Đề tài "Những thách thức và cơ hội đối với ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương Mại Thế giới"

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:115

0
345
lượt xem
199
download

Đề tài "Những thách thức và cơ hội đối với ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương Mại Thế giới"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài "những thách thức và cơ hội đối với ngành dệt - may khi việt nam tham gia tổ chức thương mại thế giới"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài "Những thách thức và cơ hội đối với ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương Mại Thế giới"

  1. z  ĐỀ TÀI Những thách thức và cơ hội đối với ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương Mại Thế giới Giáo viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện :
  2. MỤC LỤC NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY SAU KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I – TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 3 VÀ HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI (MFA) 1.1 Tính tất yếu của sự ra đời Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 3 1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - 3 Tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới 1.1.1.1 Bối cảnh ra đời của GATT 3 1.1.1.2 Các chức năng và nguyên tắc cơ bản của GATT 4 1.1.2 Sự ra đời tất yếu của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 5 1.2 Giới thiệu chung về Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) 7 1.2.1 Các chức năng nguyên tắc chủ đạo trong hoạt động của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) 7 1.2.2 Bộ máy tổ chức và cơ chế hoạt động của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 7 1.2.3 Những thành tựu chính trong quá trình hoạt động của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 9 1.3 Hiệp định đa sợi (MFA) và tình hình thực hiện 12 1.3.1 Nội dung chính 12 1.3.2 Tình hình thực hiện Hiệp định đa sợi (MFA) 15 1.4 Hiệp định về hàng dệt – may tại vòng đàm phán URUGUAY 17 1.4.1 Tóm tắt Hiệp định 17
  3. 1.4.2 Tình hình thực hiện Hiệp định ATC trong thời gian qua 22 1.4.2.1 Về danh mục đưa vào tự do hóa 22 1.4.2.2 Về các Hiệp định song phương trong khuôn khổ MFA 25 1.4.2.3 Về việc các biện pháp hành chính trong thực hiện 25 các hạn chế 1.4.2.4 Về việc áp dụng các biện pháp tự vệ 25 1.4.3 Tác động của Hiệp định ATC đối với môi trường kinh doanh dệt – may quốc tế 27 CHƯƠNG II – THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH 29 DỆT – MAY VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1 Giới thiệu về ngành dệt – may Việt Nam 29 2.1.1 Nét chung của ngành dệt – may xuất khẩu Việt Nam 29 2.1.2 Đánh giá tổng quát khả năng sản xuất trong nước 30 2.1.3 Tóm lược tình hình công nghệ của ngành dệt may Việt Nam 32 2.1.4 Cơ cấu sản phẩm của ngành dệt – may Việt Nam 33 2.1.5 Khái quát thị trường tiêu thụ trong nước 36 2.2 Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam những năm qua 37 2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 37 2.2.1.1 Tổng quát về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam những năm qua 37 2.2.1.2 Phân tích cụ thể tình hình xuất khẩu hàng dệt may trong năm 2002 38 2.2.2 Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam 39 2.2.2.1 Những chủng loại xuất khẩu chủ yếu trong thời gian qua 39 2.2.2.2 Thực hiện cơ cấu về hàng dệt may xuất khẩu
  4. của Việt Nam 40 2.2.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu và kênh phân phối 41 2.2.3.1 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam 41 2.2.3.2 Đặc điểm về hệ thống phân phối của thị trường mục tiêu xuất khẩu 44 2.2.4 Phương thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 48 2.2.4.1 Gia công xuất khẩu 48 2.2.4.2 Xuất khẩu trực tiếp 50 2.3 Vấn đề năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 51 2.3.1 Đặc điểm chủ yếu về cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu (XK) 51 2.3.2 Năng lực canh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 55 2.3.2.1 Chất lượng hàng dệt may XK của Việt Nam 55 2.3.2.2 Chí phí XK và mức giá XK của hàng dệt may Việt Nam 58 2.3.2.3 Năng lực cạnh tranh trong hệ thống phân phối 61 hàng dệt may của Việt Nam 2.3.2.4 Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 61 2.3.3 Đánh giá chung về kết quả và tồn tại trong xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 62 2.3.3.1 Những kết quả nổi bật 62 2.3.3.2 Những thách thức lớn đối với hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu hiện nay 62 CHƯƠNG III – ĐỊNH HƯỚNG ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU VÀ 64 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT – MAY VIỆT NAM 3.1 Định hướng xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh 64 hàng dệt may của Việt Nam 3.1.1 Những quan điểm cơ bản trong định hướng xuất khẩu
  5. và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 64 3.1.1.1 Quan điểm thứ nhất 65 3.1.1.2 Quan điểm thứ hai 65 3.1.1.3 Quan điểm thứ ba 66 3.1.1.4 Quan điểm thứ tư 67 3.1.2 Những định hướng chủ yếu cho xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh XK hàng dệt may của Việt Nam 68 3.1.2.1 Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản đối với XK và nâng cao năng lực cạnh tranh XK hàng dệt may của Việt Nam 68 3.1.2.2 Mục tiêu định hướng cho chiến lược đẩy mạnh XK dệt may của Việt Nam đến năm 2010 70 3.1.2.3 Một số định hướng lớn cụ thể 72 3.2 Hệ thống các nhóm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 73 3.2.1 Nhóm giải pháp Marketing nghiên cứu thị trường và hoạch định chiến lược thị trường 73 3.2.1.1 Đẩy mạnh hoạt động Marketing nghiên cứu thị trường 73 3.2.1.2 Xây dựng chiến lược thị trường XK dệt may của Việt Nam 77 3.2.2 Nhóm giải pháp về chiến lược sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 78 3.2.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh 78 3.2.2.2 Giải pháp tập trung hóa kết hợp đa dạng hóa sản phẩm với nhiều mẫu mã “mốt” thời trang 81 3.2.3 Nhóm giải pháp về chiến lược đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh 82 3.2.3.1 Giải pháp về chiến lược công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh 82
  6. 3.2.3.2 Giải pháp về vốn đầu tư cho chiến lược công nghệ 87 3.2.4 Nhóm giải pháp về chiến lược chi xuất khẩu thấp và tăng nhanh phương thức tự doanh trong xuất khẩu 88 3.2.4.1 Giải pháp về chiến lược chi phí xuất khẩu thấp, nâng cao năng lực cạnh tranh 88 3.2.4.2 Giải pháp mở rộng phương thức xuất khẩu trực tiếp hay tự doanh xuất khẩu 91 3.2.5 Các giải pháp còn lại 93 3.2.5.1 Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động quảng cáo 93 3.2.5.2 Chú trọng hoạt động hội chợ triển lãm thương mại quốc tế và các công cụ yểm trợ xuất khẩu khác 93 3.5.2.3 Giải pháp qui hoạch và đào tạo nguồn nhân lực 94 KIẾN NGHỊ 96 KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
  7. LỜI MỞ ĐẦU Trong hoạt động kinh tế sôi động ngày nay, mỗi quốc gia, mỗi khu vực đều nỗ lực tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế nhằm khai thác tiềm năng để phát triển kinh tế, tìm cho mình một vị trí vững chắc trong bức tranh kinh tế toàn cầu trong giai đoạn phát triển mới của thế giới ở Thế kỷ XXI. Nhận thức rõ vấn đề này, những năm qua, chúng ta đã kiên trì tiến hành công cuộc "đổi mới" với phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước" và thu được những thành tựu đáng khích lệ và việc Việt Nam tham gia đầy đủ vào ASEAN và APEC là một bằng chứng tiêu biểu. Trên đà phát triển phù hợp với quy luật chung và vì sự phát triển lâu dài của đất nước, sau ASEAN mục tiêu của chúng ta sẽ là hội nhập vào WTO. Diễn đàn thương mại lớn nhất hiện nay, nơi chúng ta có điều kiện gia nhập thực sự vào đời sống kinh tế thế giới và đã tiến hành những thủ tục ban đầu để gia nhập. Để có thể thực hiện những mục tiêu trên, cùng với nhiều ngành kinh tế mũi nhọn khác, ngành Dệt - May thực sự là chiếc cầu nối Việt Nam với thế giới. Nhờ phát huy những thế mạnh sẵn có trong nước và tận dụng những thuận lợi bên ngoài ngành Dệt - May không chỉ có vị trí then chốt trong giai đoạn hiện nay mà ngay cả khi chúng ta tham gia vào WTO, hội nhập thế giới sâu sắc hơn. Hơn thế nữa, sản phẩm của ngành thuộc loại nhạy cảm trong thương mại quốc tế, có rất nhiều các vấn đề phức tạp phát sinh cần giải quyết khi kinh doanh mặt hàng này. Trong khuôn khổ hạn hẹp của khóa luận này tôi cố gắng tìm hiểu "Những thách thức và cơ hội đối với ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương Mại Thế giới. Nội dung của khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Tổ chức thương mại Thế giới và Hiệp định đa sợi Chương 2: Thực trạng hoạt động của ngành dệt-may Việt nam trong những năm qua.
  8. Chương 3: Định hướng đẩy mạnh xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của hàng dệt – may việt nam Mặc dù đã có 3 năm trang bị kiến thức tại trường Đại học Ngoại thương và có một số kinh nghiệm nhất định trong thực tế kinh doanh xuất nhập khẩu. Song khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các thầy cô và những ai quan tâm đóng góp ý kiến. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Ngoại thương, Công ty XNK tổng hợp Vạn xuân - BQP, Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Vinatex, các doanh nghiệp XNK hàng dệt-may. Và đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khải đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
  9. CHƯƠNG I TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VÀ HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI 1.1. TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ RA ĐỜI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới 1.1.1.1 Bối cảnh ra đời của GATT Sau hơn 7 năm chính thức hoạt động, Tổ chức Thương mại Thế giới đã có những đóng góp bước đầu vào sự phát triển của nền thương mại thế giới và từng bước tỏ rõ sự thích ứng với vai trò của một cơ quan điều tiết mậu dịch quốc tế. Đạt được như vậy một phần cũng vì Tổ chức Thương mại Thế giới đã kế thừa và phát huy các thành quả mà các tổ chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại đã tạo được. Do đó, để hiểu sâu hơn về Tổ chức Thương mại Thế giới không thể không nghiên cứu về GATT. Nhìn lại lịch sử ta nhận thấy phải đến cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV thị trường thế giới mới bắt đầu được hình thành rõ nét. Thời gian sau đó cho đến chiến tranh thế giới lần thứ II mặc dù thị trường thế giới liên tục phát triển song chưa có Hiệp định thương mại đa biên nào điều chỉnh. Thời gian này, các cường quốc kinh tế đồng thời cũng là các cường quốc quân sự thường chủ động sử dụng chiến tranh để phân chia lại thị trường. Kể từ sau năm 1945, với cục diện thế giới mới và thắng lợi của phe Đồng minh trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, nước Mỹ có ý đồ thiết lập lại các thể chế chính trị, kinh tế có lợi cho mình. Đồng thời, nhiều nước khác cũng có nhu cầu xây dựng các cơ chế mới để điều chỉnh mối quan hệ quốc tế, duy trì hoà bình, ổn định, tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài. Trong bối cảnh đó, hàng loạt tổ chức lớn của thế giới được ra đời: Liên hợp quốc (UN) được thành lập; về tiền tệ có Quỹ tiền tệ Quốc tế ra đời; về tài chính có Ngân hàng thế giới (WB); về thương mại là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại.
  10. Cụ thể, từ năm 1945, song song với việc chuẩn bị thành lập Tổ chức thương mại quốc tế (ITO), 23 nước đã tiến hành 123 cuộc thương lượng kéo dài với các nỗ lực nhằm đơn giản hoá các thủ tục, không ngừng nhằm giảm bớt hàng rào thuế quan, tạo môi trường thương mại quốc tế tự do. Kết quả ngày 30/10/1947 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại được ký kết, có hiệu lực từ 1/1/1948. Buổi đầu thành lập GATT chỉ có 23 nước thành viên nhưng đến cuối năm 1994, tổ chức này đã quy tụ được 129 nước thành viên và nhiều tổ chức liên chính phủ, chiếm trên 90% kim ngạch thương mại của thế giới. 1.1.1.2 Các chức năng và nguyên tắc cơ bản của GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại được thành lập nhằm tạo ra một cơ sở đảm bảo về pháp lý, góp phần phát triển kinh tế, thương mại thế giới với 3 chức năng cơ bản sau: + Là một luật lệ kinh tế chung được các bên nhất trí để điều tiết mọi hoạt động thương mại của các nước tham gia ký kết. + Là một diễn đàn thương lượng để thực hiện tự do hoá môi trường kinh doanh quốc tế, không ngừng tăng cường và hoàn chỉnh các luật lệ mà Hiệp định đã đề ra. + Là một "Toà án" quốc tế để Chính phủ các nước giải quyết tranh chấp trong phạm vi các nước thành viên . Hiệp định chung về thuế quan và thương mại là một văn kiện dài với 4 phần, 38 điều quy định chi tiết nhiều lĩnh vực. Các nguyên tắc chủ đạo trong hoạt động của GATT bao gồm: 1. Không phân biệt đối xử trong thương mại bằng cách dành cho nhau quy chế đãi ngộ "Tối huệ quốc". 2. Thiết lập một cơ sở ổn định cho thương mại thế giới thông qua việc thương lượng và thực hịên nghiêm túc các thoả thuận về thuế. 3. Quyền "Khước từ" và khả năng có hành động cấp thiết, không thực hiện một số nghĩa vụ trong thời hạn nhất định khi có lý do chính đáng về kinh tế và thương mại.
  11. 4. Bảo hộ mậu dịch bằng công cụ thuế quan là chính. Không tăng cường bảo hộ, có cơ chế thương lượng hiệu quả để gỡ bỏ dần mọi rào cản thương mại. 5. Khuyến khích việc cạnh tranh công bằng, cho phép đánh thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá, hoặc chống trợ cấp nếu bị thiệt hại do sản phẩm của nước khác bán phá giá hay trợ cấp gây ra. 6. Quan hệ "có đi có lại" bằng cách yêu cầu lẫn nhau những nhượng bộ tương tự nhằm khuyến khích mở cửa thị trường. 7. Ưu tiên đặc biệt cho các nước đang phát triển, ví dụ như Hệ thống ưu đãi phổ cập GSP, các ưu đãi trong việc tiếp cận thị trường, không phải "có đi có lại " với các nước phát triển. 8. Công nhận các dàn xếp thương mại khu vực và sự hoà nhập chặt chẽ hơn các nền kinh tế quốc gia thông qua các liên kết khu vực này. Tuy nhiên, thuế hay các quy định điều chỉnh thương mại của các thành viên trong nhóm đối với các nước không phải là thành viên không được hạn chế hơn những gì đã áp dụng trước khi nhóm được thành lập. 1.1.2 SỰ RA ĐỜI TẤT YẾU CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI Bên cạnh những thành công, GATT cũng gặp không ít trở ngại và còn nhiều lĩnh vực hoạt động chưa có hiệu quả. Thắng lợi của GATT trong việc cắt giảm thuế quan, cùng một loạt nhân nhượng kinh tế trong những năm 70, 80 đã khiến các chính phủ đưa ra các hình thức bảo hộ khác như tự nguyện hạn chế xuất khẩu, trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, tăng cường các biện pháp kiểm dịch, nâng cao tiêu chuẩn hàng hoá nhập khẩu... Xu hướng quốc tế hoá đầu tư quốc tế và trao đổi dịch vụ ngày càng tăng đang là mối quan tâm lớn của nhiều nước và đồng thời liên quan chặt chẽ đến sự gia tăng liên tục của thương mại hàng hoá thế giới thì lại không được GATT điều chỉnh. Thậm chí ở một số lĩnh vực tuy đã được đưa ra xem xét nhưng còn nhiều lỗ hổng đặc biệt là nông nghiệp và dệt may. Thể chế của GATT và hệ thống giải quyết tranh chấp cũng bị một số nước thành viên chỉ trích .
  12. GATT đứng trước thách thức mới khi thương mại thế giới trở nên phức tạp hơn nhiều so với những năm 1940. Chưa bao giờ tính chất quốc tế của nền kinh tế thế giới được thể hiện rõ nét như ngày nay. Quá trình phân công lao động quốc tế được nâng cao và có ảnh hưởng rộng khắp, dẫn đến sự bùng nổ của hoạt động thương mại quốc tế, dưới nhiều sắc thái đa dạng. Cùng với thương mại là vận tải, thanh toán, đầu tư, du lịch, viễn thông quốc tế ... tăng trưởng với tốc độ chóng mặt. Thực tế nêu trên đã dẫn đến một đòi hỏi tất yếu là phải cải cách GATT để có một cơ chế mạnh hơn điều tiết thương mại thế giới, tăng cường và mở rộng hệ thống đa biên này. Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, vòng đàm phán Urugoay mở ra với một trong những kết quả quan trọng là Tuyên bố MaraKesh do 104 nước ký ngày 15/4/1994 tại MaraKesh (Marốc), có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, quy định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giớí để thay thế GATT. Có thể nói Tổ chức Thương mại Thế giới là hiện thân cho kết quả của vòng đàm phán Urugoay và là sự kế thừa của GATT nhưng chặt chẽ hơn về tổ chức, ràng buộc hơn về phạm vi, mức độ và khối lượng thương mại được điều chỉnh. Với thể chế tương đối lỏng lẻo của GATT, các nước thành viên có thể lựa chọn một số hiệp định trong một vòng thương lượng, thực hiện nghĩa vụ được hưởng quyền lợi do hiệp định đó đem lại. Nhưng đối với Tổ chức Thương mại Thế giới tất cả các nước thành viên phải chấp nhận và thực hiện tất cả các hiệp định đã được thoả thuận trong vòng đàm phán Urugoay trừ hệ thống các hiệp định thương mại đa phương. Về phương diện pháp lý, Tổ chức Thương mại Thế giới là một tổ chức quốc tế, như các tổ chức quốc tế khác, quyết định của nó có tính chất ràng buộc đối với các nước thành viên. Còn GATT là một hiệp định nêu những nguyên tắc chung đã được thoả thuận cụ thể. Nói cách khác, GATT dựa trên cơ sở Ad- hoc gồm các vòng thương lượng hơn là một cơ chế thường trực. Do vậy, WTO có thể thúc đẩy các nước thực hiện nghĩa vụ hiệu quả hơn. GATT chủ yếu chỉ điều chỉnh thương mại hữu hình còn WTO đảm nhận trách nhiệm lớn hơn, bắt đầu quá trình điều chỉnh tự do hoá thương mại, dịch vụ
  13. quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại. Đây là đòi hỏi cấp bách vì thực tế những lĩnh vực này ngày càng trở nên quan trọng hơn trong cơ cấu thương mại quốc tế, đặc biệt đối với các nước phát triển tỷ trọng này thường chiếm khoảng 65 - 70% thu nhập quốc dân. Thông qua cơ chế xem xét định kỳ chính sách thương mại của các nước thành viên WTO sẽ đưa hệ thống chính sách kinh tế, thương mại của các nước thành viên vào một thể hài hoà, thống nhất nâng cao tính trong sáng, rõ ràng và sự hiểu biết lẫn nhau trong môi trường mậu dịch toàn cầu. Điểm mới nữa là WTO sẽ phối hợp nhiều hơn, chặt chẽ hơn với Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế gắn kết các vấn đề thương mại với tài chính, tiền tệ quốc tế, tạo điều kiện cho việc phát triển toàn diện quan hệ kinh tế quốc tế. Sau hơn 14 năm kể từ ngày thành lập, GATT mới có trên 23 nước thành viên. Sau gần 46 năm hoạt động, Tổ chức này mới có 129 nước tham gia, chiếm trên 90% thương mại quốc tế. Nhưng Tổ chức Thương mại Thế giới thì chỉ 6 tháng sau khi thành lập đã có hơn 132 nước gia nhập. Theo dự tính trong vòng 3 năm tới số thành viên sẽ lên tới 145 nước chiếm gần 100% giá trị mậu dịch thế giới.1 Trước đây trong cơ chế của GATT, các nước "lớn" thường ngăn cản hay trì hoãn việc thi hành các quyết định của Ủy ban giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế khi chúng không có lợi cho họ. Nhưng đối với WTO, các quy định về giải quyết tranh chấp thương mại chặt chẽ, mạnh mẽ hơn nên các nước có tiềm lực mạnh cũng có ít khả năng trì hoãn việc khám xét và thi hành quyết định liên quan đến tranh chấp thương mại. 1.2. GIỚI THIỆU CHUNG WTO 1.2.1 CÁC CHỨC NĂNG NGUYÊN TẮC CHỦ ĐẠO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI Có cùng mục tiêu chung với GATT trước đây là thiết lập và củng cố môi trường thương mại tự do, lành mạnh trên toàn thế giới nên Tổ chức Thương mại
  14. Thế giới cũng có các nguyên tắc cơ bản giống với Hiệp định chung về thuế quan và thương mại trước kia , đó là: + Không phân biệt đốỉ xử. + Bảo hộ bằng công cụ thuế. + Khuyến khích cạnh tranh công bằng. + Tạo lập cơ sở ổn định cho thương mại thế giới. + Quyền" khước từ" và khả năng có hành động cấp thiết. + Quan hệ "Có đi, có lại" . + Ưu tiên cho các nước phát triển. Với tư cách là tổ chức thương mại lớn nhất từ trước đến nay, kế thừa và được tăng cường khả năng hơn GATT, WTO đảm nhận các chức năng chính sau đây: + Quản lý và giám sát việc thực thi các hiệp định thương mại đa biên. + Giải quyết các tranh chấp thương mại. + Hợp tác cùng các tổ chức quốc tế khác tham gia vào việc hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu. 1.2.2 BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI Để thực thi đầy đủ, kịp thời cảc trọng trách nêu trên, WTO có một hệ thống pháp lý bao trùm lên Hiệp định GATT 1947, đồng thời với 12 Hiệp định kèm theo về thương mại hàng hoá các lĩnh vực riêng, Tổ chức thương mại thế giới mặc nhiên công nhận giá trị pháp lý của khoảng 2000 hiệp định và thoả thuận đã được thông qua trong thời kỳ GATT tồn tại. Trong cơ cấu của WTO cơ quan cao nhất là Hội nghị cấp Bộ trưởng, bao gồm đại diện của cả các nước thành viên, được triệu tập ít nhất 2 năm 1 lần. Hội nghị này quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến mọi hiệp định thương mại đa biên. Tuy nhiên công việc hàng ngày của WTO sẽ do một số cơ quan chức năng giải quyết; chủ yếu là Đại hội đồng bao gồm tất cả các thành viên của WTO, có
  15. nhiệm vụ làm báo cáo cho Hội nghị cấp Bộ trưởng giải quyết các công việc thường nhật, Đại hội đồng nhóm thành 2 Ủy ban: Ủy ban đánh giá chính sách thương mại để đánh giá thường xuyên các chính sách thương mại của từng nước thành viên và Ủy ban giải quyết các tranh chấp để giám sát các thủ tục giải quyết tranh chấp. Đại hội đồng cũng chia sẻ trách nhiệm thành 3 Hội đồng: - Hội đồng về thương mại hàng hoá - Hội đồng về thương mại dịch vụ - Hội đồng về sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại Trực thuộc mỗi Hội đồng trên có các cơ quan chuyên môn. Ba ủy ban khác được Hội nghị Bộ trưởng thành lập và có nhiệm vụ báo cáo lên Đại hội đồng, đó là: - Ủy ban về thương mại và phát triển. - Ủy ban về cán cân thanh toán. - Ủy ban về ngân sách. Mỗi hiệp định trong 4 hiệp định đa phương của WTO có các cơ quan quản lý riêng của mình với nhiệm vụ báo cáo lên Đại hội đồng. Giúp việc cho bộ máy nêu trên là Ban thư ký. Ban này có trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ, nơi đặt trụ sở chính của WTO. Ban thư ký có khoảng 450 nhân viên, đứng đầu là Tổng giám đốc được chọn theo nguyên tắc nhất trí. Dưới Tổng giám đốc có Phó Tổng giám đốc (4 người ), Giám đốc các Ban chuyên trách do Tổng giám đốc đề nghị và được Đại hội đồng thông qua. Ngân sách của WTO vào khoảng 150 triệu USD (năm 2001) do các nước thành viên đóng góp theo tỷ lệ nhất định trong tổng giá trị hoạt động thương mại của chính mình. Một phần ngân sách của WTO được dùng để duy trì hoạt động của trung tâm thương mại Quốc tế. 1.2.3 NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
  16. Tổ chức Thương mại Thế giới đã chính thức đi vào hoạt động được hơn 10 năm, trên cơ sở kế thừa và mở rộng về nhiều mặt Hiệp định chung về thuế quan và thương mại trước kia trong 10 năm hoạt động với tư cách của một tổ chức thương mại đa biên lớn nhất thế giới, WTO đã làm được nhiều việc không nhỏ, tỏ rõ sự thích ứng của mình trong vị trí mới. Thậm chí nhiều người đã coi Tổ chức này như một liên hợp quốc về kinh tế. Sau một năm chuyển đổi cùng tồn tại với GATT và một thời gian hoạt động độc lập, đến nay WTO đã đứng vững và bắt đầu đi vào những năm tiếp theo một cách vững chắc mà không để xẩy ra một biến động lớn. Đây là kết quả quan trọng nhất bởi lẽ 129 nước thành viên, chiếm tới hơn 90% giá trị thương mại của một thế giới hiện đại hết sức sôi động thì việc duy trì việc hoạt động kinh doanh quốc tế không phải là dễ. Không những thế, hai năm đầu tiên của WTO còn được ghi nhận từng mức tăng giá trị mậu dịch thế giới tới 100 tỷ USD. Danh sách 21 chính phủ ( trong đó có Việt Nam) đang ở những giai đoạn khác nhau của quá trình gia nhập WTO cũng cho thấy phần nào kết quả hoạt động của tổ chức này. Về các nội dung hoạt động cụ thể, WTO đã kế thừa xứng đáng GATT thậm chí còn hiệu quả hơn trong một số lĩnh vực. Trước hết phải kể đến việc giải quyết các tranh chấp thương mại. Ngay từ khi thành lập các bên ký kết đã đạt nhiều hy vọng vào chức năng giải quyết tranh chấp của WTO sau khi được bổ sung nhiều quyền hạn cũng như thay đổi về cơ chế so với thời kỳ kém hiệu quả của GATT trước kia. Nếu như trước thời GATT các cường quốc kinh tế thường gây áp lực đối với việc giải quyết tranh chấp hay cố tình trì hoãn việc thi hành phán quyết thì với các quy định mới tình trạng đó sẽ khó tái diễn. Thực tế là chỉ trong 3 năm WTO đã thụ lý hơn 60 hồ sơ tranh chấp. Một đặc điểm về các bên tham gia tranh chấp là bên cạnh những"gương mặt" quen thuộc như Mỹ, EU, Nhật, Canada, các nước đang phát triển bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, tiêu biểu như Brasil, Ấn Độ, Mehico, Singpore, Thái Lan. Điều này cho thấy vị trí ngày càng quan trọng của các nền kinh tế đang phát triển nói chung trong kinh tế thế giới. Và phải chăng cơ chế giải quyết hiệu quả của WTO đã tạo cơ hội để những "kẻ yếu" này lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho mình ? Thành công còn thể hiện ở sự
  17. đa dạng của các vấn đề tranh chấp, từ việc áp dụng biện pháp kiểm dịch động thực vật đến các thủ tục cấp giấy phép hay hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm nhập khẩu hoặc bán phá giá hàng hoá, trợ cấp hàng nông sản, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ... Nếu giải quyết tranh chấp là nội dung nóng hổi thì việc điều tiết thương mại hàng hoá lại là nội dung chính, truyền thống từ GATT, nay vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của WTO. Hai năm qua các Ủy ban của WTO đã giám sát việc thực hiện các Hiệp định của vòng đàm phán Urugoay, soạn thảo và đệ trình hàng loạt văn bản mới liên quan để củng cố môi trường pháp lý cho thương mại hữu hình trên thế giới, đặc biệt là các văn bản liên quan đến các hạn chế số lượng, và các biện pháp phi thuế quan. Kể từ mười năm lại đây WTO cũng bắt đầu đưa dần 2 lĩnh vực "nhạy cảm" vẫn từng nằm ngoài khuôn khổ các nguyên tắc chung của GATT trước đây và hệ thống chung đó là hàng dệt may và nông nghiệp. Tuy là những vấn đề phức tạp có tác động lớn đến quyền lợi sống còn của nhiều nước lại được điều chỉnh bằng các hiệp định song phương trong thời gian dài (từ vòng đàm phán Tokyo, 1974) nhưng việc hợp nhất các lĩnh vực này dưới sự điều chỉnh của WTO đã được các nước hưởng ứng. Về các thành công của WTO không thể không nói đến lĩnh vực lần đầu tiên được điều chỉnh một cánh chính thức là dịch vụ, với hai thị trường nổi cộm là tài chính và viễn thông. Thắng lợi rõ nét nhất là thoả thuận đạt được về thị trường thông tin viễn thông quốc tế ký hồi 2/1997 và việc Nhật Bản mở cửa thị trường bảo hiểm trị giá tới gần 400 tỷ USD, chấm dứt tình trạng phân biệt đốỉ với nguyên tắc cơ bản của GATT cũng như WTO lâu nay. Các thị trường hàng hải, dịch vụ chuyên ngành ... cũng được xúc tiến ở các cấp độ khác nhau. Ngoài các lĩnh vực quan trọng nêu trên WTO còn triển khai đồng thời nhiều nội dung khác liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ các biện pháp tự vệ, các hoạt động đầu tư liên quan đến thương mại, bốn hiệp định đa phương, công tác đào tạo, trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên ... WTO cũng đã tạo được mối quan hệ mới với các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợp quốc, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới, tạo ra cơ chế hành động thống nhất trong điều hành kinh tế
  18. thế giới, đồng thời khẳng định tính tổ chức lâu dài của WTO so với tính tạm thời của GATT trước kia. Triển khai được nhiều công tác và thu được kết quả bước đầu song WTO còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục giải quyết. Ngay như công tác giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, dù đã cải tiến nhiều nhưng một số trường hợp phức tạp thì Ủy ban giải quyết tranh chấp vẫn tỏ ra chậm chạp, như tranh chấp giữa Mỹ và Nhật trong thị trường phim ảnh, hay giữa Tây Ban Nha và Canada về đánh bắt cá hoặc về luật Helms-Berton của Mỹ chống Cuba. Trong điều kiện mới, Ủy ban giải quyết tranh chấp bắt đầu có tình trạng quá tải, ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả hoạt động. Lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ thì chưa tiến được bao nhiêu, trong khi khắp nơi người ta phàn nàn về nạn xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tưởng chừng có thể dẫn tới các cuộc chiến tranh thương mại quy mô thế giới như trường hợp của Trung Quốc và Mỹ, hay Mỹ và Nhật. Tuy đã đầu tư khá nhiều công sức nhưng có lẽ hồ sơ ít khả quan nhất của WTO là quan hệ thương mại - phát triển và thương mại môi trường, có thể thấy một số nước thành viên của WTO là các nước đang phát triển nhưng vị trí của họ vẫn chưa cải thiện là bao, trừ một số nước đang phát triển lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Mehico, Brasil. Phần lớn còn lại, nhất là các nước Châu Phi tham gia rất hạn chế vào đời sống kinh tế thế giới so với tiềm năng của họ, hay có tham gia thì phải chịu nhiều thiệt thòi. Tương tự, vấn đề môi trường được đề cập nhiều trong các vấn đề hội nghị toàn cầu cũng như khu vực, nhưng vẫn còn thiếu nhiều biện pháp thực tế hữu hiệu trong khi hàng hoá càng được sản xuất dồi dào bao nhiêu thì lượng chất thải công nghiệp, chất thải tiêu dùng càng lớn, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác càng nhiều bấy nhiêu. Thời gian tới WTO sẽ còn giải quyết không ít nhiệm vụ khó khăn. Cơ bản nhất là tiếp tục thực thi các Hiệp định của vòng đàm phán Urugoay, các tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng tại Singapore, các quyết định và giải thích kèm theo. Bàn bạc và thống nhất về tương lai các nội dung còn chưa triệt để như thương mại và đầu tư, chính sách cạnh tranh, nông nghiệp dệt may... Vấn đề thương mại
  19. và môi trường còn tiếp tục phải thảo luận, vì trong khi chưa có một hệ thống tiêu chuẩn chung về môi trường có liên quan về thương mại thì các nước vẫn còn dùng vấn đề này như một biện pháp phi thuế quan để bảo hộ hay phân biệt đối xử trong buôn bán. 1.3 HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN 1.3.1 Nội dung chính Khi GATT được thành lập năm 1947, chưa có hiệp định nào liên quan đến hàng dệt may. Nhưng chỉ đến cuối thập niên 50, sản phẩm nhạy cảm này đã phát triển không ngừng. Trên thị trường thế giới tình hình trở nên sôi động và các nước đã chủ động tìm đến hàng loạt hiệp định ngắn hạn rồi dài hạn để thu xếp thị trường hàng dệt may. Đặc biệt là đối với một số nước phát triển, đứng trước sức ép ngày càng tăng của các sản phẩm rẻ hơn từ các nước đang phát triển làm cho hoạt động buôn bán hàng dệt bị lệch khỏi các quy tắc cơ bản của GATT, làm sai lệch cạnh tranh và thương mại thông thường. Trước thực tế đó, đầu thập niên 60, lĩnh vực dệt may đã được bàn đến trong khuôn khổ GATT nhưng như một trường hợp ngoại lệ, theo các quy tắc đàm phán riêng. Trên cơ sở các thoả ước song phương giữa các nước và đặc điểm tình hình, dưới sự giám sát của GATT, Hiệp định về mậu dịch quốc tế hàng dệt còn gọi là Hiệp định đa sợi đã được ký năm 1973 và có hiệu lực từ 01/01/1974. Về cơ bản Hiệp định này cho phép các nước phát triển thông qua các hiệp định song phương hay các hành động đơn phương áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may nhập khẩu từ các nước đang phát triển. MFA có giá trị hiệu lực đối với các nước tham gia ký kết chứ không phải là hiệp định bắt buộc với tất cả các nước thành viên GATT /WTO. Mục tiêu tổng quát của MFA là : + Mở rộng và tự do hoá thương mại quốc tế + Chống lại tình trạng rối loạn thị trường. + Tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội của các nước đang phát triển.
  20. Hàng dệt may theo quy định của MFA chỉ giới hạn ở "vải, sợi và các sản phẩm từ bông, len, sợi nhân tạo". Lần gia hạn trước đây Hiệp định đa sợi có quy định thêm lanh, tơ lụa pha sợi gai. Nội dung chính của Hiệp định đa sợi có thể tóm tắt qua các điều khoản chủ yếu nhất như sau : + Điều 1 : Các biện pháp hạn chế đặc biệt trong thương mại quốc tế về hàng dệt may có thể được áp dụng trong một số thời gian hạn chế. + Điều 2 : Cho phép nước nhập khẩu đơn phương hạn chế nhập khẩu trong thời gian một năm nếu việc nhập khẩu đó gây ra tình trạng rối loạn thị trường, trừ khi nước xuất khẩu chấp nhận một giải pháp hợp lý khác. + Điều 3: cũng quy định rằng các biện pháp này chỉ được áp dụng đối với những mặt hàng cụ thể và với nước xuất khẩu những mặt hàng gây ra rối loạn thị trường đó. * MFA còn cho phép nước nhập khẩu áp dụng điều 3 chỉ khi họ đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt của việc "Chứng minh tình trạng rối loạn thị trường". Phụ lục A của Hiệp định đa sợi quy định rõ ràng "Việc xác định tình hình rối loạn thị trường phải dựa trên những thiệt hại nghiêm trọng đối với nhà sản xuất nội địa hoặc nguy cơ rõ ràng của các thiệt hại". MFA cũng quy định các thiệt hại phải được xác định trên cơ sở xem xét tình hình kinh tế của một ngành kinh tế nội địa cụ thể và "Việc tăng nhanh, khối lượng lớn hàng nhập khẩu một cách rõ ràng (có thể xác định được) chứ không phải dựa theo phỏng đoán, lập luận hay khả năng ít xảy ra." * Điều 3 cũng quy định về cơ chế "Tham vấn" khuyến khích các nước thành viên tổ chức các cuộc họp song phương thảo luận về thương mại hàng dệt may. * Theo điều 3 nếu một nước nhận thấy trên thực tế hàng dệt may nhập khẩu đang gây rối loạn thị trường nước mình thì đầu tiên phải yêu cầu có cuộc tham vấn với các nước xuất khẩu có liên quan. * Khi cuộc thảo luận đi đến thoả thuận thì các bên phải xây dựng thoả thuận này theo quy định ở phụ lục B. Theo đó "mức hạn chế số lượng ban đầu sẽ

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản