụ....................... 14 2.3. Quyền báo cáo kiểm toán và công bố kết quả kiểm toán. ............... 15 3. Có những chính sách ưu đãi đối với ngành nói chung và đối với mỗi kiểm toán nói riêng........................................................................ 15 II. Kết kuận..................................................................................................... 15 Tài liệu tham khảo ......................................................................................... 17

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản