Đề tài :“Nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại Sở giao dịch I - NHCT Việt Nam ”

Chia sẻ: nhaquantritaiba

Hoạt động cho vay của Ngân hàng là một trong những hoạt động chính đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng. Với cách thức hoạt động “ vay để cho vay ” nên các NHTM phải tìm mọi cách để cho vay với khả năng tối đa. Tìm kiếm đối tượng để cho vay, vận dụng các loại hình tín dụng, trong đó có cho vay tiêu dùng để đầu tư vốn có hiệu quả, luôn là mục tiêu quan trọng của NHTM.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài :“Nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại Sở giao dịch I - NHCT Việt Nam ”

ì




Luận văn
Đề tài: “Nâng cao chất lượng cho vay tiêu
dùng tại Sở giao dịch I - NHCT Việt
Nam”




1
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................ 6
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu .................................................... 6
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 6
3. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 7
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 7
5. Kết cấu của đề tài .................................................................................. 7
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO .................. 8
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM ...... 8
1.1.1 Khái niệm về cho vay........................................................................ 8
1.1.2 Các hình thức cho vay của NHTM .................................................. 8
1.1.2.1 Căn cứ vào mục đích ...................................................................... 9
1.1.2.2 Căn cứ vào thời hạn cho vay .......................................................... 9
1.1.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng ........................10
1.1.2.4 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng .....................................10
1.1.2.5 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả ................................................10
1.1.2.6 Căn cứ vào phương thức cho vay ..................................................11
Sơ đồ 1.1. Mô hình cho vay trực tiếp .......................................................11
Thanh toán nợ ............................................................................................11
Sơ đồ 1.2. Mô hình cho vay gián tiếp .......................................................12
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG ..............12
1.2.1 Đặc điểm của CVTD ........................................................................12
1.2.2 Các hình thức CVTD .......................................................................14
1.2.2.1 Căn cứ vào phương thức cho vay ..................................................14
Sơ đồ 1.3 . Cho vay tiêu dùng gián tiếp ...................................................14
Sơ đồ 1.4. Cho vay tiêu dùng trực tiếp ....................................................17
1.2.2.2 Căn cứ vào loại tài sản ..................................................................18
1.2.2.3 Căn cứ vào phương thức trả nợ của khách hàng .........................19
1.2.3 Vai trò của CVTD ............................................................................20
1.3 CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐO
LƯỜNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG ................................22
1.3.1 Hiểu về chất lượng CVTD ...............................................................22


2
1.3.2 Mối quan hệ giữa chất lượng CVTD và mở rộng CVTD ..............23
1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng CVTD ........................................24
1.3.3.1 Doanh số và dư nợ cho vay tiêu dùng ...........................................24
1.3.3.2 Thu lãi từ hoạt động CVTD ..........................................................25
1.3.3.3 Tỷ lệ nợ quá hạn ............................................................................25
Nî qu¸ h¹n
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% ..................................................25
Tængd­ nî
1.3.3.4 Vòng quay vốn tín dụng .................................................................26
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng CVTD ........27
1.3.4.1 Các nhân tố chủ quan ...................................................................27
1.3.4.2 Các nhân tố khách quan................................................................28
1.4 CVTD Ở MỘT SỐ NGÂN HÀNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI SỞ GIAO DỊCH I – NHCT VIỆT NAM ................................30
1.4.1 CVTD của một số Ngân hàng nước ngoài ......................................30
1.4.1.2 CVTD tại một số NHTMCP Việt Nam ........................................32
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Sở giao dịch I – NHCT .....................33
2.1 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA SỞ GIAO DỊCH I - NHCT ...36
2.1.1 Khái quát về Sở giao dịch I - NHCT Việt Nam ..............................36
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I - NHCT ..........37
2.1.2.1 Tình hình huy động vốn ................................................................37
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn trong các năm 2005- 2007 ...............38
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn huy động vốn các năm 2005-2007 ...................38
2.1.2.2 Hoạt động tín dụng ........................................................................39
Bảng 2.3. Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế ...........................................39
Bảng 2.4. Cơ cấu dư nợ cho vay ..............................................................40
2.1.2.3 Các hoạt động kinh doanh khác ....................................................40
2.2 CVTD – ĐOẠN THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU CỦA NHIỀU NGÂN
HÀNG TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM ............................................41
2.3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CVTD TẠI SỞ GIAO DỊCH I-
NHCT ........................................................................................................44
2.3.1 Các hình thức CVTD tại Sở giao dịch I - NHCT ...........................44



3
2.3.1.1 Cho vay có tài sản bảo đảm ...........................................................44
2.3.1.2 Cho vay không có tài sản bảo đảm ................................................46
2.3.2 Chất lượng CVTD của Sở giao dịch I- NHCT ...............................47
2.3.2.1 Doanh số và dư nợ cho vay tiêu dùng ...........................................47
Bảng 2.5. Doanh số và dư nợ cho vay tiêu dùng .....................................47
Biểu 2.1. Doanh số và dư nợ CVTD các năm 2005- 2007 .......................48
Bảng 2.6 .Cơ cấu dư nợ CVTD theo mục đích tài trợ ............................48
Biểu 2.2. Cơ cấu dư nợ CVTD theo mục đích tài trợ .............................50
Bảng 2.7.Cơ cấu dư nợ CVTD theo thời hạn ..........................................51
Biểu 2.3. Cơ cấu dư nợ CVTD theo thời gian .........................................52
2.3.2.2 Nợ quá hạn ....................................................................................53
Bảng 2.8 .Tình hình dư nợ quá hạn các năm 2005-2007 ........................54
2.3.2.3 Lợi nhuận từ CVTD .....................................................................54
Bảng 2.9. Lợi nhuận CVTD trong tổng thu lãi cho vay..........................54
Biểu đồ 2.4. Lợi nhuận từ CVTD các năm 2005-2007 ............................55
2.3.2.4 Vòng quay vốn CVTD ....................................................................55
Bảng 2.10. Vòng quay vốn CVTD............................................................55
2.3.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động CVTD tại Sở giao dịch I – NHCT ..56
2.3.4.1 Những kết quả đạt được ................................................................56
2.3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân ...............................................................58
3.1 CVTD – ĐOẠN THỊ TRƯỜNG TIỀM NĂNG CỦA NHTM...........62
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CVTD TẠI SỞ
GIAO DỊCH I – NHCT ............................................................................66
3.3.1 Xây dựng hệ thống tính điểm tín dụng đối với hoạt động CVTD .66
3.3.2 Hoàn thiện qui trình CVTD ............................................................68
3.3.3 Đa dạng hoá sản phẩm CVTD ........................................................70
3.3.4 Tăng cường các hoạt động Marketing đối với CVTD ...................73
3.3.5 Tập trung đào tào nguồn nhân lực cho hoạt động CVTD .............76
3.3.6 Hiện đại hoá cơ sở vật chất, thiết bị................................................78
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .......................................................................79
3.4.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước ..........................................................79


4
3.4.2 Đối với NHCT Việt Nam .................................................................80
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................82
Sinh viên thực hiện .....................................................................................83
Nguyễn Hương Lan ..................................................................................83




5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động cho vay của Ngân hàng là một trong những hoạt động
chính đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng. Với cách thức hoạt động “
vay để cho vay ” nên các NHTM phải tìm mọi cách để cho vay với khả năng
tối đa. Tìm kiếm đối tượng để cho vay, vận dụng các loại hình tín dụng,
trong đó có cho vay tiêu dùng để đầu tư vốn có hiệu quả, luôn là mục tiêu
quan trọng của NHTM.
Trong những năm gần đây, CVTD đã đạt được một số kết quả nhất
định. Song CVTD của các NHTM còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trước yêu cầu
của nền kinh tế xã hội đòi hỏi ngày càng cao, sự cạnh tranh diễn ra ngày
càng gay gắt giữa các ngân hàng, đặt ra cho các NHTM phải tập trung nâng
cao chất lượng CVTD nhằm tăng lợi nhuận đồng thời đáp ứng đ ược nhu cầu
của khách hàng và nâng cao vị thế của mình trên thị trường.
Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng cho
vay tiêu dùng tại Sở giao dịch I - NHCT Việt Nam ” làm khoá luận tốt
nghiệp với hi vọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động CVTD nói riêng
cũng như hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I - NHCT nói chung trong
những năm tới.


2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về CVTD của NHTM
-
Đánh giá thực trạng hoạt động CVTD của Sở giao dịch I - NHCT
-
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CVTD tại Sở
-
giao dịch I - NHCT



6
3. Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu về CVTD và nâng cao chất lượng
CVTD, lấy số liệu thực tế của hoạt động CVTD của Sở giao dịch I - NHCT
từ năm 2005 đến năm 2007, làm cơ sở minh chứng.


4. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các phương pháp nghiên cứu như : phương pháp duy vật biện
chứng, phương pháp duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu phân
tích lý luận, thực tiễn, so sánh…


5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khoá luận được kết cấu
thành 3 chương:


Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nâng cao chất lượng CVTD của các
NHTM
Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng CVTD tại Sở giao dịch I -
NHCT
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CVTD tại Sở
giao dịch I - NHCT




7
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA CÁC NHTM



1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM

1.1.1 Khái niệm về cho vay
Các NHTM có 3 hoạt động chủ yếu là : hoạt động huy động vốn, hoạt
động tín dụng, đầu tư và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong đó, tín
dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM, hoạt động này thường
chiếm khoảng 70% trong tài sản Có của các NHTM. Việc cấp tín dụng của
các ngân hàng thực hiện dưới hình thức cho vay, thông qua cho vay vốn để
ngân hàng thực hiện một khoản thu lợi nhuận. Bởi vì, cho vay được thực
hiện trên sự cam kết giữa ngân hàng và khách hàng, là quan hệ vay mượn có
hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, giữa một bên là ngân hàng
và một bên là những người đi vay.
Từ đó, có thể hiểu : Cho vay là một chức năng chính của bất kỳ
NHTM nào, là đảm bảo nguồn tiền thu hút từ khách hàng của mình và thực
hiện cho vay số tiền này tới khách hàng khác với một tỷ lệ lãi suất thoả
thuận theo những điều kiện nhất định. Cho vay là một dịch vụ chính trong
hệ thống sản phẩm sẵn có mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, và là
một đòi hỏi của nhu cầu kinh doanh ngân hàng nhằm thu lợi nhuận.

Do đó, phấn đấu thực hiện nhiều khoản vay tốt là mục tiêu khách
quan của yêu cầu mở rộng kinh doanh ngân hàng trong quá trình phát triển.

1.1.2 Các hình thức cho vay của NHTM

Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cơ bản và chủ yếu của các ngân hàng,
đây là nghiệp vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và là nghiệp


8
vụ sinh lời chủ yếu của các NHTM. Bao gồm các hình thức cho vay sau :

1.1.2.1 Căn cứ vào mục đích
Theo cách phân loại này, có các hình thức cho vay sau :
 Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại và dịch vụ.
 Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại và dịch vụ.
 Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản
xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động,
nhiên liệu...

 Cho vay cá nhân ( cho vay tiêu dùng ) là loại cho vay để đáp ứng các
nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng
còn thực hiện các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của
đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.

1.1.2.2 Căn cứ vào thời hạn cho vay
Dựa vào cách phân loại này, có 3 loại cho vay :
 Cho vay ngắn hạn : loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và
các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
 Cho vay trung hạn : là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được
sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị,
công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô
nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.




9
 Cho vay dài hạn : là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng các
nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có qui
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.

1.1.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo cách phân loại này, bao gồm :
 Cho vay không có bảo đảm là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy
tín của bản thân khách hàng.

 Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải
có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.

1.1.2.4 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Dựa vào tiêu chí này, có 2 hình thức cho vay là :
 Cho vay bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị tín dụng được
cung cấp bằng tiền. Đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng và việc
thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như : tín dụng ứng trước, thấu chi, tín
dụng trả góp...

 Cho vay bằng tài sản là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến
và đa dạng, riêng đối với ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ
biến đó là tài trợ thuê mua. Theo phương thức cho vay này ngân hàng hoặc
các công ty thuê mua cung cấp trực tiếp tài sản cho người đi vay được gọi là
người đi thuê, theo định kỳ người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn
gốc và lãi.

1.1.2.5 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
Theo phương pháp này, có 2 loại :
 Cho vay trả góp là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc



10
và lãi theo định kì. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng cho vay bất
dộng sản nhà ở, cho vay tiêu dùng đối với những người kinh doanh nhỏ
(tiểu thương), cho vay trang bị kỹ thuật trong nông nghiệp.

 Cho vay phi trả góp là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ
hạn đã thoả thuận.

1.1.2.6 Căn cứ vào phương thức cho vay
Gồm có 2 loại:
 Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.


Sơ đồ 1.1. Mô hình cho vay trực tiếp


(1)
Cấp vốn
Ngân hàng Khách hàng

(2)


Thanh toán nợ




 Cho vay gián tiếp : là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn
thanh toán.




11
Sơ đồ 1.2. Mô hình cho vay gián tiếp


Khách hàng nhận
vốn vay
(1) Cấp tín dụng

Ngân hàng

Người
(2) Thanh toán nợ
thanh toán nợ



1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG

1.2.1 Đặc điểm của CVTD
CVTD là những khoản cho vay đối với nhu cầu chi tiêu của người
tiêu dùng. CVTD là một hình thức tài trợ cho chính sự tiêu dùng của cá
nhân và hộ gia đình. Các khoản CVTD giúp người tiêu dùng có thể sử dụng
hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có cơ hội
hưởng một mức sống cao hơn. Những khoản cho vay như thế thường được
dùng vào mục đích: mua nhà, xây sửa nhà, mua ô tô… Do đó, CVTD có
những đặc điểm sau:
Thứ nhất, khách hàng vay là các cá nhân và hộ gia đình, kết quả
nghiên cứu cho thấy những người có thu nhập cao thường có xu hướng vay
tiền nhiều hơn những người có thu nhập thấp. Người có thu nhập cao có nhu
cầu vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình. Với họ, việc vay
mượn được xem là công cụ để đạt được mức sống như mong muốn hơn là
một sự lựa chọn chỉ được dùng trong tình trạng khẩn cấp.
Thứ hai, mục đích vay là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân
chứ không phải mục đích kinh doanh. Các nhu cầu như : mua nhà, mua sắm



12
xe ô tô, xe gắn máy, xây dựng sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia đình,
chữa bệnh, đi học...
Thứ ba, việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay của người tiêu
dùng thường không đem lại thu nhập, nên nguồn trả nợ thường được lấy từ
lương hoặc thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác. Việc sử dụng tiền
vay Ngân hàng sẽ tạo cho người vay một tâm lý tích luỹ, tăng động lực làm
việc của khách hàng.
Thứ tư, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lại lớn.
Thông thường không có một ngân hàng nào cho vay tiêu dùng với 100%
nhu cầu vốn, khách hàng phải tích luỹ một tỷ lệ nhất định so với tổng nhu
cầu vốn cần đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng. Mặt khác các sản phẩm mà
khách hàng có nhu cầu tiêu dùng thường có giá trị không lớn. Nhu cầu vốn
CVTD nhỏ hơn rất nhiều so với các món vay kinh doanh phổ biến, thường
xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư.
Thứ năm, các khoản CVTD có rủi ro cao vì tình hình tài chính của
các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tuỳ theo t ình trạng
công việc hay sức khoẻ của họ. Việc thẩm định và quyết định cho vay đối
với các khoản vay tiêu dùng thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin
không đầy đủ.
Thứ sáu, chi phí quản lí khoản vay tiêu dùng lớn do các ngân hàng
thường phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông
tin về người vay tiền trước khi đưa ra các quyết định phê duyệt khoản vay,
thêm vào đó việc quản lý các khoản vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số
lượng lớn cũng không phả i là vấn đề đơn giản đối với các NHTM nên chi
phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so với loại hình cho vay
khác.




13
Thứ bảy, CVTD là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận
cao cho ngân hàng. Các khoản CVTD có chi phí và rủi ro cao nên các khoả n
vay này thường có lãi suất cao, nó bù đắp cho các khoản vay trên và mang
lại lợi nhuận cho ngân hàng. Lãi suất CVTD luôn là một trong những lãi
suất hấp dẫn nhất trên thị trường tài chính. Do số lượng món vay điều nên
lợi nhuận ngân hàng thu được từ hoạt động này là rất đáng kể so với tổng lợi
nhuận của ngân hàng.

1.2.2 Các hình thức CVTD

Dựa vào các căn cứ khách nhau, CVTD được phân chia thành các
hình thức sau:

1.2.2.1 Căn cứ vào phương thức cho vay
Theo cách phân loại này CVTD được chia thành 2 loại :
 Cho vay tiêu dùng gián tiếp : là hình thức cho vay trong đó ngân
hàng mua lại các khoản nợ phát sinh do những Công ty bán lẻ đã bán chịu
hàng hoá cho người tiêu dùng. Hình thức này ngân hàng cho vay thông qua
các CTBL mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
Sơ đồ 1.3 . Cho vay tiêu dùng gián tiếp


(1)
Công ty bán lẻ
Ngân hàng
(4)
(5)




(6) (2)
Người tiêu dùng
(3)


14
(1) : Ngân hàng và Công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong
hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng
được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu.
(2) : Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu
hàng hoá. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài
sản.
(3) : Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4) : Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân
hàng.
(5) : Ngân hàng thanh toán tiền cho Công ty bán lẻ.
(6) : Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.


* CVTD gián tiếp được thực hiện thông qua các phương thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ : theo phương thức này khi bán cho ngân
hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu hàng hoá, CTBL cam
kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn
người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
- Tài trợ truy đòi hạn chế : theo phương thức này trách nhiệm của
CTBL đối với khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới
hạn trong một chừng mừng nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã thoả
thuận giữa ngân hàng và CTBL.
- Tài trợ miễn truy đòi : theo phương thức này, sau khi bán các khoản
nợ cho ngân hàng, CTBL không còn chịu trách nhiệm cho việc các khoản
nợ có được hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao nên
chi phí tài trợ thường được ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức
nói trên và các khoản nợ được mua cũng được lựa chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ
có những CTBL có uy tín mới được áp dụng phương thức này.


15
- Tài trợ có mua lại : khi thực hiện CVTD gián tiếp theo phương thức
miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng
không trả nợ thì NHTM phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong trường
hợp này, nếu có thoả thuận trước thì ngân hàng có thể bán lại cho CTBL
phần nợ của mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đã được sử dụng
trong một thời hạn nhất định.


* Ưu , nhược điểm của CVTD gián tiếp :
+ Ưu điểm
- Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số CVTD
- Cho phép ngân hàng tiết kiệm, giảm được chi phí trong cho vay.
- Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng, tạo điều
kiện cho việc bán chéo sản phẩm ở quá trình tiếp theo.
+ Nhược điểm
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được các
CTBL bán chịu.
- Thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng khi Công ty bán lẻ thực hiện việc
bán chịu hàng hoá đặc biệt trong việc sàng lọc khách hàng.
- Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính chất phức tạp cao.


 Cho vay tiêu dùng trực tiếp: là các khoản cho vay trong đó ngân
hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và cho khách hàng vay cũng như trực
tiếp thu nợ từ người vay.




16
Sơ đồ 1.4. Cho vay tiêu dùng trực tiếp



Công ty bán lẻ
Ngân hàng
(3)




(1) (5) (2)
Người tiêu dùng
(4)




(1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay.
(2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho Công ty
bán lẻ.
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.


* CVTD trực tiếp được thực hiện theo các phương thức sau:
- Tín dụng trả theo định kỳ : đây là phương thức được sử dụng phổ
biến nhất hiện nay. Theo phương thức này, ngân hàng cấp cho khách hàng
toàn bộ số tiền vay và khách hàng trả nợ cho ngân hàng theo từng kỳ hạn cụ
thể. Kỳ hạn hoàn trả có thể khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu của người vay,
thường là 1 lần/ tháng.
- Thấu chi: đây là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trên cơ


17
sở hạn mức tín dụng, được thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được
sử dụng dư nợ trong một giới hạn nhất định trên tài khoản vãng lai và mức
dư nợ tối đa bằng với hạn mức tín dụng đã cam kết.
- Thẻ tín dụng : là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng phát
hành thẻ tín dụng cho những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện
cấp thẻ và ấn định mức giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép
sử dụng.


* CVTD trực tiếp có ưu điểm hơn CVTD gián tiếp :

Sử dụng phương thức này, ngân hàng có thể tận dụng các sở trường
của nhân viên tín dụng - những người được đào tạo chuyên môn và có nhiều
kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng. Do đó, các quyết định tín dụng trực
tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng
được quyết định bởi những CTBL. Hình thức này cũng linh hoạt hơn và cho
phép ngân hàng thắt chặt mối quan hệ tín dụng với các khách hàng có quan
hệ trực tiếp với ngân hàng. Thông qua CVTD trực tiếp, ngân hàng có thể
bán các sản phẩm khác, tăng cường quảng bá hình ảnh của ngân hàng.

1.2.2.2 Căn cứ vào loại tài sản
Theo cách phân loại này, CVTD được phân chia thành :
 Cho vay bất động sản : là các khoản cho vay nhằm mục đích mua
mới hoặc sửa chữa, xây dựng nhà ở, căn hộ và trong một số trường hợp bao
gồm cả đất đai. Cho vay tài trợ đối với bất động sản khác với phần lớn các
hình thức cho vay trên một sô đặc điểm sau:
- Quy mô của một món vay tài trợ đối với bắt động sản thường lớn
hơn nhiều so với quy mô trung bình của các món vay tiêu dùng thông
thường.



18
- Các khoản cho vay tài trợ đối với bất động sản thường có kỳ hạn dài
nhất trong danh mục cho vay của ngân hàng từ 15 đến 25 hoặc 30 năm. Đây
là loại cho vay thường chứa đựng những nguy cơ rủi ro cao do những thay
đổi tiêu cực trong điều kiện kinh tế, lãi suất, sức khoẻ của người vay trong
suốt kỳ hạn của khoản vay.
- Việc định giá tài sản đảm bảo bao gồm đánh giá giá trị và tình trạng
của tài sản. Việc đánh giá giá trị tài sản đảm bảo phải tuân theo tiêu chuẩn
của ngành và của Chính phủ. Mặt khác, tính khả mại của tài sản là yếu tố rất
quan trọng khi đánh giá tài sản. Các khoản vay có tài sản đảm bảo sẽ giúp
các ngân hàng có thể hạn chế những tổn thất về tài chính khi khoản vay
không được trả đúng hạn và phải phát mại tài sản.
 Cho vay hàng tiêu dùng lâu bền: cho vay mua sắm các tài sản có
thời gian sử dụng lâu dài như ô tô, xe máy. Tính khả dụng của các tài sản
này khá cao, giá trị ở mức trung bình nên nhiều người tiêu dùng có nhu cầu
mua sắm. Quy mô của các khoản vay này thường không lớn, số lượng món
vay phát sinh nhiều. Tài sản đảm bảo có thể là chính các tài sản hình thành
từ vốn vay. Với những khoản vay này nguồn trả nợ có thể là nguồn thu hàng
tháng được trả lãi theo định kỳ.

 Cho vay nhu cầu tiêu dùng khác: nhằm mục đích tài trợ cho những
nhu cầu tiêu dùng như đi học, chữa bệnh. Nguồn trả nợ của khoản vay này
thường là thu nhập của người đi vay.

1.2.2.3 Căn cứ vào phương thức trả nợ của khách hàng
Theo cách phân loại này CVTD được chia thành 2 loại :
- Cho vay trả góp : là các khoản cho vay ngắn hoặc trung dài hạn được
thanh toán làm hai hoặc nhiều lần liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý).
Những khoản cho vay này thường được dùng để mua sắm những vật dụng



19
đắt tiền hoặc trang trải các khoản nợ.

- Cho vay trả một lần : là các khoản cho vay ngắn hạn của các cá nhân
và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một
lần khi khoản vay đáo hạn. Quy mô của những khoản vay t ương đối nhỏ và
bao gồm cả phí tài khoản với yêu cầu thanh toán trong vòng 30 ngày hoặc
trong thời gian tương đối ngắn. Phần lớn các khoản vay loại này được dùng
để chi trả cho những chuyến đi nghỉ, tiền viện phí, mua các dụng cụ gia
đình, sửa chữa ô tô và nhà ở...

1.2.3 Vai trò của CVTD
Hiện nay, CVTD đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của các
NHTM, có thể nói CVTD đóng góp vai trò quan trọng không chỉ đối với
bản thân ngân hàng, mà còn góp phần nâng cao đời sống cho người dân, mở
rộng sản xuất cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế . Đối với từng
đối tượng, CVTD có những vai trò khác nhau. Cụ thể là:
* Đối với ngân hàng
CVTD là loại hình tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho
ngân hàng bởi các món vay tiêu dùng thường được định giá cao hơn so với
các món vay kinh doanh. Đây cũng là một cách để ngân hàng đa dạng hoá
đầu tư, nhờ đó phân tán được rủi ro. Cung ứng dịch vụ này cũng giúp ngân
hàng mở rộng, thắt chặt mối quan hệ với khách hàng, khai thác tiềm năng
cũng như lòng trung thành từ khách hàng, từ đó có thể thu hút được nguồn
vốn từ các khách hàng đi vay này khi họ có tiền nhàn rỗi. CVTD cũng góp
phần làm phong phú thêm danh mục dịch vụ của ngân hàng, tăng khả năng
cạnh tranh, quảng bá hình ảnh, nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị
trường.




20
* Đối với khách hàng
CVTD có ý nghĩa rất lớn đối với các khách hàng. Nhu cầu tiêu dùng
của các cá nhân và hộ gia đình là rất lớn và thường xuyên nhưng không phải
lúc nào họ cũng có đủ nguồn lực tài chính để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhờ
CVTD, họ được hưởng các tiện ích, được sử dụng các hàng hoá và dịch vụ
mình mong muốn trước khi tích luỹ đủ tiền. Khi đáp ứng đủ các điều kiện
để được cấp tín dụng tiêu dùng, người đi vay có thể mua sắm các hàng hoá,
nhất là các bất động sản ngay ở thời điểm hiện tại khi giá cả của chúng đang
giảm, hoặc có thể đi du lịch đúng thời gian. Đặc biệt, trong các trường hợp
chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế, giáo dục...,vai trò CVTD lại càng to
lớn và rõ nét.
* Đối với nhà sản xuất
CVTD bổ sung số tiền còn thiếu giúp người tiêu dùng có đủ khả năng
tài chính để hưởng thụ giá trị hàng hoá, dịch vụ, từ đó đẩy mạnh tiêu thụ sản
phẩm. Giải quyết được bế tắc giữa các khâu sản xuất và lưu thông hàng hoá,
nhà sản xuất bán được nhiều sản phẩm hơn, quay vòng vốn nhanh hơn, trên
cơ sở đó có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất. Như vậy CVTD góp phần
nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường thu nhập cho các cơ sở sản xuất.
* Đối với nền kinh tế

CVTD là đòn bẩy kích cầu hàng hoá dịch vụ, mở rộng sản xuất, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhờ đó, các cơ hội việc làm được tạo ra nhiều hơn,
tỷ lệ thất nghiệp cũng như các tệ nạn xã hội giảm, đồng thời thu nhập của
người dân tăng lên. Dịch vụ này của ngân hàng thoả mãn tốt nhất các nhu
cầu của người tiêu dùng, do đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật
chất cũng như tinh thần của họ. Rõ ràng, TDTD không chỉ có vai trò quan
trọng đối với các chủ thể như người tiêu dùng, ngân hàng thương mại, nhà



21
sản xuất mà còn có ý nghĩa vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, góp
phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

1.3 CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐO
LƯỜNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG

1.3.1 Hiểu về chất lượng CVTD
Đối với NHTM, cái được biểu hiện ra bên ngoài vừa cụ thể,vừa trừu
tượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng. Chỉ khi chất
lượng tín dụng tốt thì Ngân hàng mới có nhiều khách hàng, uy tín Ngân
hàng được nâng cao tạo điều kiện thúc đẩy Ngân hàng phát triển .
Chất lượng CVTD được hiểu là vốn vay ngân hàng đáp ứng kịp thời,
đầy đủ nhu cầu của khách hàng trang trải đủ chi phí, hoàn trả đầy đủ và
đúng hạn cho ngân hàng cả gốc lẫn lãi và có lợi nhuận phù hợp với sự phát
triển kinh tế, xã hội . Chất lượng CVTD được thể hiện :
- Đối với NHTM : Chất lượng cho vay được thể hiện ở hiệu quả của
việc cho vay phù hợp với năng lực của ngân hàng và đảm bảo tính cạnh
tranh, ở việc khả năng thu hồi gốc và lãi cho vay đầy đủ và đúng hạn. Hiệu
quả và khả năng thu nợ càng cao thì chất lượng cho vay càng cao và ngược
lại.
- Đối với khách hàng : Chất lượng cho vay là thể hiện các khoản vay
được đáp ứng kịp thời, đầy đủ với lãi suất hợp lý và có sức cạnh tranh. Các
khoản vay vốn từ NHTM giúp cho khách hàng có đủ tiền để thoả mãn nhu
cầu về tiêu dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Đối với nền kinh tế : chất lượng CVTD là một khái niệm vừa cụ thể
( thể hiện qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như : kết quả kinh doanh,
vong quay vốn tín dụng, nợ quá hạn, giải quyết nhu cầu tiêu dùng...), vừa
trừu tượng ( thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền



22
kinh tế...). Chất lượng cho vay vừa chịu ảnh hưởng bởi nhân tố chủ quan
( khả năng quản lý, trình độ và đạo đức cán bộ ngân hàng và khách hàng...),
vừa khách quan ( sự thay đổi môi trường bên ngoài : sự ổn định chính trị xã
hội, môi trường pháp ly, tốc độ tăng trưởng kinh tế )

Chất lượng cho vay là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, nó phản ánh mức
độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh
của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Hoạt
động cho vay tôt phải dựa trên nguyên tắc thoả mãn nhu cầu vay vốn của
khách hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, do đó các ngân hàng cần
xác định được khách hàng mục tiêu, hiểu rõ hơn nhu cầu khách hàng để có
chính sách phục vụ tốt hơn.

1.3.2 Mối quan hệ giữa chất lượng CVTD và mở rộng CVTD
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng CVTD, một mặt không thể thiếu
mà các NHTM cần chú trọng là việc mở rộng CVTD. Có thể nói, mở rộng
CVTD và nâng cao chất lượng CVTD là hai mặt biểu hiện lượng và chất
của hoạt động CVTD. Mở rộng CVTD của ngân hàng là việc tăng cường
hoạt động CVTD trên nhiều phương diện nhằm nâng cao doanh số, chất
lượng cũng như lợi nhuận từ dịch vụ này. Mở rộng CVTD được thể hiện ở
những khía cạnh sau :
- Đối với khách hàng: CVTD phải thoả mãn được tối đa các yêu cầu
hợp lý của khách hàng về khối lượng cho vay cung cấp, đa dạng hoá các
hình thức và loại hình cho vay.
- Đối với NHTM: CVTD sẽ là một hướng đi mới góp phần làm đa
dạng hoá danh mục cho vay của ngân hàng, làm tăng hiệu quả hoạt động.




23
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội : CVTD phải đáp ứng được các
yêu cầu về vốn của người tiêu dùng, góp phần nâng cao cuộc sống của
người dân và sự phát triển của xã hội.
Như vậy, mở rộng cho vay phản ánh sự vận động cho vay về mặt
lượng, còn chất lượng cho vay phản ánh sự phát triển của cho vay về mặt
chất. Mở rộng cho vay phải đi đôi với nâng cao chất lượng cho vay, phải
phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Mở rộng cho vay nhanh và
phiến diện, mở rộng không đi liền với chất lượng cho vay sẽ dẫn đến thất
thoát vốn và nguy cơ đe doạ trực tiếp đến huy động vốn và sử dụng vốn. Có
như vậy việc mở rộng mới ổn định và bền vững.

Tóm lại : Chất lượng cho vay và mở rộng cho vay là hai vấn đề không
thể tách rời, chất lượng cho vay bảo đảm hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng về hai mặt là khả năng sinh lợi và giảm thiểu rủi ro về sử dụng vốn.
Đồng thời hoạt động cho vay tốt phải dựa trên nguyên tắc là thoả mãn nhu
cầu vốn của khách hàng ( người đi vay) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế,
do đó các ngân hàng cần xác định được khách hàng mục tiêu, hiểu rõ hơn
nhu cầu khách hàng để có chính sách phục vụ tốt hơn.

1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng CVTD
Để đánh giá chất lượng CVTD, chúng ta cần dựa vào một số chỉ tiêu
cụ thể sau:
1.3.3.1 Doanh số và dư nợ cho vay tiêu dùng
* Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của Ngân
hàng đối với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về
hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng tín dụng qua
các năm. Do đó, nếu kết hợp được doanh số cho vay của nhiều thời kỳ thì ta
cũng sẽ thấy được phần nào về xu hướng hoạt động tín dụng



24
* Dư nợ cho vay là chỉ tiêu được các ngân hàng tính vào cuối mỗi quý
hay mỗi năm bằng công thức dư nợ cho vay cuối kỳ = dư nợ cho vay đầu kỳ
+ doanh số cho vay trong kỳ - doanh số thu nợ cuối kỳ. Chỉ tiêu này phản
ánh quy mô của mở rộng CVTD và là cơ sở để xác định thu nhập của ngân
hàng từ hoạt động này.

1.3.3.2 Thu lãi từ hoạt động CVTD

Tỷ trọng thu lãi từ CVTD tăng và giảm qua các năm phản ánh được
qui mô và xu hướng mở rộng CVTD của NHTM là có hiệu quả và lá tín
hiệu tốt để tiếp tục mở rộng CVTD

Chỉ tiêu này được xác định :
ãừ
× 100%
ổ ã



Thu lãi từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu trong tổng thu
nhập của Ngân hàng, vì vậy muốn tăng thu nhập thì điều dầu tiên mà các
NHTM phải quan tâm là làm thế nào để nâng cao chất lượng cho vay .
Muốn vậy , các NHTM phải đưa ra các biện pháp thích hợp để giảm thiểu
rủi ro và tăng khả năng thu lãi từ các khoản cho vay.

1.3.3.3 Tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không
hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình với
Ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn so với tổng
dư nợ của Ngân hàng tại những thời điểm nhất định.

Nî qu¸ h¹n
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%
Tængd­ nî




25
Nợ quá hạn trong hoạt động CVTD là một hiện tượng tất yếu, song
vấn đề quan trọng là phải giảm tỷ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhất. CVTD
có tỷ lệ nợ quá hạn cao không chỉ báo động sự phát sinh khoản phải thanh lý
lớn trong tương lai mà còn bị đánh giá là có chất lượng vay thấp. Mức mong
muốn đối với các nhà quản trị ngân hàng về tỷ lệ nợ quá hạn thường dưới
5%. Để phân tích đánh giá chất lượng cho vay, người ta thường xem xét trên
các khía cạnh sau:

Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế, có tài sản đảm bảo, không có tài
-
sản đảm bảo, có khả năng thu hồi hay không có khả năng thu hồi.

- Nợ quá hạn theo nguyên nhân: khách quan và chủ quan.

Giải quyết nợ quá hạn là mối quan tâm thường trực của tất cả các
NHTM. Do vậy, các NHTM ngay từ đầu phải có chính sách đầu tư, chính
sách khách hàng, quy chế cho vay, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay và các
biện pháp xử lý nợ quá hạn.

1.3.3.4 Vòng quay vốn tín dụng
Đây là chỉ tiêu thường được các Ngân hàng thương mại tính toán
hàng năm để đanh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng
tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay của Ngân
hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín
dụng nhanh nên Ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các khách
hàng, mặt khác Ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác.
Như vậy, hệ số này càng cao phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín
dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.



26
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng CVTD

1.3.4.1 Các nhân tố chủ quan
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp nhằm khuyếch
trương hay hạn chế tín dụng, để đảm bảo mục tiêu kinh doanh của mỗi Ngân
hàng. Chính sách tín dụng là “kim chỉ nam” đảm bảo cho hoạt động tín
dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp, đường lối chính sách
của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. điều đó cũng có nghĩa là chất
lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của Ngân
hàng có đúng đắn hay không. Bất cứ Ngân hàng nào muốn có chất lượng tín
dụng tốt đều phải có chính sách tín dụng khoa học phù hợp với thực tế của
Ngân hàng cũng như của thị trường.
* Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, các quy định trong
việc cấp tín dụng trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự
nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm
dứt quan hệ tín dụng. Đây là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động
nâng cao chất lượng CVTD, nếu ngân hàng có một qui trình tín dụng chặt
chẽ, hiệu quả sẽ giúp cho ngân hàng vừa dễ dàng thu hút khách hàng, vừa
giảm được tỉ lệ nợ xấu, cũng như đánh giá được khả năng trả nợ của khách
hàng.

* Cơ cấu tổ chức của ngân hàng
Cơ cấu tổ chức của ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược
của ngân hàng. Cơ cấu của ngân hàng bao gồm hệ thống tổ chức, chức năng
nhiệm vụ của từng phòng ban, mạng lưới hoạt động của ngân hàng. Hệ
thống tổ chức nếu được thực hiện theo cơ cấu phù hợp thì việc định hướng,


27
triển khai và đánh giá thực trạng hoạt động của ngân hàng trở nên hiệu quả
hơn.
Đặc biệt đối với hoạt động bán lẻ của ngân hàng, hệ thống ngân hàng
nói chung cần xây dựng một cơ cấu tổ chức phù hợp. Một cơ cấu hợp lý sẽ
giúp ngân hàng tập trung vào các vấn đề chiến lược, xác định rõ các kênh
hoạt động, phân định rõ giữa bộ máy quản lý trực tiếp và các mối quan hệ
chức năng, triển khai mọi hoạt động nhằm hướng tới việc phục vụ khách
hàng một cách hiệu quả hơn.
* Công nghệ thông tin
Trong xu thế hiện nay, công nghệ thông tin ngày càng có vị trí quan
trọng trong các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói
riêng. Công nghệ thông tin có thể đem lại những lợi ích to lớn và sức cạnh
tranh cho các NHTM : cập nhật, thu thập, xử lý và phân tích thông tin nhanh
hơn, giúp đơn giản hoá các quá trình làm việc, giảm chi phí, nâng cao chất
lượng sản phẩm. Nhờ có công nghệ thông tin, ngân hàng có thể lưu trữ được
một số sản phẩm lớn các hồ sơ tín dụng thuận tiện cho việc truy cập và khai
thác thông tin sau này. Đồng thời khách hàng cũng có thể ngồi tại nhà hay
bất cứ đâu để nộp đơn xin vay tiêu dùng vào một ngân hàng cũng như tiếp
cận các dịch vụ khác của ngân hàng mà không phải trực tiếp đến ngân hàng.

1.3.4.2 Các nhân tố khách quan
* Khách hàng vay tiêu dùng
- Nhu cầu vay của người đi vay : Khách hàng vay tiêu dùng của ngân
hàng là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu rất đa dạng, từ các nhu cầu
thiết yếu đến các nhu cầu cao cấp. Đời sống con người ngày càng được nâng
cao thì các nhu cầu về hàng hoá cao cấp càng lớn. Tuy nhiên, tuỳ từng giai
đoạn phát triển sẽ xuất hiện những nhu cầu nổi bật cần đ ược tài trợ. Vấn đề



28
là phải phát hiện được những nhu cầu nhanh nhất để đáp ứng kịp thời. Sản
phẩm CVTD của NHTM là sản phẩm mang tính dịch vụ nên nhu cầu khách
hàng là yếu tố quyết định các hình thức CVTD của ngân hàng.
- Thu nhập của người đi vay : Mức thu nhập của người tiêu dùng có vị
trí rất quan trọng đối với nhu cầu vay tiêu dùng của họ. Người ta chỉ có nhu
cầu vay tiền ngân hàng để phục vụ cho chi tiêu khi mà thu nhập dự kiến
trong tương lai của họ có khả năng thanh toán khoản nợ đó. Nói cách khác,
triển vọng về thu nhập sẽ là một trong những cơ sở phát sinh nhu cầu vay
tiêu dùng.
- Trình độ văn hoá : Bên cạnh yếu tố thu nhập thì trình độ văn hoá
cũng có những ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động CVTD . Nó ảnh hưởng
tới đặc điểm, đạo đức của người vay, đây là yếu tố quyết định đến hành vi
trả nợ. Vì ngay cả khách hàng chứng minh được tính khả thi của nguồn trả
nợ nhưng đạo đức của khách hàng lại không tốt thì khi thu hồi nợ là cả vấn
đề đối với ngân hàng.
* Môi trường pháp lý
Mọi thành phần hoạt động trong nền kinh tế đều chịu sự chi phối của
pháp luật. Lĩnh vực cho vay tiêu dùng của ngân hàng chịu sự điều chỉnh
chặt chẽ bởi các quy định của nhà nước, luật các tổ chức tín dụng, luật dân
sự và các quy định khác. Môi trường pháp lý sẽ đem đến cho ngân hàng một
loạt cơ hội mới và không ít thách thức mới, như việc dỡ bỏ các hạn chế về
hoạt động tín dụng sẽ cho phép các ngân hàng nước ngoài có thể tung sản
phẩm dịch vụ bằng nội tệ với chi phí rẻ hơn rất nhiều.
* Môi trường kinh tế, chính trị , xã hội

Môi trường kinh tế thể hiện thông qua những biến số kinh tế như thu
nhập quốc dân ( GDP ), tốc độ tăng trưởng thu nhập, quốc dân, mức thu



29
nhập bình quân đầu người, tỷ lệ thất nghiệp. Những cuộc suy thoái kinh tế
với các biến số kinh tế ở tình trạng thê thảm sẽ gây mất lòng tin nghiêm
trọng của người dân về triển vọng thu nhập của mình, do đó nhu cầu về tín
dụng tiêu dùng sẽ bị giảm sút. Ngược lại, khi các biến số kinh tế đều biến
động tốt sẽ có tác động tích cực tới nhu cầu tiêu dùng của người dân. Môi
trường văn hoá xã hội thể hiện ở các tập quán xã hội, bản sắc dân tộc, tâm lý
tiêu dùng giữa các vùng miền và văn hoá cộng đồng. Các yếu tố này ảnh
hưởng đến CVTD trong quá trình cá nhân và các hộ gia đình có nhu cầu tiêu
dùng, phương thức , thói quen tài trợ cho nhu cầu đó

1.4 CVTD Ở MỘT SỐ NGÂN HÀNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI SỞ GIAO DỊCH I – NHCT VIỆT NAM

1.4.1 CVTD của một số Ngân hàng nước ngoài

* Ngân hàng Nga

Tập đoàn tài chính PPF là tập đoàn tài chính tư nhân lớn nhất ở Trung
và Đông Âu, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng, dịch vụ
ngân hàng bán lẻ, quản lí tài sản...

Sản phẩm CVTD mà tập đoàn này đưa ra khá đa dạng, với thủ tục vay
dễ dàng, nhanh, thanh toán hàng tháng thấp, thuận tiện đối với nhiều đối
tượng khách hàng. Dịch vụ trả góp – Credit là một trong những sản phẩm
tiện ích mà tập đoàn này cung cấp cho khách hàng, với điều kiện là xuất
trình cho cán bộ ngân hàng 2 giấy tờ bắt buộc là thẻ plastic có ghi tên của
bất cứ ngân hàng nào khác, cũng như chuyển giấy chứng nhận thu nhập và
bản copy sổ lao động do lãnh đạo công ty xác nhận, đồng thời trả tiền hàng
tháng từ tiền lương, khách hàng có thể vay 40.000 rúp với thời hạn 36 tháng




30
mà không cần đặt cọc và người bảo lãnh, đồng thời được mở tài khoản miễn
phí và mỗi tháng trả 1999 rúp.

Với sản phẩm này, Ngân hàng có thể dễ dàng kiểm soát được số tiền
thanh toán hàng tháng, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả. Ngoài ra, khách hàng
cũng thuận tiện hơn trong việc vay tiêu dùng vì không cần phải có người
bảo lãnh hay đặt cọc .

* Ngân hàng Mỹ

Theo những nghiên cứu mới nhất thì CVTD là một trong những
khoản mục tài sản mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho các ngân hàng Mỹ. Ví
dụ như ngân hàng Citibank của Mỹ trong những năm 2000, thu nhập từ các
khoản CVTD chiếm tới 14%. Dư nợ CVTD ở các ngân hàng này cũng
chiếm tỷ lệ rất cao, có ngân hàng lên tới 60% dư nợ. Sở dĩ họ có thể chấp
nhận được rủi ro và chi phí cao khi tập trung CVTD là do họ quản lý được
các khoảng CVTD một cách chặt chẽ và linh hoạt.
Mỹ là một quốc gia có công nghệ phát triển vào bậc nhất thế giới, do
đó có rất nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn đều sử dụng hệ
thống máy móc tự động để xét duyệt các yêu cầu xin vay nhằm giảm bớt
thời gian chờ đợi cho khách hàng.
Khi giải quyết cho vay, các ngân hàng Mỹ thường xem xét đến bốn
vấn đề chính của khách hàng : mức thu nhập, số dư các tài khoản tiền gửi,
sự ổn định về việc làm và nơi cư trú, hệ số đảo nợ. Tuy nhiên để đánh giá
được chất lượng tín dụng thì các ngân hàng đưa ra một hệ thống tính điểm
trong đó bao gồm rất nhiều các tiêu thức và ứng với nó là các mức điểm
khác nhau. Nếu khách hàng không có hồ sơ tín dụng hoặc có chất lượng tín
dụng thấp thì ngân hàng yêu cầu phải có người đứng ra bảo lãnh về việc
hoàn trả khoản vay.


31
Giống như các nước khác, ngân hàng Mỹ cũng gặp phải những thách
thức trong CVTD. Đó là việc đánh giá các khoản CVTD thật không đơn
giản, nhất là những vấn đề như tư cách khách hàng vay hay các thông tin cá
nhân... Thực tế đã chứng minh rằng, rủi ro không được thanh toán đối với
các khoản CVTD lớn gấp nhiều lần so với các khoản cho vay sản xuất kinh
doanh khác. Tuy nhiên trong trường hợp không được thanh toán, các ngân
hàng có thể phát mại tài sản thế chấp để thu hồi vốn của mình. Bên cạnh đó
lý do quan trọng nhất để hấp dẫn các ngân hàng chấp nhận rủi ro cao để
CVTD là lợi nhuận mang lại từ các khoản vay này là rất lớn.

1.4.1.2 CVTD tại một số NHTMCP Việt Nam
* Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương (Techcombank)
Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
(Techcombank) thông báo vừa hoàn thành việc liên kết với 150 cửa hàng xe
máy trên địa bàn Hà Nội để hỗ trợ vốn cho người mua xe. Đây là một nét
mới trong hướng hợp tác của các ngân hàng, thay vì giới thiệu và cung cấp
sản phẩm cho vay tại các quầy giao dịch, khách hàng có thể tiếp cận nguồn
vốn vay này ngay tại cửa hàng mà mình đang mua. Xu hướng này rút ngắn
thời gian và thủ tục cho khách hàng, đồng thời cũng là một cách của ngân
hàng chuyên biệt hóa sản phẩm theo từng nhu cầu của khách hàng.
Về mặt thủ tục cũng giản tiện hơn rất nhiều cho các khách hàng mua
xe. Trước đây khách hàng cũng có thể được mua xe trả góp, tuy nhiên việc
đăng ký thủ tục đối với các khách hàng mua xe trả góp lâu và phức tạp hơn.
Với việc tham gia của ngân hàng, khách hàng được tiếp cận nguồn vốn ngân
hàng nhanh hơn, thủ tục mua xe và trả tiền cũng nhanh hơn rất nhiều. Khách
hàng sau khi mua xe sẽ được nhận xe ngay và ngân hàng giải ngân trả tiền




32
cho cửa hàng. Lãi suất tính theo dư nợ giảm dần và phương thức trả nợ giúp
khách hàng chủ động hơn trong việc lên kế hoạch trả nợ cho mình.
* Ngân hàng TMCP Á Châu ( ACB)
Với kế hoạch phát triển thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu tại Việt
Nam, mới đây NHTMCP Á Châu ( ACB ) đã tung ra thị trường nhiều sản
phẩm dịch vụ tài chính tiện ích. Sản phẩm quản lý Tài khoản tiền của nhà
đầu tư là sản phẩm liên kết với Công ty chứng khoán nhằ m cung cấp dịch
vụ tài chính trọn gói hiệu quả cho nhà đầu tư chứng khoán. Với sản phẩm
này, khách hàng được thực hiện không hạn chế các giao dịch ngân hàng trên
tài khoản tiền gửi trong suốt phiên giao dịch chứng khoán, ngay cả khi đang
đặt lệnh mua/ bán chứng khoán. Dịch vụ thực hiện hoàn toàn miễn phí với
nhà đầu tư và các công ty chứng khoán liên kết.
ACB cũng triển khai chính sách “ Siêu linh hoạt” dành cho những tài
khoản tiết kiệm gửi mới bằng VND của các khách hàng cá nhân với kỳ hạn
gửi 2 hoặc 3 tháng. Đây là chính sách mới nhất của ACB nhằm đảm bảo
quyền lợi cao nhất cho khách hàng khi có nhu cầu sử dụng vốn linh hoạt.

Bên cạnh việc thường xuyên tung ra các chương trình khuyến mại và
tiết kiệm dự thường với cơ cấu quà và giải thưởng giá trị, ACB còn luôn
linh hoạt điều chỉnh mức lãi suất huy động nhằm đảm bảo quyền lợi cao
nhất của khách hàng khi gửi tiết kiệm tại ACB.

1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Sở giao dịch I – NHCT
Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm CVTD của một số Ngân hàng, có
thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với Sở giao dịch I – NHCT như
sau:
Thứ nhất, hầu hết các ngân hàng ngày nay đều đi thực hiện chính
sách đa dạng hoá CVTD trên cơ sở áp dụng công nghệ hiện đại để đáp ứng



33
tốt nhu cầu ngày càng cao của khách hàng; luôn coi nhu cầu thực tế của
khách hàng làm trọng tâm của hoàn thiện và phát triển hoạt động CVTD.
Qua đó, cung ứng các danh mục sản phẩm CVTD phù hợp với đặc điểm của
từng nhóm khách hàng tiêu dùng như cách làm của ngân hàng Mỹ, Nga hay
các Ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam.
Thứ hai, đầu tư xây dựng một hệ thống thu thập xử lý thông tin chính
xác kịp thời của từng đối tượng khách hàng vì nó là nền tảng cho mọi quyết
định về cung ứng dịch vụ và quan hệ của ngân hàng với khách hàng, đặc
biệt là khi ngân hàng muốn cấp tín dụng cho họ.
Thứ ba, xây dựng thương hiệu của Ngân hàng là vấn đề mấu chốt
trong việc thu hút khách hàng. Một thương hiệu tốt đồng nghĩa với uy tín
của ngân hàng được nâng cao đối với khách hàng và đối tác. Tuy nhiên, việc
xây dựng thương hiệu cần có một quá trình lâu dài và nó phụ thuộc vào
nhiều yếu tố và đặc biệt là chất lượng của dịch vụ CVTD.
Thứ tư, một kinh nghiệm quan trọng là các ngân hàng đều đầu tư
đúng cho công nghệ ngân hàng. Vì vậy, các NHTM của các nước đều xác
định mạnh công nghệ hiện đại là điều kiện để nâng cao chất lượng CVTD
trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Thứ năm, liên kết với các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn trong
việc bán chéo sản phẩm, nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách
hàng. Người tiêu dùng có thể vay trực tiếp từ Ngân hàng liên kết với công ty
khi mua hàng, đồng thời Ngân hàng vừa kiểm soát được mục đích vay tiêu
dùng của khách hàng cũng như đáp ứng được nhu cầu cần thiết của họ.
Toàn bộ nội dung chương 1 đã tập trung làm rõ hơn một số vấn đề lý
luận cơ bản về CVTD của NHTM như khái niệm, các loại hình cho vay,
chất lượng CVTD, kinh nghiệm CVTD của NHTM một số nước. Đây chính




34
là cơ sở lý luận để khoá luận đánh giá thực trạng chất lượng CVTD tại Sở
giao dịch I – NHCT trong chương 2.




35
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NHCT


2.1 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA SỞ GIAO DỊCH I - NHCT

2.1.1 Khái quát về Sở giao dịch I - NHCT Việt Nam
Ngân hàng Công thương Việt Nam(Vietinbank) được thành lập tháng
7/1988 trên cơ sở sáp nhập vụ tín dụng công nghiệp và tín dụng thương
nghiệp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Là 1 trong 4 ngân hàng thương
mại nhà nước lớn nhất Việt Nam, NHCT có tổng tài sản chiếm hơn 25% thị
phần trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam. Nguồn vốn của ngân
hàng luôn tăng trưởng qua các năm, và bắt đầu tăng mạnh từ năm 1996, đạt
bình quân hơn 20%/ năm, đặc biệt có năm tăng 35% so với năm trước.
NHCT Việt Nam có mạng lưới kinh doanh trải rộng trên toàn quốc với 2 sở
giao dịch ( Sở giao dịch I tại Hà Nội và Sở giao dịch II tại Thành phố Hồ
Chí Minh ), 130 chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch. Ngân hàng hiện có 3
công ty hạch toán độc lập là công ty cho thuê tài chính, công ty TNHH
chứng khoán, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản cùng với 2 đơn vị sự
nghiệp là Trung tâm Công nghệ thông tin và Trung tâm đào tạo.
Do yêu cầu của việc mở rộng hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch
vụ trong nền kinh tế thị trường và đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế, ngày
30/12/1998, Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCT Việt Nam đã ký quyết định
số 134/ QĐ -HĐQT- NHCT1 sắp xếp và tổ chức hoạt động Sở giao dịch I-
NHCT theo điều lệ tổ chức và hoạt động của NHCT Việt Nam theo điều lệ
tổ chức và hoạt động của NHCT Việt Nam. Đến ngày 1/1/1999, Sở giao
dịch chính thức được thành lập, có trụ sở tại số 10 Lê Lai- quận Hoàn Kiếm-
Hà nội, trở thành 1 trong 2 Sở giao dịch của NHCT Việt Nam, hạch toán



36
phụ thuộc như một đơn vị thành viên trong hệ thống NHCT Việt Nam.
Ngày 20/10/2003, Chủ tịch HĐQT NHCT Việt Nam ban hành quyết
định số 153/ QĐ- HĐQT về mô hình tổ chức mới của Sở giao dịch I theo
Dự án hiện đại hoá ngân hàng và công nghệ thanh toán do Ngân hàng Thế
giới (World Bank) tài trợ.
Theo điều lệ của NHCT Việt Nam, Sở giao dịch I là đại diện uỷ
quyền của NHCT Việt Nam, có quyền tự chủ trong kinh doanh theo phân
cấp của NHCT Việt Nam, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối
với NHCT Việt Nam. Sở giao dịch I có con dấu riêng và mở tài khoản tại
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sở giao dịch I được ký hợp đồng kinh tế,
được chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh, tổ chức nhân sự phân
cấp uỷ quyền của NHCT Việt Nam.

Sở giao dịch I ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển
của NHCT Việt Nam. Kể từ khi được thành lập đến nay, Sở giao dịch I đã
không ngừng phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng, trở thành một
trong những ngân hàng hiện đại, đạt hiệu quả cao trong hệ thống NHCT
Việt Nam; đã, đang và sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu về các dịch vụ ngân
hàng - tài chính của nền kinh tế.

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I - NHCT

2.1.2.1 Tình hình huy động vốn

Phát huy thế mạnh truyền thống, trong những năm qua công tác huy
động vốn của Sở giao dịch I vẫn duy trì và phát triển.Mặc dù còn gặp nhiều
khó khăn trong công tác huy động vốn trên địa bàn, Sở giao dịch I đã chủ
động khai thác các hình thức huy động phong phú như: phát hành kỳ phiếu
nội, ngoại tệ với nhiều kỳ hạn, các hình thức tiết kiệm, tiền gửi... từ mọi
thành phần trong nền kinh tế, nên đã thu hút được số lượng đông đảo khách


37
hàng.
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn trong các năm 2005- 2007
(Đơn vị : Tỷ đồng)
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tổng vốn huy động 16.071 17.448 16.718
- VND 13.709 14.953 14.235
- Ngoại tệ (qui đổi VND) 2.362 2.495 2.483
( Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh các năm 2005, 2006, 2007 của Sở
giao dịch I-NHCT)


Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn huy động vốn các năm 2005-2007
( Đơn vị : Tỷ đồng )


Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tổng vốn huy động 16.071 17.448 16.718
Tiền gửi DN 10.399 9.859 12.735
Tỷ trọng (%) 64,7 56,5 76,2
Tiền gửi dân cư 3.220 3.370 3.144
Tỷ trọng (%) 24,3 19,3 18,8
Tiền gửi khác 2.452 4.299 839
Tỷ trọng (%) 11 24,2 5
( Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh các năm 2005, 2006, 2007 Sở giao
dịch I-NHCT)
Như vậy, qua số liệu trên ta thấy :
-Thứ nhất, Sở giao dịch I huy động vốn chủ yếu từ tiền gửi của doanh
nghiệp. Trong 3 năm, tỷ trọng của nguồn này luôn là lớn nhất. Tuy nhiên,



38
đây lại là một nguồn không ổn định do có kỳ hạn ngắn và doanh nghiệp có
thể rút vốn bất cứ lúc nào mà không phải báo trước. Đây là một bất lợi cho
hoạt động kinh doanh của Sở.

-Thứ hai, tỷ trọng nguồn vốn từ tiền gửi doanh nghiệp có xu hướng
giảm dần. Xu hướng này cho thấy Sở giao dịch I trong những năm qua đã có
những cố gắng nhằm nâng cao chất lượng huy động vốn, không quá p hụ
thuộc vào một nguồn duy nhất là tiền gửi của doanh nghiệp.

2.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Cùng với hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng cũng là một
hoạt động hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM
hiện nay. Các hình thức tín dụng Sở cung cấp cho khách hàng gồm có: tín
dụng ngắn han, tín dụng trung- dài hạn. Ngoài việc cho vay trực tiếp từ ngân
hàng, Sở còn kết hợp với các ngân hàng khác trên địa bàn cấp tín dụng dưới
dạng đồng tài trợ. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, Sở giao dịch I đã đơn giản hoá thủ tục cho vay nhằm tạo sự nhanh
chóng, thuận tiện cho khách hàng nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ các tiêu chí
theo qui định.
Bảng 2.3. Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế
( Đơn vị : Tỷ đồng)
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tổng vốn huy động 16.071 17.448 16.718
Tổng dư nợ cho vay 2.788 2.776 3.101
Tỷ lệ Tổng dư nợ/tổng 17,3 15,9 18,5
vốn huy động (%)
(Nguồn:Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006, 2007 Sở giao dịch
I)



39
Bảng 2.4. Cơ cấu dư nợ cho vay
( Đơn vị: Tỷ đồng)

Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tổng dư nợ 2.788 2.776 3.101
Trong đó:
- Dư nợ VND 1.889 1.906 1.958
Tỷ trọng (%) 66,7 68,6 63,1
- Dư nợ ngoại tệ 899 880 1.154
Tỷ trọng (%) 33,3 31,4 36,9
(Nguồn : Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006, 2007 Sở giao dịch
I)
Từ hai bảng trên có thể thấy rằng:
- Sở giao dịch I chủ yếu cho vay bằng nội tệ, tuy nhiên thì cho vay
vằng ngoại tệ vẫn chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong cơ cấu dư nợ của Sở, và
đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt năm 2007 tỷ trọng cho vay bằng ngoại
tệ là 26,5% tăng 31,1% so với năm 2006.

- Vốn huy động của ngân hàng chưa được sử dụng có hiệu quả tối đa.
Tỷ lệ dư nợ/ Tổng vốn huy động trong 3 năm đều không vượt quá 20%.Đây
cũng là một vấn đề mà Sở giao dịch I cần quan tâm xem xét để có đề xuất
được những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong điều kiện
cạnh tranh và hội nhập hiện nay.

2.1.2.3 Các hoạt động kinh doanh khác
Xác định mục tiêu đẩy mạnh các sản phẩm dịch vụ là hướng đi tất
yếu phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế, là nhiệm vụ xuyên suốt trong chiến
lược kinh doanh, Sở giao dịch I đã có những bước chuẩn bị cần thiết từ việc
đào tạo cán bộ đến nghiên cứu, triển khai các sản phẩm dịch vụ mới. Đến


40
nay, ngoài những sản phẩm dịch vụ truyền thống, Sở đã triển khai đa dạng
các sản phẩm như : dịch vụ cho thuê két sắt, kiều hối, dịch vụ du học trọn
gói, dịch vụ điện tử qua mạng, dịch vụ thẻ ATM, thẻ tín dụng quốc tế, giải
ngân các dự án.
Doanh số hoạt động thanh toán năm 2007 đạt 716.000 tỷ đồng, tăng
2,5 lần với năm 2002 ( kể từ khi bắt đầu hiện đại hoá), b ình quân hàng năm
tăng 19%. Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu năm 2007 đạt 297 triệu
USD, tăng 3,2 lần so với năm 2002, bình quân hàng năm tăng 26%.

Hoạt động kinh doanh thẻ đạt tốc độ tăng lớn và liên tục được gia
tăng thêm nhiều tiện ích. Đến nay, Sở giao dịch I đã phát hành được gần
30.000 thẻ E-partner và thẻ tín dụng quốc tế. Đã có 41 doanh nghiệp thực
hiện chi trả lương cán bộ công nhân viên qua thẻ E-partner, có 17 đơn vị
chấp nhận thẻ và quản lý 12 máy ATM.

2.2 CVTD – ĐOẠN THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU CỦA NHIỀU NGÂN
HÀNG TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Trong những năm gần đây, tín dụng tiêu dùng ở thị trường Việt Nam
đang được xem là loại hình dịch vụ ngân hàng tiềm năng. Nắm bắt được nhu
cầu và sự phát triển của sản phẩm tín dụng tiêu dùng, nhiều tập đoàn và
ngân hàng nước ngoài đang ra sức tung ra thị trường các sản phẩm tiêu dùng
phục vụ khách hàng. Có thể nói, so với các ngân hàng trong nước, sản phẩm
tín dụng tiêu dùng của các ngân hàng nước ngoài mang tính hấp dẫn rất cao
đối với người dân trong nước.
Các ngân hàng tại Hà Nội đang có xu hướng mở rộng dịch vụ cho vay
tiêu dùng, nhất là cho vay mua bất động sản và ôtô, nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả tín dụng và kịp thời đáp ứng nhu cầu của người dân. Thị
trường cho vay tiêu dùng đang phát triển mạnh và sự cạnh tranh cũng diễn


41
ra ngày càng mạnh mẽ, không chỉ giữa các NHTMCP như trước đây mà đã
mở rộng trong toàn khối ngân hàng.
Thời gian gần đây, khối các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân
hàng nước ngoài cũng đã chú trọng mở rộng thị phần tại thị trường cho vay
tiêu dùng, thông qua các chính sách cho vay hấp dẫn như thời hạn cho vay
dài, khoản vay cao so với giá trị của tài sản thế chấp, mức lãi suất thấp và
linh hoạt.
Tính đến tháng 11/2007, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng
tại Hà Nội ước đạt hơn 163.800 tỷ đồng, tăng hơn 37% so với cuối năm
trước. Trong số đó, dư nợ cho vay ngắn hạn dù có mức tăng thấp nhưng vẫn
chiếm ưu thế với 100.089 tỷ đồng. Tổng d ư nợ cho vay bằng nội tệ của các
tổ chức tín dụng đạt gần 110.100 tỷ đồng, chiếm 67% tổng dư nợ.
Theo Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nội, tỷ lệ sử
dụng vốn tín dụng so với tổng nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng
thành phố đã tăng lên mức 51%, trong đó tỷ lệ sử dụng vốn ngoại tệ đạt tới
60% so với huy động vốn bằng ngoại tệ.
Không chỉ các NHTM trong nước mà các Ngân hàng nước ngoài
cũng đã nhận thấy Việt Nam là thị trường tiềm năng cho hoạt động tín dụng
tiêu dùng, các ngân hàng lớn của nước ngoài như HSBC, ANZ... đã bắt đầu
tập trung khai thác thị trường này. Sự tham gia của các ngân hàng nước
ngoài vào lĩnh vực này đã tạo sức ép lên các ngân hàng trong nước. Một số
ngân hàng có những sản phẩm CVTD phong phú, khiến cho thị trường
CVTD diễn ra hết sức sôi động.
Ngân hàng Á Châu (ACB) vừa tăng mức cho vay tối đa từ 100 triệu
đồng lên 250 triệu đồng. ACB cũng đơn giản hóa thủ tục, khách hàng chỉ
đến Ngân hàng 1 lần, nhận tiền trong vòng 48 giờ, thời gian vay từ 12 - 60
tháng... Điều kiện của ACB là người vay có hộ khẩu hoặc KT3, tuổi từ 22 -


42
55 đối với nữ và 60 tuổi đối với nam, thu nhập ròng hằng tháng từ 3 triệu
đồng trở lên, thời gian công tác 12 tháng đối với nhân viên và hoạt động
kinh doanh trên 3 năm đối với chủ doanh nghiệp. ACB với mức lãi suất cho
vay tín chấp dao động trong khoảng 1,1 - 1,5%/tháng.
Ngân hàng An Bình (ABBANK) c ũng đưa ra sản phẩm YOUmoney
với hạn mức cho vay gấp 12 lần so với thu nhập của người vay và tối đa 150
triệu đồng. Điều kiện vay là khách hàng có mức thu nhập từ 2 triệu đồng trở
lên, làm việc từ 1 năm trở lên... Thời gian cho vay tối đa 5 năm và giải quyết
cho vay trong vòng 8 giờ khi ngân hàng nhận đủ hồ sơ. Trong vòng 1 tháng
đưa dịch vụ này ra thị trường, ABBANK đã giải quyết cho vay hơn 400 hồ
sơ. Lãi suất áp dụng trong các khoản vay tín chấp của ABBank được tính
theo phương thức lãi gộp tính trên dư nợ ban đầu dao động từ 0,75% -
1%/tháng. Khách hàng có thể trả nợ gốc và lãi suất hàng tháng.
Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Hà Nội (SHB) cũng vừa công bố dịch vụ
tín dụng tín chấp tiêu dùng dành cho khách hàng đang công tác tại các đơn
vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, văn phòng đại diện và các tổ chức nước ngoài tại Việt
Nam. Theo đó, khách hàng chỉ cần có nguồn thu ổn định từ 2,5 triệu
đồng/tháng trở lên có thể vay tiền, mà không cần có tài sản bảo đảm. Tổng
số tiền khách hàng có thể vay lên đến 300 triệu đồng. SHB cho vay tín chấp
với lãi suất 0,75% -0,85%/ tháng trong thời gian trả góp 12 - 60 tháng.
Ngân hàng TMCP Đại Dương (Oceanbank) lại đưa ra sản phẩm khác,
sản phẩm chỉ dành cho phụ nữ với thu nhập / tháng là 3 triệu đồng, kinh
nghiệm công tác tối thiểu 2 năm, nếu là công ty cổ phần hoặc TNHH phải
có vốn điều lệ là 20 tỷ đồng và doanh thu hàng năm trên 20 tỷ đồng. Được
vay tối đa 200 triệu đồng, thời hạn từ 12 - 36 tháng, lãi suất 0,77 % /tháng.




43
Thực tế cho thấy, sự cạnh tranh về CVTD của các NHTM trên thị
trường Việt Nam khá gay gắt. Mặc dù, sản phẩm CVTD mà các ngân hàng
đưa ra rất đa dạng và phong phú, đáp ứng được một số đối tượng cụ thể, lãi
suất vay tương đối cạnh tranh, song điều kiện vay vẫn còn hết sức khó khăn.
Hạn mức cho vay là tối đa 10 lần thu nhập, tương đương 200 – 300 triệu /
tháng, một số ngân hàng còn đưa ra điều kiện vay tương đối cao, chưa phù
hợp với nhiều loại khách hàng. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, các ngân hàng
đang “chạy đua” trong việc tung ra các sản phẩm CVTD phù hợp với mọi
loại đối tượng trong xã hội. Vì vậy, có thể nói việc nâng cao chất lượng
CVTD của các NHTM là việc làm cần thiết – yếu tố chiến thắng trong canh
tranh của các Ngân hàng trên thị trường.

2.3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CVTD TẠI SỞ GIAO DỊCH I-
NHCT

2.3.1 Các hình thức CVTD tại Sở giao dịch I - NHCT

2.3.1.1 Cho vay có tài sản bảo đảm

* Điều kiện vay vốn của khách hàng
- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc sử dụng vốn vay, không quá tuổi 60 ở thời điểm kết thúc
thời hạn cho vay.
-Có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú dài hạn (KT3) trên địa bàn tỉnh, thành
phố( trực thuộc trung ương) nơi ngân hàng cho vay đóng trụ sở.
- Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
- Có vốn tự có tham gia vào phương án, mức vốn tự có tối thiểu bằng 30%
tổng nhu cầu vốn trừ trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm là cầm cố giấy
tờ có giá.
- Có nguồn thu và phương án vay- trả nợ đảm bảo khả năng trả nợ gốc, lãi


44
và phí trong thời hạn vay cam kết.
- Thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ,
NHNN và hướng dẫn của NHCT Việt Nam.
Ngoài ra khách hàng phải đảm bảo các điều kiện riêng đối với từng loại hình
cho vay.
* Mức cho vay
- Mức cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay tối đa 50%
giá trị tài sản.
- Mức cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá tối đa phải đảm bảo
thu nhập ( gốc và lãi ) của giấy tờ có giá khi đến hạn đủ để hoàn trả nợ
( gốc, lãi và phí) cho ngân hàng cho vay.
- Mức cho vay có bảo đảm bằng tài sản khác tối đa 70% tổng nhu cầu vốn
của phương án vay - trả nợ đã được ngân hàng cho vay thẩm định lại.
*Các hình thức:
- Cho vay mua nhà ở, đất ở, xây dựng, sửa chữa nhà ở : đây là hình thức tín
dụng dài hạn. Thời hạn tối đa đối với cho vay mua nhà ở hoặc mua đất và
xây dựng nhà ở là 20 năm; cho vay mua đất là 10 năm; cho vay xây dựng,
sửa chữa nhà ở là 5 năm. Bên cạnh những điều kiện tín dụng chung ở trên,
các cá nhân, hộ gia đình muốn sử dụng dịch vụ này phải có đủ điều kiện
được đăng ký quyền sở hữu nhà hoặc quyền sử dụng đất.
- Cho vay mua ô tô và động sản khác : đây là hình thức tín dụng trung hạn.
Thời hạn cho vay mua xe ô tô mới tối đa là 5 năm. Thời hạn cho vay mua xe
ô tô đã qua sử dụng là 4 năm nhưng không vượt quá niên hạn sử dụng còn
lại của xe theo quy định của Chính phủ. Thời hạn cho vay mua động sản
khác tối đa là 3 năm. Các khách hàng vay vốn phải cam kết mua bảo hiểm
vật chất cho toàn bộ giá trị xe trong suốt thời gian vay và uỷ quyền cho ngân
hàng cho vay nhận tiền bồi thường của bảo hiểm trong trường hợp rủi ro xảy


45
ra.
- Cho vay hỗ trợ du học : hình thức tín dụng này nhằm tài trợ cho 2 mục
đích:
+ Cho vay hỗ trợ học phí và sinh hoạt với thời hạn bằng thời gian học cộng
3 năm

+ Cho vay chứng minh tài chính : là loại CVTD mà vốn vay được dùng để
mở thẻ tiết kiệm hoặc chứng chỉ tiền gửi hoặc giấy tờ có giá khác nhằm
chứng minh khả năng tài chính phục vụ việc xin cấp VISA cho du học sinh.
Thời hạn cho vay chứng minh tài chính phụ thuộc nhu cầu chứng minh tài
chính của khách hàng nhưng không vượt quá thời hạn của thẻ tiết kiệm,
chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá khác hoặc thời hạn phong toả số dư trên
tài khoản. Người đi vay phải có quan hệ nhân thân ( bao gồm: bố đẻ, mẹ đẻ,
vợ, chồng, anh , chị , em) với người đi du học ở nước ngoài.

2.3.1.2 Cho vay không có tài sản bảo đảm
* Điều kiện vay vốn của khách hàng
Khách hàng được cung ứng dịch vụ cho vay không có tài sản bảo đảm
phải đáp ứng các điều kiện giống như cho vay có tài sản đảm bảo ( trừ điều
kiện cuối). Ngoài ra họ còn phải thoả mãn các điều kiện sau :
- Là cán bộ công nhân viên tham gia đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ.
- Cơ quan quản lý lao động phải có trụ sở chính đóng cùng địa bàn tỉnh,
thành phố với ngân hàng cho vay.
- Có thu nhập thường xuyên, ổn định hàng tháng từ 1.500.000 VND trở
lên.Cam kết sẽ thông báo cho ngân hàng cho vay về việc thay đổi nơi làm
việc.
- Cam kết trả nợ trước hạn nếu vi phạm thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
và không thực hiện được các biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu



46
của ngân hàng.
* Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa là 3 năm
nhưng không vượt quá thời gian làm việc còn lại của khách hàng tại tổ chức
đó.

2.3.2 Chất lượng CVTD của Sở giao dịch I- NHCT

2.3.2.1 Doanh số và dư nợ cho vay tiêu dùng
Bảng 2.5. Doanh số và dư nợ cho vay tiêu dùng
(Đơn vị:Tỷ đồng)

Chỉ tiêu Doanh số Dư nợ
Tỷ trọng Cho vay Tỷ trọng
Năm Cho vay CVTD CVTD
(%) (%)
2005 5.193 60 1,15 2.788 38 1,36
2006 6.960 82 1,17 2.776 43 1,54
2007 7.380 93 1,26 3.101 55 1,77
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005, 2006 , 2007 Sở giao dịch I
-NHCT)
Trong ba năm từ 2005 đến 2007, doanh số cho vay, doanh số thu nợ
cũng như dư nợ cuối kỳ của hoạt động tín dụng nói chung và CVTD nói
riêng đều không ngừng tăng trưởng. Tốc độ tăng của bộ phận tín dụng tiêu
dùng cao hơn so với tốc độ tăng của tổng cho vay. Năm 2007, doanh số
CVTD tăng 13,4% so với 2006 (82 tỷ) và tăng 55% so với 2005 (60 tỷ),
điều này cho thấy, hoạt động CVTD đã trở thành một xu hướng phát triển
mới của thị trường Việt Nam nói chung và đối với Sở giao dịch I – NHCT
nói riêng. Tuy nhiên, doanh số CVTD của Sở giao dịch I vẫn còn chiếm tỉ
trọng rất nhỏ trong doanh số cho vay, chiếm dưới 2%, so với những hoạt


47
động tín dụng đối với doanh nghiệp lớn và hoạt động tín dụng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Biểu 2.1. Doanh số và dư nợ CVTD các năm 2005- 2007
(Đơn vị :Tỷ đồng)




* Cơ cấu dư nợ CVTD theo mục đích tài trợ


Bảng 2.6 .Cơ cấu dư nợ CVTD theo mục đích tài trợ


(Đơn vị : Tỷ đồng)
Năm 2005 2006 2007
Loại hình CV Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng
-Sửa chữa, mua nhà, đất 24,4 64,2% 26,7 62% 35,9 65,2%
-Mua ôtô và động sản khác 11,8 31% 14,4 33,4% 16,5 30,1%
-Du học 1,8 4,8% 1,9 4,4% 2,6 4,7%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005, 2006, 2007 của Sở giao
dịch I)




48
Hoạt động CVTD của Sở giao dịch I có sự tăng trưởng mạnh, nhưng
sự tăng trưởng này mới tập trung chủ yếu vào sản phẩm : cho vay mua nhà,
đất ; xây dựng và sửa chữa nhà ở. Đây vẫn là loại sản phẩm CVTD chính
mà Sở cung cấp cho khách hàng, thường chiếm trên 2/3 tổng số dư nợ
CVTD. Năm 2006 , tỉ trọng cho vay mua nhà có giảm so với năm 2005
nhưng về dư nợ vẫn tăng, điều này cho thấy, nhu cầu của người dân trên địa
bàn vẫn còn rất cao. Sản phẩm cho vay mua ô tô cũng có sự tăng trưởng đều
qua các năm, do đời sống người dân ngày một cải thiện, tầng lớp người có
thu nhập cao và ổn định tại Việt Nam đã hình thành lên yếu tố cầu về mua
sắm, do vậy, nhu cầu mua ô tô và động sản khác ngày một nhiều.
Tuy nhiên, Sở giao dịch I vẫn chưa chú trọng đến loại sản phẩm này,
xét về lâu dài, đây có thể là sản phẩm đem lại nhiều doanh thu cho ngân
hàng. Đối với sản phẩm cho vay du học, vẫn còn chiếm tỉ trọng thấp dưới
5%, dư nợ đối với loại sản phẩm này chưa nhiều, do đây là sản phẩm mới,
chưa được quan tâm đúng mức, Sở giao dịch vẫn chưa có hướng phát triển
hợp lí cho loại sản phẩm đang phổ biến trong những năm gần đây, do thủ
tục vẫn còn rườm rà, chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở việc cho vay để chứng
minh năng lực tài chính và thanh toán tiền học phí. Còn việc cho vay để
thanh toán tiền sinh hoạt phí chưa được thực hiện nhiều.
Qua số liệu trên cũng thấy rằng, sản phẩm của Sở giao dịch I vẫn chưa
nhiều, chưa đa dạng, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày một cao của xã hội.




49
Biểu 2.2. Cơ cấu dư nợ CVTD theo mục đích tài trợ



N¨ m 2005


4.8%
S ch÷a, mua nhµ,
öa
®Êt
31.0%
Mua «t« vµ ®éng
s¶n kh¸ c
64.2% Du häc




N¨ m 2006

4.4%
S ch÷a, mua
öa
nhµ, ®Êt
33.4%
Mua «t« vµ
®éng s¶n kh¸ c
62.0%
Du häc




Tû träng n¨ m 2007

4.7%
Söa ch÷a, mua
nhµ, ®Êt
30.1%
M ua «t« vµ
®éng s¶n kh¸ c
65.2% Du häc




50
* Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng theo thời hạn


Bảng 2.7.Cơ cấu dư nợ CVTD theo thời hạn


(Đơn vị : Tỷ đồng)
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
Dư nợ 38 100% 43 100% 55 100%
Ngắn hạn 18,6 48,9% 21 48,8% 18,1 33%
Trung hạn 17,3 45,6% 18,8 43,7% 36,9 67%
Dài hạn 2,1 5,5% 3,2 7,5% 0 0%
(Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005,2006,2007 của Sở giao dịch
I)

Về mặt thời gian, có thể nói các sản phẩm CVTD tại Sở giao dịch I
thường là các nhu cầu vay vốn ngắn hạn và trung hạn trên 90%. Tỷ lệ cho
vay dài hạn chiếm tỷ lệ nhỏ. Sở dĩ như vậy bởi các khoản vay vốn ngắn hạn
thường dùng để đáp ứng các mục đích mua nhà, sửa chữa nhà. Tuy nhiên
trong năm 2007, tỉ trọng cho vay trung hạn tăng nhanh, gấp 2 lần so vớ i vay
ngắn hạn, còn cho vay dài hạn giảm mạnh, từ 7,5 % trong năm 2006 xuống
còn 0% năm 2007. Nguyên nhân là do Sở giao dịch tập trung chủ yếu cho
vay ngắn hạn và trung hạn,với thời gian < 5 năm, thứ nhất là dễ kiểm soát
hơn so với cho vay dài hạn, thứ hai là do sản phẩm của Sở giao dịch I vẫn
chủ yếu tập trung vào sản phẩm cho vay để mua , xây dựng sửa chữa nhà ở,
có sổ đỏ để thế chấp, dễ dàng hơn trong việc thu hồi nợ khi đến hạn.




51
Biểu 2.3. Cơ cấu dư nợ CVTD theo thời gian


Năm 2005
5.5%


Ng¾ h¹ n
n
48.9% Trung h¹ n
45.6%
Dµi h¹ n




Năm 2006
7.5%


Ng¾ h¹ n
n
4 8.8% Trung h¹ n
43.7% Dµi h¹ n




Năm 2007
0%

3 3%
Ng¾ h¹ n
n
Trung h¹ n
Dµi h¹ n
67%




52
*Cho vay có bảo đảm và không có bảo đảm
Trong hoạt động CVTD, Sở giao dịch I cho vay có bảo đảm là chủ
yếu, đó là cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ
ba. Việc cho vay ngoài việc dựa vào nguồn trả nợ, uy tín của bản thân khách
hàng thì tài sản đảm bảo cũng là một yếu tố thường được nhắc đến.
Nhìn chung dư nợ cho vay có bảo đảm cao, chiếm gần như 100%
tổng dư nợ CVTD. Thông thường việc cho vay không có bảo đảm chỉ đ ược
áp dụng đối với phương án vay vốn dành cho CBCNV có nguồn trả nợ từ
lương hàng tháng.

2.3.2.2 Nợ quá hạn
Hoạt động CVTD chứa đựng rất nhiều rủi ro, vì thế phòng khách
hàng cá nhân kết hợp với các phòng ban khác luôn cố gắng hoàn thành tốt
khâu thẩm định, quản lý món vay và thu hồi nợ khi đến hạn. Hầu hết các
món vay tiêu dùng của Sở giao dịch có chất lượng tốt, một số trường hợp
còn trả nợ trước hạn. Dư nợ quá hạn của từ hoạt động CVTD trong ba năm
qua là rất nhỏ so với tổng dư nợ quá hạn, và có chiều hướng giảm, đặc biệt
năm 2007 không có dư nợ quá hạn, so với năm 2005 và 2006, tỉ lệ dư nợ
quá hạn vẫn còn chiếm tỉ trọng cao, trên 5%, nhưng đến năm 2007 dư nợ
quá hạn từ cho vay nói chung và CVTD nói riêng đã giảm đáng kể. Nguyên
nhân là do Sở giao dịch I đã thực hiện tốt quá trình thu hồi nợ quá hạn, có
được kết quả này là do sự nỗ lực không ngừng từ phía CBTD của ngân hàng
đã thực hiện tốt quá trình kiểm tra, kiểm soát các món vay, xử lý các món
vay khi đến hạn.




53
Bảng 2.8 .Tình hình dư nợ quá hạn các năm 2005-2007


(Đơn vị : Tỷ đồng)
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Dư nợ quá hạn từ cho vay 7,2 1,5 1,1
Dư nợ quá hạn từ CVTD 0,4 0,08 0
Tỷ trọng (%) 5,5 5,3 0

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005,2006,2007 của Sở giao dịch
I)

2.3.2.3 Lợi nhuận từ CVTD
Lợi nhuận từ hoạt động CVTD chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng lợi nhuận
nhưng có xu hướng tăng về cả số tuyệt đối lẫn tương đối qua các năm, năm
2007 đạt 5,34 tỷ chiếm 7,39%, cho thấy hoạt động CVTD ngày càng phát
huy hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Sở dĩ như vậy vì
khoản vay tiêu dùng thường có lãi suất cao và dư nợ ổn định hơn việc cho
vay đối với phương án cho vay kinh doanh c ủa các tổ chức kinh tế nên thu
lãi từ CVTD ngày càng tăng trong tổng thu lãi cho vay.
Bảng 2.9. Lợi nhuận CVTD trong tổng thu lãi cho vay


( Đơn vị : Tỷ đồng)
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 năm 2007
Lợi nhuận từ CV 58,6 69,33 72,2
Lợi nhuận từ CVTD 3,18 4,32 5,34
Tỷ trọng (%) 5,42 6,23 7,39
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005, 2006, 2007 Sở giao dịch I -
NHCT)


54
Biểu đồ 2.4. Lợi nhuận từ CVTD các năm 2005-2007


(Đơn vị: Tỷ đồng)

L î i nhuËn
6.00

5.00

4.00

3.00
Lî i nhuËn
2.00

1.00

0.00
N¨ m 2005 N¨ m 2006 N¨ m 2007




2.3.2.4 Vòng quay vốn CVTD
Vòng quay vốn CVTD phản ánh số vòng chu chuyển vốn CVTD.
Vòng quay vốn CVTD của Sở giao dịch I-NHCT được thể hiện qua bảng
sau:
Bảng 2.10. Vòng quay vốn CVTD


(Đơn vị: tỷ đồng)
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Doanh số thu nợ CVTD 42 56 74
Dư nợ CVTD bình quân 38 43 55
Vòng quay vốn CVTD 1,1 1,3 1,34
(Nguồn:báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004, 2005, 2006 Sở giao dịch I-
NHCT)



55
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy vòng quay vốn tín dụng tiêu dùng năm
sau cao hơn năm trước. Năm 2007, doanh số thu nợ đạt 74 tỷ, tăng 32% so
với năm 2006, dư nợ bình quân CVTD lại giảm,điều này chứng tỏ công tác
thu hồi nợ đã được thực hiện tốt hơn, vốn được luân chuyển nhanh hơn, từ
đó ngân hàng đáp ứng được nhiều vốn hơn cho thị trường. Chỉ số vòng quay
vốn CVTD qua các năm có xu hướng tăng và ngày một nâng cao cho thấy
vốn CVTD đêm cho vay các năm đều thu hồi được, hệ số này càng cao phản
ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng
càng cao.

2.3.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động CVTD tại Sở giao dịch I – NHCT

2.3.4.1 Những kết quả đạt được

Qua những số liệu trên đây, chúng ta thấy rằng chất lượng CVTD của
Sở giao dịch I- NHCT ngày càng được nâng cao. Hoạt động CVTD đã có sự
tăng trưởng nhanh và vững chắc, đóng góp vào doanh thu của ngân hàng,
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận. Sở giao dịch đã
đạt được một số kết quả sau:
* Doanh số
Sự tăng trưởng về doanh số đều qua các năm cho thấy nhu cầu về
CVTD ngày càng tăng trong xã hội, đồng thời đã đóng góp vào sự gia tăng
về doanh số cho vay nói riêng, cũng như tổng tài sản nói chung. Từ 60 tỷ (
năm 2005) tăng lên 93 tỷ ( năm 2007), tăng 55% lớn hơn so với tốc độ tăng
trưởng của hoạt động cho vay nói chung chỉ là 42%, điều này phản ánh nhu
cầu của người dân về vay tiêu dùng ngày một nhiều, cũng như sự nỗ lực
không ngừng của ban lãnh đạo cũng như CBCNV của Sở trong việc tăng
doanh số cho vay. Sản phẩm CVTD chủ yếu mà Sở cung cấp cho khách
hàng là cho vay mua nhà, sửa chữa, xây dựng nhà ở, chiếm 2/3 tỷ trọng


56
CVTD, do nền kinh tế phát triển, người dân có nhu cầu trong việc mua bất
động sản, song giá trị của một bất động sản không nhỏ, vì vậy cần vay
mượn để trang trải kinh phí. Sản phẩm cho vay mua ô tô cũng có sự tăng
trưởng đều qua các năm, trong những năm gần đây, nhu cầu về mua ô tô
đang tăng mạnh trong dân cư, đặc biệt là tầng lớp có thu nhập cao và ổn
định. Đối với sản phẩm cho vay du học, cũng có sự tăng trưởng đều, tuy
nhiên đây là sản phẩm mới, nên vẫn còn chiếm tỉ trọng thấp.
* Mức độ rủi ro
Trong quá trình phát triển thị trường CVTD, sự tăng trưởng về qui mô
cho vay, lợi nhuận , các dịch vụ bán chéo sản phẩm , CVTD cũng không
năm ngoài qui luật kinh doanh tiền tệ tín dụng là luôn đi kèm với rủi ro phát
sinh. Tuy nhiên, Sở giao dịch I đã làm tốt được quá trình thu hồi công nợ
nên tỷ lệ nợ quá hạn trong lĩnh vực CVTD nói riêng và cho vay nói chung
đã giảm đáng kể. Từ tỉ lệ nợ quá hạn trên 5% trong năm 2005 và năm 2006,
đến năm 2007 là 0%. Đây là kết quả của những cố gắng vượt bậc từ nhân
viên và ban lãnh đạo của Ngân hàng, nó đã minh chứng cho khả năng và
trình độ của họ trong việc triển khai hoạt động CVTD.
* Thu nhập đem lại cho Sở giao dịch I
Hiệu quả của việc thực hiện CVTD cũng khá cao, thu nhập từ hoạt
động CVTD tăng trưởng đều qua các năm. Lợi nhuận từ 3,18 tỷ ( năm 2005)
tăng lên 5,34 tỷ ( năm 2007).
Như vậy, mặc dù tỷ trọng của CVTD trên tổng doanh số cho vay và
tổng lợi nhuận của ngân hàng mới chỉ đạt dưới 10% nhưng CVTD vẫn thể
hiện được tính ưu việt của một loại sản phẩm kinh doanh đem lại lợi ích
kinh tế cao.
Tóm lại, Sở giao dịch I đã đạt được những kết quả khả quan trong
việc nâng cao chất lượng CVTD nói riêng và chất lượng tín dụng nói chung.


57
2.3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân
* Hạn chế tồn tại
CVTD của Sở giao dịch I – NHCT đã đạt được những kết quả bước
đầu đáng khích lệ. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế.
Thứ nhất, chất lượng CVTD của Sở giao dịch I còn thấp. Tuy có sự
tăng trưởng đều nhưng tỷ trọng doanh số và dư nợ CVTD so với tổng hoạt
động tín dụng vẫn ở mức thấp, CVTD chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng
ngày một nâng lên trong dân cư. Doanh số cho vay chủ yếu tập trung vào
sản phẩm mua nhà , xây dựng và sửa chữa nhà ở, xong vẫn chủ yếu là cho
vay ngắn hạn. Trong năm 2005 và 2006, tỉ lệ quá hạn vẫn còn ở mức trên
5% , là mức khá cao, tuy năm 2007 có giảm xuống còn 0%, song đây mới
chỉ là kết quả đạt được trong 1 năm. Lợi nhuận từ hoạt động CVTD còn
thấp, chiếm dưới 10% lợi nhuận của Sở.
Thứ hai, trong khi những hàng hóa có độ thỏa mãn ngày càng cao, thị
trường ngày càng phong phú thì danh mục sản phẩm CVTD lại chưa đa
dạng, phong phú, dịch vụ CVTD chưa bắt kịp tốc độ phát triển của nền kinh
tế. Các hình thức CVTD mà ngân hàng cung cấp như tài trợ mua nhà đất, ô
tô, du học đều là những dịch vụ truyền thống đó quá phổ biến. Danh mục
sản phẩm đơn điệu, chất lượng sản phẩm cũng chưa cao, chưa tạo ra sự khác
biệt để hấp dẫn khách hàng. Sản phẩm của ngân hàng vẫn chỉ dừng lại ở
mức chung chung, chưa tạo được đặc tính riêng cho ngân hàng, vì vậy số
lượng khách hàng đến với ngân hàng chưa cao. Hơn nữa số sản phẩm còn
hạn chế, các sản phẩm của ngân hàng chỉ đáp ứng được các nhu cầu tiêu
dùng cơ bản, ngân hàng chưa tạo được cho mình những sản phẩm riêng biệt,
nhiều đối tượng cho vay vẫn còn bị hạn chế về thời gian và khoản vay.
Thứ ba, những khó khăn khi phải đối mặt là môi trường pháp lý chưa
hoàn thiện của Việt Nam. Các qui định pháp luật hiện nay chưa có hướng dẫn


58
cụ thể về CVTD . Những quy định còn nhiều vướng mắc, hạn chế, gây khó
khăn cho các ngân hàng trong việc triển khai hoạt động CVTD. Đặc biệt là
những thủ tục pháp lý liên quan đến đảm bảo tiền vay, giao dịch bảo đảm vẫn
chưa được đồng bộ nên gây nhiều khó khăn trong quá trình cho vay của ngân
hàng. Ngoài ra, công tác marketing còn chưa mạnh, chưa chuyên nghiệp.Việc
thực hiện các hoạt động tiếp thị, quảng cáo chưa đem lại hiệu quả lớn cho hoạt
động CVTD của ngân hàng.

* Nguyên nhân hạn chế :
Những hạn chế còn tồn tại ở Sở giao dịch I trong hoạt động CVTD xuất
phát từ cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Bao gồm :
- Các nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng bao gồm:
Thứ nhất, chính sách CVTD của Sở giao dịch I chưa thực sự thông
thoáng và đồng nhất . Đối tượng vay tiêu dùng còn hạn chế : Hiện tạo hầu như
các sản phẩm CVTD của Sở giao dịch I đang bị giới hạn ở những khách hàng
có hộ khẩu thường trú tại Hà nội. Trong khi thực tế số người từ các tỉnh thành
phố khác về làm ăn sinh sống tại Hà nội rất lớn. Chính những người này mới
có nhu cầu vay vốn để trang trải các chi phí sinh hoạt cũng như đáp ứng các
nhu cầu nhà ở. Ngoài ra, tài sản đảm bảo là nhà đất được qui định là phải có sổ
đỏ. Do vậy rất nhiều khách hàng có khả năng trả nợ, nhân thân tốt nhưng tài
sản đảm bảo chưa đủ giấy tờ pháp lý cũng bị loại khỏi danh sách những người
được vay vốn. Sở giao dịch I vẫn còn thận trọng trong việc cung ứng CVTD
dài hạn mặc dù số lượng người dân mong muốn sử dụng dịch vụ này ngày
càng đông. Quy mô và hạn mức các món cho vay dài hạn thường bị hạn chế để
đảm bảo an toàn, tránh nguy cơ mất vốn. Vì thế, khả năng sinh lời từ hoạt động
CVTD bị giảm bớt.




59
Thứ hai, Sở giao dịch I vẫn còn chịu sự kiểm soát chặt chẽ của NHCT
và các cơ quan quản lý khác, đồng thời nhận được sự bảo trợ của NHNN trên
một số lĩnh vực, nguyên nhân này nhiều khi làm ngân hàng kém chủ động,
nhạy bén trên thị trường, nhất là trong hoạt động CVTD - một hoạt động mới
phát triển và chịu nhiều áp lực cạnh tranh.
Thứ ba, nguồn nhân lực của Sở giao dịch I vẫn còn nhiều hạn chế, kỹ
năng bán hàng của cán bộ tín dụng còn yếu, mặc dù có rất nhiều cố gắng
nhưng số cán bộ này vẫn chưa được đào tạo một cách đầy đủ về kỹ năng bán
hàng, nghiệp vụ marketing nên khả năng tiếp cận khách hàng .Công tác kiểm
tra sau khi giải ngân của cán bộ tín dụng chưa được thực hiện nghiêm túc và
thường xuyên, chỉ khi nào khách hàng có xu hướng chậm trả hoặc có áp lực
kiểm tra từ phía kiểm soát nội bộ thì mới hoàn thành. Vì vậy, CBTD không
phát hiện được những nhu cầu mới phát sinh cũng như những biểu hiện về một
khoản nợ xấu từ giai đoạn đầu.
Thứ tư, thời hạn làm thủ tục cho vay còn dài, trong khi các ngân hàng
khác chỉ tính bằng giờ thì thời gian làm thủ tục cho vay của Sở tính theo ngày.
Đây cũng là điểm hạn chế, mà Sở cần khắc phục, để thu hút nhiều khách hàng
hơn, cũng như tăng chất lượng CVTD.
- Các nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, nguyên nhân từ phía khách hàng. Những khách hàng có trình
độ và tài chính lành mạnh sẽ đòi hỏi cao về chất lượng dịch vụ. Nếu CBTD
không có kinh nghiệm thẩm định và sự phối hợp giữa các bộ phận không tốt
rất dễ làm khách hàng phật lòng, nổi nóng và có phản ứng tiêu cực. Trong khi
đó lại có nhiều khách hàng không hiểu thủ tục ngân hàng nên cho rằng thủ tục
vay ngân hàng rất rườm rà phức tạp . Họ mang tâm lí e ngại khi đến ngân hàng
nên sẵn sàng vay tư nhân với lãi suất cao gấp nhiều lần nhưng đơn giản trong
thủ tục.


60
Thứ hai, môi trường pháp lý còn nhiều bất cập. Khả năng quản lý nhân
khẩu của chính quyền địa phương tại Việt Nam còn yếu nên mặc dù mỗi cá
nhân đều có hộ khẩu thường trú tại một địa chỉ nhất định nhưng khi di cư đến
Hà Nội để làm ăn sinh sống thì lại hầu như không chịu sự quản lý của đơn vị
nào. Việc này đã gây rất nhiều khó khăn cho Sở giao dịch khi muôn cho vay
đối với đối tượng này. Bên cạnh đó, tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà ở và đất ở trên địa bàn Hà nội còn chậm.
Thứ ba, môi trường kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Phần lớn các doanh
nghiệp Việt Nam vẫn còn thói quen trả lương bằng tiền mặt, rất ít các doanh
nghiệp trả tiền cho nhân viên thông qua tài khoản ngân hàng. Đây là một hạn
chế rất lớn để phát triển các sản phẩm CVTD sử dụng nguồn trả nợ từ lương.
Nhiều người Việt Nam có thói quen tích luỹ đủ thì mới dùng, nếu thiếu thì
trước hết là vay người thân, sau đó mới nghĩ đến việc vay ngân hàng, vì thủ tục
rườm rà, hơn nữa, phải có tài sản thế chấp, khi không trả nợ được thì sẽ bị phát
mại tài sản đảm bảo.
Tóm lại, trong chương 2 khoá luận đã tiến hành phân tích đánh giá thực
trạng CVTD tại thị trường Việt Nam, đặc biệt là đi sâu nghiên cứu đánh giá
thực trạng chất lượng CVTD tại Sở giao dịch I – NHCT. Từ đó đánh giá được
kết quả đạt được, cũng như hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong CVTD. Từ
đó, đinh hướng để khoá luận xây dựng các giải pháp trong chương 3 nhằm
nâng cao chất lượng CVTD tại Sở giao dịch trong thời gian tới.




61
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CVTD TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NHCT



3.1 CVTD – ĐOẠN THỊ TRƯỜNG TIỀM NĂNG CỦA NHTM
Tuy mới được quan tâm trong những năm gần đây, nhưng có thể thấy
CVTD đang trở thành xu hướng tất yếu của hoạt động kinh doanh ngân
hàng. Trên thế giới, các ngân hàng chủ yếu thực hiện CVTD, còn ở Việt
Nam thì chỉ vài năm gần đây các NHTM mới bắt đầu chú trọng đến, nhưng
có thể nhận thấy đây là đoạn thị trường tiềm năng của các NHTM, được thể
hiện qua những số liệu sau :
* Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam

Nền kinh tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã có bước tăng
trưởng rõ rệt, theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, về sơ bộ cho thấy
GDP 2007 là 1143442 tỷ đổng tăng 8,48% so với 2006, tăng trưởng kinh tế
của nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
trong khu vực (Theo đánh giá của Ngân h àng Phát triển Châu Á-ADB thì
năm 2007 kinh tế Trung Quốc tăng 11,2%; Việt Nam tăng 8,3%; Xin-ga-
po tăng 7,5%; Phi-li-pin tăng 6,6%; In-đô-nê-xi-a tăng 6,2%; M a-lai-xi-a
tăng 5,6%; Thái Lan tăng 4%). Điều này cho thấy, sự phát triển không
ngừng của nền kinh tế sẽ kéo theo sự phát triển của xã hội, đời sống người
dân được cải thiện, do thu nhập tăng.

* Thu nhập của người dân

Cũng theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê năm 2006, thu
nhập bình quân 1 người 1 tháng chung cả nước theo giá hiện hành đạt
636.000 đồng, tăng 31,3% so với năm 2004. Thu nhập ở khu vực thành thị



62
và nông thôn đều tăng. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng ở khu vực
thành thị đạt 1.058.000 đồng, tăng 29,8%; khu vực nông thôn đạt 506.000
đồng, tăng 33,8% so với năm 2004 và tăng nhanh hơn khu vực thành thị.
Tuy nhiên thu nhập của hộ gia đình thành thị vẫn cao hơn nông thôn. Chênh
lệch thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2002; 2004, 2006 của khu vực
thành thị so với khu vực nông thôn tương ứng các năm là: 2,26; 2,15 và 2,09
lần và có xu hướng thu hẹp dần.

* Sự phát triển của dân số Việt Nam

CVTD là một thị trường mới phát triển trong những năm gần đây, chủ
yếu để tập trung phục vụ đối tượng có thu nhập, thường là những người
trong độ tuổi lao động. Dân số Việt Nam hiện nay là khoảng 85 triệu dân,
trong đó có khoảng 60% dân số thuộc độ tuổi lao động, có thể thấy rõ Việt
Nam là một thị trường tiềm năng cho rất nhiều ngành kinh tế, trong đó có
CVTD. Theo dự báo, năm 2010 dân số Việt Nam sẽ đứng thứ 4 trong khu
vực châu Á sau Trung Quốc và vượt qua Nhật Bản.

* Nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân ngày càng
cao
Công ty dịch vụ nghiên cứu toàn cầu McKinsey vừa công bố một báo
cáo về thái độ, quan điểm của người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ, đối với
các dịch vụ ngân hàng. Báo cáo này là một phần nghiên cứu về thị trường
ngân hàng bán lẻ được thực hiện tại 11 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á
như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan... với 13.000 khách hàng.
Mặc dù phát triển mạnh trong những năm gần đây, lĩnh vực ngân
hàng bán lẻ của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé. Tài sản của các ngân hàng tính
đến thời điểm năm 2006 mới chỉ đạt khoảng 75 tỷ USD ( t ương đương
123% GDP), trong khi con số này ở Thái Lan là 226 tỷ USD (110%) và ở


63
Malaysia là 302 tỷ USD (195%). Ngoài ra, chỉ chưa đầy 10% dân số của
Việt Nam có sử dụng dịch vụ ngân hàng.
Tuy nhiên, theo ước tính, doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở
Việt Nam có thể tăng trưởng lên 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt
Nam trở thành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ tăng
trưởng cao nhất ở Châu Á. Đây là kết quả của sự tăng trưởng kinh tế mạnh
mẽ, thu nhập của các hộ gia đình tăng lên và mức độ thâm nhập hiện còn
thấp của các dịch vụ ngân hàng.
Các chuyên gia của McKinsey cho rằng, những người Việt Nam trong
độ tuổi từ 21-29 sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thị
trường ngân hàng bán lẻ tại đây. Điều tra cho thấy, những khách hàng có độ
tuổi 21-29 sử dụng 2,3 dịch vụ ngân hàng mỗi người, trong khi đối tượng
khách hàng lớn tuổi chỉ sử dụng 1,9 dịch vụ. Có 91% số người trong nhóm
tuổi này có tài khoản tiết kiệm, so với mức 55% ở nhóm người ở tuổi 30 trở
lên. 89% trong số khách hàng trẻ này có thẻ ghi nợ, so với tỷ lệ 40% trong
đối tượng tuổi già hơn. Đặc biệt, những người trẻ tuổi ở Việt Nam cũng tỏ
ra thích thú hơn với việc vay tiền ngân hàng so với thế hệ đi trước. 45%
trong số được hỏi cho rằng, việc vay tiền có thể giúp họ cải thiện phong
cách sống, so với 31% số người ở độ tuổi già hơn.

Những con số này cho thấy, tiềm năng của thị trường CVTD là rất
lớn, điều này cũng lí giải vì sao, có rất nhiều ngân hàng đã định hướng phát
triển thành những ngân hàng bán lẻ như Sacombank, Techcombank... Không
chỉ những ngân hàng trong nước, mà các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam
cũng đang mở rộng phạm vi ả nh hưởng của mình trong đoạn thị trường này
như ngân hàng ANZ, HSBC... Chính vì vậy, có thể khẳng định, CVTD là
đoạn thị trường tiềm năng của NHTM .



64
3.2 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CVTD CỦA SỞ GIAO DỊCH I –
NHCT
Năm 2007 là một năm mà Sở giao dịch I – NHCT gặt hái được nhiều
thành công, tuy nhiên đây cũng là năm có nhiều thách thức đối với Sở giao
dịch I, để đối mặt với những thách thức đó Sở giao dịch I đã đề ra một số
định hướng hoạt động trong thờ i gian tới:
Đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn, đặc biệt là nguồn tiền gửi dân
-
cư.
Tăng trưởng tín dụng trong tầm kiểm soát, đảm bảo an toàn, hiệu
-
quả,..
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng của các sản phẩm dịch vụ, nhằm
-
tạo được sự khác biệt của sản phẩm và có tính cạnh tranh cao.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo chuyên sâu
-
theo từng loại nghiệp vụ, trong đó tăng cường đào tạo tại chỗ.
Tiếp tục củng cố và mở rộng mạng lưới kinh doanh. Trang bị đầy đủ
-
phương tiện làm việc phù hợp với từng nghiệp vụ, trên cơ sở tiết kiệm chi
phí.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát bảo đảm an toàn mọi mặt
-
hoạt động.
Từ những định hướng chung và nhận thấy CVTD là đoạn thị trường
tiềm năng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng , Sở giao dịch I đã chú
trọng và đẩy mạnh hoạt động CVTD.
Trong năm 2008, mục tiêu của Sở giao dịch I – NHCT là dư nợ cho
vay đầu tư tăng 20%, lợi nhuận trên 10%. Nâng cao năng lực thẩm định,
kiểm tra, giám sát tín dụng và quản lý rủi ro để đảm bảo an toàn và hiệu quả
tiền vay, không phát sinh nợ xấu giảm tỉ lệ nợ quá hạn xuống dưới 1%. Tiếp
tục làm việc với các cơ quan chức năng để xử lý thu hồi các khoản nợ tồn


65
đọng cũ.

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CVTD TẠI SỞ
GIAO DỊCH I – NHCT

3.3.1 Xây dựng hệ thống tính điểm tín dụng đối với hoạt động CVTD
Lý luận cơ sở của hệ thống này là Sở giao dịch I có thể định dạng
được các yếu tố về tài chính, kinh tế và mục đích của khách hàng để tách
riêng các khoản vay loại tốt với loại không tốt thông qua việc quan sát, thu
thập và tổng kết từ số đông khách hàng vay nợ từ trước đến nay.
Việc chấm điểm tín dụng được thực hiện theo phương pháp xếp loại
và phương pháp so sánh. Cách thức sử dụng là CBTD dựa vào hệ thống tính
điểm này để đánh giá về điểm số cho các nhu cầu vay vốn khác nhau từ phía
khách hàng. Dựa vào kết quả điểm số, ngân hàng có thể đưa ra quyết định
trong việc áp dụng chính sách khách hàng phù hợp. Tuy nhiên, cần phải
khẳng định, đây là những chỉ tiêu định lượng, để quản lý khoản vay được
hiệu quả hơn, các CBTD cần đề xuất các phương án quản lý đi kèm.
Như vậy, hệ thống tính điểm có những ưu thế sau:
Loại bỏ bớt những đánh giá mang tính chủ quan.
-
Có thể giải quyết một số lượng lớn yêu cầu đơn xin vay của khách
-
hàng mà không cần nhiều sức người, từ đó giúp giảm chi phí.
Thời gian xét duyệt một khoản vay sẽ nhanh hơn.
-
So sánh và đánh giá vị thế của phương án vay vốn với mặt bằng
-
chung các khoản vay có tính chất tương tự, giúp cho việc ra quyết định đối
với khoản vay được chính xác và khách quan hơn.
Tuy nhiên, hệ thống tính điểm cũng có những hạn chế riêng, nó mang
nhiều tính máy móc, không phân biệt được những trường hợp đặc biệt cần
đánh giá riêng. Thêm vào đó, chúng ta thấy rằng việc sử dụng hệ thống tính



66
điểm tức là chúng ta đã dùng những thông tin của quá khứ để đánh giá hiện
tại và tương lai , cơ sở thông tin để xây dựng hệ thống tính điểm là những số
liệu từ quá khứ. Do vậy, sai sót của hệ thống tính điểm có thể mang tính hệ
thống. Biện pháp nhằm hạn chế những nhược điểm trên là Sở giao dịch I
cần thường xuyên kiểm tra và xem xét lại hệ thống tính điểm để luôn có số
liệu linh hoạt, chính xác.
Có nhiều hệ thống tính điểm khác nhau, sau đây là một hệ thống tính
điểm áp dụng cho khách hàng vay tiêu dùng. Hệ thống tính điểm cho kết
quả chấm điểm như sau :
- Từ 85 – 100 điểm : Khách hàng xếp loại 1
- Từ 70 – 84 điểm : Khách hàng xêp loại 2
- Từ 50 – 69 điểm : Khách hàng xếp loại 3
- Từ 30 – 49 điểm : Khách hàng xếp loại 4
- Dưới 30 điểm : Khách hàng xếp loại 5
Chính sách tín dụng áp dụng cho từng nhóm khách hàng như sau :
- Khách hàng loại 1 : đây là đối tượng khách hàng tiềm năng. Ngoài
sản phẩm tín dụng, Sở có thể cung cấp c ùng lúc nhiều sản phẩm và dịch vụ
đối với khách hàng này : tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, các dịch vụ
bảo lãnh...
- Khách hàng loại 2 : đây là đối tượng khách hàng có nhiều triển vọng
với Sở giao dịch. Các dịch vụ bảo lãnh, tín dụng cần xem xét điều kiện cho
vay theo từng phương án cụ thể. Đối với loại khách hàng này, ngân hàng
cũng có thể cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác
- Khách hàng loại 3 : với đối tượng khách hàng này, thì áp dụng chính
sách đãi ngộ bình thường. Các phương án cho vay cần nghiên cứu kĩ tình
hình thực tế tại thời điểm cho vay, điều kiện quản lý khoản vay cần chặt
chẽ.


67
- Khách hàng loại 4 : đối tượng khách hàng này có năng lực tài chính
yếu, Sở chỉ cung cấp các sản phẩm : tiền gửi tiết kiệm, thẻ ATM. Các sản
phẩm tín dụng chỉ cấp khi phương án cho vay thực sự hiệu quả, nguồn trả
nợ rõ ràng, tài sản đảm bảo có tính thanh khoản cao.
- Khách hàng loại 5: Chỉ cung cấp các sản phẩm, tiền gửi tiết kiệm,
tiền gửi thanh toán, thẻ ATM .Không cung cấp sác sản phẩm tín dụng, bảo
lãnh.

3.3.2 Hoàn thiện qui trình CVTD

Qui trình CVTD là tổng hợp các nguyên tắc, qui định của ngân hàng
trong việc cấp tín dụng tiêu dùng. Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể,
theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Đây là một quá trình gồm nhiều giai
đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, có quan hệ chặt
chẽ và gắn bó với nhau. Sở giao dịch I nên thiết kế và hoàn thiện qui trình
CVTD để quá trình cho vay được tiến hành nhanh chóng nhưng vẫn bảo
đảm an toàn cho ngân hàng. tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát bảo
đảm an toàn mọi mặt hoạt động. Kết hợp nhiều hình thức kiểm tra định kỳ,
đột xuất, phát hiện và chấn chịnh kịp thời những sai sót, nâng cao ý thực
chấp hành cơ chế, qui trình nghiệp vụ. Cụ thể là :
* Giảm thời gian thẩm định hồ sơ vay
Hiện nay, các ngân hàng đang đua nhau trong việc giảm thời gian
xem xét hồ sơ cho vay đối với khách hàng vay tiêu dùng. Có những ngân
hàng phấn đấu thời gian cho vay chỉ còn 8 tiếng, điều này đồng nghĩa với
việc, khách hàng không phải chờ đợi lâu để có được khoản vay sau khi đã
đáp ứng đủ điều kiện cho vay. Nhu cầu vay vốn của khách hàng là để phục
vụ cho nhu cầu cá nhân, mua các sản phẩm tiêu dùng, vì vậy họ rất muốn



68
vay được sớm. Do đó, giảm thời gian thẩm định hồ sơ vay là một giải pháp
mà các ngân hàng khác đang áp dụng nhằm lôi kéo khách hàng .
* Tăng cường công tác kiểm tra trong quá trình phát tiền vay
Kiểm tra mục đích, đối tượng vay vốn từng lần xem có phù hợp với
mục đích đối tượng vay vốn trong hợp đồng tín dụng hay không. Kiểm tra
mức cho vay. Kiểm tra tình hình đảm bảo nợ vay thông qua các tài sản thế
chấp với Ngân hàng làm đảm bảo hoặc tư cách của người bảo lãnh tiền vay.
Mục đích khi thực hiện công tác kiểm tra này sẽ có tác dụng phát hiện ra
những sơ hở, yếu kém của những khâu trước giúp CBTD đưa ra những biện
pháp khắc phục kịp thời, hạn chế ngăn ngừa nợ quá hạn phát sinh. Căn cứ
vào định hướng của NHCT, chương trình phát triển kinh tế Hà Nội và diễn
biến của thị trường để cho vay đúng hướng. Tiếp tục bổ sung tài sản đảm
bảo vốn vay, nâng cao năng lực thẩm định, kiểm trả, giám sát tín dụng và
quản lí rủi ro để đảm bảo an toàn và hiệu quả tiền vay, không phát sinh nợ
xấu.
* Tăng cường kiểm tra sau khi giải ngân:

Kiểm tra sau là một khâu của thực hiện qui trình tín dụng, điều này
càng quan trọng đối với CVTD. Do đặc điểm của các món vay tiêu dùng
thường phát sinh không thường xuyên, các món vay xảy ra một lần và kéo
dài tới vài ba năm, do vậy nên công tác kiểm tra và thăm hỏi khách hàng
không được thực hiện thường xuyên. Việc kiểm tra sau khi giải ngân không
chỉ nhằm mục đích truyền thống là kiểm tra tính trung thực trong việc sử
dụng vốn vay theo đề xuất khi vay mà còn nhằm đánh giá khả năng trả nợ
của khách hàng cũng như phát hiện nhu cầu mới của khách hàng. Mở rộng
khách hàng mới bằng việc khai thác khách hàng cũ là một việc nên làm.
Đồng thời việc thường xuyên sử thăm hỏi khách hàng sẽ là một kênh thông



69
tin phản hồi rất chính xác về chất lượng và vị thế của sản phẩm . Các thông
tin này sẽ giúp cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ và làm cơ sở để mở
rộng CVTD.

3.3.3 Đa dạng hoá sản phẩm CVTD
Trong điều kiện cạnh tranh kinh doanh ngân hàng ngày càng gay gắt;
thực hiện mục tiêu mở rộng hoạt động CVTD là một yêu cầu tất yếu. Điều
đó, trước hết thực hiện đa dạng hoá và tăng tính cạnh trang của sản phẩm
CVTD
Thứ nhất, triển khai sản phẩm cho vay mua nhà chung cư, nguồn trả
nợ là thu nhập hàng tháng, tài sản đảm bảo là chính ngôi nhà hình thành từ
vốn vay. Đối tượng này hiện nay là rất lớn. Tuy nhiên, triển khai sản phẩm
này trong thực tế còn gặp khá nhiều khó khăn, như giá nhà chung cư, thời
hạn cho vay, nguồn thu nợ… do vậy khi triển khai sản phẩm này, bước đầu
nên làm thử nghiệm một số đối tượng; sau đó sơ tổng kết rút kinh nghiệm
triển khai toàn diện. Thực hiện giải pháp này, bao gồm các nội dung chủ yếu
sau :
* Yêu cầu thực hiện cho vay:
- Xác định nhu cầu về sản phẩm : Theo xu hướng hiện nay, người tiêu
dùng có xu hướng muốn mua nhà chung cư để có chỗ an cư. Giá cả của
những tài sản này khá đa dạng, từ dạng cao cấp cho đến dạng trung bình nên
đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng. Người có nhu cầu mua thường
là giới trẻ tuổi đời trên 30, đa phần làm việc tại các công ty tư nhân hoặc
nước ngoài, mới lập gia đình.
- Thời gian : Giá trị của một căn nhà thường khá lớn nên với thời gian
ngắn thì những người sử dụng nguồn thu nhập hàng tháng để trả nợ sẽ khó
có khả năng tiếp cận với sản phẩm này.



70
- Tỷ lệ cho vay : Nhiều ngân hàng đang khống chế tỷ lệ cho vay tối đa
ở mức 60% giá trị căn nhà. Trong khi đó người tiêu dùng lại có xu hướng
muốn vay với một tỷ lệ cao hơn.
- Thị trường này hiện còn rất lơn nên có rất nhiều tổ chức tín dụng khác
cũng đang tiến hành nghiên cứu triển khai sản phẩm này. Đây là một trong
những sản phầm mà Sở giao dịch I có thể đẩy mạnh khai thác trong thời
gian tới.
* Đối tượng áp dụng :
Giai đoạn đầu , đối tượng khách hàng có thể được giới hạn trong khối
cán bộ công nhân viên chức có thu nhập trung bình khá. Các cá nhân này
phải làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước thực hiện trả lương qua NHCT.
Đồng thời các cá nhân này phải đáp ứng được các điều kiện sau:
- Có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội hoặc là đối tượng KT3
- Có thời gian làm việc ổn định tại các doanh nghiệp nhà nước, ngân
hàng có thời gian làm việc ổn định từ 03 năm trở lên…
- Có vốn tự có tham gia vào phương án tối thiểu là 30%.
* Tài sản đảm bảo:
- Ngôi nhà hình thành từ vốn vay, hiện tại thì một số khu chung c ư cao
tầng đã đi vào giai đoạn khai thác ổn định. Chất lượng nhà cũng như những
giấy tờ pháp lý của ngôi nhà đã được ổn địn nên có thể lựa chọn đây là tài
sảm đảm bảo cho khoản vay.
Thứ hai , phát triển sản phẩm cho vay du học. Sản phẩm cho vay du
học đã được triển khai tại Sở giao dịch I tuy nhiên kết quả đạt được chưa
nhiều. Thời gian gần đây, các qui định về chuyển tiền ngoại tệ phục vụ
thanh toán chi phí tiêu dùng hàng tháng của học viên tại nước ngoài đã
thông thoáng hơn, các tổ chức phát triển du học đã mở rộng, nhiều tổ chức
giáo dục đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam và đã tạo thành một xu thế


71
du học. Đây chính là thời điểm thuận lợi cho Sở giao dịch I có thể phát triển
sản phẩm này.
Một số giải pháp cụ thể thực hiện như sau :
Sở giao dịch I – NHCT sẽ hợp tác và duy trì ở cấp độ cao hơn ( cấp
-
thẻ tín dụng miễn phí hoặc cấp thẻ thấu chi, giảm lãi và giảm thời gian thẩm
định cho vay...) , đồng thời tích hợp các sản phẩm để làm việc với các công
ty đơn vị có chức năng tư vấn và tổ chức cho học sinh, sinh viên đi du học
để giới thiệu và quảng bá về sản phẩm cho vay du học của NHCT .
Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các ngân hàng, các trường đại học tại
-
các nước có du học sinh tạo điều kiện cho việc chuyển tiền được thuận lợi
Phát triển dịch vụ thẻ thanh toán, thẻ tín dụng để tạo điều kiện cho du
-
học sinh chủ động trong việc thanh toán phí cũng như chi tiêu.
Thứ ba, đẩy mạnh cho vay trả góp mua ô tô, xe máy. Ngày nay, cùng
với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống người dân cũng được cải thiện,
những khách hàng có thu nhập tương đối cao ở thành phố có nhu cầu mua
sắm ô tô nhiều hơn, song vẫn chưa có điều kiện để trả một lần cho việc mua
một chiếc ô tô. Do đó, ngân hàng nên triển khai việc cho vay để mua ô tô trả
góp bằng số tiền thu nhập hàng tháng, với lãi suất hợp lí. Thông qua việc
hợp tác với các hãng xe sẽ giúp cho ngân hàng có nhiều thông tin hơn về
nguồn gốc xuất xứ của xe, nhà cung cấp, thị trường kinh doanh xe, xu
hướng tiêu dùng hiện tại… Bên cạnh đó, sản phẩm cho vay mua xe máy
cũng là một loại sản phẩm khá phổ biến với người dân. Giá trị của khoản
vay nhỏ, thời gian trả nợ nhanh, do vậy khi triển khai mở rộng loại sản
phẩm này sẽ thu hút được nhiều đối tượng khách hàng.
Thứ tư, một số sản phẩm khác như cho vay tiêu dùng trả góp, Sở giao
dịch I có thể liên kết với các công ty lớn, siêu thị,... khi khách hàng mua đồ
dùng nội thất hay điện máy ... tại công ty hay siêu thị liên kết với ngân hàng


72
sẽ được hưởng lãi suất 100% cho khách hàng khi vay tại Sở giao dịch trong
năm đầu tiên. Từ năm thứ hai trở đi, khách hàng được tài trợ lãi suất là 50%
một giá trị đơn hàng và năm thứ ba trở đi khách hàng sẽ tự trả lãi suất. Với
việc đa dạng hoá sản phẩm, Sở giao dịch tăng doanh thu, lợi nhuận mà còn
đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Thứ năm, mở rộng sản phẩm cho vay tín chấp. Đây là sản phẩm đang
được các ngân hàng chú trọng phát triển, đối tượng khách hàng được hướng
đến là CBCNV của các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn Hà nội, với mức
thu nhập hàng tháng là 2 đến 3 triệu, có thể vay tối đa 200 triệu, với mức lãi
suất cạnh tranh. Đây là một sản phẩm mới đối với thị trường Việt Nam,
song lại là sản phẩm không còn xa lạ với người dân trên thế giới. Do đó, với
sản phẩm cho vay tín chấp, Sở giao dịch I sẽ đáp ứng ngày càng nhiều nhu
cầu của khách hàng, tăng doanh số cho vay cũng như thu được nhiều lợi
nhuận vì thu nhập từ loại hình vay này tương đối cao.

3.3.4 Tăng cường các hoạt động Marketing đối với CVTD
Thứ nhất, thành lập bộ phận nghiên cứu thị trường và phát triển sản
phẩm. Để tồn tại và phát triển, các sản phẩm của ngân hàng bắt buộc phải
đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của thị trường. Yêu cầu đó đặt ra đối với
doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng cần phải có sự nghiên cứu,
phân tích, đánh giá về thị trường mà mình đang hoạt động, trong đó bao
gồm bên cung và bên cầu.
Chỉ khi có được những phân tích đánh giá chính xác về thị trường thì
ngân hàng mới có thể đề ra những kế hoạch hoạt động trong tương lai gần
cũng như là xây dựng một chiến lược kinh doanh tổng thể lâu dài. Nhiệm vụ
nặng nề và quan trọng đó sẽ do bộ phận nghiên cứu thị trường đảm nhận và
thực hiện.



73
Việc phát hiện và đưa ra những sản phẩm mới cho phù hợp với từng
thời kỳ phát triển của nền kinh tế sẽ giúp cho Sở Giao dịch I tiếp cận thường
xuyên và bắt kịp với xu thế của thị trường.
Thứ hai, hoàn thiện phương pháp tiếp thị CVTD. Tăng cường bán
chéo sản phẩm : Bán chéo sản phẩm vừa mang lại lợi ích trọn gói cho khách
hàng đồng thời giúp đơn vị tham gia bán chéo sản phẩm gia tăng thu nhập,
tiết kiệm chi phí. Sản phẩm tín dụng có đặc tính hoàn trả sau một thời gian
sử dụng. Do đó, CBTD không thể bán nó giống như bán các sản phẩm thông
thường khác mà phải có sự chọn lọc đối tượng khách hàng theo các tiêu
chuẩn riêng. Tuy nhiên, CBTD cũng không nên ngồi chờ khách hàng đến
xin vay mà phải tích cực tiếp thị để tìm kiếm khách hàng như nhân viên bán
sản phẩm thông thường.
Khách hàng CVTD có phạm vi hoạt động rộng khắp và ngân hàng có
trách nhiệm phải khơi dậy nhu cầu của họ hoặc tạo cơ hội để họ bộ lộ nhu
cầu của mình. Các phương pháp truyền thống để thu hút khách hàng như
quảng cáo qua truyền hình, sóng phát thanh, tờ rơi, các chương trình tặng
quà, bốc thăm trúng thưởng… đều đã được các ngân hàng sử dụng tối đa
nhưng hiệu quả đem lại chưa thực sự mong đợi. Bán chéo sản phẩm là cách
đem lại hiệu quả cao nhất giúp mở rộng CVTD vì các đơn vị đối tác có đội
ngũ nhân viên tiếp thị, bán hàng với số lượng lớn, am hiểu về sản phẩm, có
khả năng tạo ra nhu cầu tiêu dùng của khách hàng qua kỹ năng bày hàng,
giới thiệu sản phầm và bán hàng.
Một số giải pháp cụ thể cho các sản phẩm :
Sản phẩm cho vay ô tô trả góp : Làm việc trực tiếp với các hãng xe
hoặc các đại lý của các hãng xe. Kết hợp với các hãng xe lớn : ký thỏa thuận
với một số đại lý xe lớn của các hãng ôtô hàng đầu hiện đang có mặt tại Việt
Nam như Toyota, Mitsubishi, BMW, Mercedes và Mazda để cung cấp dịch


74
vụ này tới tận tay các khách hàng có nhu cầu. Việc kết hợp với các hãng xe,
vừa giúp Sở kiểm soát được mục đích vay tiêu dùng, tránh sử dụng sai mục
đích, đồng thời đánh giá được nhu cầu thực tế của người dân.
Một mặt, Sở giao dịch I có thể cho vay đối với chính các hãng xe này
trong các phương án kinh doanh xe, mặt khách Sở giao dịch I có thể cho vay
đối với chính những người khách có nhu cầu mua xe từ các hãng xe này, sản
phẩm này sẽ tạo nên một sản phẩm trọn gói. Ngoài ra, việc hợp tác kinh
doanh với các hãng xe sẽ phổ biến hơn sản phẩm cho vay trả góp của ngân
hàng vì các hãng xe giới thiệu tới người tiêu dùng sản phẩm cho vay trả góp
của Sở giao dịch I.
Sản phẩm cho vay mua nhà chung cư : Làm việc trực tiếp với các đơn
vị xây nhà hoặc chủ đầu tư các dự án. Việc kết hợp các đơn vị xây dựng nhà
ở để bán cần được áp dụng có lựa chọn. Phương án này sẽ giúp cho Sở giao
dịch I thẩm định và đánh giá được năng lực thi công của đơn vị xây dựng,
chất lượng công trình vì đây chính là tài sản đảm bảo sau này cho ngân
hàng. Khi khách mua nhà tìm đến các đơn vị xây dựng , họ sẽ được giới
thiệu về sản phẩm cho vay mua nhà của Sở giao dịch I, trường hợp các
khách hàng này có nhu cầu vay vốn, Sở giao dịch I có thể đáp ứng. Việc cho
vay và thế chấp tài sản đảm bảo không chỉ diễn ra đơn thuần giữa Sở giao
dịch I và khách hàng vay vốn như các phương án nhận thế chấp thông
thường mà ở đây ban quản lý dự án cũng phải tham gia vào các khâu liên
quan. Đối với nhà chung cư thường chưa có đầy đủ giấy tờ để tiến hành thế
chấp theo qui định của pháp luật hiện nay nên sử dụng tài sản này làm tài
sản thế chấp bắt buộc phải có thê m sự ràng buộc của cơ quan chủ đầu tư.
Chủ đầu tư sẽ có trách nhiệm hoàn thiện giấy tờ sở hữu nhà cho người mua
nhà, đồng thời có trách nhiệm bảo quản và trao lại toàn bộ chứng từ gốc này
cho Sở giao dịch I khi các thủ tục được hoàn thiện.


75
Thứ ba, tăng cường quảng cáo giúp người dân quen với các sản phẩm
tín dụng tiêu dùng của ngân hàng. Để mở rộng CVTD, bên cạnh việc bán
chéo sản phẩm thì cần có chiến dịch quảng bá rộng rãi với nhiều hình thức
khác nhau để người dân không ngại vay vốn ngân hàng là việc làm hết sức
cần thiết. Công việc này thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông
như báo chí, truyền hình và đặc biệt là các báo điện tử. Với sự phát triển của
thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng đã trở thành một hình thức kinh
doanh khá phổ biến, hay chủ động gửi tin quảng cáo vào các địa chỉ email,
đây là một phương thức mà nhiều hãng kinh doanh của nước ngoài vẫn
thường làm.

Thứ tư, ngoài ra Sở giao dịch I có thể liên kết với các ngân hàng hàng
đầu trên thế giới để áp dụng những kĩ thuật về CVTD. Ví dụ như chương
trình hỗ trợ CVTD mà ACB đang liên kết với Citibank, đó là chương trình
hỗ trợ tiêu dùng hoàn toàn dựa vào thu nhập của người vay (UIL - Unscured
Installment Loan), theo chương trình chuyển giao kỹ thuật cho vay tiêu
dùng. Với chương trình này, ngân hàng sẽ phân nhóm khách hàng theo từng
mức độ rủi ro và qui định từng mức vay cụ thể phù hợp với thu nhập khách
hàng. Khách hàng có nhu cầu vay theo UIL có thể lên website của ACB để
tìm hiểu thông tin, thủ tục hồ sơ và đăng ký vay qua mạng. Khi ấy, ngân
hàng kiểm tra sơ bộ và sẽ có thư phúc đáp lại trên mạng.

3.3.5 Tập trung đào tào nguồn nhân lực cho hoạt động CVTD
Con người là nguồn lực quan trọng nhất đối với bất kỳ tổ chức hay
doanh nghiệp nào. Sự thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phụ
thuộc vào yếu tố con người và hiệu suất làm việc của họ. Mọi doanh nghiệp
muốn thành công trên lĩnh vực mà mình đang theo đuổi kinh doanh thì phải
dựa trên việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực của mình và Sở



76
giao dịch I cũng không nằm ngoài quy luật đó. Chính vì vậy, công tác đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực là một trong những mục tiêu chủ chốt mà
Sở giao dịch I phải chú trọng phát triển trong thời gian tới. Đó là nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo chuyên sâu theo từng loại
nghiệp vụ, trong đó tăng c ường đào tạo tại chỗ. Làm tốt công tác qui hoạch
cán bộ, đánh giá sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực để phát huy tác dụng
tốt. Xây dựng văn hoá kinh doanh công sở nhằm nâng cao uy tín và thương
hiệu của NHCT Việt Nam.
Trên cơ sở xem xét các yếu tố trên, ngân hàng nên có s ự phân công
lao động cho hợp lý, tận dụng được các khả năng và thế mạnh của cán bộ tín
dụng, đồng thời ngân hàng cũng cần có chiến lược đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực này một cách toàn diện hơn. Sở giao dịch I cần tổ chức và
phát triển hơn nữa công tác đào tạo, nhất là trong giao dịch đổi mới công
nghệ ngân hàng, hiện đại hóa ngân hàng như hiện nay. Sở giao dịch cần cử
cán bộ, nhân viên tham dự các khóa học về ngân hàng do Ngân hàng Nhà
nước, các trường Đại học, các Viện nghiên cứu tổ chức . Ngân hàng cũng
nên cử cán bộ, nhân viên có trình độ, có năng lực tham gia các chương trình
đào tạo ở nước ngoài cũng như tham khảo các sản phẩm dịch vụ, các hoạt
động ngân hàng của các nước phát triển sẽ tạo ra những nền tảng, điều kiện
cần thiết để phát triển hoạt động ngân hàng trong tương lai.
Ngoài ra Sở giao dịch I phân công thực hiện bố trí công việc theo
năng lực, kinh nghiệm của mỗi người, phân quyền đề nghị cấp tín dụng theo
trình độ, kinh nghiệm. Để nâng cao chất lượng đánh giá của khách hàng,
ngoài việc tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ tín dụng là yêu cầu
cấp thiết, ngân hàng cần tìm hiểu năng lực, sở trường của từng cán bộ tín
dụng để đề bạt, bố trí, quản lý sử dụng cán bộ thực hiệ n nghiệp vụ này phù




77
hợp, phát huy tốt nhất khả năng của mỗi cán bộ công nhân viên nhằm đem
lại hiệu quả cao trong công tác, ngăn ngừa rủi ro xảy ra.
Một khía cạnh khác là, để tạo điều kiện, tiền đề cho công tác phát
triển nguồn nhân lực, ngân hàng cần tuyển dụng một cách công bằng, công
khai để tìm kiếm được cán bộ giỏi, có tri thức, có năng lực, có trình độ
chuyên môn, có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới, có tinh thần trách
nhiệm cao, đáp ứng được những yêu cầu của công việc trong tình hình hiện
nay.

Ngoài ra, ngân hàng cũng nên thường xuyên tổ chức các buổi giao
lưu, văn nghệ, thể thao hay các cuộc thi nghiệp vụ trong nội bộ ngân hàng
nhằm tạo cơ hội cho các cán bộ công nhân viên trao đổi thêm kinh nghiệm
nghề nghiệp và hiểu biết lẫn nhau. Đồng thời bộ phận tín dụng và các bộ
phận khác cũng cần có sự phối hợp hoạt động chặt chẽ, tăng cường học hỏi
giúp đỡ lẫn nhau, cùng xây dựng tình đoàn kết vì mục tiêu chung của ngân
hàng.

3.3.6 Hiện đại hoá cơ sở vật chất, thiết bị
Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những hình ảnh đầu tiên về ngân
hàng khi họ đến giao dịch. Về tâm lý, khách hàng mong muốn tiến hàng
giao dịch kinh doanh với những ngân hàng có trụ sở kiên cố, bề thế, các
trang thiết bị hiện đại. Những hình ảnh trên sẽ tạo cho khách hàng tin tưởng
vào sự an toàn, thoải mái, thuận tiện khi giao dịch. Chính vì vậy, Sở giao
dịch I cần nâng cao cơ sở vật chất và các trang thiết bị nhằm thu hút khách
hàng. Ngân hàng cần tiến hành hiện đại hóa các trang thiết bị phục vụ cho
việc thẩm định, giám sát khoản vay của khách hàng. Ngoài ra ngân hàng
còn có thể phát triển thêm các dịch vụ tiên tiến cung ứng cho khách hàng :
với việc trang bị các máy móc hiện đại ngân hàng có thể phục vụ các nhu



78
cầu của khách hàng như giao dịch qua điện thoại, qua mạng máy tính cá
nhân.Để thu hút thêm khách hàng ngân hàng có thể mở dịch vụ thông tin
cho khách hàng đóng vai trò như một nhà tư vấn. Bên cạnh đó, một điều rất
quan trọng nữa mà chi nhánh cần chú ý là trang bị kiến thức về công nghệ
đầy đủ và rộng khắp cho các nhân viên ngân hàng, đặc biệt là bộ phận tín
dụng. Đội ngũ cán bộ tín dụng của ngân hàng có mặt bằng tuổi tác, kinh
nghiệm và kiến thức không đều nhau, nhiều người gặp khó khăn trong việc
tiếp cận và sử dụng công nghệ mới. Vì thế ngân hàng nên tiến hành bổ sung
kiến thức cho nhân viên, đảm bảo sử dụng hiệu quả và triệt để nhất công
nghệ ngân hàng.
Hiện nay, công nghệ thông tin đã góp phần giải quyết rất nhiều khó
khăn cho ngành ngân hàng, đưa người dân tiếp cận dễ dàng hơn với ngân
hàng thông qua mạng Internet. Khách hàng không chỉ kiểm tra tài khoản
qua mạng, mà còn thực hiện được một số giao dịch qua Internet , đặc biệt là
có thể vay tiền qua mạng. Sở có thể áp dụng với đối t ượng khách hàng trên
địa bàn Hà nội, với loại hình e-banking này, khách hàng giảm thời gian
cũng như chi phí đi lại khi đến Sở để vay vốn mà vẫn thoả mãn nhu cầu của
mình.

3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.4.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước

Khẩn trương hoàn thiện cơ chế chính sách và hệ thống văn bản pháp
quy có đủ khuôn khổ cho việc thực hiện tốt Luật NHNN, Luật các Tổ chức
tín dụng... bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả, năng
động. Đổi mới phương thức và thủ tục tín dụng theo hướng tạo thuận lợi và
cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có
phương án, dự án kinh doanh khả thi được vay vốn ngân hàng.


79
Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hoá hệ thống ngân hàng nhất là nghiệp vụ
thanh toán tự động qua ngân hàng, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời, chính
xác. Phát triển mạnh các công cụ và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
với doanh nghiệp và dân cư. Xúc tiến nhanh và có hiệu quả dự án hiện đại
hoá ngân hàng nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành kinh doanh, phát
triển các dịch vụ mới.

Tổ chức nâng cao vai trò của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nhằm
đưa ra các kiến nghị, tiếng nói chung để tránh những động cơ cạnh tranh
thiếu lành mạnh gây hậu quả xấu cho hoạt động của Ngân hàng. Đồng thời
tiếng nói của Hiệp hội sẽ đại diện cho hệ thống ngân hàng phản ánh, kiến
nghị những chính sách và yếu tố cần thiết trước các cơ quan quản lý nhà
nước.

3.4.2 Đối với NHCT Việt Nam

Là đơn vị chủ quản của Sở giao dịch I, trực tiếp chỉ đạo hoạt động của
Sở, NHCT Việt Nam cần có những chính sách khuyến khích đối với lĩnh
vực CVTD. Sau đây là một số kiến nghị cụ thể :

- Hoạch định chiến lược cho hoạt động CVTD, đưa ra những định
hướng, mục tiêu cụ thể nhằm nâng cao chất lượng CVTD.
- Đưa ra danh mục sản phẩm đa dạng, linh hoạt với điều kiện cho vay
phù hợp với nhiều loại đối tượng khách hàng. Trong đó, đẩy mạnh cho vay
tín chấp – đây là loại hình mới, cần được đầu tư triển khai để đáp ứng nhu
cầu của xã hội. Cho phép triển khai thực hiện cho vay trả góp đối với
CBCNV và hộ gia đình có thu nhập thấp để mua nhà ở, đất xây dựng nhà ở
với thời hạn dài có thể là 15 năm hay 20 năm, mức cho vay tối đa bằng 70%
- 80% giá trị đất, nhà và được phép sử dụng chính tài sản đó làm đảm bảo.




80
- Khi có điều kiện thì NHCT Việt Nam cũng nên tạo điều kiện giúp
đỡ để Sở giao dịch I có thể thành lập và phát triển bộ phận chuyên trách về
Marketing trong ngân hàng .
Tóm lại, trên cơ sở lý luận và thực trạng về hoạt động CVTD tại Sở
giao dịch I và định hướng hoạt động kinh doanh, nâng cao chất lượng
CVTD của Sở giao dịch I – NHCT, khoá luận đã đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng CVTD tại Sở trong thời gian tới như xây dựng hệ
thống tính điểm tín dụng, đa dang hoá sản phẩm, tăng cường hoạt động
Marketing... để giải pháp này đi vào thực tiễn, khoá luận đưa ra một số kiến
nghị với NHNN và NHCT Việt Nam.




81
PHẦN KẾT LUẬN

Cho vay tiêu dùng là một hướng đi mới của các ngân hàng thương
mại Việt Nam, và là một thị trường rất tiềm năng. Trong những năm gần
đây, thị trường này đã góp phần rất lớn trong việc đa dạng hóa các sản phẩm
cho vay của các ngân hàng.
Việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng CVTD là rất cần
thiết và có ý nghĩa không chỉ riêng với Sở giao dịch I - NHCT mà còn giúp
thực hiện các chính sách kích cầu tiêu dùng của Chính phủ, giúp các cá nhân
và hộ gia đình có cơ hội tiếp cận sản phẩm dịch vụ ngân hàng để cải thiện,
nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.
Mặc dù vậy, trong quá trình nghiên cứu em đã kết hợp giữa lý luận và
thực hành với mục đích đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao
chất lượng CVTD trước hết là ở Sở giao dịch I - NHCT. Nội dung của khoá
luận hoàn thành được các mục tiêu đã đặt ra :
- Thứ nhất : Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về CVTD
của NHTM. Qua đó, các hình thức CVTD, các nhân tố ảnh hưởng đến
CVTD được trình bày cụ thể hơn.
- Thứ hai : Khoá luận phân tích, đánh giá thực trạng về hoạt động
CVTD tại Sở giao dịch I, từ đó đánh giá kết quả đạt đ ược và những tồn tại
cần phải giải quyết.
- Thứ ba : Trên cơ sở luận cứ khoa học và thực tế hoạt động cho vay
của Sở giao dịch I, kết hợp với định hướng phát triển của Sở, khoá luận đã
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng đối
với Sở giao dịch I - NHCT.
Khoá luận được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ



82
phòng khách hàng cá nhân c ủa Sở giao dịch I - NHCT và em xin chân thành
cám ơn PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền đã tận tình hướng dẫn em hoàn
thành khoá luận này. Do trình độ và thời gian có hạn nên khóa luận sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Em rất mong nhận được nhiều ý
kiến đóng góp của thầy cô giáo, các bạn quan tâm đến đề tài này.


Sinh viên thực hiện


Nguyễn Hương Lan




83

Top Download

Xem thêm »

Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản