Đề tài "PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY"

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:136

0
394
lượt xem
265
download

Đề tài "PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, các quan hệ kinh tế ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Mục đích tìm kiếm lợi nhuận chẳng những là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu kinh tế, mà còn là lý do tồn tại của các chủ thể kinh tế. Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dưới sự tác động trực tiếp...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài "PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY"

  1. LUẬN VĂN TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
  2. Mục lục TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ................................ 4 I. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ TỐ TỤNG KINH TẾ .... 4 1. Khái niệm tranh chấp kinh tế: ............................ 4 2. Khái niệm tố tụng kinh tế: ............................... 5 II. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC BAN HÀNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ ............... 6 III. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ TẠI VIỆT NAM .......................................... 7 1.Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:..................... 8 2. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hoà giải: .................. 10 3. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án. ................... 11 4. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài .................. 16 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT ................... 27 TRANH CHẤP KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............. 27 I. CÁC LOẠI TRANH CHẤP PHỔ BIẾN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ... 28 1. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện lao vụ: ......................................... 28 2. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhận hàng hoá công việc: ................................ 31 II. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TIỀN KHỞI KIỆN ........................................ 41 1. Thương lượng: ..................................... 41 2. Hoà giải ......................................... 43 3. Các bước của quá trình hoà giải: ......................... 47 4. Thời gian hoà giải: .................................. 49 III. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ BẰNG TÒA ÁN ....... 50 1. Thủ tục tố tụng vụ án kinh tế ............................ 50 2. KẾT QUẢ THỤ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT ÁN KINH TẾ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN ........................................ 56 3 Thuận lợi và khó trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án.. 57 IV. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 64 1. Kết quả hoạt động xét xử của các Trung tâm Trọng tài ........... 65 2.Thuận lợi và khó khăn................................. 65
  3. CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở NƯỚC TA ....................... 68 I. LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ ................................................. 68 1. Ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp giải quyết tranh chấp trước khi đi kiện: ......................................... 69 2. Nhược điểm của đi kiện ở Toà án so với đi kiện ở các Trung tâm trọng tài: ................................................. 70 II. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ ......................... 73 1. Các biện pháp phòng ngừa tranh chấp kinh tế: ................ 73 2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp: ....... 78 KẾT LUẬN. ........................................ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO. ............................... 88
  4. TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY I. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ TỐ TỤNG KINH TẾ 1. Khái niệm tranh chấp kinh tế: Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, các quan hệ kinh tế ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Mục đích tìm kiếm lợi nhuận chẳng những là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu kinh tế, mà còn là lý do tồn tại của các chủ thể kinh tế. Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dưới sự tác động trực tiếp của quy luật cạnh tranh, tranh chấp kinh tế cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Chính vì vậy, việc áp dụng hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm nguyên tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, thông qua đó góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Tranh chấp kinh tế là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Như vậy tranh chấp kinh tế có thể phát sinh trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, dù tồn tại dưới hình thức nào và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, nhưng đặc trưng chung của tranh chấp kinh tế là luôn gắn liền với hoạt động kinh tế và chủ thể tham gia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên Tranh chấp kinh tế khác với tranh chấp dân sự ở một số điểm sau:  Tranh chấp kinh tế thường chỉ gắn liền với những yếu tố tài sản, những lợi ích của các bên có tranh chấp và chỉ phát sinh từ các quan hệ vì mục đích kinh doanh, các tranh chấp dân sự vừa mang tính chất tài sản, tính chất nhân thân phi tài sản.  Giá trị tranh chấp kinh tế thường rất lớn, các tranh chấp kinh tế thường làm ảnh hưởng kinh tế không những cho bên cùng tranh chấp mà còn làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của cả cộng đồng kinh doanh nữa. Do đó, tranh chấp kinh tế thường có tính nguy hiểm hơn tranh chấp dân sự.
  5.  Bên bị vi phạm trong quan hệ kinh tế không những được bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) giống như bên bị vi phạm trong quan hệ luật dân sự mà có quyền đòi hỏi phạt vi phạm hợp đồng kinh tế.  Chủ thể trong quan hệ có tranh chấp kinh tế chủ yếu là chủ thể kinh doanh khi tham gia quan hệ kinh doanh hoặc nếu không trực tiếp kinh doanh thì ít nhất họ là những người tiến hành hành vi đầu tư vốn nhằm mục đích kinh doanh sinh lời. Trong khi đó tranh chấp dân sự chủ yếu phát sinh từ các chủ thể không tham gia kinh doanh. Tranh chấp kinh tế gồm các loại sau:  Tranh chấp Hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.  Tranh chấp giữa Công ty với thành viên Công ty hoặc giữa thành viên Công ty với nhau liên quan đến việc thiết lập hoạt động hoặc giải thể công ty.  Tranh chấp đến việc mua bán chứng khoán (Cổ phiếu, Trái phiếu);  Và các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật; Trong điều kiện kinh tế thị trường sự đa dạng về đối tượng cũng như sự xuất hiện của các thị trường yếu tố phi truyền thống đã làm phát sinh nhiều tranh chấp mới như tranh chấp về thương hiệu, Ly- xăng, tranh chấp về quảng cáo... Những tranh chấp kinh tế xảy ra mà được cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết theo một trình tự thủ tục nguyên tắc nhất định thì được gọi là "Vụ án kinh tế". 2. Khái niệm tố tụng kinh tế: Tố tụng kinh tế là một chế định pháp luật quan trọng của pháp luật kinh tế, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ tố tụng giữa cơ quan toà án và người tham gia tố tụng, trong quá trình toà án giải quyết các vụ án kinh tế để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Cũng có thể hiểu tố tụng kinh tế là quá trình cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế theo một trình tự nhất định. Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế như trên có thể thấy các tranh chấp kinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tế được mở rộng hơn trước và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trước. Vì vậy, pháp luật áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt và mềm dẻo hơn, các cơ quan tài phán vừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, vừa phải thay đổi phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế mở như hiện nay của nước ta.
  6. II. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC BAN HÀNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ 1. Sau chiến thắng mùa xuân 1975, cả nước ta bước vào giai đoạn lịch sử mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế quản lý cũ tập trung, quan liêu bao cấp trong thời kỳ chiến tranh đã không phát huy tác dụng tích cực mà còn làm trì trệ sự phát triển kinh tế, gây nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội, trước tình hình trên Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã kịp thời chỉ ra mặt yếu kém, sai lầm chủ quan duy ý chí trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp, đề ra đường lối đổi mới toàn diện đặc biệt đường lối phát triển kinh tế. Đường lối đổi mới đó được hoàn thiện và chính thức đưa vào đời sống xã hội bằng pháp luật đó là Hiến pháp 1992, đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường ở nước ta. Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tư pháp và các Cơ quan tài phán nói chung và các cơ quan tài phán kinh tế nói riêng cũng nằm trong khuôn khổ của công cuộc đổi mới này. Đáp ứng các đòi hỏi tất yếu khách quan đó Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt nam khoá IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật sửa đổi bổ xung Luật tổ chức Toà án nhân dân với những qui định và chức năng mới của toà án là giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp và pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế cũng được ban hành với tư cách là luật nội dung để giải quyết các tranh chấp kinh tế trong cơ chế mới. Pháp lệnh Hội đồng trọng tài kinh tế ban hành ngày 12/1/1990 cũng không còn phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần nữa. Bởi trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan thuộc hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước nhưng lại có thẩm quyền xét xử. Đây là một cơ quan vừa có chức năng quản lý lại vừa có chức năng của cơ quan tư pháp, kèm theo đó thực lực của đội ngũ trọng tài viên còn hạn chế. Các quyết định của trọng tài kinh tế không có một cơ chế thi hành hiệu quả, chủ yếu chỉ mong vào sự tự nguyện của bên phải thi hành. 2. Nhằm hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nhà nước ta thực hiện một chính sách kinh tế mở. Mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta vừa thu hút được đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, vừa nắm bắt được những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến và kinh nghiệm kinh doanh của các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Vấn đề đặt ra là khi mở rộng các quan hệ kinh tế chúng ta buộc phải xem xét, chấp nhận những tập quán thương mại quốc tế và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế về các lĩnh vực thương mại kinh doanh quốc tế.
  7. Mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế đã tác động tích cực vào nền kinh tế của chúng ta làm các hoạt động kinh doanh trở nên đa dạng, sôi động và đương nhiên dẫn đến sẽ có phát sinh các tranh chấp trong hoạt động kinh tế ngày càng nhiều và gay gắt. Các chủ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam họ đều quan tâm đến sự bảo đảm về mặt pháp lý cho hoạt động kinh doanh của mình và pháp luật phải bảo đảm đầy đủ các quyền và lợi ích chính đáng của họ khi nảy sinh các tranh chấp. Chính vì vậy khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam ngoài các yếu tố đảm bảo về mặt pháp lý cho hoạt động kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thì các chủ đầu tư cũng đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, giải quyết các tranh chấp phải nhanh chóng, có hiệu lực mới bảo đảm quyền lợi chính đáng của họ. III. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ TẠI VIỆT NAM Việc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi quan niệm về một loạt vấn đề xung quanh các chế định hợp đồng kinh tế (HĐKT), tranh chấp kinh tế, tài phán kinh tế, quyền tự do của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế, vị trí của cơ quan tài phán kinh tế trong bộ máy Nhà nước v.v. Từ năm 1987 - 1990, nước ta đã có nhiều cố gắng để tiếp tục phát huy vai trò của trọng tài kinh tế. Do đó năm 1989 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và năm 1990 ban hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế với mục đích làm cho hai chế định này thích nghi với cơ chế quản lý kinh tế mới và mới đây Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/PL UBTVQH 11 ban hành ngày 25/2/2003 nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tính tương thích với các quy định của luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 1992 ra đời đã đánh dấu những thay đổi quan trọng trong chế độ kinh tế của Nhà nước CHXHCN Việt nam và phần nào đã làm cho sự tồn tại của hệ thống trọng tài kinh tế trở nên không còn phù hợp. Đó là những nguyên tắc như đa dạng hóa các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cá nhân được tự do kinh doanh, tự do thành lập doanh nghiệp, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh đúng pháp luật của các doanh nghiệp... Tranh chấp kinh tế tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh vì vậy, giải quyết tranh chấp phát sinh được coi như là đòi hỏi tự thân của quá trình kinh tế. Theo cách hiểu thông thường giải quyết tranh chấp kinh tế là cách thức,
  8. phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội. Khi xảy ra tranh chấp các chủ thể kinh doanh đều muốn giải quyết tranh chấp kinh tế được nhanh chóng và thuận lợi, từ đó các chủ thể kinh doanh có nhu cầu lựa chọn một hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế phù hợp với mình. 1.Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng: Khái niệm, đặc điểm: a. Khái niệm: Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các bên cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ hợp đồng của mình mà không có sự tham gia của bên thứ ba. b. Đặc điểm: - Thương lượng là một phương pháp tự giải quyết tranh chấp của các bên. - Thương lượng không mang tính chất bắt buộc trừ khi hợp đồng có quy định và không đòi hỏi sự can thiệp hành chính của bất cứ một thiết chế nào. Thương lượng được áp dụng tương đối phổ biến để giải quyết tranh chấp kinh tế thời gian và chi phí giành cho cuộc thương lượng thông thường phụ thuộc vào tính chất và trị giá tranh chấp. Tuy nhiên, trong thực tế thương lượng lại phụ thuộc vào thiện trí của các bên và cách thức thương lượng là thương lượng trực tiếp hay thông qua thư tín, telex, fax .... Việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhằm gạt bỏ các ý kiến bất đồng để đạt tới sự thống nhất, thiện trí là một phương pháp giải quyết tranh chấp rất phổ biến ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Á Đông. Theo Điều 7 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Các tranh chấp phát sinh khi thực hiện hợp đồng kinh tế được giải quyết bằng cách tự thương lượng giữa các bên với nhau hoặc đưa ra trọng tài kinh tế”. Phương thức thương lượng này đẩy nhanh tốc độ giải quyết tranh chấp giữa hai bên bày tỏ thái độ tôn trọng bên vi phạm hợp đồng cũng như để hai bên hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp dẫn đến sự thiện trí của cả hai bên. - Trong các hợp đồng kinh tế, tại điều khoản về xử lý tranh chấp thường được ghi: “ Các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng trước hết được giải quyết thông qua đàm phán, thương lượng giữa các bên. Nếu tranh chấp không giải quyết được bằng thương lượng sẽ được đem ra xét xử tại (toà án hoặc trọng tài) theo quy tắc của (toà án, trọng tài) phí xét xử sẽ do bên thua kiện chịu” điều này càng chức tỏ một trong những đặc điểm nổi bật của thương lượng là " hình thức tự giải quyết tranh chấp" được áp dụng phổ biến nhất.
  9. 1.2 Cách thức thương lượng: a. Thương lượng bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Thương lượng bằng cách gặp nhau trực tiếp là việc các bên cử đại diện của mình gặp mặt nhau tại một địa điểm nhất định trong một thời gian xác định để bàn bạc vấn đề tranh chấp nhằm đưa ra các giải pháp giải quyết tranh chấp. b. Thương lượng thông qua thư từ, điện tín, telex... Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ điện tử Internet, email thì việc thương lượng giữa các bên đương sự được thực hiện hết sức thuận lợi. Tuy vậy tất cả các thư từ điện tín email đều phải được trả lời một cách nhanh chóng cho dù nguyên nhân tranh chấp là do phía mình gây ra cũng cần phải được trả lời sớm, để giải quyết thoả đáng nếu trì hoãn hoặc cố tình quên không trả lời sẽ gây ấn tượng xấu. Khi xem xét những điểm cơ bản về phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế thông qua thương lượng cho thấy rằng phương pháp này cũng có một số điểm hạn chế nhất định, cụ thể do sự thành công hay thất bại của việc thương lượng chủ yếu phụ thuộc vào thái độ thiện chí của các bên tranh chấp nên chỉ cần một trong các bên đương sự thiếu thiện chí thì quá trình thương lượng có thể đi đến chỗ bế tắc buộc các bên phải tìm kiếm hình thức giải quyết tranh chấp khác. Một số bước thương lượng, đàm phán lại để gỡ rối khi các bên tranh chấp bế tắc: Bước 1: Trong một số trường hợp, cuộc thương lượng giải quyết tranh chấp gặp bế tắc, điều quan trọng nhất là các bên tìm được giải pháp thích hợp, vấn đề sẽ đơn giản hơn nhiều nếu hai bên có thiện chí và tìm cách xử lý hợp lý. Khi đối mặt với những tình huống gay cấn, trước hết các bên phải thật bình tĩnh, tập trung tìm các phương pháp khắc phục những vướng mắc để đi tới thống nhất, sự bình tĩnh sẽ mang lại cho cả hai bên một thái độ tích cực làm cho việc giải quyết tranh chấp đi theo hướng thuận lợi. Hai bên lần lượt đưa ra các giải pháp của mình, tránh tranh luận cái nào tốt và hợp lý hơn cái nào. Sau đó, tất cả các giải pháp được gộp thành một bản danh sách lần lượt sắp xếp chúng theo thứ tự cho là thích hợp nhất. Sau khi phân loại các phương án đã hoàn thành, đôi bên mới bắt đầu trình bày lý do việc lựa chọn của mình, bằng cách trên mới vượt qua được một số “điểm chết” trong quá trình thảo luận, đây là tiền đề để cho việc tìm kiếm một phương án khả thi nhất. Cuộc thảo luận nhờ đó chuyển hướng từ chỗ bế tắc sang chọn lựa một giải pháp tối ưu nhất. Bước 2: Xem xét nội dung chính của vấn đề: Trong trường hợp này cần thiết phải tập trung vào vấn đề chính của cuộc thảo luận thay vì cân đong đo đếm xem phương án nào nặng nhẹ hơn, xem xét lại vấn đề từ đầu từ chỗ khúc mắc mà hai bên chưa có cách giải quyết,
  10. tránh sa đà vào các cuộc tranh luận ngoài lề nếu cảm thấy phương án đưa ra không được phía bên kia chấp nhận, tiếp tục đặt lại vấn đề chính yếu nhất mà cả hai bên đều có ý định đạt được trong buổi gặp gỡ. Chọn một phương án nào đó tối ưu nhất cho cả hai bên, đề nghị bên kia cũng nghiên cứu trên tinh thần xây dựng và với yêu cầu phải bám sát mục tiêu chính của cuộc thương lượng chỉ có như vậy mới không rơi vào bế tắc một lần nữa. Khi có quá nhiều vấn đề được nêu ra nhưng rút cục hai bên đều không đạt được sự thống nhất cần thiết, các bên đương sự cần phải biết cách chẻ nhỏ vấn đề đặt riêng từng cái một để dễ dàng nhất trí được với nhau về cách giải quyết. Nếu thấy cần thiết đại diện của các bên chủ động rút lại các vấn đề của mình, lần lượt cùng nhau xem xét và giải quyết từng vấn đề theo thứ tự, không nên vội vàng vì nông nóng dễ làm hỏng việc. 2. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hoà giải: 2.1 Định nghĩa và đặc điểm của hoà giải: Hoà giải là một phương pháp để giải quyết tranh chấp, trong đó bên thứ ba là người đóng vai trò trung gian hoà giải tham gia vào các cuộc họp chung giữa các bên và tham gia vào các phiên họp riêng với từng bên để điều hoà lợi ích các bên, phân tích cho họ thấy nội dung, thực chất của tranh chấp và cố gắng giúp các bên tìm ra một giải pháp để giải quyết tranh chấp. Từ khái niệm đó hoà giải mang những đặc điểm chủ yếu sau:  Các bên tranh chấp thoả thuận bên thứ 3 tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán.  Bên thứ 3 không có quyền quyết định tranh chấp;  Khi các bên đạt được sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp, thì sự nhất trí phải được thể hiện bằng văn bản và văn bản này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên. Việc hoà giải thành công hay không là do sự kết hợp hai yếu tố chủ chốt trong bất kỳ cuộc thương lượng nào, sự trao đổi thông tin và sự tin cậy lẫn nhau, Vì vậy, bên thứ 3 phải là người mà các bên tranh chấp đủ tin cậy để có thể trao đổi những lập trường riêng đích thực của họ trong vụ tranh chấp. Quá trình hoà giải mang tính chất tự nguyện, mềm dẻo và không bắt buộc, thông thường việc hoà giải diễn ra nhanh chóng với chi phí vừa phải. Các vụ giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có thể rất đơn giản hoặc có thể lớn và phức tạp, có thể chỉ có hai bên hay nhiều bên tham gia tranh chấp. Trong quá trình hoà giải tính đối kháng của các bên ít quyết liệt hơn so với các hình thức giải quyết tranh chấp bằng toà án hoặc trọng tài do vậy đặc trưng của việc hoà giải là cho phép duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài và đưa ra những giải pháp hữu hiệu. Các bên có thể xoá bỏ vai trò của người
  11. hoà giải vào bất cứ thời điểm nào mà họ muốn, người hoà giải không áp đặt quan điểm riêng của mình cho các bên mà để các bên thoả thuận và thể hiện bằng văn bản có giá trị bắt buộc cho cả hai bên. Khi người hoà giải nắm được các sự kiện, nguyên nhân các tình tiết của vụ tranh chấp đồng thời lại biết được những chi tiết riêng tư trong lập trường của từng bên thì họ có thể tháo gỡ hoặc góp phần làm giảm đi những bất đồng, những rào cản và khác biệt trong quan điểm của các bên theo những cách thức, lập luận, dẫn dắt của mình nếu chỉ có các bên tranh chấp với nhau cùng với những lập trường riêng của họ thì không thể giải quyết nổi. Nhìn chung hoà giải là phương pháp giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi phí, nỗ lực giải quyết tranh chấp của các bên cùng với sự đóng góp của hoà giải viên sẽ làm cho tiến trình hoà giải diễn ra nhanh chóng và mang lại kết quả theo mong muốn của các bên. 3. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án. 3.1 Cơ cấu tổ chức của toà án kinh tế. a. Cơ cấu của toà án trong điều kiện mới: Toà án kinh tế được tổ chức thành tòa chuyên trách trong hệ thống tòa án nhân dân như: Tòa dân sự, Toà hình sự, gồm có: Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao, Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Thẩm phán chuyên trách xét xử các vụ án kinh tế ở Toà án cấp Huyện.  Ở Trung Ương: Toà án nhân dân tối cao có toà án kinh tế tồn tại độc lập và song song với các toà chuyên trách khác như: Toà hình sự, Toà dân sự, Toà lao động … Cơ cấu tổ chức của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh toà, các Phó Chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà.  Ở Địa phương: Cơ cấu tổ chức của toà kinh tế toà án nhân dân cấp Tỉnh gồm có: Chánh toà, Phó chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà.  Ở Toà án nhân dân cấp Huyện không có tổ chức chuyên trách song TAND cấp Huyện vẫn có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế và có các Thẩm phán kinh tế đảm nhận xét xử các vụ án kinh tế. b. Chức năng và nhiệm vụ của toà án: b.1. Chức năng: Theo quy định hiện nay toà kinh tế có 2 chức năng chủ yếu sau:  Chức năng xét xử các vụ án kinh tế theo qui định của pháp luật. Đây là chức năng chủ yếu thường xuyên mang tính truyền thống của một cơ quan xét xử, toà án có thẩm quyền nhân danh nước CHXHCN Việt Nam để tuyên án và kết quả của việc xét xử là bản án hoặc quyết định.  Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp: Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân tối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
  12. b.2. Nhiệm vụ của toà án kinh tế:  Giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, pháp nhân.  Nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN.  Nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.  Nhiệm vụ giải quyết nhanh chóng kịp thời các vụ án kinh tế. Thực tiễn hoạt động kinh doanh yêu cầu đặt ra là phải có phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trường, cần giải quyết tranh chấp kinh tế kịp thời đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao, không chỉ giảm bớt những tổn thất về kinh tế, mà còn có tác dụng bảo vệ và khôi phục quyền lợi của các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh, tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Mặt khác khuyến khích các cá nhân và tổ chức trong nước cũng như ở nước ngoài yên tâm bỏ vốn để đầu tư phát triển đất nước. Ngày 16/3/1994 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức tòa án nhân dân, từ ngày 1/7/1994 giải quyết tranh chấp kinh tế được chuyển sang tòa kinh tế - Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân. Ngày 28/6/1996 Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên nghành số 04 TTLT hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế. Trong đó quy định tổ chức toà kinh tế nằm trong hệ thống tòa án nhân dân với vai trò như những tòa chuyên trách khác, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh trong nền kinh tế thị trường. 3.2 Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế: Nguyên tắc giải quyết các vụ án kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo đối với việc giải quyết các vụ án kinh tế được các quy phạm pháp luật về tố tụng kinh tế ghi nhận qua những nội dung và đặc trưng cơ bản của tố tụng kinh tế. Việc tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng kinh tế là cơ sở cho việc đảm bảo giải quyết vụ án kinh tế khách quan, đúng luật, đặc biệt cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây: 3.2.1 Nguyên tắc tự định đoạt Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng kinh tế, nó xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể kinh doanh. Theo nguyên tắc này, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã quy định cho đương sự được quyền khởi kiện, quyền yêu cầu toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp trong những trường hợp nhất định. Nguyên đơn được quyền thay đổi nội dung đơn kiện,
  13. quyền rút đơn kiện, cũng như đương sự có quyền hoà giải, thương lượng trong quá trình giải quyết vụ án. 3.2.2 Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh: Trong tố tụng kinh tế, toà án không có nghĩa vụ phải điều tra xác minh sự thật của vụ án, mà các đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp thu thập tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Có thể nói, sự thất bại trong một vụ tranh tụng tại toà án phụ thuộc nhiều vào việc đương sự có cung cấp đầy đủ các chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình hay không. 3.2.3 Nguyên tắc hoà giải: Khi có tranh chấp kinh tế xảy ra các bên đương sự phải chủ động gặp gỡ nhau để hoà giải, thương lượng, khi sự thương lượng đó không đem lại kết quả thì bên bị vi phạm có quyền khởi kiện vụ án kinh tế ra toà án nhân dân có thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế toà án có nhiệm vụ phải hoà giải giữa các bên đương sự, hoà giải là bắt buộc trong tố tụng kinh tế, nếu như khi giải quyết vụ án kinh tế Toà án không hoà giải giữa các bên thì coi như đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Toà án chỉ đưa ra xét xử khi hoà giải không thành. Xét về nguyên tắc, hoà giải không chỉ giải quyết "Ai đúng, Ai sai" mà chính là khuyến khích các bên thừa nhận quyền lợi chung. Thực tiễn xét xử cho thấy rằng phần lớn các vụ án kinh tế thành công ở giai đoạn hoà giải. Hoà giải thật sự có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai bên đương sự và với cả toà án, nó giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng đạt được yêu cầu của cả hai bên và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những thoả thuận đó sau này. 3.2.4 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời: Đây là nguyên tắc đặc trưng của tố tụng vụ án kinh tế, bởi lẽ nó chi phối tất cả các thời hạn tố tụng trong việc giải quyết vụ án kinh tế, nhanh chóng về thời gian là đòi hỏi của các chủ thể kinh doanh khi giải quyết vụ án. 3.2.5 Nguyên tắc xét xử công khai: Đây là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của toà án. Trong một số trường hợp pháp luật cho phép toà án được xử kín: Khi xét xử các vụ án kinh tế, toà án có thể xét xử kín nếu xét thấy cần giữ bí mật Nhà nước hoặc bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ. Bí mật của đương sự trong tranh chấp kinh tế thường là bí quyết về kinh doanh như phát minh sáng chế... có liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của người kinh doanh, nếu bí quyết đó bị tiết lộ thì sẽ đem lại hiệu quả xấu cho doanh nghiệp đó vì vậy họ có quyền đề nghị toà xét xử kín. 3.3 Thẩm quyền giải quyết vụ án kinh tế của toà án. 3.3.1 Thẩm quyền của Toà án:
  14. Khi có vụ tranh chấp kinh tế xảy ra, đương sự phải khởi kiện tại toà án có thẩm quyền hoặc các toà án phải xem xét và xử lý vụ án đúng thẩm quyền theo qui định của pháp luật tố tụng. Chúng ta hiểu thẩm quyền của toà án ở các mặt sau đây: - Thẩm quyền chung; - Thẩm quyền của toà án các cấp; - Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ; - Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn; a. Thẩm quyền chung của toà án: Theo qui định của pháp luật tố tụng thì toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế sau:  Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.  Các tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, các thành viên của công ty với nhau có liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty.  Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.  Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật. Do đó khi xảy ra tranh chấp và đưa đến toà án thì cần phải xác định được rằng: vụ tranh chấp đó thuộc về một trong số các loại vụ việc kể trên không?. Cũng cần phải lưu ý rằng đối với những tranh chấp kinh tế thuộc các loại kể trên nhưng lại có nhân tố nước ngoài thì chỉ áp dụng luật tố tụng của Việt nam để giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế khi không có điều ước quốc tế mà Việt nam tham gia, hoặc ký kết có qui định khác. b. Thẩm quyền của Toà án các cấp: Toà án kinh tế cấp Tỉnh và toà án nhân dân cấp Huyện có quyền xử sơ thẩm vụ án kinh tế, nhưng cần phải lưu ý rằng không phải quyền xét xử Sơ thẩm mọi vụ án kinh tế đều do toà án kinh tế giải quyết, bởi lẽ toà án nhân dân cấp Huyện cũng có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật tố tụng. Do đó khi có một tranhh chấp kinh tế mà chúng ta xác định nó thuộc thẩm quyền chung như đã nói ở trên thì cần phải xác định bước tiếp theo là toà án cấp nào có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế đó. Toà án nhân dân cấp Huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế có đủ 3 điều kiện sau: - Đó là tranh chấp về hợp đồng kinh tế; - Giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng; - Không có nhân tố nước ngoài. b.1 Thẩm quyền của toà án kinh tế - toà án nhân dân cấp Tỉnh
  15. - Sơ thẩm: Những vụ án kinh tế trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp Huyện. Tuy nhiên trong những trường hợp cần thiết toà án cấp Tỉnh có thể lấy những vụ án kinh tế thuộc quyền của toà án nhân dân cấp Huyện lên để giải quyết do vụ án đó có nhiều tình tiết phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị hoặc vì lý do cần thiết nào đó. - Phúc thẩm: Những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định Sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng. - Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật. Tóm lại, thẩm quyền xét xử của Toà án Nhân dân cấp Tỉnh đối với các vụ án kinh tế là: Giám đốc thẩm, Tái thẩm; các vụ án mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị. b.2 Thẩm quyền của toà kinh tế - toà án nhân dân tối cao:  Giám đốc thẩm, Tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng. Toà kinh tế - toà án nhân dân tối cao không có quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án kinh tế như toà hình sự toà án nhân dân tối cao.  Về phúc thẩm: Toà án Nhân dân tối cao có các Thẩm phán kinh tế được phân công giải quyết và có thẩm quyền:  Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng.  Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của TAND Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật. c. Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ: Theo qui định của pháp luật thì toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế là toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú; trong trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản, thì toà án nơi có bất động sản giải quyết. d. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn: Theo qui định của pháp luật thì nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong số toà án có thẩm quyền theo những trường hợp dưới đây để khởi kiện vụ án kinh tế: - Nếu không biết rõ trụ sở, hoặc nơi cư trú của bị đơn thì có quyền yêu cầu toà án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn để giải quyết vụ án. - Nếu vụ án phát sinh là hoạt động của Chi nhánh, thì có thể yêu cầu toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi Chi nhánh đó để giải quyết.
  16. - Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế, thì có quyền yêu cầu: Toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết. - Nếu bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác thì có quyền yêu cầu toà án nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của một trong số các bị đơn giải quyết vụ án. - Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản thì có quyền yêu cầu toà án nơi có bất động sản hoặc nơi cư trú của bị đơn giải quyết. - Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi khác nhau thì có quyền yêu cầu toà án của một trong số các nơi đó giải quyết. - Trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền của toà án thì do toà án cấp trên trực tiếp giải quyết. 4. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài 4.1 Khái niện và những ưu thế cơ bản a. Khái niệm: Trọng tài là một tổ chức trung gian được thành lập ra và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế và tranh chấp khác phù hợp với pháp luật của nước trọng tài. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một phương thức giải quyết mà ở đó trọng tài với tư cách là người thứ 3 độc lập phán xử và quyết định tranh chấp của các bên. Đó thông thường là một cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp để xét xử. Phán quyết của trọng tài thông thường mang tính chất chung thẩm được áp dụng phổ biến nhất hiện nay. b. Những ưu thế cơ bản của trọng tài: Cùng với việc quyết định chuyển giao việc xét xử tranh chấp kinh tế từ trọng tài kinh tế sang tòa án, Chính phủ Việt Nam chủ trương soạn thảo và ban hành Pháp luật về trọng tài kinh tế phi Chính phủ, nhằm tạo điều kiện cho các bên tranh chấp thực hiện quyền tự do định đoạt phương thức giải quyết tranh chấp của mình. Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao việc giải quyết các tranh chấp kinh tế đã có toà án kinh tế theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, vậy trọng tài phi Chính phủ được thành lập nhằm mục đích gì? Có các nguyên nhân sau đây: Một là: Thủ tục tố tụng của toà án có thể qua nhiều cấp xét xử khác nhau, điều đó không phù hợp với đòi hỏi của các nhà kinh doanh về mặt thời gian. Các nhà kinh doanh muốn vụ tranh chấp được phán quyết nhanh chóng bằng thủ tục đơn giản, phù hợp với công việc kinh doanh của họ; Hai là: Các nhà kinh doanh có quyền tự do kinh doanh theo luật định đồng thời cũng có quyền lựa chọn cơ quan tài phán trong việc giải quyết tranh chấp về kinh tế. Họ muốn "chọn mặt gửi vàng" vào cơ quan tài phán mà họ tín nhiệm, muốn có "người" giải quyết tranh chấp do họ lựa chọn, thậm chí
  17. muốn lựa chọn về thời gian, địa điểm để giải quyết vụ tranh chấp … Về vấn đề này tố tụng của toà án không thể đáp ứng đầy đủ được. Ba là: Các nhà kinh doanh muốn gữi bí mật, đảm bảo uy tín trong hợp đồng kinh doanh họ thường không muốn doanh nghiệp mình phải ra "hầu toà" bị đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng về nguyên tắc tố tụng của toà án đòi hỏi xét xử công khai trừ trường hợp đặc biệt có lý do chính đáng; Bốn là: Các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta ngày càng phát triển với những hình thức đa dạng, phong phú như hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng đầu tư…. có những tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế Quốc tế như: tranh chấp về tài chính, tín dụng, bảo hiểm, vận tải, du lịch quốc tế... trong khi các đương sự không muốn giải quyết bằng toà án và theo thông lệ chung các nước có nền kinh tế thị trường thì những tranh chấp đó thường do Trọng tài thương mại giải quyết. Năm là: Mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh bằng con đường trọng tài thương mại phi Chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị trường rất được ưa chuộng điều này chứng tỏ một số ưu điểm độc đáo phù hợp với các nhà kinh doanh. 4.2 Trung tâm Trọng tài: Trước đây văn bản Pháp luật quan trọng điều chỉnh tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế là Nghị định 116 ngày 5/9/1994 nhưng đã được thay thế bằng Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/2003 PL - UBTVQH 11 ban hành ngày 25/2/2003 có hiệu lực ngày 01/07/2003. 4.2.1 Khái niệm, đặc điểm: a. Khái niệm: Trung tâm trọng tài là tổ chức phi Chính phủ có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, Trung tâm trọng tài được lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện cho Trung tâm, có Ban điều hành và các trọng tài viên có Chủ tịch, Phó chủ tịch, Tổng thư ký. b. Đặc điểm: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thoả thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh trọng tài thương mại ban hành ngày 25/2/2003. Tranh chấp giữa các bên được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do Trung tâm trọng tài tổ chức hoặc tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (Điều 2 Khoản 1 và Điều 4). - Về hình thức: Trọng tài thương mại là tổ chức phi Chính phủ; - Tổ chức hoạt động: Để tổ chức và hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng của mỗi Trung tâm phù hợp với quy định của các văn bản pháp luật hiện hành nhưng không được trái với những qui định của Pháp lệnh số 08/2003 UBTVQH 11;
  18. - Một đặc điểm nữa là: Các quyết định của Hội đồng trọng tài là Chung thẩm, các bên phải thi hành; - Đặc điểm thứ tư là: Các bên có quyền thoả thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài để giải quyết tranh chấp. 4.2.2 Thẩm quyền: Theo qui định của Pháp lệnh số 08/PL/2003 UBTVQH 11 trọng tài có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong “hoạt động thương mại” theo sự thoả thuận của các bên bằng văn bản hoặc hình thức văn bản khác như thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử.... Hoạt động thương mại là một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò; khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ.... Điều 2 khoản 3 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại số 08/PL/2003). 4.2.3 Thành lập và chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài: a. Điều kiện: Trung tâm trọng tài chỉ được phép thành lập khi có ít nhất năm Trọng tài viên là sáng lập viên đề nghị và được Hội luật gia Việt nam giới thiệu, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét Quyết định cấp giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài. Trọng tài viên phải là người có đủ các điều kiện theo qui định mới được công nhận là Trọng tài viên: phải là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan, có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 05 năm trở lên. Pháp luật cũng đưa ra điều kiện cấm chỉ: người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích không được làm Trọng tài, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, Công chức đang công tác tại Toà án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án không được đồng thời làm trọng tài viên (Điều 12 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH 11). b. Thủ tục: - Các sáng lập viên phải gửi hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài đến Bộ Tư pháp, trong thời hạn 40 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài và phê chuẩn Điều lệ của Trung tâm trọng tài, trong trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do; - Hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau: Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài;
  19. Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên; Điều lệ của Trung tâm trọng tài; Văn bản giới thiệu của Hội luật gia Việt nam; - Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm viết đơn; Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên; Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm trọng tài: Địa điểm dự định đặt trụ sở của Trung tâm trọng tài; - Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Giấy phép thành lập, Trung tâm trọng tài phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW nơi Trung tâm trọng tài đặt trụ sở, hết thời hạn này mà Trung tâm trọng tài không đăng ký thì giấy phép bị thu hồi. - Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động Trung tâm trọng tài phải đăng báo hàng ngày của TW hoặc báo Địa phương nơi đăng ký hoạt động trong 3 số liên tiếp về những nội dung chủ yếu sau: Tên, địa chỉ, trụ sở của Trung tâm trọng tài Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm; Số giấy đăng ký hoạt động, cơ quan cấp, ngày, tháng, năm cấp; Thời điểm bắt đầu hoạt động của Trung tâm trọng tài; Trung tâm trọng tài, phải niêm yết tại trụ sở những nội dung trên và danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài. c. Chấm dứt hoạt động: Điều 18 Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003 UBTVQH 11 thì Trung tâm trọng tài chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau: - Các trường hợp qui định tại Điều lệ của Trung tâm trọng tài; - Bị thu hồi Giấy phép thành lập; Khi chấm dứt hoạt động, trung tâm trọng tài phải nộp lại Giấy phép thành lập cho cơ quan đã cấp giấy phép. 4.2.4. Giải quyết tranh chấp kinh tế của Trung tâm trọng tài kinh tế. a. Nộp đơn: Khi yêu cầu giải quyết tranh chấp Nguyên đơn phải gửi đơn hợp lệ cho Trung tâm trọng tài mà các bên đã thoả thuận bằng văn bản về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại trung tâm trọng tài. Đơn yêu cầu phải có đầy đủ những nội dung sau: Ngày, tháng, năm viết đơn; Tên và địa chỉ của các bên; Tóm tắt nội dung tranh chấp; Các yêu cầu của Nguyên đơn; Trị giá tài sản mà Nguyên đơn yêu cầu; Trọng tài viên của Trung tâm mà Nguyên đơn chọn;
  20. - Để giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi cho bị đơn nội dung đơn kiện như trên đã qui định. - Kèm theo đơn kiện nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài, bản chính , bản sao các tài liệu, chứng cứ, bản sao phải có chứng thực hợp lệ. - Tố tụng trọng tài bắt đầu khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơn hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập; Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu, chứng cứ; b. Bản tự bảo vệ: - Đối với vụ tranh chấp mà các bên đã chọn Trung tâm trọng tài để giải quyết nếu các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ; - Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, nếu không có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự bảo vệ và tên Trọng tài mà mình lựa chọn. Bản tự bảo vệ phải gồm có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ; Tên và địa chỉ của bị đơn; - Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đơn bao gồm việc phản bác một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện của nguyên đơn. Ngoài những nội dung qui định tại điểm này, nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì có quyền nêu ra trong bản tự bảo vệ. - Thời hạn bị đơn gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn 30 ngày nhưng phải trước ngày Hội đồng trọng tài mở phiên họp. c. Thành lập Hội đồng trọng tài: Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện Trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn và các tài liệu kèm theo cộng với danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài; - Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tài liệu và các tài liệu kèm theo do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên đã gửi và báo cho Trung tâm trọng tài biết hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên cho mình.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản