ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC "XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP VẬT LIỆU NỘI THẤT"

Chia sẻ: Mac Hai Loi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

1
924
lượt xem
363
download

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC "XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP VẬT LIỆU NỘI THẤT"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Nội thất" là một từ có thể nói là khá mới mẻ, mới xuất hiện trong vài thập niên gần đây. Vậy "nội thất" là gì? "Nội thất" là thuật ngữ chỉ cách bày bố, trang trí không gian trong một phạm vi nhất định như: nhà ở, văn phòng, khách sạn, phòng hát...Tuy nhiên, các hoạt động trang trí nội thất không phải chỉ mới xuất hiện mà nghệ thuật này ra đời cùng với sự xuất hiện của nền văn minh nhân loại....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC "XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP VẬT LIỆU NỘI THẤT"

  1. ĐỀ TÀI "XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP VẬT LIỆU NỘI THẤT" Giáo viên hướng dẫn : Sinh viên thực hành :
  2. ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................4 "Xây dựng bộ sưu tập vật liệu nội thất" ...........4 1.2.2. Nhu cầu về trang trí nội thất ..............7 1.2.3. Hiện trạng trang trí nội thất Việt Nam .....8 1.3.1Mục tiêu nghiên cứu .........................10 1.3.2Nội dung nghiên cứu .........................10 1.3.3Phạm vi nghiên cứu ..........................11 1.3.4Phương pháp nghiên cứu ......................11 CHƯƠNGII .........................................11 2.2Tầm quan trọng của vật liệu nội thất ..........12 CHƯƠNG III .......................................13 Phân loại theo tên gọi ...........................13 3.1 Chế phẩm hợp kim nhôm và các kim loại khác ...13 3.1.1 Hợp kim nhôm hình: .........................13 3.2 Sắt thép .....................................13 3.2.1 Thép lá phủ màu ............................13 3.2.2 Tấm men sứ .................................14 3.2.3 Thép không rỉ ..............................14 3.2.4 Khung Xương Thép Nhẹ .......................14 3.3 Vật liệu dán mặt .............................15 3.3.1 Giấy,vải dán tường .........................15 3.3.2 Vải dán tường không dệt ....................15 3.3.3 Giấy dán tường mặt cỏ ......................15 3.3.4 Dán tường kim loại .........................16 3.3.5 Giấy dán trực tiếp .........................16 3.3.6 Những loại khác ............................16 3.4 Vật liệu trang sức nền .......................16 3.4.1 Thảm đan ...................................16 3.4.2 Thảm “Gút” .................................17 3.4.3 Thảm khâu (Móc) ............................17 3.5 Chất phủ .....................................17 3.5.1 Chất phủ tường nội thất ....................18 3.5.1.1 Chất phủ thủy tinh nước VINYL ALCHOL POLIME .................................................18 3.5.2 Chất phủ mặt nền nhựa PU Chất phủ mặt nền làm cho mặt nền nội ngoại thất mỹ quan,nó có tính chịu mài mòn cao,chịu kiềm,chịu nước và tính tránh xung kích,gia công giản tiện. .18 3.5.3 Chất phủ đặc biệt ..........................18
  3. 3.5.3.1 Chất phủ chống cháy ......................19 3.5.3.2 Chất phủ chống nước ......................19 3.5.3.3 Chất phủ chống nấm .......................19 3.5.3.4 Chất phủ chống ăn mòn ....................19 3.6 Chất dẻo .....................................20 3.6.1 Chế phẩm chất dẻo ..........................20 3.6.1.1 Tấm dán tường chất dẻo ...................20 3.6.1.2 Tấm dán tường phổ thông ..................21 3.6.1.3 Tấm dán tường nổi bóng ...................21 3.6.1.4 Tấm dán tường đặc biệt ...................21 3.6.2 Ván sàn ....................................21 3.6.2.1 Ván sàn đơn sắc bán cứng .................21 3.6.2.2 Ván sàn in hoa PVC .......................21 3.6.2.3 Ván trang sức chất dẻo ...................22 3.6.3. Tấm PVC cứng ..............................22 3.6.4 Tấm chất dẻo dán bề mặt ....................22 3.6.5Tấm thủy tinh hữu cơ ........................22 3.6.5.1Tấm thủy tinh thép trang sức ..............23 3.7Cửa nhựa ......................................23 3.8Vật liệu gỗ ...................................23 3. 8.1 Gỗ ván sàn ................................24 3. 8.2 Ván nhân tạo dán giấy in hoa văn ..........24 3. 8.3 Gỗ làm phào gỗ ............................24 CHƯƠNG IV ........................................25 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................25
  4. ĐẶT VẤN ĐỀ "Nội thất" là một từ có thể nói là khá mới mẻ, mới xuất hiện trong vài thập niên gần đây. Vậy "nội thất" là gì? "Nội thất" là thuật ngữ chỉ cách bày bố, trang trí không gian trong một phạm vi nhất định như: nhà ở, văn phòng, khách sạn, phòng hát...Tuy nhiên, các hoạt động trang trí nội thất không phải chỉ mới xuất hiện mà nghệ thuật này ra đời cùng với sự xuất hiện của nền văn minh nhân loại. Khi xã hội càng phát triển thì các hoạt động này càng diễn ra mạnh mẽ và con người thì càng quan tâm đến cái đẹp, cái thẩm mỹ. Trong đó, vẻ đẹp của không gian sống là yếu tố mà con người chú trọng nhất. Một không gian đẹp, hài hoà sẽ tạo nên sự thoải mái, thư giãn, kích thích các giác quan của con người, góp phần làm cho cuộc sống của con người tươi đẹp hơn... Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của những lĩnh vực về nội thất thì vật liệu nội thất ngày càng đa dạng và phong phú. Nhiều loại vật liệu mới ra đời kết hợp vói những loại vật liệu truyền thống tạo nên hệ thống cá loại vật liệu phục vụ cho nghành nội thất. Hiện nay, ngành nội thất trong và ngoài nước đang trên đà phát triển nhưng thực tế cho thấy những tài liệu về vật liệu nội thất nhìn chung còn hạn chế và mang tính chất đơn lẻ chưa đáp ứng được nhu cầu của người đọc. Do đó, đứng trước nhu cầu tìm hiểu về vật liệu nội thất của con người, việc nghiên cứu, phân loại các loại vật liệu nội thất là rất cần thiết. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, sưu tầm, phân loại các loại vật liệu được sử dụng chủ yếu trong trang trí nội thất là tiền đề giúp ta đưa ra những sự lựa chọn phù hợp với từng không gian cụ thể. Với mong muốn góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu để phục vụ cho nghành trang trí nội thất trong nước, chúng tôi chọn đề tài: "Xây dựng bộ sưu tập vật liệu nội thất" CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1Lược sử quá trình nghiên cứu
  5. Từ thời nguyên thủy con người đã biết dùng hang động làm chỗ che mưa che nắng, giữ ấm trong mùa đông và chống thú dữ, tiến xa hơn một bước họ đã biết dùng các thân cây và các toại sợi thiên nhiên để dựng nhà và che thân. Đến thời đại của chúng ta - con người hiện đại - đã biết tìm và sáng tạo ra các loại vật liệu mới để phục vụ cho những công trình kiến trúc của mình. Trong lịch sử phát triển, loài người đã phát minh ra không ít vật liệu và cũng đã có những phát minh có thể nói là bước đột phá trong khoa học công nghệ, đóng vai trò làm nền tảng, cơ sở hình thành nên nghành khoa hoc vật liệu nói chung, vật liệu nội thất nói riêng. Dưới đây là một số phát kiến vĩ đại nhất trong lịch sử nghành vật liệu xây dựng và nội thất: Năm 3500 trước công nguyên người Ai cập đã nung luyện được sắt (dưới dạng sản phẩm phụ của việc tinh chế đồng) và sử dụng để làm đồ trang sức và cho mục đích trang trí vào các dịp trọng đại.. Khám phá ra bí mật đầu tiên của nền văn minh đồ sắt. Năm 2200 trước công nguyên, người dân ở vùng tây bắc Iran đã chế tạo ra thuỷ tinh. . Nó trở thành vật liệu xây dựng phi kim loại vĩ đại thứ hai trong lịch sử (sau gốm). Năm 1755, John Smeaton chế tạo ra bêtông hiện đại (ximăng cứng trong nước). Bêtông trở thành vật liệu xây dựng chủ yếu của nền văn minh hiện đại, vật liệu làm thay đổi những phương pháp xây dựng xuất hiện từ giữa thế kỷ 18. Trong những năm gần đây nghành vật liệu đã đạt được những thành tựu to lớn như: -Phát minh ra vật liệu ứng dụng công nghệ nano có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực đời sống như: may mặc, chế tạo các linh kiện điện tử, làm vỏ các thiết bị công nghệ cao,... trong đó không thể không nhắc đến thành tựu trong nghành xây dựng đó là tạo ra sơn chống thấm, không bám bẩn, dễ lau chùi. -Tìm ra vật liệu siêu nhẹ ETFE - bước ngoặt của kiến trúc thế giới. -Ngoài ra còn rất nhiều vật liệu nhân tạo như: gỗ, đá, nhựa, sợi tổng hợp... 1.2Tình hình sử dụng vật liệu nội thất hiện nay: 1.2.1.Yêu cầu cấp thiết trang trí nội thất với không gian kiến trúc.
  6. Nhu cầu về trang trí nội thất ngày càng cao và cấp thiết trong kiến trúc đáp ứng nhu cầu vật chất và văn hóa tinh thần của con người đương đại trước sự phát triển của cuộc sống. Trước đây, điều kiện kinh tế, nhu cầu thụ hưởng và mức sống còn hạn chế, trừ một số ít người có điều kiện về kinh tế và tiếp xúc nhiều bên ngoài, đại đa số người dân tích cóp tài chính suốt thời gian dài làm việc, mong mỏi xây dựng được căn nhà làm nơi ăn chốn ở, do vậy việc xây dựng hoàn tất thường chỉ dừng lại ở mức xây dựng cơ bản với các vật liệu phủ, ốp lát đơn thuần. Rất nhiều công trình người dân tự mò mẫm sao chép, cóp nhặt về hình thức mà không cần sự tham gia của các kiến trúc sư, nhà thiết kế, dẫn đến sự hỗn loạn về hình thức kiến trúc, không gian ở bên trong không được phân chia chức năng sử dụng hợp lý cũng như những đầu tư cần thiết về trang thiết bị nội thất. Các công trình công cộng cũng trong trình trạng tương tự, chỉ những công trình có nguồn vốn đầu tư liên doanh với nước ngoài thì được thiết kế xây dựng hoàn thiện bởi những công nghệ và vật liệu hiện đại, còn lại phần lớn công trình chỉ hoàn thiện phần xây dựng cơ bản sau đó lắp ghép các thiết bị đồ đạc cho mục đích sử dụng thực tế. Một thời gian dài quanh quẩn với với phương thức xây dựng lạc hậu, việc tiếp cận và ứng dụng trang trí nội thất công trình kém phát triển rất nhiều so với với các nước trong khu vực. Hiện nay, kinh tế phát triển trình độ nhận thức và nhu cầu cải thiện điều kiện sống ngày một bức thiết. Trong kiến trúc xây dựng, những quy chuẩn nhà nước buộc các công trình phải có thiết kế từ các kiến trúc sư và các đơn vị có chức năng. Hội nhập kinh tế giúp tiếp nhận nhiều tiến bộ khoa học, công nghệ xây dựng mới cũng như đón nhận nguồn vật liệu xây dựng từ nước ngoài vào làm nóng thị trường vật liệu xây dựng rất phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã đáp ứng tối đa nhu cầu của các nhà thiết kế và chủ đầu tư. Các lý do trên đã thúc đẩy làm thay đổi quan điểm để xây dựng công trình kiến trúc phải đạt tiêu chuẩn tiện nghi tối đa, đáp ứng mọi nhu cầu về công năng thẩm mỹ và công năng tinh thần của người sử dụng. Đầu tư chi phí cho phần trang trí nội thất dần chiếm phần quan trọng trong xây dựng cơ bản. Trong tương lai, việc thiết kế trang trí nội ngoại thất công trình là bắt buộc, như vậy nhu cầu trang trí nội thất là rất lớn và cấp thiết, liệu ngành thiết kế trang trí nội thất có thể lớn mạnh, phát triển và đáp ứng kịp thời nhu cầu này của xã hội? Xu thế hội nhập toàn cầu và việc nước ta vừa ra nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), mở ra nhiều vận hội và thách thức mới. Trong quá trình hội nhập, chúng ta sẽ tiếp nhận nhiều công nghệ xây dựng và sản xuật vật liệu tân tiến hiện đại, nguồn vật liệu phong phú với giá thành cạnh tranh, do vậy người tiêu dùng càng có nhiều cơ hội tiếp cận sử dụng để nâng cao chất lượng không gian sống của mình, càng khẳng định tính cấp thiết, vai trò và nhu cầu to lớn
  7. của trang trí nội thất trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng để chúng ta không bị tụt hậu mà có thể lớn mạnh, tạo dựng được phong cách, khẳng định vị thế nước ta trên trường quốc tế, người dân được hưởng môi trường, điều kiện sống tiện nghi hiện đại, phù hợp với sự phát triển chung của xã hội. 1.2.2. Nhu cầu về trang trí nội thất Ngày nay, cuộc sống vật chất và tinh thần trên mặt bằng chung xã hội ngày một tiến bộ, không chỉ đáp ứng những nhu cầu cơ bản, con người còn muốn được hưởng thụ chất lượng nhiều và cao hơn từ cuộc sống, nghệ thuật và mỹ thuật trở nên không thể thiếu bên cạnh các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người như ăn, ở, mặc, đi lại, văn hóa, giải trí, sức khỏe, học tập, phát triển... do vậy, tất yếu vai trò của nghệ thuật và mỹ thuật ngày một quan trọng, có nhu cầu rất lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, nhất là trong kiến tạo môi trường sống cho con người. Mặt khác, khi môi trường sống xuất hiện nhiều bóng dáng của mỹ thuật thì đồng thời cũng có tác dụng giáo dục làm tăng thị hiếu và khả năng cảm thụ nghệ thuật, thẩm mỹ của đông đảo quần chúng, đẩy mức sống tinh thần con người ngày một cao hơn, đó cũng làm mục tiêu phát triển của mọi chế độ xã hội. Công nghệ tin học phát triển, con người với nền khoa học kỹ thuật biến đổi nhanh chóng, vật liệu và chất liệu phong phú đa dạng sẽ là mảnh đất màu mỡ cho nghệ thuật phát triển. Nghệ thuật – mỹ thuật ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nhu cầu cuộc sống của con người. Ngày càng có nhiều hình thức mới được con người sáng tạo để đáp ứng những nhu cầu ấy. Các vật liệu phong phú, đa dạng sẽ là những chất liệu để con người khai thác, tạo ra những sản phẩm, những không gian sống tươi đẹp. Mỹ thuật cổ truyền dân tộc đã để lại cho chúng ta những hợp thể kiến trúc, nghệ thuật trang trí và tạo hình. Kiến trúc mà không có mỹ thuật cũng như mỹ thuật không có cuộc sống thì không thể tồn tại, vươn lên và phát triển. Cái đẹp của nghệ thuật tạo hình và mỹ thuật trang trí thông qua kiến trúc – trang trí nội thất, nghệ thuật điêu khắc, hội họa và trang trí phát huy tiếng nói của mình, hòa hợp trong hợp thể chung, qua đó thể hiện những giá trị nội dung và nghệ thuật với tư tưởng nhân văn thời đại, được khai thác và kế thừa trong tương lai. Mỹ thuật truyền thống, nghệ thuật tạo hình, trang trí tham gia rất chặt chẽ vào quá trình kiến tạo môi trường, không gian sống của con người, nghệ thuật điêu khắc, tượng đài, chạm khắc, phù điêu, tranh trang trí, tranh ghép, tranh khắc...với các thủ pháp ước lệ, tượng trưng, cách điệu ... luôn đắc dụng và hiệu quả trong kiến trúc và trang trí nội ngoại thất. Nội thất thường được dùng điêu khắc (tượng tròn), trang trí (tranh vẽ) với các đề tài cung đình, tôn giáo hay đời thường, ngoại thất với tượng tròn, phù điêu đắp phía ngoài... qua đó, cho thấy
  8. kiến trúc – tạo hình – trang trí gắn bó mật thiết với nhau để biểu đạt phong cách và vẻ đẹp của mình. Như vậy, nghệ thuật và mỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong công trình kiến trúc và trang trí nội thất, xu hướng này ngày càng phát triển mạnh me nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Các nhà thiết kế và hoạt động mỹ thuật phải không ngừng tìm tòi, kế thừa từ mỹ thuật truyền thống để đưa ra những thiết kế thiết thực nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống. 1.2.3. Hiện trạng trang trí nội thất Việt Nam Từ 1986 đến nay, với những chủ trương chính sách đổi mới về mọi mặt kinh tế, xã hội, chính trị của Đảng và nhà nước đã đem lại những bước phát triển lớn về kinh tế xã hội. Đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của người dân ngày một cao, ăn ngon, mặc đẹp, không chỉ có chỗ để ở mà phải tiện nghi, hiện đại. Người ta không chỉ xây dựng nhà với hình thức kiến trúc đẹp mà đã giành những phần kinh phí lớn hơn chi phí xây dựng cơ bản để trang trí nội thất bên trong, tạo những không gian ở bên trong thật tiện nghi phục vụ cho chính cuộc sống của bản thân và gia đình ở mức cao nhất mà kinh tế cho phép. Từ lẽ đó mà những năm gần đây, nhu cầu của trang trí nội thất ngày càng nhiều và không thể thiếu trong qui trình xây dựng nhà ở cũng như những công trình công cộng khác. Tạo cho người Việt Nam có cách nhìn mới và nhu cầu trang trí nội thất song hành với việc xây dựng nhà. Những tiến bộ vượt bậc, nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin làm cho việc thiết kế, tham khảo, tư liệu về hình thức ngôn ngữ trang trí ngày một đơn giản, thuận lợi, sự phong phú, đa dạng của các vật liệu trang trí với những tiến bộ về tay nghề và kỹ thuật trong thi công công trình đã mang lại cho chủ đầu tư công trình rất nhiều sự lực chọn để có được một không gian ở tiện nghi , đạt trình độ thẩm mỹ nhất định phù hợp về tài chính. Cũng nhờ vậy trình độ hưởng thụ và thẩm mỹ của người dân được nâng cao, góp phần thúc đẩy hoạt động ngành trang trí nội thất ngày một lớn mạnh để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại. Về chuyên ngành, từ trước đến nay trang trí nội thất vẫn ít được nhắc đến trong kiến trúc, chỉ được xem như là một thành tố của kiến trúc mặc dù các kiến trúc sư không phải ai cũng có thể đi sâu, hiểu tường tận và thiết kế được những không gian sống cụ thể, đáp ứng được công năng, thẩm mỹ của từng đối tượng sẽ sống và thụ hưởng không gian ở bên trong công trình kiến trúc ấy hơn các họa sĩ làm trang trí nội thất vốn còn non trẻ chưa đủ khẳng định vị trí của mình. Đó còn là những thách thức lớn và hạn chế mà đến nay, trang trí nội thất vẫn chưa có chỗ đứng đúng tầm của mình.
  9. Trang trí nội thất thường tạo lập không gian bên trong cách phù hợp với kiến trúc bên ngoài công trình. Phân loại dưới đây được nhận định trên cơ sở của hình thức và phong cách kiến trúc đang phổ biến ở một số thể loại công trình nhà tiêu biểu như biệt thự, nhà phố, nhà ở cao tầng: - Nệ cổ, giả cổ - Kế thừa và chọn lọc những đặc tính truyền thống. - Kế thừa và phát triển trên cơ sở hiện đại và truyền thống . - Phong cách hiện đại - Hình thức khác - tự do tự phát Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập trên cơ sở phát huy bản sắc của mỗi dân tộc, quốc gia, các công trình kiến trúc và trang trí nội thất ở Việt Nam có xu hướng quay trở về với truyền thống dân tộc, từ hình thức trang trí, sắp đặt không gian, đồ đạc, chất liệu ánh sáng và màu sắc, hòa nhập vào thiên nhiên ... Tuy nhiên chưa đủ để tạo nên phong cách đặc trưng cho một không gian ở Việt hiện đại. Đấy là nhiệm vụ, gánh nặng mà những lớp họa sĩ thiết kế trang trí nội ngoại thất kế cận phải gánh vác trong tương lai. 1.2.4. Xu hướng phát triển của trang trí nội thất. Trang trí nội thất sẽ ngày một phát triển mạnh theo nhịp độ phát triển của kiến trúc, dựa theo tiêu chí của các yếu tố: kết cấu, công năng, thẩm mỹ... theo quan niệm nhận thức (thẩm mỹ), điều kiện kinh tế... Tầm quan trọng của trang trí nội thất đối với công trình cũng như mức độ đầu tư về trang trí và thiết bị nội thất đang chiếm tỉ lệ ngày một lớn. Hình thức biểu hiện trong trang trí vẫn dựa trên một số hình thức đã hình thành từ trước đến nay đó là nệ cổ, giả cổ hoặc ngoại lai hoặc kế thừa và chọn lọc những đặc tính truyền thống, kế thừa và phát triển trên cơ sở hiện đại và dân tộc. Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập thế giới trên cơ sở phát huy bản sắc của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Các công trình kiến trúc và trang trí nội thất ở Việt Nam có xu hướng quay trở về với truyền thống dân tộc, từ hình thức trang trí, bố trí không gian, đồ đạc, chất liệu và màu sắc, hòa nhập vào thiên nhiên... cách nhìn về truyền thống dân tộc của người thiết kế và người sử dụng cũng sẽ có chiều sâu hơn, không đơn thuần chỉ là những mô típ hay chi tiết bề ngoài. Quá trình giao lưu kiến trúc và nghệ thuật với các nước, thường bắt đầu là sự phản ứng, xung đột trước các hình thức mới lạ, sau đó là quá trình đối thoại, tìm hiểu, để rồi tiếp nhận và thử nghiệm, kế tiếp là sáng tạo và phát triển. Chỉ đến khi có sự hoán cải, tiếp biến cả nội dung lẫn hình thức giữa truyền thống và tiếp
  10. thu những cái mới thì mới thể hiện được tinh thần dân tộc, nâng nó lên tầng cao mới và có thể hòa nhập được với thế giới. Việc phát triển ngành thiết kế và tư vấn thiết kế sẽ giúp nhà thiết kế và người sử dụng phối hợp tạo dựng những không gian nội thất hoàn thiện. Kế thừa và phát triển trên cơ sở vừa hiện đại vừa dân tộc cũng là một xu hướng lớn để phù hợp với hoàn cảnh và cuộc sống hiện đại. Bản sắc dân tộc luôn có nhu cầu tiếp nhận và vận động để phát triển. Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ trong lĩnh vực vật liệu và thi công công trình sẽ tác động nhiều vào quá trình này. Tuy nhiên, sẽ có những mặt hạn chế vì sẽ ít dần những tác phẩm nghệ thuật – mỹ thuật thể hiện bằng phương pháp thủ công truyền thống. Sử dụng các tác phẩm mỹ thuật một cách lạm dụng thiếu cân nhắc sàng lọc, chiều theo những yêu cầu thị hiếu hạn chế của chủ công trình đôi khi làm không gian bị loãng hoặc quá ôm đồm dẫn đến sự rối rắm trong nội thất đang khá phổ biến trong thời buổi cơ thế thị trường. Kéo theo sự phát triển của ngành thiết kế trang trí nội thất, việc đào tạo trang trí nội ngoại thất đang phát triển rất nhanh, để đáp ứng nhu cầu thiết kế và tư vấn trang trí nội ngoại thất công trình của xã hội, hiện đang thu hút rất đông sinh viên tham gia đăng ký vào ngành học tiềm năng này trong các trường đại học có mở khoa mỹ thuật công nghiệp - ngành đào tạo thiết kế nội thất, nhất là trên điạ bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, nếu không đầu tư xây dựng chương trình giảng dạy tiên tiến, đội ngũ giáo viên chuẩn mực có đầy đủ kiến thức và bản lĩnh nghề nghiệp, đồng thời định hướng chiến lược phát triển lâu dài thì không thể đào tạo được những nhà thiết kế giỏi, đủ sức hình thành những phong cách thể hiện bản sắc kiến trúc dân tộc Việt Nam, cũng như đáp ứng kịp thời nhu cầu ngày càng cao của xã hội, thúc đẩy sự lớn mạnh, phát triển của ngành thiết kế trang trí nội ngoại thất Việt Nam. 1.3Mục tiêu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài 1.3.1Mục tiêu nghiên cứu - Có được bộ sưu tập những vật liệu nội thất phổ biến để mọi người sử dụng nghiên cứu, tìm hiểu về các loại vật liệu từ đó đưa ra những sự lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế nhằm tạo nên không gian nội thất đẹp, hài hoà mà vẫn bộc lộ được sở thích, tính cách của chủ nhà đối với nhà ở hay vẫn đảm bảo tính năng động nơi công sở.v.v.. - Tạo được một webside về vật liệu nội thất dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài, giúp mọi người tra cứu một cách dễ dàng ở mọi lúc, mọi nơi. 1.3.2Nội dung nghiên cứu
  11. - Phân loại vật liệu nội thất theo tên gọi. - Khảo nghiệm, tham khảo ý kiến chuyên gia và thu thập số liệu về tình hình tiêu thụ các loại vật liệu nội thất. 1.3.3Phạm vi nghiên cứu - Phân loại các loại vật liệu phổ biến nhất, được sử dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay. - Chỉ khảo nghiệm khu vực Hà Nội, chọn một số gian hàng trưng bày tiêu biểu để thu thập số liệu về tình hình tiêu thụ các loại vật liệu nội thất đầu năm 2009 tại khu vực hà nội. 1.3.4Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp lý thuyết: Được sử dụng trong cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và các khoa học khác, bao gồm nhiều nội dung khác nhau như: nghiên cứu tư liệu, xây dựng khái niệm, phạm trù, thực hiện các phán đoán, suy luận,.v.v… và không có bất cứ quan sát hoặc thực nghiệm nào được tiến hành. - Phương pháp phi thực nghiệm: Là một phương pháp nghiên cứu dựa trên sự quan sát, quan trắc những sự kiện đã hoặc đang tồn tại, hoặc thu thập những số liệu thống kê đã tích lũy. trên cơ sở đó phát hiện qui luật của sự vật hoặc hiện tượng. Trong phương pháp này người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã và đang tồn tại, không có bất cứ sự can thiệp nào gây biến đổi trạng thái của đối tượng nghiên cứu. CHƯƠNGII CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1Khái niệm vật liệu nội thất Hiện nay, có rất nhiều cách định nghĩa về vật liệu nội thất nhưng chúng tôi có thể đưa ra một cách định nghĩa dễ hiểu và ngắn gọn như sau: Vật liệu nội thất:là tổng thể các loại vật liệu được sử dụng để tạo nên không gian nội thất. Những vật liệu thường sử dụng trong suốt thế kỷ XX chủ yếu là gỗ, gạch, kính, bêtông, sắt ,thép...và ngày nay có những vật liệu đã dần được thay thế bằng những vật liệu có độ bền cao hơn và mang lại hiệu quả về mặt thẩm mỹ cũng như về mặt kinh tế, ít phải bảo trì trong khi giá trị vẫn cao .Những sản phẩm vật liệu xây dựng và trang trí ngày càng có nhiều cải tiến vế chất lượng và giá thành , tạo ra sự phấn khích và thẩm mỹ cho người sử dụng.
  12. 2.2Tầm quan trọng của vật liệu nội thất Trước tiên ta phải khẳng định rằng không một công trình nào trên thế giới được xây dựng mà không dùng bất cứ thứ vật liệu nào hiện nay, không một không gian nội thất nào đẹp mà không dùng bất cứ vật liệu nội thất nào. Thứ hai, sự lựa chọn và phối hợp các loại vật liệu với nhau thể hiện con mắt thẩm mỹ của nhà thiết kế và đặc biệt là nó còn bộc lộ cái tôi của chủ nhà. Thứ ba, vật liệu còn có tác động mạnh mẽ tới cảm xúc của con người, sự kết hợp hài hoà giữa các yếu tố như vật liệu, màu sắc, cách bày trí với không gian kiến trúc tạo cảm giác thư giãn, sảng khoái cho con người thoát khỏi những bộn bề của cuộc sống. Như vậy, để có được một không gian theo đúng các quy chuẩn thiết kế, thoả mãn được nhu cầu thẩm mỹ của người sử dụng trong xu thế hiện nay, chúng ta không thể không nói đến vật liệu nội thất - một phần vô cùng quan trọng trong thiết kế nội thất. Nó tạo nên vẻ lộng lẫy, hoành tráng và quyến rũ cho công trình - làm tăng cảm xúc của con người khi được sử dụng đúng cách. 2.3Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vật liệu nội thất - Truyền thống là những yếu tố được chọn lọc và cấu thành theo thời gian, sự thay đổi diễn ra theo động lực và sự chon lựa của con người, bảo tồn tính truyền thống và thay thế dần những nhược điểm của vật liệu truyền thống cho thích hợp với điều kiện sống hiện nay. - Công năng là tính năng và công dụng của từng loại vật liệu. Mỗi loại lại có những tính chất và tác dụng khác nhau, tuỳ vào yêu cầu kỹ thuật và mục đích biểu đạt khác nhau mà người ta lựa chọn các loại vật liệu khác nhau. - Thị yếu là xu hướng của thị trường, sự ưa chuộng của đông đảo khách hàng đối với một hay một số loại vật liệu nào đó. Xu hướng đó không tồn tại mãi mãi mà chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian nhất định. - Giá thành sản phẩm là yếu tố đầu tiên được chú ý đến khi lựa chọn vật liệu. Ai cũng muốn tìm được loại vậ liệu vừa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật vừa mang lại hiệu quả về mặt kinh tế cũng như về mặt thẩm mỹ. Do đó con người ngày càng đòi hỏi hơn nữa một sản phẩm đưa vào xây dựng trang trí cho ngôi nhà bền hơn, ít phải bảo trì trong khi vẫn đảm bảo được công năng và giá trị thẩm mỹ.
  13. CHƯƠNG III PHÂN LOẠI Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ và khoa học lỹ thuật hiện đại đã tạo ra một thị trường vật liệu phong phú đầy tiềm năng, nhưng cũng không khó để lựa chọn nếu như ta biết rõ về tính chất và công năng đa dạng của nhiều loại vật liệu khác nhau. Để nắm rõ về tính năng của các loại vật liệu ta cần phải phân loại chúng. Có rất nhiều tiêu chí phân loại các loại vật liệu như: phân loại theo mục đích sử dụng, theo giá thành ...Tuy nhiên ở đây chúng tôi chỉ đưa ra phương pháp phân loại các loại vật liệu theo tên gọi của chúng. Phân loại theo tên gọi Vật liệu dùng trong trang trí nội thất thuộc nhiều chủng loại và nhiều nhóm khác nhau, dưới đy là các nhóm tiêu biểu: 3.1 Chế phẩm hợp kim nhôm và các kim loại khác - Nhôm nguyên tố chiếm đến 8,13% vỏ trái đất.Nhôm tồn tại trong tự nhiên là hợp chất,ví như nhôm nguyên chất do luyện các khoáng nhôm sau đó điện giải mà thành. 3.1.1 Hợp kim nhôm hình: Nhôm hình là đem phôi nhôm gia nhiệt đến 400 đến 450 độ C đưa vào máy cán chuyên dụng,lien tục cán thành nhôm hình.Nhôm hình được cán ra để nguội ở nhiệt độ phòng lại qua máy ép thủy lực để sửa sang hiệu chỉnh,cắt 2 đầu,qua lò xử lý loại bỏ nội ứng lực,làm cho ổn định nội bộ,sau khi kiểm tra lại tiến hành xử lý õy hóa và nhuộm màu,cuối cùng hình thành sản phẩm. Nhôm hình thường dùng trong công trình có nhôm cửa(thuộc về cửa kéo đẩy;cửa mở ngang),cửa lớn(nhôm hình cửa lò xo,nhôm hình cửa kéo đẩy,nhôm hình cửa không khung) nhôm hình bàn quay,tường che(nhôm hình dấu khung hoặc lỗ khung),nhôm hình thông dụng(ống vuông,góc,chữ C),tấm cửa cuộn. Ngoài ra hợp kim nhôm còn dùng làm cửa sổ,cửa cuốn,tấm tường,tấm treo trần và khung xương hợp kim nhôm. 3.2 Sắt thép -Thép là hợp kim của than và sắt.Hợp kim than sắt thép gang có hàm lượng than trên 2%.Thép có hàm lượng than dưới 2%. 3.2.1 Thép lá phủ màu
  14. Thép lá phủ màu còn được gọi là thép màu,nó thường lấy thép cán nguội hoặc thép lá mạ kẽm làm nền,thông qua công nghệ xử lý hóa học bề mặt liên tục và phủ sơn làm cho bề mặt tấm thép nền được phủ 1 lớp hay nhiều lớp chất phủ mà làm thành.Chất phủ của thép màu có loại là chất vô cơ,có loại là hữu cơ,song chất hữu cơ được sử dụng nhiều hơn. Thép lá màu,căn cứ vào hình dạng bề mặt phân ra tấm phẳng và tấm ép. 3.2.2 Tấm men sứ Tấm men sứ là lấy thép tấm hoặc gang làm nền,trên bề mặt được phủ một lớp chất vô cơ,sau khi qua nung có thể bám một cách vững chắc lên mặt nên trở thành vật liệu trang sức.Vật chất hình thành trên mặt nền gọi là men sứ. Tấm men sứ có được độ cứng của kim loại và tính ổn định hóa học của lớp men và có tính trang sức.Bề mặt của kim loại sau khi được phủ lớp men thì không rỉ nữa,chịu axit,chịu kiềm,chịu lửa,cách điện,mà khi chịu nhiệt vẫn không bị oxy hóa.Bề mặt có thể được dán hoa,in lưới hoa và phun hoa… 3.2.3 Thép không rỉ Thép không rỉ là chỉ trong thép có thành phần Cr hoặc Mn,Ti,Ni là thép hợp kim.Ngoài tính chất của thép phổ thông mà nó có ra còn có tính chống ăn mòn rất cao.Bởi vì trong thép không rỉ,Cr có thể hóa hợp ngay với oxy trong môi trường tạo nên một lớp màng oxy hóa mịn bám chắc vào bề mặt thép,làm cho thép hợp kim không tái bị tác dụng ăn mòn của oxy nữa,từ đó mà đạt được mục đích bảo vệ. Thép không rỉ được chế tạo thành thép lá,thép hình và ống.Độ dài của nó từ 1000->3000mm,rộng 500->1200mm,dày 0,35->2,0mm.Thép không rỉ lá đựợc trang sức mặt tường trụ của vũ trường,lối vào khách sạn,siêu thị,cửa cầu thang điện,ống thép không rỉ dùng để làm tay vịn,lan can,cửa chống trộm.Thép không rỉ còn được dùng để làm bàn quầy và các loại viền cạnh.Ngoài những ứng dụng trên nó còn được dùng để làm bảng hiệu,tấm trần,cửa tự động,cửa kính không khung và cửa thép không rỉ. 3.2.4 Khung Xương Thép Nhẹ Khung xương thép nhẹ là dùng thép tấm,thép mạ kẽm hoặc thép phủ màu làm nguyên liệu để dập nguội làm thành thép hình chiều dày mỏng.Thép khung xương nhẹ căn cứ vào công dụng phân thành khung xương ngăn và khung xương treo;
  15. Loại khung này có cường độ lớn,tính thông dụng cao,láp ráp thuận tiện,chống cháy,có thể phối hợp sử dụng với các vật liệu sau: Tấm ép xi măng,tấm bông khoáng,tấm giấy thạch cao,tấm thạch cao,gỗ dán.Có thể thích hợp dùng cho trang sức tấm treo và tấm ngăn. 3.3 Vật liệu dán mặt 3.3.1 Giấy,vải dán tường Loại giấy này lắp giấy làm nền,dùng keo dán dán lên các lọai sợi màu sắc khác nhau được tấm trang sức nội thất cao cấp.Bề mặt của nó có cảm giác phong phú,màu sắc đa dạng,mềm mại đem lại cho chúng ta cảm giác ấm cúng,có thể điều chỉnh độ ẩm của hoàn cảnh,nhưng tính chịu ố bẩn kém,bề mặt sau khi bẩn rửa sạch không dễ.Loại giấy dán tường này thường là các sợi dọc mà không có sợi ngang. Chủng loại của giấy dán tường chủ yếu có giấy dán mặt sợi,giấy dán mặt vải,giấy dán mặt tơ và giấy dán mặt sợi tổng hợp,thường được dùng cho khách sạn,phòng tiếp khách,phòng máy,phòng ngủ.Độ rộng của sản phẩm từ 500->1000mm,độ dài của nó có thể theo yêu cầu của khách hàng. 3.3.2 Vải dán tường không dệt Vải dán tường không dệt này được lấy các sợi tự nhiên hay sợi tổng hợp qua thành hình không dệt,bề mặt được xoa quét keo và in hoa văn được làm nên tấm trang sức tường nội thất.Chủng loại của loại vải dán tường này được căn cứ vào vải nền sau khi hình thành bởi các vật liệu khác nhau,thường có bông vải,đay,sợi tổng hợp.Đồ án của loại vải này phong phú trang nhã,bề mặt nổi rõ,có độ đàn tính cao,không bị gấp nếp,màu sợi bóng sạch có cảm giác tay như nhung,không dễ bay màu,có độ thấu khí nhất định,có thể giặt sạch,thi công thuận tiện. 3.3.3 Giấy dán tường mặt cỏ Loại vật liệu này lấy giấy làm nền,mặt của nó được dán bởi “chiếu cỏ” qua gia công phức hợp mà thành. Chiếu cỏ có thể được nhuộm màu sắc khác nhau,mật độ khác nhau,phương thức đan,sắp xếp khác nhau,vì vậy mà nó có được các đồ án màu khác nhau phong phú.Nó có cảm giác rất tự nhiên giản dị,chống cháy,hút ẩm,không biến dạng,nhưng rất dễ bị phá hoại cơ giới,không thể giặt rửa,yêu cầu bảo dưỡng rất cao. Loại sản phẩm này được trang sức cho phòng hội nghị,phòng tiếp đón,nhà hát,quán bar vũ trường,siêu thị.Độ rộng là 500->1000,độ dài theo yêu cầu.
  16. 3.3.4 Dán tường kim loại Đây là vật liệu tấm mỏng kim loại dán trên giấy nền để dán tường.Lớp kim loại mặt của loại sản phẩm này thường là nhôm mỏng.Bề mặt của tấm nhôm này được dùng kỹ thuật cán hoa văn đặc biệt gia công.Cũng có thể được in dấu theo hoa văn thiết kế mà làm thành tấm dán tường kim loại.Bề mặt của sản phẩm này có văn hoa sáng bóng,phần không có hoa văn cũng sáng ánh kim tạo nên sự tương phản mà gây nên hiệu quả mạnh. Bề mặt có cảm giác kim loại rõ nét,tuổi thọ bền lâu,chịu rửa làm sạch,chịu ố bẩn tốt.Chiều rộng sản phẩm thường là 800mm,dài 10mm.Thường được sử dụng trang sức tại vũ truờng,siêu thị,quán bar,nhà ăn và tường hoặc trần. 3.3.5 Giấy dán trực tiếp Loại dán tường này được làm từ các màng mỏng chất dẻo hay giấy,mặt sau được phủ một lớp keo không khô.Khi gián chỉ cần bóc đi lớp giấy bảo vệ là được,dùng tay nhẹ nhàng vuốt lên tấm dán và xoa phẳng. Loại tấm này có độ sáng đều đặn,màu sắc tươi,bền màu.Chủng loại sản phẩm được phân theo độ sáng gồm có,giấy bóng gương,mờ và tối màu.Nó có thể được dùng để làm các chữ mỹ thuật,đồ án hoặc trang sức bề mặt. 3.3.6 Những loại khác Trong các loại vật liệu dán tường thì vật liệu da hay da nhân tạo,rất mềm mại,hút ẩm,bảo ôn,nó thích ứng cho những nơi có yêu cầu cao về âm thanh và chống va chạm.Loại sản phẩm này có đủ các loại màu sắc,đồ án,có thể được dùng để trang sức tường nhà ăn quán bar và phòng khách. Tấm xốp cách ẩm là vật liệu dán tường,trần,đồ mộc cao cấp.Nó là vật liệu được làm từ bột thạch anh chân châu với PVC,qua quá trình công nghệ nhất định.Màu sắc và đồ án có rất nhiều,chịu mài,chịu khí hậu,chịu ăn mòn,có tác dụng chống cháy nhất định,dễ rửa sạch bề mặt. Ngoài ra còn có các loại vải,các loại này có thể dùng để trang sức tường,trần có thể làm rèm cửa sổ,khăn trải bàn,phủ ghế và giường.Hoa văn đồ án của vật liệu vải rất phong phú,màu sắc hoa lệ,giảm dị,tính lựa chọn rất rộng.Về chất liệu có bông vải,doan,sợi và còn được phân thành loại chống cháy và phi chống cháy. 3.4 Vật liệu trang sức nền 3.4.1 Thảm đan
  17. Thảm đan có loại đan thủ công và có loại bằng máy.Thảm đan thường dùng sợi lông cừu,qua nhuộm màu,tiến hành đan,sửa chữa,sau chỉnh lý mà thành.Các gút đan thảm rất nhiều mật độ vết cắt càng dày chất lượng càng cao.Thảm gia dụng là 90->100,thảm cao cấp lớn hơn 200. Đồ án của thảm đẹp,màu sắc tươi,có độ đàn hồi tốt,mềm mại dễ chịu,chịu mài mòn,độ sáng tốt,có độ bảo ôn,cách nhiệt tốt,hiệu quả cách âm cao. Thảm đan được dùng trong các phòng của khách sạn,hành lang,phòng yến tiệc,hội nghị và buồng ngủ. 3.4.2 Thảm “Gút” Nguyên liệu của thảm này là sợi tổng hợp hay sợi thiên nhiên qua máy gia công gút mà hình thành lớp mặt,sau đó mặt sau được phức hợp bởi vật liệu khác mà thành thảm.Lớp mặt có sợi dẫn nhiệt tốt thì thảm có tính chống tĩnh điện cao.Nếu sử dụng loại chịu mài mòn chống cháy thì thảm sẽ có tính năng đó.Trước mắt được dùng nhiều nhất là thảm gút lông cừu và hỗn hợp. Chỉ tiêu kỹ thuật của thảm gút có cường độ bóc,lực liên kết của sợi thảm,tính chịu mài,đàn hồi,chống tĩnh điện,chống lão hóa,chống cháy,chống khuẩn nấm,chất lượng ngoại quan. 3.4.3 Thảm khâu (Móc) Thảm khâu còn được gọi là thảm không dệt,nó được dùng loại kim móc đặc biệt mà đem các sợi thảm móc trên vải đáy sau đó dùng keo dán phủ lên mặt trái để cố định bền lâu.Thảm móc gia công giản tiện,giá thành thấp,chống ẩm ướt,chống côn trùng,chống cháy,chống mục,nhưng đàn hồi kém. Trước mắt các công trình sử dụng thảm móc dưới dạng miếng tương đối nhiều,đem màu sắc khác nhau từng miếng mà tổ thành mặt nền có đồ án hoa văn nào đó,nâng cao hiệu quả trang sức,hơn nữa miếng nào hư hỏng thì chỉ cần thay miếng đó là được,sử dụng rất thuận tiện.Quy cách của loại thảm miếng vuông này là: 500mm x 500mm 3.5 Chất phủ Chất phủ là chỉ những chất được phủ trên bề mặt mà có thể liên kết thành màng đồng thời có khả năng bảo vệ,trang sức,hoặc những tính năng khác.Phạm vi sử dụng của chất phủ rất rộng rãi,có thể dùng trong kiến trúc,dụng cụ trong gia đình…Chất phủ có màu sắc phong phú,cảm quang
  18. đẹp,nhã nhặn,đơn giản và kinh tế,thi công thuận tiện.Trong đề tài này chủ yếu giới thiệu chất phủ trong kiến trúc và chất phủ vecny dầu. 3.5.1 Chất phủ tường nội thất Chất phủ tường nội thất màu sắc phong phú cảm giác mượt mà,tính thấu khí tốt,chịu nước,chịu kiềm,thi công thuận tiện,ô nhiễm môi trường ít. 3.5.1.1 Chất phủ thủy tinh nước VINYL ALCHOL POLIME Chất phủ này lấy vinyl alchol tan trong nước làm chất kết dính,cho thêm một lượng nhất định chất màu và một ít chất trợ giúp qua quấy trộn,nghiền mà thành.Nó còn được gọi là chất phủ 106,nó là loại được dùng rộng rãi. Vinyl alchol thủy tinh nước không độc,không mùi có thể thi công tại nơi tường ẩm ướt,nó có độ bám nhất định với tường,lớp chất phủ khô nhanh,bề mặt trơn nhẵn hình thành một bề mặt phẳng nhẵn có hiệu quả trang sức nhất định,giá thành rẻ,chủng loại của nó có trắng,trắng sữa,xanh da trời,…thích ứng để sơn tường nội thất trong các công trình bệnh viện,trường học,nhà hát,nhà ở. 3.5.2 Chất phủ mặt nền nhựa PU Chất phủ mặt nền làm cho mặt nền nội ngoại thất mỹ quan,nó có tính chịu mài mòn cao,chịu kiềm,chịu nước và tính tránh xung kích,gia công giản tiện. Loại chất phủ này có loại mỏng mặt và dày mặt đàn tính. Loại chất phủ mỏng mặt chủ yếu dùng cho trang sức bề mặt đồ gỗ,như sơn thủy tinh là một loại sơn Pu 2thành phần.Màng chất phủ rắn chắc,đầy đặn bằng phẳng sáng sủa,độ cứng cao,chịu mài mòn,không sợ cháy thuốc lá,có tính chịu nước tốt,chịu axit và chịu các hóa chất khác. Chất phủ mặt nền mặt dày đàn tính chủ yếu dùng cho trang sức mặt nền ximăng,nó có thể hình thành trên mặt nền không có khe tiếp xúc,lớp chất phủ chịu mài mòn,có tính đàn hồi nhất định.Chất phủ nền PU đàn tính là loại chất phủ 2 thành phần A+B,cứng hóa ở nhiệt độ bình thường.Khi thi công căn cứ vào tỷ lệ nhất định của thành A và B mà pha chế,quấy trộn,xoa quét trên mặt nền là có thể được lớp chất phủ có màu,có đàn tính nhất định.Có độ bám cao với nền ximăng,không dễ nứt,chịu mài mòn,có thể chịu ăn mòn của các loại hóa chất,màu sắc phong phú,nhưng công nghệ thi công tương đối phức tạp,giá đắt. 3.5.3 Chất phủ đặc biệt
  19. Chất phủ đặc biệt không chỉ có tác dụng trang sức đối với công trình kiến trúc và sản phẩm mà còn có công năng đặc biệt nào đó như chống nước,chống cháy,chống nấm,chống mục,cách nhiệt,cách âm…Do vậy chất phủ này có thể dùng để trang sức cho những nơi có yêu cầu đặc biệt. Chất phủ đặc biệt chịu kiềm,chịu nước và phải có tính năng liên kết với lớp nền ximăng hoặc gỗ,có được tính trang sức nhất định và công năng đặc biệt nào đó,thi công và duy tu bảo dưỡng đơn giản.Chất phủ đặc biệt thường dùng có: Chất phủ chống cháy,chất phủ chống nước,chất phủ chống nấm và chất phủ chống mục. 3.5.3.1 Chất phủ chống cháy Chất phủ chống cháy là chỉ sau khi bề mặt của vật liệu chống cháy được trang sức thì nó có thể nâng cao được tính chống cháy hoặc có thể làm hòa hoãn quá trình cháy và tốc độ cháy,trong một thời gian nhất định có thể ngăn cản cháy.Những chất này còn được gọi là chất phủ chậm cháy. Chất phủ chống cháy có thể được phủ lên bề mặt và chế phẩm của nó,sắt thép và bê tông từ đó mà đạt được tác dụng chống cháy. 3.5.3.2 Chất phủ chống nước Chất phủ chống nước là một loại chất phủ có thể hình thành chống nước mưa hoặc chống nước ở đất xâm nhập vào.Nó bao gồm chất phủ chống nước cho nhà cửa và các công trình ngầm.Căn cứ vào hình thức và trạng thái phân thành 3 loại: Loại nhũ,loại dung dịch và loại phản ứng. 3.5.3.3 Chất phủ chống nấm Chất phủ chống nấm là chỉ loại chất phủ có công năng ức chế sự sinh trưởng của khuẩn nấm.Nó chủ yếu được cho vào chất phủ một số chất ức chế nấm mà đạt được tác dụng này. Căn cứ vào vật chất tạo thành màng và dung môi phân tán khác nhau có thể phân thành kiểu dung dịch và kiểu nhũ nước.Căn cứ vào công dụng được phân thành loại dùng ngoài,loại dùng trong và loại dùng đặc biệt.Chất phủ chống nấm không chỉ có tính trang sức và chống nấm tốt mà còn sau khi đã tạo thành màng không có độc hại đối với người. Các loại chất phủ chống nấm thường dùng có nhũ acrylic axit dùng chống mốc bên ngoài,dầu gai,PR,Vinyl alchol. 3.5.3.4 Chất phủ chống ăn mòn Vật chất ngoại giới xâm nhập vào vật liệu chủ yếu thông qua không khí,hơi nước,ánh sáng,axit,bazơ,muối và các loại hữu cơ ăn mòn
  20. khác.Chất phủ chống ăn mòn là một dạng nhằm tránh sự xâm thực đối với vật liệu bởi axit,kiềm và các vật liệu hữu cơ khác.Tính chống chịu ăn mòn tốt hơn các loại chất phủ khác duy tu thuận tiện,bền lâu,có thể cứng hóa tạo thành màng trong nhiệt độ thường.Chủng loại của chất phủ này có chất phủ epoxy,có chất phủ PU… 3.6 Chất dẻo Chất dẻo là chỉ lấy nhựa thiên nhiên hoặc nhựa tổng hợp là vật liệu chủ,sau khi cho vào một số chất khác,được hỗn hợp phản ứng dưới điều kiện nhất định mà nó được cao phân tử hóa,thành hình mà trong điều kiện nhiệt độ thường dùng duy trì hình dạng không thay đổi.Nó cùng với cao su tổng hợp,cellulose tổng hợp trở thành 3 “Đại gia” trong họ vật liệu cao phân tử. Căn cứ vào sự thu nhiệt mà nó đã phát sinh ra những thay đổi để phân thành nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn.Nhựa nhiệt dẻo có kết cấu phân tử mạch thẳng,khi chịu tác động của nhiệt có thể tái thành hình.Nhựa nhiệt rắn,trước khi cứng hóa cũng có kết cấu phân tử mạch thẳng,nhưng trong quá trình hình thành đã phát sinh phản ứng hóa học mà có cấu tạo mạch không gian,do vậy sau khi đã cứng hóa không thể gia nhiệt để tái thành hình.Chất dẻo PE,PVC,PS…thuộc loại nhựa nhiệt dẻo Phenolformaldehyde,Epoxy,PR thuộc về nhựa nhiệt rắn. Chất dẻo do có những tính năng rất đặc biệt mà nó có ưu thế nhất định trong ngành: - Tính năng gia công tốt - Đa công năng - Tỷ trọng rất nhẹ - Tính trang sức đặc biệt - Tính kinh tế 3.6.1 Chế phẩm chất dẻo 3.6.1.1 Tấm dán tường chất dẻo Tấm dán tường chất dẻo là trên bề mặt của tấm nền (như giấy,thủy tinh) sau khi tiến hành phủ chất dẻo tiếp đến là xử lý in hoa hoặc ép hoa,hoặc làm nổi bóng. Tính năng của loại tấm này rất ưu việt,có thể căn cứ vào yêu cầu mà làm thành những loại cách nhiệt,chống nấm mốc hút ẩm,mà hiệu quả trang sức rất tốt,thi công thuận tiện để sửa chữa bảo dưỡng.Nó được chia thành loại phổ thông,loại nổi bóng và loại đặc biệt.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản