Đề tài “Những biện pháp chủ yếu nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở công ty Cổ phần lâm sản Nam Định”

Chia sẻ: Nguyễn Minh ánh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:94

0
217
lượt xem
126
download

Đề tài “Những biện pháp chủ yếu nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở công ty Cổ phần lâm sản Nam Định”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hiện nay các doanh nghiệp ở nước ta đang phải đối diện với môi trường kinh doanh biến động không ngừng và gặp nhiều rủi ro, áp lực. Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi xu hướng mở cửa hợp tác hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới diễn ra mạnh mẽ. Đứng trước tình hình đó thì sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp , công ty phụ thuộc rất nhiều vào kết quả hoạt động của thị trường tiêu thụ sản phẩm – nhân tố quyết định sự sống còn của...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài “Những biện pháp chủ yếu nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở công ty Cổ phần lâm sản Nam Định”

  1. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng ĐỀ TÀI “Những biện pháp chủ yếu nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở công ty Cổ phần lâm sản Nam Định” Giáo viên hướng dẫn : Pgs Ts Phạm Hữu Huy Họ tên sinh viên : Vũ Thị Định Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 1 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  2. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng LỜI NÓI ĐẦU .........................................................................................................................................................3 PHẦN I ...................................................................................................................................................................5 I. THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở MỘT DOANH NGHIỆP ...................................................................................................................................................5 II.CÁC QUAN NIỆM CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM .................................................................................... 22 PHẦN II................................................................................................................................................................ 33 I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY.............................................................................. 34 II. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY: ........................................................................................................................ 46 III. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN QUA: ................................................................................................................................... 62 PHẦN III............................................................................................................................................................... 67 I. NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CHỦ YẾU NHẰM DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY:.................................................................................................................................................... 67 II.NHỮNG BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM SẢN NAM ĐỊNH TRONG THỜI GIAN TỚI. ............................................................... 71 KẾT LUẬN............................................................................................................................................................ 87 Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 2 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  3. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng LỜI NÓI ĐẦU Hiện nay các doanh nghiệp ở nước ta đang phải đối diện với môi trường kinh doanh biến động không ngừng và gặp nhiều rủi ro, áp lực. Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi xu hướng mở cửa hợp tác hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới diễn ra mạnh mẽ. Đứng trước tình hình đó thì sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp , công ty phụ thuộc rất nhiều vào kết quả hoạt động của thị trường tiêu thụ sản phẩm – nhân tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Trước kia nước ta dưới thời kinh tế tập trung bao cấp nên hoạt động tiêu thụ sản phẩm không được coi trọng lắm, nhất là vấn đề mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Còn ngày nay trong nền kinh tế thị trường tầm quan trọng của việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đã được các doanh nghiệp nhận thức một cách đầy đủ và có sự đầu tư chính đáng. Với công ty Cổ phần lâm sản Nam Định là một công ty cổ phần thực hiện sản xuất kinh doanh các sản phẩm lâm sản, hàng thủ công mỹ nghệ, các loại đồ mộc dân dụng, mộc xây dựng cơ bản, mộc công cụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, hợp tác với Lào và chế biến lâm sản hàng hoá. Công tác tiêu thụ được các doanh nghiệp ngày nay đánh giá là quan trọng nhất, chi phối mạnh mẽ tới các khâu khác là cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh vì phương châm của bất kỳ doanh nghiệp nào là: Sản suất những gì thị trường cần chứ không phải là tiêu thụ những gì có thể sản xuất được. Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện thực tế em đã chọn đề tài: “Những biện pháp chủ yếu nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở công ty Cổ phần lâm sản Nam Định” Đề tài gồm ba phần : PHẦN I: Những lý luận chung về tiêu thụ và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 3 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  4. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng PHẦN II: Phân tích và đánh giá thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở công ty Cổ phần lâm sản Nam Định trong thời gian qua. PHẦN III: Những biện pháp chủ yếu nhằm duy trì và mở rộng thị thường tiêu thụ sản phẩm ở công ty Cổ phần lâm sản Nam Định trong thời gian tới. Với khả năng có hạn nên bản khoá luận của em không tránh khỏi những thiếu xót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Phạm Hữu Huy đã trực tiếp hướng dẫn, cảm ơn các cô chú anh chị nơi thực tập đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực tập cũng như trong việc hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp này. Hà Nội, tháng 5 năm 2004 Tác giả luận văn Vũ Thị Định Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 4 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  5. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng PHẦN I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIÊU THỤ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP I. THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở MỘT DOANH NGHIỆP . 1. Khái niệm thị trường: Khi nền sản xuất hàng hoá phát triển thì khái niệm về thị trường đã trở nên quen thuộc, nó không còn xa lạ với bất cứ ai làm kinh doanh. Cho đến nay nền sản xuất hàng hoá đã phát triển qua nhiều thời kỳ, nó rất đa dạng và phong phú cho nên khái niệm về thị trường cũng rất đa dạng. Tuỳ theo từng thời kỳ, từng thời điểm, từng mục đích nghiên cứu khác nhau người ta cũng có những khái niệm khác nhau về thị trường. - Theo quan điểm của kinh tế chính trị Mác - Lê nin: Thị trường là lĩnh vực trao đổi mua bán mà ở đó chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hoá, giá cả dịch vụ và sản lượng. Nói đến thị trường trước hết là nói đến địa điểm rộng lớn hơn nữa là không gian mua bán, trao đổi, nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế, là nói đến sự trao đổi mua bán các yếu tố gắn với yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất hàng hoá và cũng là nói đến cung cầu hàng hoá. - Theo từ điển kinh tế học: Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá được sản xuất ra và hình thành trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng với quan hệ kinh tế giữa người với người liên kết lại với nhau thông qua trao đổi hàng hoá .như vậy thị trường theo nghĩa rộng là các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hoá, cùng quan hệ kinh tế và quan hệ kinh tế giữa người với người trong xã hội. Theo nghĩa hẹp thị trường chỉ khu vực và không gian trao Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 5 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  6. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng đổi hàng hoá , thị trường phát triển cùng với sản xuất và trao đổi hàng hoá , sản xuất và trao đổi đến đâu thì thị trường cũng phát triển đến trình độ đó. - Theo quan điểm của Samuelson: Thị trường là một quá trình trong đó người mua và người bán tương tác với nhau để xác định số lượng và giá cả hàng hoá hay dịch vụ. Samuelson đã nghiên cứu một cách kỹ lưỡng về thị trường, ông cho rằng thị trường không bị giới hạn về thời gian, không gian và địa điểm, thị trường chỉ cần người mua người bán thống nhất là đủ. Thị trường có thể là văn phòng, hội chợ, cú điện thoại, Fax... thị trường không nhất thiết người mua người bán trực tiếp gặp nhau mà có thể thông qua trung gian môi giới, thị trường có thể diễn ra mọi nơi, mọi lúc không phân biệt phạm vi hoạt động. - Theo quan điểm Marketing: Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn có cùng một nhu cầu hay mong muốn cụ thể sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu mong muốn đó. Theo quan niện này quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc vào số người có cùng nhu cầu và cùng mong muốn, tuỳ thuộc vào lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hoá thoả mãn nhu cầu mong muốn đó. Quy mô thị trường sẽ không phụ thuộc vào số người đã mua hàng hay những người có nhu cầu mong muốn khác. Qua các khái niệm về thị trường ở trên ta thấy thị trường là một phạm trù riêng của nền sản xuất hàng hoá. Hoạt động cơ bản của thị trường được thể hiện qua ba nhân tố nhu cầu, lượng cung ứng và giá cả, ba nhân tố này có quan hệ mật thiết với nhau. Qua thị trường chúng ta có thể xác định mối tương quan giữa cung và cầu của thị trường , thị trường còn là nơi kiểm nghiệm giá trị chất lượng của hàng hoá và dịch vụ. Ngược lại hàng hoá và dịch vụ phải đáp ứng nhu cầu thị trường và phải được thị trường chấp nhận. Chính vì vậy các yếu tố liên quan đến hàng hoá và dịch vụ đều phải tham gia vào thị trường . Thị trường là một phạm trù Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 6 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  7. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá và phân công lao động xã hội, ở đâu có sản xuất hàng hoá và phân công lao động xã hội thì ở đó xuất hiện phạm trù thị trường . Sản xuất hàng hoá và phân công lao động xã hội càng phát triển đòi hỏi thị trường cũng phát triển theo. 2.Vai trò của thị trường : Trong nền cơ chế kế hoạch hoá tập trung, việc nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp không được quan tâm bởi vì các doanh nghiệp Nhà nước đảm bảo yếu tố đầu vào cũng như yếu tố đầu ra. Họ không chú ý nhiều đến kết quả sản xuất kinh doanh mà chỉ cần sản xuất sao cho đáp ứng được các chỉ tiêu về sản xuất mà nhà nước giao cho. Ta có thể khái quát mối quan hệ của doanh nghiệp với thị trường theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1 Nhà nước Nhà cung ứng DNSX DNTM Người TD đầu vào vao Qua sơ đồ trên ta thấy trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp công nghiệp vẫn cần thiết có vật liệu hàng hoá cho quá trình sản xuất, cần phải tiêu thụ sản phẩm do mình sản xuất ra, nhưng mua vật tư của ai ?, mua khi nào ? ,với giá mua bao nhiêu ?, sản phẩm sẽ bán cho ai ?, bán khi nào ?, bán với giá nào ?... đều không do mình định đoạt mà do chỉ tiêu chủ yếu cho quá trình sản xuất như: cho vay vốn, đảm bảo lao động trong doanh nghiệp thông qua quỹ tiền lương. Các doanh nghiệp sản xuất có quan hệ với các doanh nghiệp có cung ứng vật tư, các doanh nghiệp thương mại chứ giữa họ không có hoạt động thương mại theo đúng nghĩa của nó vì các doanh nghiệp không chủ động trong quá trình mua bán. Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 7 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  8. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng Đại hội VI BCH TW Đảng đã xác định phát triển kinh tế lâu dài ở Việt Nam “Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” Vậy cơ chế thị trường là gì ?. Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó cá nhân người tiêu dùng và các doanh nghiệp tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của bất cứ một nền kinh tế nào là: Sản xuất cái gì?, Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?, Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường rõ ràng là khắc phục được những vấn đề còn tồn tại của cơ chế cũ. Như vậy thị trường vừa là khâu quyết định, vừa là mục tiêu, vừa là khâu kết thúc của quá trình tái sản xuất hàng hoá. Bởi vì thông qua thị trường các nhà sản xuất đưa sản phẩm của mình ra tiêu thụ nên nhờ đó họ không những thu lại được chi phí bỏ ra mà có lãi đầu tư vào quá trình tái sản xuất mới. Người mua luôn muốn tối đa hoá lợi ích còn người bán luôn muốn tối đa hoá lợi nhuận. Thị trường sẽ thoả mãn nhu cầu đó của họ theo quy luật cung cầu. Quy luật biểu hiện quan hệ kinh tế lớn nhất của thị trường . Ngoài ra cơ chế thị trường cũng chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động khách quan còn lợi nhuận là hoạt động mục đích của kinh doanh. Đây chính là điểm khác biệt của hai cơ chế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế thị trường. Trong cơ chế thị trường cạnh tranh và lợi nhuận là động lực để nhà sản xuất đưa sản phẩm có chất lượng cao với giá rẻ, mẫu mã đẹp , thu hẹp ngành nghề làm ăn kém hiệu quả, sản sinh ra nghề mới. Như vậy trong cơ chế thị trường , các doanh nghiệp luôn không ngừng cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ để sản phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường. Tuy nhiên cạnh tranh cũng là con dao hai lưỡi, nó tạo nên tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, phá sản, phá huỷ đạo đức kinh doanh, đạo đức xã hội. Ở tầm vĩ mô, cạnh tranh không lành mạnh cũng gây nên lạm phát, thất nghiệp. Nếu ta chấp nhận cơ chế thị trường chúng ta cũng phải chấp nhận quy luật cạnh tranh nhưng phải biết phát huy điều tốt đẹp, hạn chế bớt những mặt xấu xa mà cạnh trang gây ra. Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 8 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  9. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng Sơ đồ 2: Khái quát mối quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. DNCN Thị trường Nhà nước Thị trường yếu tố đầu vào yếu tố đầu ra DNCN Khác với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị trường Nhà nước chỉ giữ vai trò định hướng hoạt động cho các doanh nghiệp và các tổ chức trên các thị trường như thị trường yếu tố đầu vào, thị trường yếu tố đầu ra.. doanh nghiệp sử dụng vốn tiền tệ của mình để chủ động mua sắm yếu tố đầu vào cũng như tìm kiếm khách hàng để tiêu thụ sản phẩm do mình sản xuất ra. Vì vậy hoạt động thương mại trong doanh nghiệp đã thực hiện đúng ý nghĩa của nó là chủ động trong quá trình mua bán và chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động sản xuất. Thị trường là khâu tất yếu của quá trình tái sản xuất hàng hoá. Ở đâu có tái sản xuất hàng hoá thì ở đó có thị trường. Do đó vai trò của thị trường được thể hiện ở các mặt sau: 2.1 Thị trường là môi trường kinh doanh của doanh nghiệp: Là tấm gương phản ánh nhu cầu và phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp một khi đã thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ họ cũng phải trả lời các câu hỏi: Sản xuất cái gì?, Số lượng bao nhiêu?, Sản xuất cho ai? Các câu hỏi đó chỉ tìm được câu trả lời trên thị trường. Bởi vì thông qua thị trường các nhà sản xuất kinh doanh xác định được cung cầu giá cả của thị trường, và đưa Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 9 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  10. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng ra được câu trả lời chính xác nhất. Đồng thời cũng thông qua đó Nhà nước điều tiết hướng dẫn sản xuất kinh doanh. Nhìn vào thị trường ta có thể biết được tốc độ, trình độ, quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với trình độ kỹ thuật ngày càng phát triển mẫu mã quy cách chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng lên. Nó sẽ tác động trực tiếp đến thái độ của người tiêu dùng sản phẩm. Các nhà sản xuất phải chú ý đến đặc điểm đó để có biện pháp nghiên cứu thị trường, đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Việc đổi mới sản phẩm cũng giúp cho sản phẩm đó tăng được sức cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường, từ đó tạo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoá doanh thu, tối đa hoá lợi nhuận. Như vậy thị trường là thước đo khách quan đối với mọi doanh nghiệp . 2.2 Thị trường là khâu quan trọng nhất đối với quá trình tái sản xuất Sơ đồ 3: Quá trình tái sản xuất Sản xuất Trao đổi Phân phối Tiêu dùng Các doanh nghiệp coi thị trường là môi trường kiểm chứng có ý nghĩa sống còn, có tính quyết định tới sự phát triển của doanh nghiệp. Sơ đồ trên cho thấy thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, nó nằm trong khâu lưu thông hàng hoá, mục đích của người sản xuất là để bán, để thoả mãn nhu cầu người khác. Bán khó hơn mua nhưng mua cũng là hành vi không đơn giản. Nếu như thị trường mất đi sản xuất thì không còn là thị trường nữa, khi đó doanh nghiệp không thể tính đến sản xuất có hiệu quả để tạo điều kiện tái sản xuất mở rộng thị trường tiêu thụ. 2.3 Thị trường là nơi hình thành các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp Như đã nói thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán của doanh nghiệp . Tham gia hoạt động trên thị trường, doanh nghiệp đã tham gia vào các hoạt động kinh tế của nền kinh tế quôc dân, thị trường phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cung cấp để tạo thành một thể thống nhất. Qua trao đổi mua và bán các doanh nghiệp sẽ biến kiểu tổ chức thành cơ sở sản xuất chuyên môn hoá, chuyển Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 10 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  11. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng đổi kinh tế tự nhiên thành kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng đổi mới của Đảng và Nhà nước. 2.4 Thị trường trong quản lý vĩ mô Thị trường vừa là đối tượng vừa là căn cứ của kế hoạch hoá là công cụ điều tiết nền kinh tế, là nơi Nhà nước tác động quản lý đến doanh nghiệp. Thị trường là nơi quan trọng để đánh giá, kiểm chứng mang tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách biện pháp kiểm tra mà doanh nghiệp đưa ra. Ngoài ra thị trường còn phản ánh các quan hệ xã hội, các hành vi giao tiếp của con người để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý, nhà kinh doanh. Tóm lại, thị trường có vị trí quan trọng trong qúa trình tái sản xuất cũng như đời sống kinh tế xã hội. Các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để có được thị trường ngày càng rộng lớn hay nói cách khác họ luôn muốn mở rộng thị trường. Hiện nay, Nhà nước đang hoàn thiện dần hệ thống các thị trường (thị trường lao động, thị trường chứng khoán...) tạo môi trường thông thoáng để mở rộng giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể trên thị trường. Thị trường hàng hoá Việt Nam hiện nay rất đa dạng kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, Nhà nước đã áp dụng các biện pháp giúp cho việc bảo hộ sản xuất hàng hoá nội địa, chống nhập lậu, trốn thuế, lậu thuế, đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường. Những biện pháp này của Nhà nước khiến cho sức mua hàng hoá sản phẩm sản xuất trong nước trở nên mạnh mẽ hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. 3.Chức năng thị trường: Chức năng của thị trường chính là những tác động khách quan vốn có bắt nguồn từ bản chất của thị trường tới quá trình sản xuất và đời sống kinh tế xã hội .Thị trường có bốn chức năng đó là: Chức năng thừa nhận, chức năng thực hiện, chức năng điều tiết kích thích và chức năng thông tin. 3.1 Chức năng thừa nhận: Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 11 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  12. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng Ngày nay hàng hoá được sản xuất ra không phải để người sản xuất tiêu dùng mà để bán. Nghĩa là người sản xuất phải bán sản phẩm của mình trên thị trường, việc bán được thực hiện thông qua chức năng thừa nhận của thị trường, thừa nhận chính là người mua chấp nhận. Đến đây quá trình tái sản xuất xã hội của hàng hoá coi như đã hoàn thành. Bởi vì bản thân việc tiêu dùng sản phẩm và các chi phí tiêu dùng đã khẳng định trên thị trường khi hàng hoá được bán. Thị trường thừa nhận về tổng khối lượng hàng hoá đã đưa ra thị trường, cơ cấu cung cầu, quan hệ cung cấp đối với từng loại hàng hoá. Chuyển giá trị sử dụng và giá trị cá biệt thành giá trị sử dụng và giá trị xã hội, thừa nhận các hoạt động mua và bán. Thị trường không phải thừa nhận một cách thụ động các kết quả của quá trình tái sản xuất, quá trình mua bán mà thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường mà thị trường còn kiểm tra, kiểm nghiệm quá trình tái sản xuất và quá trình mua bán đó. Thị trường sẽ thừa nhận nếu sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao được người tiêu dùng tín nhiệm. Thị trường sẽ không thừa nhận những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lượng xấu gây ảnh hưởng đến đời sống người tiêu dùng. 3.2 Chức năng thực hiện: Mua và bán là hoạt động lớn nhất bao trùm cả thị trường thực hiện được hoạt động này là cơ sở quan trọng có tính quyết định đối với việc thực hiện các quan hệ và hoạt động khác. Thị trường luôn luôn thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá, thực hiện tổng số cung và tổng số cầu trên thị trường, thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ hàng hoá. Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá hình thành trên giá trị trao đổi của mình. Giá trị trao đổi là cơ sở vô cùng quan trọng để hình thành nên cơ cấu sản phẩm, các quan hệ tỷ lệ về kinh tế trên thị trường. Mỗi hành vi trao đổi hàng hoá đều được thực hiện trên thị trường, có thị trường hàng hoá mới trao đổi được thị trường người mua và người bán, đều thực Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 12 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  13. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng hiện hành vi mua bán của mình, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá. Thị trường chỉ thực hiện một loại hàng hoá tối ưu khi lượng cung bằng lượng cầu ở đó người sản xuất vừa đủ cung cấp cho người tiêu dùng. 3.3 Chức năng điều tiết kích thích: Thị trường là tập hợp các hoạt động của các quy luật kinh tế. Do đó thị trường vừa là mục tiêu, vừa tao ra động lực để thực hiện các mục tiêu đó, đó là cơ sở quan trọng để chức năng điều tiết kích thích của thị trường phát huy vai trò của mình. Nhu cầu thị trường là mục đích của quá trình tái sản xuất, thông qua nhu cầu thị trường người sản xuất chủ động di chuyển tư liệu sản xuất, vốn và lao động từ ngành này sang ngành khác, từ sản phẩm này sang sản phẩm khác có lơi nhuận cao hơn. Như vậy thị trường đã tự điều tiết sản xuất, điều tiết các sản phẩm, chỉ cần thông qua nhu cầu của thị trường người sản xuất biết nên sản xuất sản phẩm gì có lợi nhất. Thị trường như mách bảo các nhà sản xuất biết tập trung vào sản phẩm có nhu cầu đang tăng, biết bỏ thị trường cũ sang thị trường mới có lợi hơn. Thông qua hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường người sản xuất nào có lợi thế hơn trong cạnh tranh sẽ tận dụng khả năng của mình để phát triển sản xuất. Ngược lại những người sản xuất chưa tạo ra được những ưu thế trên thị trường cũng phải vươn lên để thoát khỏi nguy cơ phá sản. Đó là những động lực mà thị trường tạo ra để kích thích sản xuất. Thông qua hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường người tiêu dùng buộc phải cân nhắc, tính toán quá trình tiêu dùng của mình chính vì vậy thị trường có vai trò to lớn trong việc hướng dẫn tiêu dùng thông qua các hàng hoá trên thị trường mà người tiêu dùng biết lựa chọn hàng hoá nào có chất lượng cao, kiểu dáng mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý. Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 13 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  14. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng Trong sản xuất chỉ thừa nhận mức chi phí thấp hơn hoặc bằng mức xã hội cần thiết. Do đó thị trường còn có chức năng kích thích tiết kiệm chi phí, tiết kiệm lao động nếu không sản phẩm đó sẽ không tiêu thụ trên thị trường được. 3.4 Chức năng thông tin: Thị trường cho ta những thông tin về tổng số cung, tổng số cầu, cơ cấu cung cầu, quan hệ cung cầu đối với loại hàng hoá đó, giá cả thị trường các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường, đến mua và bán, chất lượng sản phẩm, hướng vận động của hàng hoá ... thị trường cho chúng ta biết về dung lượng các loại hàng hoá có hoặc sẽ tung ra thị trường. Thông qua thị trường người sản xuất phải biết được cần phải cung cấp ra thị trường bao nhiêu sản phẩm. Nếu hàng hoá đang ứ đọng, cần giảm sút thì thông qua các nhà sản xuất phải giảm lượng cung và ngược lại. Thị trường thông tin về giá cả cho nên ai tự ý bán với giá theo ý muốn của mình và người mua sẽ không mua nếu như chất lượng sản phẩm không tốt. Thông tin thu được trên thị trường có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý kinh tế. Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau, mỗi hiện tượng diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng này. Chúng ta không nên đặt vấn đề chức năng nào quan trọng nhất hoặc chức năng nào quan trọng hơn chức năng nào, bởi vì những tác dụng vốn có đều bắt nguồn từ bản chất của thị trường. Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng: Nếu chức năng thừa nhận được thực hiện thì các chức năng khác mới có tác dụng. 4. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường: Thị trường là một phạm trù kinh tế phức tạp. Do vậy các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường cũng rất phong phú và đa dạng, ta cần phân loại thành các nhóm nhân tố sau. 4.1 Các nhân tố thuộc nhóm về kinh tế - chính trị – xã hôi- tâm sinh lý: Các nhân tố thuộc về kinh tế có vai trò quyết định bởi vì nó tác động trực tiếp tới cung cầu giá cả, tiền tệ, quan hệ cung cầu cũng như sự vận động và hình Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 14 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  15. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng thành của thị trường. Các nhân tố này rất phong phú như nguồn tài nguyên, tài chính, sự phân bố lực lượng sản xuất, sự phát triển sản xuất hàng hoá, sự phát triển khoa khọc kỹ thuật với sự ra đời của phương thức sản xuất kinh doanh mới. Các nhân tố chính trị – xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến thị trường. Các nhân tố này thường được thể hiện qua các chính sách tiêu dùng, dân tộc, quan hệ quôc tế, chiến tranh, hoà bình... nhân tố chính trị xã hội có tác động trực tiếp tới thị trường . Nhân tố tâm sinh lý cũng tác động mạnh mẽ tới người tiêu dùng do đó ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tâm lý của người tiêu dùng bao giờ cũng có chất lượng cao, giá rẻ, hàng độc đáo ... Ngoài ra nhân tố phong tục tập quán cũng ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường. Nhìn chung các nhân tố làm ảnh hưởng tới thị trường có thể tích cực hoặc tiêu cực, cho nên các nhà kinh doanh phải nhạy bén nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan để từ đó áp dụng các chiến lược kinh doanh đạt hiệu quả. 4.2 Các nhân tố thuộc cấp quản lý vĩ mô và nhân tố thuộc quản lý vi mô: Nhóm nhân tố thuộc cấp quản lý vĩ mô: Nhà nước quản lý can thiệp vào thị trường bằng hệ thống các chính sách, chủ trương, biện pháp. Tuỳ theo đặc điểm và điều kiện cụ thể từng nước, từng thị trường vào từng thời kỳ mà mà Nhà nước đưa ra các biện pháp quản lý khác nhau như : Thuế, điều hoà giá cả, trợ giá, kho đệm...Hiện nay Nhà nước đang tổ chức và hình thành đồng bộ các thị trường tạo môi trường thông thoáng cho việc giao lưu và trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể trên thị trường .Ngoài ra các biện pháp chính sách vĩ mô như ổn định tiền tệ, chống lạm phát,ổn định tỷ giá hối đoái, hệ thống thuế khoá phù hợp cũng được ban hành. Mỗi chính sách biện pháp có vai trò khác nhau trên thị trường , song nó đều có tác động đến cung cầu giá cả hàng hoá và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , các nhân tố này doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Vì vậy các nhân tố vĩ mô chỉ có tác động tích cực tới sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam. Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 15 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  16. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng Nhóm nhân tố thuộc cấp quản lý vi mô: Đó chính là các chính sách mà doanh nghiệp đưa ra trong từng thời kỳ khác nhau, so với các nhân tố thuộc cấp vi mô ảnh hưởng ở mức độ nhỏ hẹp hơn các nhân tố thuộc cấp vĩ mô. Thường là các chính sách thị trường , chính sách giá cả, chính sách phân phối hàng hoá , chính sách giao tiếp khuyếch trương và các biện pháp khác để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường kể cả khi doanh nghiệp đóng vai trò người bán lẫn người mua, cả về khả năng thanh toán khối lượng mua và bán, dịch vụ sau bán hàng. Như vậy các nhân tố này đều có mục đích giúp doanh nghiệp tiếp cận sâu hơn vào thị trường , từng bước thích ứng và đáp ứng các yêu cầu mà thị trường đưa ra... khác với nhân tố thuộc cấp vĩ mô các nhân tố này doanh nghiệp có thể kiểm soát được. Sơ đồ 4: Mô hình nhân tố tác động đến thị trường căn cứ vào cấp độ quản lý Kinh tế CS thị trường Quản Bảo hiểm giá cả Thị CS giá cả Quản lý vĩ Thuế trườ CS sản phẩm lý vi Doanh nghiệp mô ng Kho đệm CS phân phối mô kinh tế Chính trị CS giao tiếp Xã hội Khuyếch trương 5. Nhu cầu thị trường – phân loại – phân khúc thị trường Trên thị trường có ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ giữa người bán và người mua, quan hệ giữa người bán với nhau, quan hệ giữa người mua với nhau. Bên mua và bên bán đều có những mục đích khác nhau, khi tham gia vào thị trường người mua bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi ích, hàng hoá mà họ mua tức là họ muốn mua hàng hoá có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu sử dụng với giá rẻ. Ngược Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 16 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  17. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng lại hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong các tình huống cụ thể của thị trường . Mặc dù, mỗi bên có mục đích khác nhau về ý muốn chủ quan nhưng họ lại giao dịch trực tiếp với nhau. Tuỳ thuộc vào hình thái thị trường , mặt hàng kinh doanh mà các bên tham gia thị trường có cách ứng xử thích hợp khác nhau. Phương thức ứng xử của người tham gia thị trường chính là hành động của họ với thị trường , với các đối thủ cạnh tranh trong từng tình huống sao cho mỗi bên đạt được mục đích của mình. 5.1 Phân loại thị trường Phân loại thị trường là chia thị trường theo góc độ khách quan khác nhau, phân loại thị trường là để nhận thức cặn kẽ thị trường .Mỗi cách phân loại có một ý nghĩa quan trọng riêng đối với quá trình kinh doanh.Căn cứ vào nội dung tính chất của từng loại thị trường ta có các cách phân loại sau: a. Căn cứ vào quan hệ mua bán giữa các nước chia thành thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Thị trường trong nước là thị trường mà hoạt động mua bán chỉ diễn ra trong phạm vi một nước, nó chỉ ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, kinh tế , xã hội của nước đó. Thị trường quốc tế là thị trường mà hoạt động mua bán diễn ra vượt khỏi phạm vi một nước đó, nó ảnh hưởng trực tiếp vào các nước tham gia vào thị trường quốc tế. Hiểu được vị trí, vai trò và mức độ ảnh hưởng của hai loại thị trường trên đến sự phát triển kinh tế của mỗi nước, chúng ta sẽ có được kế hoạch dự báo sự tác động của thị trường quốc tế đến thị trường trong nước . Đây là nhân tố để các doanh nghiệp trong nước tự khẳng định mình, chiếm lĩnh được thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế, đồng thời tạo cơ hội cho Việt Nam nhanh chóng tham gia vào tổ chức thương mại quốc tế(WTO). Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 17 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  18. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng b. Căn cứ vào mức độ xã hội hoá của thị trường người ta chia thành thị trường khu vực và thị trường thống nhất toàn quốc. Thị trường khu vực bị chi phối bởi các nhân tố kinh tế xã hội tự nhiên của khu vực, các quan hệ mua bán chưa diễn ra trong vùng, sức hút hàng hoá không lớn, sự can thiệp của nhà nước vào thị trường không nhiều, sức chứa không lớn. Thị trường thống nhất toàn quốc có vai trò quan trọng nền kinh tế , các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Sức hút thị trường lớn và nó chi phối sự vận động của các kênh lưu thông trên toàn quốc. Trên thị trường thông thường có các nhà kinh doanh lớn hoạt động, sự tác động của nhà nước để bảo vệ thị trường và bảo vệ giá cả. Cũng như thị trường trong nước và thị trường quốc tế thì thị trường khu vực là một bộ phận của thị trường thống nhất toàn quốc. Thị trường khu vực phát triển thì thị trường thống nhất toàn quốc cũng phát triển theo và ngược lại thị trường thống nhất toàn quốc chi phối các hoạt động kinh tế của thị trường khu vực, mọi hoạt động kinh tế diễn ra trên thị trường thống nhất toàn quốc chi phối các hoạt động của kinh tế khu vực . Nhà nước sử dụng thị trường thống nhất như một công cụ vĩ mô để điều tiết thị trường và nền kinh tế của đất nước. c. Căn cứ vào hàng hoá lưu thông trên thị trường người ta chia thành thị trường tư liệu sản xuất và thị trường vật phẩm tiêu dùng. Thị trường tư liệu sản xuất thường có các nhà kinh doanh lớn, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ, quy mô lớn, khả năng hình thành thị trường thống nhất toàn quốc lớn. Nhu cầu thị trường không phong phú và đa dạng, nhu cầu tương đối rõ ràng. Thị trường tư liệu sản xuất phụ thuộc vào thị trường tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất chủ yếu là bán buôn . Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 18 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  19. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng Thị trường vật phẩm tiêu dùng là những sản phẩm hàng hoá có chỗ đứng trên thị trường và được người tiêu dùng chấp nhận vô tư thoải mái trong đời sống thường ngày. Tính đa dạng và phong phú về nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng quyết định tính đa dạng phong phú và sôi động của thị trường tiêu dùng. Thị trường người tiêu dùng có số lượng người mua và người bán nhiều, khả năng hình thành các cửa hàng, siêu thị của thị trường tiêu dùng là rất lớn, hình thức mua bán cũng rất phong phú, đa dạng, sức cạnh tranh không gay gắt lắm. Mức độ cạnh tranh của thị trường tư liệu sản xuất gay gắt hơn thị trường người tiêu dùng, thị trường người tiêu dùng nhanh hình thành những tập đoàn kinh doanh lớn, thống nhất thị trường cho nên dễ dẫn đến độc quyền còn thị trường tiêu dùng ít khi hình thành nên những tập đoàn kinh doanh lớn và có độc quyền. Mức độ cạnh tranh của thị trường tư liệu sản xuất gay gắt hơn thị trường vật phẩm tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất nhanh hình thành những tập đoàn kinh doanh lớn, thống nhất thị trường cho nên dễ dẫn đến độc quyền. Đối với loại thị trường này nhà nước can thiệp sâu hơn vào các hoạt động kinh doanh của họ. Còn thị trường vật phẩm tiêu dùng ít khi hình thành nên những tập đoàn kinh doanh lớn và độc quyền. d. Căn cứ vào vai trò của người mua người ta chia thành hai thị trường đó là thị trường người mua và thị trường người bán. Trên thị trường có vai trò quyết định về người bán thì thị trường đó là thị trường người bán, thị trường này các quan hệ kinh tế được hình thành không khách quan. Giá cả bị áp đặt, cạnh tranh bị thủ tiêu, nhiều loại hàng hoá cung ứng ra thị trường không theo yêu cầu của thị trường , vai trò của người mua bị thủ tiêu. Thị trường người bán chỉ hình thành khi nền sản xuất hàng hoá chưa phát triển. Ở nước ta thời kỳ bao cấp khi hàng hoá còn khan hiếm thì thị trường thuộc về người bán. Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 19 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh
  20. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Tr­êng §HDL Ph­¬ng §«ng Khi cơ chế quản lý hành chính bao cấp bị xoá bỏ thì thị trường người bán dần dần trở thành thị trường người mua.Thị trường người mua là thị trường mà ở đó vai trò quyết định trong quan hệ mua bán thuộc về người mua.Vì vậy thị trường là yếu tố quyết định quá trình tái sản xuất hàng hoá. Các quan hệ trên thị trường được hình thành một cách khách quan, thị trường người mua là môi trường khách quan cho sự hoạt động của các quy luật kinh tế . Thị trường người mua vai trò của các quy luật kinh tế thị trường cũng được phát huy tác dụng, nó còn là công cụ bổ sung cho kế hoạch e. Căn cứ vào vai trò của từng khu vực trong hệ thống thị trường chia thành thị trường chính và thị trường phụ. Thị trường chính là thị trường có khối lượng hàng hoá tiêu thụ lớn, số lượng nhà kinh doanh nhiều, cạnh tranh gay gắt và phức tạp, số lượng người mua đông.Trên thị trường chính hàng hoá không những nhiều mà lại có chất lượng bảo đảm, các quan hệ cung cầu diễn ra tương đối ổn định, giá cả có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường khác. Các dịch vụ mua và bán trên thị trường cũng tốt, do vậy thị trường chính thường xuất hiện những tập đoàn kinh doanh lớn. Thị trường phụ là thị trường có khối lượng hàng hoá tiêu thụ ít, các quan hệ kinh tế trên thị trường này thường biến động, sức cạnh tranh không lớn, người mua thường lẻ tẻ không nhiều. f. Căn cứ vào tính chất mới lạ của hàng hoá và đối thủ cạnh tranh trên thị trường người ta chia thành thị trường độc quyền và thị trường cạnh tranh. Thị trường độc quyền là thị trường mà giá cả và các quan hệ kinh tế khác bị chi phối bởi các nhà độc quyền.Nó chỉ xảy ra khi trên thị trường có một người bán mà sản phẩm đó lại không có các sản phẩm khác thay thế. Đó chính là thị trường độc quyền đơn phương, nếu thị trường có hai người bán trở lên và số lượng đủ để chi phối thì gọi là thị trường đa phương như thị trường than, xi măng, thị trường thông tin liên lạc... người tiêu dùng không thoả mãn tối đa trên thị trường này. Vò ThÞ §Þnh – Líp 745B 20 Khoa Qu¶n TrÞ Kinh Doanh

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản