Đề tài: Những vấn đề về thị trường giày da Việt Nam

Chia sẻ: Nguyễn Văn Hộ | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

1
218
lượt xem
94
download

Đề tài: Những vấn đề về thị trường giày da Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Những vấn đề về thị trường giày da Việt Nam gồm 3 phần: Lý do chọn đề tài, nội dung chính và kết luận. Trong đó phần nội dung chính trình bày tổng quan về thị trường giày da và dự bảo thị trường da giày. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Những vấn đề về thị trường giày da Việt Nam

  1. Ngân hàng nhà nước Việt Nam Học viện ngân hàng ~~~~~~*****~~~~~~ BÀI THẢO LUẬN Môn: Tài trợ dự án đầu tư Đề tài: “NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỊ TRƯỜNG GIẦY DA VIỆT NAM” Giáo viên hướng dẫn: Nhóm thực hiện: lớp TTQTD – K10 Khoa: Ngân hàng Hà Nội – 2010
  2. MỤC LỤC Ngân hàng nhà nước Việt Nam ..................................................................................... 1 BÀI THẢO LUẬN ......................................................................................................... 1 Môn: Tài trợ dự án đầu tư ............................................................................................ 1 Đề tài: ............................................................................................................................. 1 “NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỊ TRƯỜNG GIẦY DA VIỆT NAM” ................................... 1 Giáo viên hướng dẫn: .................................................................................................... 1 Nhóm thực hiện: lớp TTQTD – K10............................................................................. 1 Khoa: Ngân hàng........................................................................................................... 1 Hà Nội – 2010................................................................................................................. 1 Nhóm thực hiện ............................................................................................................. 3 Tài liệu tham khảo......................................................................................................... 4 Giáo trình: Tài trợ dự án - nhà xuất bản Học Viện Ngân Hàng .................................... 4 Các website : Viettrade.gov.vn ..................................................................................... 4 Phần 1: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ................................................................................... 5 Phần 2: NỘI DUNG CHÍNH ........................................................................................ 6 I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG GIẦY DA ....................................................... 6 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU .......................................................................................... 6 Số liệu kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2008 ......................................... 6 Về năng lực sản xuất, năng lực sản xuất của toàn ngành đạt: ...................................... 8 II. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG ............................................................................... 10 CƠ HỘI ....................................................................................................................... 10 Thị trường Mỹ: ............................................................................................................. 12 Thị trường các nước Đông Á: ...................................................................................... 12 THÁCH THỨC ........................................................................................................... 12 III. DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG GIẦY DA ................................................................ 15 1. THỊ TRƯỜNG CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG................................................. 15 Giá trị thị trường Giày dép Châu Á - Thái Bình Dương .............................................. 15 Dự báo thị trường giày dép Châu Á-Thái Bình Dương................................................ 16 THỊ TRƯỜNG EU ...................................................................................................... 17 Thị trường Châu Mỹ. .................................................................................................. 18 Thị trường nội địa ....................................................................................................... 18 1. Một số giải pháp đê phát triển tốt thị trường giầy da ............................................ 19 Thông thường DN cần quan tâm đến ba nhóm yêu cầu cơ bản: ................................. 19 1.3.1. Chất lượng.......................................................................................................... 23 Yêu cầu pháp lý ............................................................................................................. 25 Yêu cầu thuế quan ......................................................................................................... 25 Yêu cầu thị trường ......................................................................................................... 26 Yêu cầu thuế quan: ........................................................................................................ 27 Địa chỉ giao dịch sản phẩm giày dép trên thị trường Nhật Bản: ............................... 32 Bảng 1: Ưu đãi thuế nhập khẩu giày dép vào Úc và New Zealand ............................. 33 Phần 3: KẾT BÀI .......................................................................................................... 34
  3. Nhóm thực hiện 1. Lê Văn Khanh 2. Nguyễn Hùng Sơn 3. Nguyễn Văn Hộ 4. Nguyễn Ngọc Hiếu 5. Nguyễn Thị Thân Thương 6. Trần Minh Khôi 7. Hồ Văn Báo 8. Vũ Quang Huy 9. Khổng Thế Anh
  4. Tài liệu tham khảo Giáo trình: Tài trợ dự án - nhà xuất bản Học Viện Ngân Hàng Các tạp chí: thời báo kinh tế, ngân hàng, đầu tư Các website : Viettrade.gov.vn Tinkinhte.com vietbao.vn lefaso.org.vn vntrades.com vneconomy.vn
  5. Phần 1: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tác động rất lớn tới mọi ngành kinh tế của nước ta. Gia nhập WTO có nghĩa là chúng ta bước sâu hơn vào sân chơi kinh tế thế giới, tạo ra cho chúng ta nhiều cơ hội để phát triển kinh tế, đặc biệt là cánh cửa xuất khẩu được mở rộng hơn. Bước vào sân chơi WTO tạo ra những cơ hội lớn song nhiều người đã lo ngại việc xuất khẩu của Việt Nam. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi cạnh tranh với các doanh nghiệp xuất khẩu cuả nước ngoài, đặc biệt là các quốc gia có các mặt hàng tương đồng với chúng ta. Trong các mặt hàng xuất khẩu của nước ta. Ngành công nghiệp Da giầy luôn được đánh giá là một trong ba ngành hàng có giá trị XK cao nhất, chỉ sau ngành dầu khí và dệt may. Kim ngạch XK của ngành đạt tốc độ phát triển cao, luôn chiếm 10% trong tổng kim ngạch XK của quốc gia. Hiện nay, da giay VN được xếp trong top 10 nước xuất khẩu hàng đầu vào thị trường 25 nước EU và Mỹ (hai thị trường tiêu thụ giầy dép lớn nhất thế giới). ở khu vực châu Á, Nhật Bản đang là một trong những thị trường XK giày dép lớn nhất của VN. Chúng ta đứng thứ ba trong số các nước XK giay dép lớn nhất vào Nhật Bản, chỉ sau Trung Quốc và Italia. Với dân số hơn 86 triệu dân, Việt Nam cũng là một thị trường tiêu thụ lớn về sản phẩm giầy da. Thị trường lao động dồi dào, phù hợp cho việc phát triển các loại sản phẩm từ giầy da. Bởi đặc trưng của nghành này là cần nhiều lao động. Với những đóng góp to lớn cho đất nước và những tiềm năng phát triển trong tương lai, lĩnh vực giầy da đã gây sự chú ý và quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đây là lý do thu hút chúng tôi đến với thị trường này.
  6. Phần 2: NỘI DUNG CHÍNH I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG GIẦY DA TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thị trường quốc tế hiện nay về da giày (xếp thứ 4 về xuất khẩu giày dép), riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai sau Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam có mức tăng trưởng trung bình hàng năm 16%, đạt 3,96 tỉ USD năm 2007, đứng thứ 3 sau ngành dệt may và dầu khí. Kim ngạch xuất khẩu giày dép các loại năm 2008 đạt 4,7 tỉ USD. Dự báo đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm ngành da giày Việt Nam sẽ đạt 6,2 tỉ USD. Số liệu kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2008
  7. Về năng lực sản xuất, năng lực sản xuất của toàn ngành đạt: - Năm 2007: + Giày dép các loại: 680 triệu đôi + Cặp túi xách các loại: 88 triệu chiếc + Da thuộc thành phẩm: 150 triệu feet vuông - Năm 2008: + Giầy dép các loại: 750,00 triệu đôi
  8. + Cặp túi xách: 88,00 triệu chiếc + Da thành phẩm: 130,00 triệu feet vuông Năng lực sản xuất của ngành năm 2007 đã đạt trên 90% mức năng lực được đầu tư, có mức tăng trưởng mạnh trong 7 năm liên tiếp với mức tăng trung bình đạt 10%/năm trên 2 loại sản phẩm chính là giày dép và túi cặp các loại. Riêng sản phẩm da thuộc đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 20%/năm. Mặt hàng chủ lực của ngành vẫn tập trung chủ yếu vào giày thể thao, chiếm khoảng 51% năng lực sản xuất các sản phẩm giày dép của ngành, phù hợp với xu thế tiêu dùng của thị trường xuất khẩu. Năm 2009, ngành da giày Việt Nam xuất khẩu gần 4,1 tỷ USD, giảm khoảng 13% so với năm 2008. Sự sụt giảm về kim ngạch chủ yếu do xuất khẩu vào thị trường Mỹ giảm (năm 2009 chỉ đạt khoảng 1,1 tỷ USD, trong khi năm 2008 đã đạt tới 1,5 tỷ USD). Với thị trường Liên minh châu Âu, năm 2008, xuất khẩu da giày đạt 2,2 tỷ USD và năm 2009 vẫn đạt xấp xỉ 2,1 tỷ USD. Xuất khẩu da giày của Việt Nam ra thị trường thế giới có Bắc Mỹ (Mỹ, Mehico và Canada), 27 nước của Liên minh châu Âu và Liên bang Nga, Đông Âu. Thị trường nhập khẩu rất lớn. Trong khi đó 5 nước xuất khẩu của châu Á luôn cạnh tranh với nhau: Trung Quốc (chiếm khoảng 50%), Việt Nam hiện ở vị trí thứ hai, tiếp đến là Ấn Độ, Indonesia và Bangladesh. Tổng lượng sản xuất của 5 nước hiện đạt trên 80% dung lượng giày cần nhập khẩu trên thị trường toàn thế giới. Theo thống kê của LEFASO thì hiện tại có 185 hội viên là các doanh nghiệp (DN) đang kinh doanh các mặt hàng về da giày (bao gồm giầy, thuộc da, nguyên phụ liệu, cặp, túi xách, sữa chữa máy móc thiết bị) trong nước, trong đó có 3 DN nhà nước, 103 DN ngoài quốc doanh, 9 DN liên doanh với nước ngoài, 20 DN 100% vốn nước ngoài, 47 công ty cổ phần và 3 công ty TNHH Nhà nước một thành viên. Ngành da giày thế giới tiếp tục có xu hướng chuyển dịch sản xuất sang các nước đang phát triển, đặc biệt hướng vào các nước có môi trường đầu tư thuận lợi, chính trị ổn định và an toàn. Khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới, hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ, cùng với các chính sách thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu của Chính phủ, Việt Nam sẽ trở thành một địa điểm đầu tư lý tưởng cho các nhà sản xuất da giày.. Hiện nay, giày dép của Việt Nam đã có mặt trên hơn 50 nước trên
  9. khắp châu lục. Thị trường xuất khẩu tiềm năng của nhóm mặt hàng này là các nước phát triển có sức mua lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Canada, Australia. Bên cạnh đó, còn có thể khai thác các thị trường có sức mua không lớn nhưng chấp nhận hàng hoá phù hợp với năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam như Indonesia, Malayxia, Trung Đông, Châu Phi, Nam Á, Nga, các nước Đông Âu cũ… Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nhìn nhận thực tế rằng năng lực xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam trên thị trường xuất khẩu thế giới còn chưa cao do mẫu mã chưa đẹp, chưa tự đảm bảo vật tư nguyên liệu trong nước, điều kiện kinh tế và hạ tầng dịch vụ của Việt Nam còn nhiều hạn chế, giá thành chi phí sản xuất cao, ưu thế về nhân công lao động tuy vẫn là nhân tố cạnh tranh, nhưng không còn thuận lợi như trước đây. Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì dù có đến 90% sản lượng xuất khẩu, nhưng lợi nhuận thu về từ ngành này chỉ đạt mức 25% giá trị gia tăng, vì ngành này chủ yếu vẫn là lấy công làm lãi. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của ngành da giày: Gia nhập WTO tạo cho ngành da giày Việt Nam gia tăng các luồng chuyển giao vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy giao lưu văn hoá, trí tuệ, củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, phát triển văn minh vật chất và tinh thần tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển thị trường quốc tế. Song, hội nhập cũng mang lại không ít khó khăn và thách thức. Các doanh nghiệp sản xuất giày da Việt Nam đang gặp phải cạnh tranh gay gắt từ các thế lực kinh tế mạnh trong khu vực và quốc tế như Brazil, Trung Quốc và một số nước ASEAN. II. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG CƠ HỘI Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần thúc đẩy các cơ hội phát triển ngành da giày, việc chuyển giao công nghệ theo chu kỳ nhanh hơn phù hợp với yêu cầu khắt khe của thị trường. Việc gia nhập tổ chức mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) tạo điều kiện việc giao lưu hàng hoá thông suốt, ít cản trở, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan, ưu đãi về thuế quan tạo điều kiện cho ngành hàng da giày thâm nhập vào thị trường khu vực. Các thị trường XK giày dép VN năm 2008 EU 54%
  10. Mỹ 23% Đông Á 8% Các nước khác 15% Ngành da giày là ngành sử dụng nhiều lao động xã hội. Tính đến hết năm 2008, toàn ngành đã thu hút 610.000 lao động (chưa kể số lao động sản xuất trong lĩnh vực nguyên phụ liệu và lao động tại các cơ sở nhỏ, các hộ gia đình và các làng nghề có thể lên tới hơn 1 triệu lao động) chiếm 9% lực lượng lao động công nghiệp. Đây có thể được coi là lợi thế so sánh với mức chi phí nhân công thấp. Trong những năm gần đây công tác xúc tiến thương mại đã bắt đầu được chú trọng. Toàn ngành đã có những hoạt động tích cực nhằm tăng cường tuyên truyền và quảng bá hình ảnh của ngành da giày Việt Nam như một quốc gia sản xuất và xuất khẩu da giày tiềm năng, nâng cao năng lực hiểu biết về kiến thức pháp luật, thị trường, phòng ngừa các vụ kiện bán phá giá và vận dụng luật để đấu tranh trong các vụ tranh chấp thương mại. Phương thức bán hàng tại các doanh nghiệp đã có nhiều đổi mới, hình thành nhiều mạng lưới bán buôn, bán lẻ, tham gia vào các kênh phân phối của các tập đoàn xuyên quốc gia, phát triển hình thức thương mại điện tử. Với dân số trên 80 triệu dân là một thị trường đầy tiềm năng cho thị trường nội địa. Mặt khác, với đời sống ngày càng được nâng cao, khả năng mua sắm của xã hội ngày càng được cải thiện, đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào thế giới làm cho ngành du lịch phát triển là những cơ hội để ngành da giày phát triển theo hướng xuất khẩu trực tiếp ngay trên sân nhà. Chế độ xã hội ổn định và đang tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển thông qua cơ chế chính sách phù hợp với tình hình trong nước và thông lệ quốc tế. Về thị trường xuất khẩu, thị trường xuất khẩu da giày Việt Nam ngày càng được mở rộng và ổn định cụ thể: Thị trường EU: Trong những năm vừa qua, giày dép Việt Nam xuất khẩu vào EU tăng trưởng nhanh về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu. Hết năm 2008, EU vẫn là thị trường lớn nhất tiêu thụ giày dép của Việt Nam với doanh thu 2,5 tỉ USD, tăng 33,9% so với năm 2006 và chiếm 54% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam.
  11. Thị trường Mỹ: Năm 2004, Việt Nam đã vượt Italia và trở thành nhà cung cấp lớn thứ tư sau Trung Quốc, Brazil, Indonesia. Trong năm 2008, xuất khẩu vào Mỹ 1 tỉ USD, tăng 30% so với năm 2006. Tháng 1/2009, xuất khẩu giày dép vào Mỹ giảm 0,07% so với năm 2008, đạt 86,3 triệu USD, mặc dù vậy, đây vẫn là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của toàn ngành. Hiện nay và trong những năm tới, Mỹ sẽ là thị trường xuất khẩu mục tiêu đối với sản phẩm giày dép của Việt Nam và các sản phẩm xuất khẩu chính sẽ là giày thể thao, giày da nam nữ. Thị trường các nước Đông Á: Đây là khu vực thị trường có những phong tục tập quán tương đối giống Việt Nam, cùng nằm ở khu vực châu Á. Các sản phẩm chủ yếu xuất khẩu từ Việt Nam sang các thị trường này là giày thể thao, giày da nam nữ, dép đi trong nhà. Năm 2008, xuất khẩu vào: Nhật Bản đạt 137,6 triệu USD, Trung Quốc đạt 107,2 triệu USD, Hàn Quốc đạt 64,3 triệu USD. THÁCH THỨC Thách thức trước hết phải kể đến là sự cạnh tranh khốc liệt của Trung Quốc, một đất nước có thế mạnh về mặt hàng giày dép. Gần đây Trung Quốc là có thêm lợi thế với việc gia WTO. Mặt hàng giày dép xuất khẩu của Trung Quốc có ưu thế hơn giày dép xuất khẩu của Việt Nam do trình độ công nghệ của Trung Quốc tiên tiến hơn, mẫu mã của họ đẹp và đa dạng hơn. Tuy sức mua của thị trường truyền thống (EU) vẫn giữ ở mức ổn định nhưng Việt Nam bị chịu nhiều sức ép hơn về thuế và các rào cản so với một số nước như Brazil, Indonesia... đặc biệt từ ngày 6 tháng 10 năm 2006, EU áp thuế chống bán phá giá giày mũ da sản xuất tại Việt Nam xuất khẩu sang EU là 10%. Xuất khẩu vào thị trường Mỹ tăng mạnh trong những năm gần đây nhưng thị phần của Việt Nam cũng mới chỉ chiếm 2,1% về số lượng so với 83,5% của Trung Quốc. Đối với các thị trường xuất khẩu khác như Liên bang Nga, các nước Đông Âu, Trung Đông, châu Phi, tuy không yêu cầu cao về mẫu mã và chất lượng nhưng hàng Việt Nam vẫn không thể thâm nhập mạnh vào thị trường các nước này. Nhiều nước châu Phi đánh thuế nhập khẩu rất cao
  12. thậm chí là cấm các mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam làm cho ngành da giày khó có thể thâm nhập vào thị trường này. Nguyên vật liệu sản xuất của ngành da giày chiếm đến 80% giá trị của sản phẩm trong đó ngành sản xuất da đóng vai trò quan trọng nhất. Theo Hiệp hội da giày Việt Nam, nhu cầu da thuộc năm 2007 của toàn ngành khoảng 350 triệu feet vuông, trong khi đó các nhà máy thuộc da của Việt Nam và nước ngoài đầu tư tại Việt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu da thuộc của cả nước, 80% còn lại phải nhập khẩu. Ngành phụ liệu sản xuất còn trầm trọng hơn, các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ sản xuất được một vài mặt hàng rất hạn chế như nhãn, ren, dây giày... nhưng lại “bỏ ngỏ” những loại phụ kiện tinh xảo là các sản phẩm nhựa có xi mạ như khoen, móc, cườm, các vật trang trí trên giày, đặc biệt là giày nữ và giày trẻ em. Năng lực sản xuất của ngành chủ yếu tại các cơ sở ngoài quốc doanh và có yếu tố nước ngoài, chiếm trên 90% năng lực của cả ngành, chứng tỏ năng lực ngành phụ thuộc hoàn toàn vào làn sóng đầu tư của tư bản tư nhân trong nước và quốc tế. Tuy có lợi thế giá nhân công rẻ, nguồn cung ứng lao động dồi dào do dân số trẻ, nhưng năng suất lao động của người Việt Nam rất thấp, trung bình trên 1 dây chuyền 450 lao động đạt mức sản lượng 500.000 đôi/năm, chỉ bằng 1/35 năng suất lao động của người Nhật, 1/30 củaThái Lan, 1/20 của Malaysia và 1/10 của Indonesia. Hiện nay trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam đang ở mức trung bình và trung bình khá, song khá lệ thuộc vào nước ngoài về trang bị máy móc. Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế...Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài. Điều này còn dẫn đến việc ngành có nguy cơ mất khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế. So với Quy hoạch, giai đoạn 2000 - 2010, xuất khẩu giày dép chỉ đạt được 85,5%, tỷ lệ nội địa hoá nguyên phụ liệu đạt 40%, không xây dựng được các cụm công nghiệp, trung tâm xúc tiến thương mại chuyên ngành, cũng chưa đầu tư được dây chuyền thiết bị tự động hoá trong thiết kế sản phẩm...
  13. Các DN lớn của Ngành Da giày VN có quy mô đồng bộ hiện cũng chỉ chú trọng làm hàng xuất khẩu mà không chú trọng tới tiêu thụ trong nước. Thậm chí, trong mục tiêu phát triển ngành da giày VN đến 2010 cũng nhấn mạnh tới xuất khẩu... Chính vì vậy mà ngươì tiêu dùng trong nước cũng không mặn mà gì đối với hàng nội, mặc dù chất lượng giày, dép của VN không thua kém gì hàng ngoại, thậm chí có phần còn trội hơn. Hàng ngoại làm tốt công tác tiếp thị nên đã tràn lan trên thị trường giày, dép của Việt Nam với mẫu mã, kiểu dáng phong phú, giá rẻ... nên đã gây không ít khó khăn cho các DN lấy thị trường trong nước làm mục tiêu phục vụ. Bỏ trống thị trường trong nước, không chú ý làm tốt công tác marketing cũng như tự hoàn thiện, chấp nhận gia công cho các tập đoàn giày, dép nước ngoài... Đó đang là những điểm yếu mà ngành Giày da Việt Nam cần biết và có biện pháp khắc phục để phát triển bền vững./. Nguyên nhân là nguyên vật liệu phải nhập, sản phẩm chưa có thương hiệu, nội lực của các doanh nghiệp, đặc biệt là DN trong nước còn yếu, đầu tư không có chất lượng. Ngoài ra, xuất khẩu da giày còn bị hạn chế vì bị EC áp thuế giày mũ da và không được hưởng thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) dành cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó chủ yếu là giày dép, bình quân mỗi đôi giày xuất sang EU phải tăng thuế từ 3,5 – 5%. Như vậy, nếu tính gộp cả thuế này và thuế chống bán phá giá, giày da Việt Nam vào EU chịu thuế 15%, mất lợi thế cạnh tranh với các nước khác như Indonexia, Bangladesh… Da giày là ngành xuất khẩu lớn, tạo nhiều việc làm cho lao động, nhưng thực tế là lao động chủ yếu chưa qua đào tạo, thu nhập bình quân thấp... Trong khi giá cả biến động, mức lương bình quân trong ngành da giày là 1.640.000 đồng/tháng chưa hấp dẫn với người lao động. Đây cũng là lý do xảy ra biến động lao động thường xuyên trong ngành da giày. Tuy nhiên, trong bối cảnh chi phí đầu vào sản xuất gia tăng, lợi nhuận của ngành cũng bị giảm đáng kể (năm 2000 đạt 425,8 tỷ đồng, thì đến năm 2008 chỉ đạt 378,5 tỷ đồng), việc tăng thu nhập cho người lao động là bất khả thi. Ngành da giày nước ta đang phải đối mặt với những điểm yếu lớn và tồn tại dai dẳng, đó là phương thức sản xuất gia công không toàn diện, gia công là chủ yếu; lợi nhuận gia công thấp; khả năng cung ứng nguyên phụ liệu kém; chưa có đội ngũ thiết kế giày dép và thiếu lao động quản lý có trình độ cao; thiếu liên kết giữa các DN trong ngành.
  14. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giầy da của nước ta còn quá chú trọng vào hoạt động xuất khẩu. Trong khi đó thị trường trong nước đang ‘bỏ trống, chưa khai thác được hết tiềm năng từ thị trường nội địa. III. DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG GIẦY DA Năm 2010, ngành da giày đề ra kế hoạch tăng trưởng từ 10 – 15%, đảm bảo doanh số xuất khẩu 4,5 – 5 tỷ USD. 1. THỊ TRƯỜNG CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG Tổng doanh thu của thị trường giày dép tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương phần lớn thu được từ việc bán các loại giày dép nam, nữ và trẻ em. Năm 2008, tổng doanh thu mặt hàng giày dép tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là 34.321,4 triệu đôla Mỹ, đạt tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm (CAGR) là 4,3% trong giai đoạn 2004 - 2008. Dự báo trong thời gian tới thị trường giày dép tại đây sẽ tăng trưởng mạnh hơn, với tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm CAGR đạt 4,5% trong giai đoạn 5 năm từ 2008 đến 2013, và tính đến cuối năm 2013 sẽ đạt 42.670,3 triệu đô la Mỹ. Tốc độ tăng trưởng của thị trường Trung Quốc là 10,7% (tương đương 11.683,1 triệu đô la Mỹ) và Hàn Quốc là 4% (tương đương 1.868,4 triệu đô la Mỹ). Các nhà bán lẻ quần áo, giày dép, trang phục thể thao và phụ kiện thời trang là các nhà phân phối thu được lợi nhiều nhất từ thị trường thị trường giày dép tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trong năm 2008 với tổng doanh thu là 22.623,9 triệu USD, tương đương 65,9% tổng giá trị doanh thu của của tất cả loại hàng hóa. Trong khi đó, doanh thu bán hàng từ các cửa hàng bách hóa năm 2008 đạt 7.207,5 triệu đô la Mỹ, tương đương 21% tổng doanh thu của cả thị trường. Giá trị thị trường Giày dép Châu Á - Thái Bình Dương
  15. Trong năm 2008, thị trường giày dép Châu Á-Thái Bình Dương tăng 3,9% đạt 34,3 tỉ đôla Mỹ. Tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm của thị trường này trong giai đoạn 2004 - 2008 đạt 4,3%. Dự báo thị trường giày dép Châu Á-Thái Bình Dương Năm 2013, thị trường giày dép châu Á-Thái Bình Dương được dự báo sẽ đạt giá trị 42,7 tỉ đôla Mỹ, tăng 24,3% so với năm 2008. Tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm của thị trường trong giai đoạn 2008 - 2013 ước đạt 4,5%.
  16. (Châu Á - Thái Bình Dương bao gồm Úc, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan.) THỊ TRƯỜNG EU Kim ngạch giày da có nguy cơ tiếp tục giảm Bắt đầu từ 3/1/2010, sản phẩm giày mũ da xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU tiếp tục “mắc cạn” 10% "thuế chống bán phá giá". Mặc dù, suốt ba năm qua, việc EU áp thuế mức thuế 10% đối với mặt hàng giày da của Việt Nam, đồng thời quyết định loại bỏ ngành giày da Việt Nam khỏi diện được hưởng Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) giai đoạn 2009 – 2011 mà EC đưa ra vào tháng 6/2008 đã gây ra những thiệt hại rất lớn cho ngành công nghiệp giày da của Việt Nam. Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào thị trường EU đã giảm sút rất lớn. Cụ thể những năm bị áp thuế chống bán phá giá, kim ngạch của lĩnh vực này xuất khẩu vào EU trung bình giảm trên 20%/năm. Riêng trong 9 tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch giày dép xuất khẩu đã giảm 11,2% so với cùng kỳ năm 2008. Đồng thời cũng làm giảm đi đáng kể sức cạnh tranh của sản phẩm gia dày Việt Nam so với sản phẩm cùng loại của các nước khác. Nguy cơ lớn tới đây, trong điều kiện kinh tế thế giới và tiêu dùng của người dân vẫn còn khó khăn, với mức thuế “bị” áp trên, thì các sản phẩm cùng giá, cùng chủng loại của Việt Nam so với sản phẩm giày mũ da của các nước
  17. khác giá sẽ cao hơn, như thế các nhà nhập khẩu của châu Âu phải tính toán đến nhập khẩu ở các quốc gia khác không bị áp thuế. “Nên nguy cơ giảm kim ngạch xuất khẩu sản phẩm giầy mũ da của Việt Nam vào thị trường EU so với tiềm năng là rất lớn” Nếu EC không thay đổi chính sách thuế đối với giầy da xuất khẩu của Việt Nam thì kim ngạch xuất khẩu sản phẩm giầy da trong những năm tới sẽ sụt giảm. Thị trường Châu Mỹ. Gần đây, một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đang chuyển hướng vào những thị trường mới ‘dễ chịu hơn’. Đó là thị trường ở Châu Mỹ. Tuy nhiên khi xâm nhập vào các thị trường mới này, cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.vì vậy công tác dự báo về thị trường này là rất khó khăn, nhất là trong bối cảnh nên kinh tế như hiện nay Tóm lại, khả năng dự báo về kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường chính ở nước ngoài là khó lường, bởi chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước và sự thay đổi diễn ra thường xuyên và có xu hướng mạnh mẽ hơn. Điều này làm cho các doanh nghiệp đứng trước nhiều rủi ro và những thách thức mới. Thị trường nội địa Trong những năm qua, các doanh nghiệp đã quá chú trong vào xuất khẩu, thị trường nội địa bị ‘bỏ trống’. Các doanh nghiệp đã không đánh giá đúng tiềm năng của thị trường này. Gần đây thị trường xuât khẩu và thâm nhập vào thị trường nước ngoài gặp nhiều khó khăn, sản lượng xuất khẩu sụt giảm mạnh nên các doanh nghiệp bắt đầu ‘hướng nội’. Với dân số Việt Nam đông nên sẽ là thị trường có mức tiêu thụ lớn. Vì vậy trong những năm tới thị phần của các doanh nghiệp trong nước có xu hướng tăng hơn Thị trường nội địa sẽ được nhà nước khuyến khích và hỗ trợ phát triển nên việc đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm giầy da trong nước sẽ dễ dàng hơn cho các doanh nghiệp. và lại tiết kiệm được chi phí, mức độ an toàn cao hơn Vấn đề đặt ra cho nhà nước là việc hạn chế việc nhập khẩu trái phép của giầy da Trung Quốc, nều làm tốt điều này thì thị trường trong nước sẽ thu hút được các doanh nghiệp trong nước. IV. NHỮNG ĐIỂM CẦN QUAN TÂM KHI ĐÂU TƯ VÀO THI TRƯỜNG GIẤY DA
  18. 1. Một số giải pháp đê phát triển tốt thị trường giầy da Để phát triển tốt trong những năm tới, ngành da giày nên nghiên cứu một số giải pháp như sau: Hình thành chợ nguyên phụ liệu cho ngành dệt may và da giày để phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất của hai ngành này. Xem xét việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư xây dựng và kinh doanh chợ nguyên phụ liệu cho dệt may, da giày. Tăng cường tìm kiếm bạn hàng, mở rộng thị trường ra những thị trường mới, tăng cường ký kết hợp đồng xuất khẩu trực tiếp trên cơ sở tăng cường năng lực thiết kế mẫu mã sản phẩm và gia tăng tỷ lệ nguyên phụ liệu trong nước tự đáp ứng được. Đẩy mạnh khai thác những thị trường ngách, thị trường nhỏ nhưng chấp nhận mức giá cao và ưa thích các sản phẩm đặc thù. Đầu tư cho việc nghiên cứu mẫu, mã, mốt thời trang quốc tế, nắm bắt kịp thời xu thế lớn trong ngành thời trang. Nhà sản xuất phải thể hiện được phong cách riêng với khách hàng, đa dạng hoá sản phẩm, phương thức kinh doanh. 2. Một số yêu cần khi thâm nhập vào thị trường giầy da chính Thông thường DN cần quan tâm đến ba nhóm yêu cầu cơ bản:  Yêu cầu pháp lý: các luật, qui định liên quan đến nhập khẩu giày dép vào nước sở tại  Yêu cầu thuế quan: các qui định về thuế suất nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, thuế chống bán phá giá...  Yêu cầu thị trường: Các yêu cầu do nhà mua tại thị trường đó đặt ra, như chất lượng sản phẩm, điều kiện giao hàng, dịch vụ hỗ trợ ... 2.1. Thị trường EU Giày dép xuất khẩu sang thị trường EU phải đáp ứng các yêu cầu về thuế quan, pháp lý và thị trường. uy là cùng nằm trong khối EU, từng nước nhập khẩu cụ thể có thể có thêm các yêu cầu đặc thù. Các nhà xuất khẩu cần xem xét kỹ yêu cầu pháp lý cụ thể ở từng nước trước khi đưa sản phẩm vào nước đó.
  19. Trang web hỗ trợ các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển của CBI giúp cung cấp thông tin về mức thuế nhập khẩu, thủ tục hải quan theo từng mã hàng cụ thể: http://exporthelp.europa.eu/ 2.1.1 Yêu cầu pháp lý Yêu cầu pháp lý EU đối với các sản phẩm là bắt buộc đối với tất cả các nguyên liệu và sản phẩm giày dép được xuất khẩu sang EU. Các yêu cầu này bao gồm tiêu chuẩn về dán nhãn mác và bao gói phù hợp với môi trường, sức khoẻ và an toàn của người tiêu dùng. DN có thể tham khảo các yêu cầu pháp lý cập nhật của EU và từng nước cụ thể, ví dụ luật mới về hóa chất REACH (có hiệu lực 1/6/2007) ở đây: http://www.cbi.eu/marketinfo/cbi/docs/eu_legislation_reach_what_ex porters_need_to_know 2.1.1.1. Nhãn mác Việc dán nhãn trên giày dép hoặc trên các phụ kiện chính được bán riêng lẻ, phải tuân thủ theo các quy định về dán nhãn của Liên minh Châu Âu (EU). Cơ sở pháp lý của yêu cầu nhãn mác là Chỉ thị 94/11/EC của Nghị viện Châu ÂU và của Uỷ ban ngày 23 tháng 3 năm 1994 về các luật lệ, quy định và các điều khoản hành chính của các quốc gia thành viên liên quan đến dán nhãn nguyên vật liệu được sử dụng trong các bộ phận chính của giày dép để bán cho người tiêu dùng (OJ L-100 19/04/1994). Nội dung: Nhãn mác phải miêu tả rõ những nguyên vật liệu của 3 phần chính trên mặt hàng giày dép (phần mặt trên, phần vải lót và đế giày), nêu rõ trong từng trường hợp là "da", "da thuộc", "vải" hay "loại khác". Nếu không có loại vật liệu nào chiếm ít nhất 80 % sản phẩm thì nhãn mác phải nêu rõ thông tin về 2 vật liệu chính đã được sử dụng tạo thành sản phẩm.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản