Đề tài " nguồn vốn của doanh nghiệp, phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước "

Chia sẻ: Le Chi Hung Cuong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:57

0
648
lượt xem
217
download

Đề tài " nguồn vốn của doanh nghiệp, phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tài chính DN có một vị trí quan trọng đặc biệt, chi phối tất cả các khâu của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một DN, trong đó nguồn vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước của quá trình sản xuất kinh doanh. Vậy nguồn vốn của DN là gì ? Và nguồn vốn của DN có đặc điểm như thế nào? Một vấn đề được đặt ra đó là trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay tìm cách để huy động vốn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài " nguồn vốn của doanh nghiệp, phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước "

  1. Đề án Kinh tế đầu tư BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI : NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC. THỰC HIỆN : NHÓM 11 – K inh tế đầu tư 48B Danh sách thành viên: 1. Phạm Văn Hùng 2. Hoàng Thị Nhung 3. Ngô Thanh Phương 4. Phạm Thị Thuận Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 1
  2. Đề án Kinh tế đầu tư \\ MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 4 NỘI DUNG ....................................................................................................................... 5 Chương I. Những vấn đề lý luận về nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và việc sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN .......................................................................... 5 I. Nguồn vốn đầu tư của DN .............................................................................................. 1. Khái niệm và bản chất của nguồn vốn đầu tư ................................................................. 5 2. Các nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp ........................................................................ 7 II. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN..................................................................................................... 10 1. Nguồn vốn đầu tư của DNNN........................................................................................ 10 2. Huy động vốn đầu tư tại DNNN .................................................................................... 12 3. Sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN...................................................................... 17 Chương II . Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN Việt Nam giai đoạn 2001-2007 ................................................................................................ 20 I. Thực trạng hoạt động DNNN trong giai đoạn 2001 -2007 ............................................... 20 II. Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN giai đoạn 2001- 2007 .................................................................................................................................. 22 1. Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển của DNNN giai đoạn 2001-2007 ................. 22 2. Thực trạng sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN giai đoạn 2001-2007.................... 28 III. Kết quả và các tồn tại trong hoạt động huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN............................................................................................................................... 32 1. Kết quả hoạt động huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN ..................... 32 2. Các vấn đề còn tồn tại trong hoạt động huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN............................................................................................................................... 37 3. Nguyên nhân của các tồn tại trên ................................................................................... 39 Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 2
  3. Đề án Kinh tế đầu tư Ch­¬ng III: Mét sè gi¶i ph¸p nh»m t¨ng c­êng huy ®éng vèn vµ n©ng cao hiÖu qu¶ sö dông vèn ®Çu t­ vµ ph¸t triÓn cña DNNN ....................................................... 42 I. Xu hướng phát triển và nhu cầu đầu tư tại DNNN đến năm 2010 ................................... 42 II Mét sè gi¶i ph¸p nh»m tăng cường huy ®éng vèn vµ nâng cao hiệu quả sử dông vèn ®Çu t­ ph¸t triÓn cña DNNN ................... 44 1. Các giải pháp vĩ mô ....................................................................................................... 44 2. Giải pháp vi mô ............................................................................................................. 47 KẾT LUẬN....................................................................................................................... 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 53 Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 3
  4. Đề án Kinh tế đầu tư LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tài chính DN có một vị trí quan trọng đặc biệt, chi phối tất cả các khâu của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một DN, trong đó nguồn vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các b ước của quá trình sản xuất kinh doanh. Vậy nguồn vốn của DN là gì ? Và nguồn vốn của DN có đặc điểm như thế nào? Một vấn đề được đặt ra đó là trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay tìm cách để huy động vốn đã khó, nhưng tìm cách sử dụng các phương tiện tài chính hữu ích cao nhất lại là vấn đề khó hơn. Trong giai đoạn phát triển kinh tế ở nước ta, việc thu hút vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh chưa cao, lượng vốn đầu tư vào cho DN còn hạn hẹp. Để có thể thu hút các nguồn vốn đầu tư phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết các DN cần phải sử dụng có hiệu quả nhất là nguồn vốn kinh doanh của mình. Thế nhưng trong các DN, đặc biệt là DNNN vẫn còn tiếp tục sử dụng lãng phí nguồn vốn, hiệu quả sử dụng vốn thấp…. Vậy thực trạng quá trình huy động và sử dụng vốn của DNNN trong giai đoạn vừa qua như thế nào? Và nguyên nhân nào làm cho DNNN hoạt động kém hiệu quả trong những năm vừa qua. Và những giải pháp nào mà Nhà nước nói chung cũng như DNNN nói riêng cần thực hiện để huy động và sử dụng đồng vốn có hiệu quả hơn, trở thành một DN vững mạnh định hướng hoạt động cho các thành phần kinh tế khác? Đây là một trong những bài toán khó đã, đang đặt ra đối với DNNN. Và với những vấn đề đặt ra ở trên nhóm em xin trình bày những ý kiến của mình về đề tài: “ Nguồn vốn của doanh nghiệp. Phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn 2001- 2007” Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Từ Quang Phương, tiến sĩ Phạm Văn Hùng đã giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài này. Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 4
  5. Đề án Kinh tế đầu tư NỘI DUNG Chương I. Những vấn đề lý luận về nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và việc sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN. I. Nguồn vốn đầu tư của DN. 1. Khái niệm và bản chất của nguồn vốn đầu tư. 1.1. Khái niệm. Có thể nói nguồn vốn đầu tư là nguồn rất quan trọng không chỉ trong cả nền kinh tế quốc dân mà còn đối với hoạt động của các DN. Nhưng nguồn vốn này từ đâu mà có và xuất phát từ đâu và có vai trò như thế nào? Trong nền kinh tế quốc dân, để thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội thì chúng ta phải thực hiện tích lũy và tiết kiệm cả trên góc độ toàn bộ nền kinh tế vĩ mô cũng như là trong từng DN. Nó bao gồm các nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy nội bộ của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các DN và tiết kiệm của chính phủ hoặc là từ các nguồn vốn nước ngoài như kiều hối, quỹ hỗ trợ tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc tế được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội, và các nguồn này tồn tại dưới dạng giá trị. Có thể có một thời điểm nào đó có một số cá nhân, DN có tích lũy nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư. Trong khi đó, có một số cá nhân, DN lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích lũy chưa đủ. Khi đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn d ư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang người có nhu cầu đầu tư sử dụng. Ví dụ, DN có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn thực hiện một dự án đầu tư nào đó từ các DN khác, hộ gia đình hay các cá nhân – người dư thừa hoặc tạm thời dư thừa vốn. Như vậy có thể khẳng định rằng: nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 5
  6. Đề án Kinh tế đầu tư 1.2.Bản chất. Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động đ ược để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác Lênin và các nhà kinh t ế học hiện đại chứng minh. Trước hết là trường phái kinh tế học cổ điển mà đại diện là nhà kinh tế học Adam Smith, trong tác phẩm “ Của cải của các dân tộc” đã khẳng định:“ Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”. Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quá trình tích lũy, theo C.Mác ông đã phân chia nền kinh tế thành hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất, khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Trong đó cơ cầu tổng giá trị của từng khu vực đó là : (c + v + m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v + m) là phần giá trị mới sáng tạo ra. Khi đó điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì xã hội phải đảm bảo rằng tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi ho àn tiêu dùng tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế mà còn phải dư thừa để tăng quy mô tư liệu sản xuất cho nền kinh tế tức là: ( C + V + M) ( I) > C (I) + C (II) Và đối với khu vực II thì cũng cần đảm bảo rằng: to àn bộ giá trị của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất của khu vực II tức là : (C + V +M) (II) < (V+ M) (I) + ( V + M ) (II) Như vậy theo C.Mác con đường về cơ bản quan trọng và lâu dài để tái sản xuất mở rộng đó là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng hay nói cách khác nguồn lực cho đầu tư phát triển chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế. Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại được các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh. Theo Keynes, đã chứng minh rằng : Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông chỉ ra rằng tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 6
  7. Đề án Kinh tế đầu tư Tức là Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng Tiết kiệm = Đầu tư Hay là Trong đó thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phải đ ược bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác. Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy chính phần dôi ra của tiêu dùng chính là bằng phần đầu tư của doanh nghiệp. Nhưng điều kiện cân bằng chỉ đạt đ ược trong nền kinh tế đóng, và phần tiết kiệm chính là phần tiết kiệm của toàn bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của cá nhân và tiết kiệm của chính phủ không nhất thiết là được tiến hành cùng bởi cùng một cá nhân hay cùng một doanh nghiệp. Có thể có những cá nhân thực hiện đầu tư khi chưa tích lũy đủ. Khi đó thị trường vốn sẽ hình thành và tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn d ư thừa hoặc tạm thời dư hừa sang cho người có nhu cầu sử dụng. Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm không phải bao giờ cũng đ ược thiết lập. Mức chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm chính là tài khoản vãng lai. Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, và tài khoản vãng lai thặng dư và khi đó sẽ xuất hiện dòng vốn chảy ra ngoài để thực hiện đầu tư, hoặc cho nước ngoài vay vốn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế. Và ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh tế có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt, khi đó nền kinh tế có thể huy động đ ược nguồn vốn từ nước ngoài. Khi đó thu hút đầu tư nước ngoài hay vay nợ nước ngoài có thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Như vậy thông qua việc nghiên cứu các quan điểm của các trường phái kinh tế có thể thấy rằng thực chất của nguồn vốn đầu tư đó là phần tiết kiệm của nền kinh tế để thực hiện tái sản xuất mở rộng đáp ứng sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế. 2. Các nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp. 2.1. Nguồn vốn bên trong. Khi DN mới được thành lập thì nguồn vốn chủ sở hữu là vốn điều lệ do chủ DN, các nhà đầu tư góp vốn, được sử dụng để đầu tư mua sắm các loại tài sản của DN. Trong quá Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 7
  8. Đề án Kinh tế đầu tư trình hoạt động nguồn vốn của chủ sở hữu đ ược bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Các loại hình DN khác nhau sẽ có nguồn vốn chủ sở hữu khác nhau. Đối với DN Nhà nước thì nguồn vốn ban đầu này chính là do nhà nước đầu tư. Với các công t y cổ phần thì đây là do các cổ đông đóng góp, mỗi cổ đông là chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên số vốn mà mình đã đóng góp. Còn đối với công ty tư nhân thì chủ DN phải có đủ số vốn pháp định cần thiết để xin đăng kí thành lập công ty. ( Vốn pháp định là số vốn tối thiểu do pháp luật quy định để thành lập công ty ). Bên cạnh đó nguồn vốn nội bộ còn được bổ sung từ một số nguồn khác như lợi nhuận không chia, qu ỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, thặng dư vốn, thu nhập giữ lại, vốn khấu hao …. Các công ty dùng phần lợi nhuận sau thuế không d ùng để chia cổ tức cho các cổ đông mà giữ lại để thực hiện tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. * Ưu điểm: Nguồn vốn của chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá tr ình sản xuất kinh doanh của DN, nó tạo điều kiện thuận lợi cho chủ DN chủ động hoàn toàn trong sản xuất. Chủ DN có cơ sở để chủ động và kịp thời đưa ra các quyết sách quyết định trong kinh doanh để đạt được mục tiêu của mình mà không phải tìm kiếm và phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ. * Hạn chế: Tuy nhiên nguồn vốn này thường bị hạn chế về quy mô nên không đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, mặt khác việc sử dụng nguồn vốn này không chịu sức ép về chi phí sử dụng vốn và có thể thiếu kiểm tra, giám sát, hoặc tư vấn của các chuyên gia, các tổ chức như trong sử dụng nguồn vốn đi vay, do đó có hiệu quả sử dụng vốn không cao hoặc có thể sẽ có những quyết định đầu tư không khôn ngoan. 2.2. Nguồn vốn bên ngoài. 2.2.1. Vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. 2.2.1.1. Vốn tín dụng ngân hàng. Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với bản thân các DN mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các công ty, các DN đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng. Trong quá trình hoạt động, các DN thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 8
  9. Đề án Kinh tế đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hay đầu tư chiều sâu của DN. Hệ thống ngân hàng của Việt Nam hiện nay khá đa dạng và phong phú bao gồm : 5 ngân hàng trực thuộc nhà nước, 5 ngân hàng liên doanh, 35 ngân hàng thương mại cổ phần và 23 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, đáp ứng được phần nào nhu cầu về vốn của các DN. 2.2.1.2. Vốn tín dụng thương mại. Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán chậm hay trả góp. Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các DN mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Trong một số công ty, nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng số nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn. 2.2.1.3 Nguồn vốn do phát hành cổ phiếu. Phát hành cổ phiếu là một kênh quan trọng để huy động vốn dài hạn cho công ty một cách rộng rãi thông qua sự liên hệ với thị trường chứng khoán. Ở những nước phát triển thị trường tài chính là nơi hội tụ những hoạt động tài chính sôi động nhất của nền kinh tế. Có thể nói : thị trường chứng khoán là cái xương sườn của kinh tế tự do và là động cơ phát triển chính của kinh tế, huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế. Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán của công ty phát hành, số tiền tiết kiệm của họ được đưa vào kinh doanh, sản xuất. Nhờ thị trường chứng khoán , t hông qua việc phát hành cổ phiếu, DN có thể huy động được nguồn vốn lớn từ các nhà đầu tư. 2.2.1.4 Nguồn vốn do phát hành trái phiếu. Khi một DN có nhu cầu đầu tư, huy động vốn để triển khai các dự án hoặc thậm chí để . trả các khoản nợ, lúc đó họ có thể p hát hành trái phiếu DN. Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ do DN phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của DN phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Thông qua việc phát hành trái phiếu, DN có thể huy động được nguồn vốn lớn từ các cá nhân hay các tổ chức trong nền kinh tế. Từ khi có nghị định 52 cho phép tất cả các DN có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu để phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, và từ khi Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì các DN có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 9
  10. Đề án Kinh tế đầu tư ra nước ngoài. Nguồn vốn này cũng là nguồn vốn rất quan trọng và cần thiết đối với các DN. Ưu điểm của nguồn vốn bên ngoài là DN có thể huy động được nguồn vốn lớn để mở rộng quy mô đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ. Tuy nhiên nguồn vốn bên ngoài có nhược điểm đó là nó chứa đựng nhiều rủi ro tài chính đối với DN. Nếu DN phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn bên ngoài thì DN mất quyền độc lập về tài chính, mất khả năng thanh toán khi DN làm ăn thua lỗ. Ngoài ra còn gặp phải các rủi ro về tín dụng. II. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN. 1. Nguồn vốn đầu tư của DNNN. 1.1 Doanh nghiệp nhà nước. 1.1.1 Khái niệm DNNN. DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối. Hiện nay ở Việt Nam có các loại hình DNNN : + Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và do địa phương quản lý. + Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước, đó là các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước do trung ương quản lý và do địa phương quản lý. + Công ty cổ phần vốn trong nước mà nhà nước chiếm giữ trên 50% vốn điều lệ. Ỏ DNNN mọi vấn đề như việc cung cấp vốn, cơ sở hạ tầng, tuyển nhân lực đều do nhà nước quyết định và quản lý. Và vì thế DNNN chỉ hoạt động trong các lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế như : ngân hàng, điện, nước, dầu khí, tài chính, bưu điện và hình thành nên những tập đoàn kinh tế lớn của nhà nước : Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn điện lực Việt Nam, Tập đoàn dầu khí Petro Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp dệt may Việt Nam, Tổng công ty bưu chính viễn thông ... 1.1.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 10
  11. Đề án Kinh tế đầu tư Nước ta đã và đang xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. DNNN là một bộ phận của kinh tế nhà nước. Trước hết DNNN là công cụ của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của nhà nước. DNNN đã đóng góp to lớn vào việc tạo ra “bộ mặt “kết cấu hạ tầng quốc gia, cầu nối chủ lực với kinh tế nước ngoài, đảm bảo nguồn lực thiết yếu cho quốc phòng, nhu cầu thiết yếu cho dân chúng ở vùng sâu, vùng khó khăn, và những nơi, những lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế quốc dân, mà các thành phần kinh tế khác không làm được hoặc là không chịu làm do hiệu quả kinh tế thấp. DNNN đã tạo thế chủ động và dẫn dắt nhiều DN trong nước chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đóng vai trò định hướng cho các thành phần kinh tế khác. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng trong thời gian qua DNNN đã thực sự là công cụ hữu ích để nhà nước bình ổn giá cả, điều tiết thị trường, tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách và giữ vững ổn định xã hội. 1.2 Nguồn vốn của DNNN. Vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được để thành lập một DN và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị tr ường và thị trường tài chính sẽ sớm tạo điều kiện để các DN mở rộng khả năng thu hút vốn vào kinh doanh. Vì thế có rất nhiều nguồn hình thành nên vốn của DN nhưng nguồn vốn của DNNN có đặc điểm gì khác so với các nguồn vốn của DN tư nhân, hay DN có vốn đầu tư nước ngoài ? Khác biệt thứ nhất đó là nếu như với các DN ngoài quốc doanh nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn của chủ sở hữu, là do của chính chủ DN ( công ty tư nhân ), hay là vốn góp của các cổ đông ( trong các công ty cổ phần ), hay là vốn của chủ đầu tư nước ngoài, thì nguồn vốn của DNNN chủ yếu là của Nhà nước. Có nhiều loại hình DNNN như : các DN mà nhà nước chiếm giữ 100% vốn điều lệ, hoặc có các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có vốn của nhà nước chiếm trên 51% vốn điều lệ. Khác biệt thứ hai nữa đó là nguồn vốn huy động bên ngoài của các DNNN. DNNN cũng có thể huy động vốn thông qua hình thức vay vốn tín dụng ngân hàng hay vốn tín dụng thương mại. Nhưng một khác biệt rất lớn đó là DNNN thường nhận được rất nhiều ưu đãi của nhà nước như : tín dụng của Nhà nước, tín dụng ưu đãi, vốn vay của các ngân hàng thương mại quốc doanh.... Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 11
  12. Đề án Kinh tế đầu tư Từ các DNNN khác Từ thu NSNN Ngân sách Từ viện trợ nhà nước Từ vay nước ngoài Vốn đầu tư Từ vay trong nước DNNN của nhà nước Vay qua tài khoản DN huy trên thị trường vốn động bổ Vay qua phát hành sung trái phiếu công ty Sơ đồ cấp vốn của DNNN 2. Huy động vốn đầu tư tại DNNN. 2.1. Mục tiêu huy động. Huy động vốn là một vấn đề quan trọng đối với tất cả các DN. Trong mọi loại hình DN, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. DN phải huy động cho mình một lượng vốn nhất định để thực hiện đầu tư, đổi mới công nghệ, mua sắm trang thiết bị, thực hiện mở rộng sản xuất kinh doanh có hiệu quả….Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay vấn đề này là vấn đề cấp bách, các phương thức huy động vốn cho DN được đa dạng hóa, giải phóng các nguồn tài chính trong nền kinh tế, thúc đẩy sự thu hút vốn vào DN với mục tiêu là huy động được nguồn vốn lớn đáp ứng quá trình đầu tư tái sản xuất của các DN. 2.2 Các phương thức và công cụ huy động vốn. Nguồn vốn bên trong hình thành từ phần tích lũy từ nội bộ DN ( vốn góp ban đầu, thu nhập giữ lại và khấu hao hàng năm ). Nguồn vốn bên ngoài hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành trái phiếu ra công chúng thông qua hai hình thức tài trợ chủ yếu: tài trợ gián tiếp qua các trung gian tài chính( ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng…) Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 12
  13. Đề án Kinh tế đầu tư hoặc tài trợ trực tiếp( qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán, hoạt động tín dụng thuê mua…) 2.2.1. Huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu là một chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hợp pháp và lợi ích hợp pháp đối với thu nhập của công ty cổ phần. Cổ phiếu chia làm hai loại: + Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu có thu nhập không cố định, lợi tức biến động tùy theo sự biến động lợi nhuận của công ty. Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì các ưu điểm của nó đáp ứng được yêu cầu của cả người đầu tư và công ty phát hành. + Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu có quyền nhận đ ược thu nhập cố định theo một tỷ lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty. Thông thường cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu đ ược phát hành. Đây là một trong những hình thức huy động vốn hữu hiệu của DN. DN có thể linh hoạt hơn trong gia tăng quy mô vốn, có thể vay nguồn vốn lớn hơn rất nhiều mà không chịu sức ép trả tiền vốn, không bị ảnh hưởng bởi hệ số tài chính ( khả năng trả nợ tiếp theo ). Hơn nữa việc huy động thông qua cơ chế thị trường và tín hiệu thị trường sẽ yêu cầu tính minh bạch công khai rất cao và đó là một trong yếu tố thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn của các DN tốt hơn, khắc phục được tình trạng lãng phí. Tuy nhiên có nguy cơ bị thôn tính công ty. Vì thế cần phải tính đến tỉ lệ cổ phần tối thiểu cần duy tr ì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty. 2.2.2. Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu DN. Trái phiếu là một tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn bao gồm: trái phiếu chính phủ, và trái phiếu công ty. Trái phiếu còn gọi là trái khoán. Các loại trái phiếu: + Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại này thường được sử dụng phổ biến nhất trong các loại trái phiếu DN. Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kì hạn của nó. Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được qui định rõ. Mức độ hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào: lãi suất của trái phiếu, kỳ hạn của trái phiếu và uy tín của DN. + Trái phiếu có lãi suất thay đổi: Là trái phiếu có lãi suất phụ thuộc vào một nguồn lãi suất quan trọng khác. Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 13
  14. Đề án Kinh tế đầu tư + Trái phiếu có thể thu hồi : Là loại trái phiếu mà DN có thể mua lại vào một thời gian nào đó. DN phải quy định rõ thời hạn và giá cả khi DN chuộc lại trái phiếu. + Trái phiếu có thể chuyển đổi : là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thường. Nếu thị giá của cổ phiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao. * Ưu điểm của việc phát hành trái phiếu. + DN không chịu sự can thiệp của chủ nợ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. + Trường hợp DN cần vốn mà không muốn phát hành cổ phiếu ( sợ bị thao túng bởi các cổ đông bên ngoài hoặc DN có dự án tôt mà không muốn công lao của mình bị chia sẻ cho nhiều nhà đầu tư khi phải trả cổ tức ) thì DN phát hành trái phiếu là một giải pháp tối ưu. + DN có thể huy động được nguồn vốn ổn định lớn thời hạn vay dài hạn hơn ( tối thiểu là 5 năm) * Nhược điểm. + DN mất thời gian huy động lâu hơn so với vay ngân hàng. + Do lãi suất cố định nên DN phải tính toán hợp lý khi đưa ra mức lãi suất . + Các DN vừa và nhỏ thường chưa có uy tín trên thị trường nên khó có khả năng thu hút được các nhà đầu tư, tốn thời gian và tiền bạc cho việc quảng cáo, nâng cao uy tín nên chưa tham gia phát hành trái phiếu. + Các DN chưa có báo cáo tài chính minh bạch, rõ ràng nên giảm độ tin cậy của nhà đầu tư. 2.2.3. Huy động vốn qua tín dụng ngân hàng. Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các DN mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Không một công ty nào có thể hoạt động tốt mà không vay vốn ngân hàng nếu công ty đó muốn tồn tại trên thương trường. Trong quá trình hoạt động, các DN thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư theo chiều sâu của các DN. Về mặt thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời hạn vay, bao gồm : vay dài hạn ( thường tính từ 5 năm trở lên), vay trung hạn (từ 1 đến 5 năm), và vay Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 14
  15. Đề án Kinh tế đầu tư ngắn hạn ( dưới 1 năm), và có nhiều hình thức cho vay như vay đầu tư tài sản cố định, vay vốn lưu động, vay để phục vụ dự án. Hay cũng có những cách phân chia khác như: theo ngành kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ, hoặc theo hình thức bảo đảm khoản vay. Điều kiện tín dụng : Các ngân hàng thương m ại khi cho DN vay vốn luôn luôn phải đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng thông qua một hệ thống các biện pháp đảm bảo tín dụng. DN sẽ phải cung cấp những báo cáo tài chính và những thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của ngân hàng. DN cũng phải đảm bảo tín dụng bằng tài sản thế chấp. Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp cũng làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện cho vay….gây khó khăn cho một số DN. Do đó, DN cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Lãi suất tín dụng : lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất vốn tín dụng ngân hàng phụ thuộc vào tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ, nếu lãi suất vay quá cao thì DN phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của DN. Nguồn vốn tín dụng là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh, mặt khác nó còn tạo ra khả năng mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh lâu bền. Với hình thức tài sản thế chấp đảm bảo cho DN phải sử dụng nguồn vốn vay một cách hiệu quả. 2.2.4. Huy động vốn qua tín dụng thương mại. Tín dụng thương mại được hình thành qua quan hệ mua bán chịu hoặc trả chậm, trả góp. Người bán chuyển giao cho người mua được sử dụng vốn tạm thời trong một thời hạn nhất định. Đến thời hạn đã được thoả thuận, người mua hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi suất. Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các DN thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứng được nhu cầu vốn của DN tạm thời thiếu, đồng thời giúp cho DN tiêu thụ được hành hoá của mình. Mặt khác sự tồn tại của hình thức tín dụng này giúp cho DN khai thác được vốn nhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên tín dụng thương mại có những nhược điểm sau: + Tín dụng thương mại là do các nhà DN cung cấp và họ chỉ cung cấp với khả năng giới hạn của họ. Nếu người đi vay có nhu cầu cao hơn thì DN không thể đáp ứng được. Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 15
  16. Đề án Kinh tế đầu tư + Hạn chế về thời hạn cho vay: Điều kiện kinh doanh và chu kỳ sản xuất của một DN có thể không phù hợp với nhau, vì vậy mà thời hạn mà người cho vay muốn cung cấp và người đi vay có nhu cầu không phù hợp nhau thì tín dụng này không thể xảy ra. + Hạn chế về phương hướng: tín dụng thương mại được cung cấp dưới hình thức hàng hoá, vì vậy mà DN chỉ cung cấp cho một số DN nhất định - những DN cần hàng hóa để sử dụng cho sản xuất hoặc dự trữ để bán. + Ngoài ra việc cấp tín dụng thương mại chỉ được thực hiện trên cơ sơ tín nhiệm lẫn nhau. 2.2.5 Thuê tài sản . Thuê tài chính là quan hệ tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Bên cho thuê thường là các công ty cho thuê tài chính. Thuê tài chính chưa thực sự phổ biến và chưa được nhiều DN sử dụng ở Việt Nam. Ưu điểm của thuê tài sản là không cần tài sản thế chấp. DN tiết kiệm thời gian do quá trình xét duyệt khá minh bạch. Giảm thiểu một số cam kết không cần thiết. DN đi thu ê có thể mua lại tài sản đó sau khi hết hạn hợp đồng. Tuy nhiên chi phí cho việc sử dụng tài sản đi thuê cao, tỷ lệ lãi suất cao, thiếu bảo hiểm cho các khoản vay và yêu cầu có thời hạn trả vốn vay bắt buộc. Các DN còn có thể huy động vốn từ nguồn vốn ODA của các nước tài trợ. Hiện nay chính phủ VN đã phân tán nguồn vốn ODA của chính phủ Nhật Bản cho các DN vừa và nhỏ vay nhằm tăng khả năng về vốn cho DN. Có 8 ngân hàng tham gia vào quá trình này: NH ngoại thương, NH công thương, NH đầu tư và phát triển, NH nông nghiệp và phát triển nông thôn…. 2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của DN. 2.3.1 Thị trường tài chính. Có thể nói trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thị trường tài chính đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Thị trường tài chính có vai trò là kênh d ẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh doanh, giúp việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn với người vay tiền để đầu tư, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Dòng vốn đó từ người cho vay đến người vay thông qua hai con đường đó là : tài chính trực tiếp, và tài chính gián tiếp ( thông qua các trung gian Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 16
  17. Đề án Kinh tế đầu tư tài chính ). Hơn nữa với việc phát triển của thị trường tài chính sẽ thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn và cung cấp các công cụ tài chính đa dạng cho người đầu tư. Như vậy một thị trường tài chính phát triển lành mạnh sẽ là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới việc huy động nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp. 2.3.2 Ổn định của kinh tế vĩ mô. Sự ổn định của kinh tế vĩ mô cũng đ ược coi là ảnh hưở ng trực tiếp đến khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư của DN, đặc biệt là trong việc ổn định giá trị tiền tệ trong việc kiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả của tình trạng giảm phát nếu xảy ra đối với nền kinh tế. Chẳng hạn như nếu lạm phát xảy ra và dẫn đến tình trạng giá cả leo thang và sẽ làm ảnh hưởng tới sự gia tăng của lãi suất. Lãi suất càng cao thì xu hướng tiết kiệm càng lớn và từ đó tiềm năng của vốn đầu tư càng cao, tuy nhiên tăng lãi suất cũng tương đương với việc tăng chi phí sử dụng vốn trong đầu tư cao hơn. Điều này sẽ làm giảm lợi nhuận thực của các nhà đầu tư, và tạo nên một cản trở khó khăn cho các DN thực hiện quá trình huy động vốn. Đảm bảo sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô cũng tạo các điều kiện huy động nguồn vốn bên ngoài làm cho DN có thể huy động được nhiều nguồn đa dạng và phong phú hơn . Vì vậy nhà nước cần có các chính sách để thực hiện ổn định kinh tế vĩ mô nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN huy động vốn một cách hiệu quả thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh. 2.3.3 Các chính sách của nhà nước. Có thể nói các chính sách của nhà nước cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đối với việc huy động vốn của DN. Chính sách của nhà nước định hướng cho các DN, tạo điều kiện và khuyến khích cho DN có thể huy động vốn. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay cạnh tranh là xu hướng tất yếu. Nhà nước cần có các chính sách để khuyến khích, định hướng các hoạt động thu hút và cung ứng của các DN để cho các DN công khai minh bạch hơn trong tài chính, sử dụng nguồn vốn huy động mộ t cách có hiệu quả. 3. Sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN. 3.1 Mục đích sử dụng vốn. Trong nền kinh tế, mọi loại hình DNNN đều có thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực được Nhà nước cho phép hoạt động như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ, ….Các DN với chức năng của mình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời. Nhưng cũng có các Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 17
  18. Đề án Kinh tế đầu tư DN hoạt động ngoài mục tiêu lợi nhuận, khi tham gia sản xuất kinh doanh còn thực hiện nhiều mục tiêu khác của Nhà nước như phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, chống độc quyền, hạn chế sự lệ thuộc của nền kinh tế…. 3.2 Hoạt động sử dụng vốn của DNNN. DNNN hoạt động chủ yếu trong các ngành: công nghiệp, xây dựng, nông lâm nghiệp thủy sản, thương nghiệp. DNNN sử dụng vốn để tiến hành các dự án đầu tư. Hoạt động đầu tư chủ yếu của DNNN là: + Đầu tư xây dựng cơ bản: bao gồm các hoạt động xây lắp, mua sắm máy móc và thiết bị. Đây là hoạt động đầu tư quan trọng trong DN, là hoạt động tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho DN. Trong DN vốn chi cho hoạt động này chiếm một tỷ trọng rất lớn. Thường chiếm trên 50% vốn bỏ ra ban đầu của DN. + Đầu tư bổ sung hàng dự trữ: để cho DN luôn trong thế chủ động đáp ứng được nhu cầu thị trường và hoạt động một cách hiệu quả. Nhiều DN tỷ trọng vốn đầu tư cho mua sắm hàng dự trữ là lớn. + Đầu tư nghiên cứu triển khai (R&D) công nghệ khoa học - kỹ thuật nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của DN. Đây là hoạt động quan trọng nằm trong chiến lược hoạt động của DN vì khoa học công nghệ càng ngày càng phát triển. Nếu DN không đầu tư cho hoạt động này thì sẽ bị tụt hậu và không thể cạnh tranh được trên thị trường + Đầu tư phát triển nguồn nhân lực(NNL): NNL là yếu tố quan trọng trong hàm sản xuất của DN. Một DN có chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ có nhiều tiềm năng để đưa DN đi lên và luôn phát triển. + Đầu tư cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị sản phẩm: Quảng cáo không thể thiếu trong kinh doanh. Quảng cáo, tiếp thị giúp cho sản phẩm và dịch vụ của DN có thể đến với khách hàng. Hiện nay, trong các DN thì hoạt động quảng cáo và tiếp thị diễn ra liên tục và hoạt động này sử dụng một lượng vốn chiếm tới 5% trong vốn chi cho hoạt động trong DN. + Các hoạt động đầu tư khác. Đầu tư bất động sản, đầu tư tài chính, đầu tư tín dụng chứng khoán….các hoạt động này không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ cho DN nhưng nó mang lại một nguồn thu nhập đáng kể cho DN. Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 18
  19. Đề án Kinh tế đầu tư 3.3. Hiệu quả sử dụng vốn. Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực khan hiếm. DN huy động vốn và thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của mình với mục tiêu thu được lợi nhuận trong tương lai. Nói cách khác mục đích của việc sử dụng vốn là thu lợi nhuận cho nên hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh vốn dựa trên sự đánh giá dựa, sự so sánh tương đối giữa lợi nhuận và vốn bỏ ra để có được lợi nhuận đó. Và vì thế thông thường trong đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư người ta thường đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau: 3.3.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu. T ỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là t ỷ lệ của tổng số lợi nhuận trước thuế thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh trong năm của DN chia cho tổng doanh thu thuần của DN do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung cấp các dịch vụ và các thu nhập khác. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh kết quả tiêu thụ được một đồng doanh thu thì có được bao nhiêu đồng lợi nhuận. 3.3.2. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn. T ỷ suất lợi nhuận trên vốn là tỷ lệ của tổng số lợi nhuận trước thuế thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động t ài chính và các hoạt động khác phát sinh trong năm của DN chia cho tổng nguồn vốn bình quân năm của DN. Tổng nguồn vốn bình quân năm = ( tổng nguồn vốn đầu năm + tổng nguồn vốn cuối năm )/2 3.3.3 Hệ số vòng quay vốn lưu động. Hệ số vòng quay vốn lưu động là chỉ tiêu thể hiện kết quả cuối cùng của việc luân chuyển vốn lưu động để bảo đảm quá trình sản xuất - kinh doanh được liên tục và có hiệu quả. Được tính bằng cách so sánh hai đại lượng: khối lượng giá trị sản phẩm thực hiện trong năm (hoặc quý), và số dư bình quân vốn lưu động trong cùng kì. H (hệ số luân chuyển) = giá trị sản phẩm thực hiện / vốn lưu động bình quân. Chỉ tiêu này nói lên trong một năm ( quý ), vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng. Số vòng quay càng nhiều thì hiệu quả đồng vốn đem lại càng cao. Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 19
  20. Đề án Kinh tế đầu tư Chương II . Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN Việt Nam giai đoạn 2001-2007. I. Thực trạng hoạt động DNNN trong giai đoạn 2001-2007. Sau một chặng đường dài sắp xếp, đổi mới, đến cuối năm 2006, cả nước còn khoảng 3720 DNNN các loại, đang nắm giữ gần 70% tài sản cố định quốc gia, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của nhà nước, 70% tổng vốn vay các ngân hàng nước ngoài và gần 60% tổng lượng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước. Thế nhưng hàng năm khối DNNN mới chỉ đóng góp 40% thu nhập trong GDP của cả nước. Thứ nhất, về số lượng, tính đến cuối năm 2006, cả nước còn 3720 DNNN đang hoạt động, chỉ còn chiếm 3,6% tổng số DN đang hoạt động của toàn bộ nền kinh tế và chỉ còn chưa bằng một phần ba tổng số DNNN trước đổi mới. Bảng 1: Số lượng DNNN giai đoạn 2001 – 2006. Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 DNNN Tổng số 5355 5363 4845 4596 4086 3720 DNNN trung 1997 2052 1898 1967 1825 1758 ương DNNN địa phương 3358 3311 2947 2629 2261 1962 Nguồn: Tổng cục thống kê Thứ hai, mặc dù quy mô lao động bình quân một DNNN cao hơn khu vực DN dân doanh và DN có vốn đầu tư nước ngoài ( cuối năm 2006 số lao động b ình quân trong 1 DNNN là 513 người, DN ngoài quốc doanh là 27 người, DN có vốn đầu tư nước ngoài là 343 người ) nhưng số lao động làm việc trong các DNNN đang giảm dần cả về tuyệt đối ( từ trên 4114 nghìn người đầu năm 2002 giảm xuống còn gần 2041 nghìn người đầu năm 2006 ), cả về tỷ trọng trong tổng số lao động làm việc ở tất cả các DN ( từ 53,8% xuống còn 32,7% trong thời gian tương ứng ). Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản