Đề tài " Phát huy Nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay "

Chia sẻ: lykhanhhoa

Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mục tiêu quan trọng nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thì nguồn nhân lực chính là chìa khoá của sự thành công. Nguồn nhân lực với trình độ tiên tiến sẽ chính là nhân tố đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài " Phát huy Nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay "

Tiểu luận
Phát huy nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam hiện nay




1
Contents
A. LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 4

Đề cương chi tiết .............................................................................................................................. 4

A. LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 4

I. Tìm hiểu chung về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa .......................................................... 4

1. khái niệm chung ........................................................................................................................... 4

2. quan điểm và chủ trương của đảng về phát huy NNL trong sự nghiệp CNH, HĐH ........................ 4

II. Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. ....................... 4

1. Vấn đề nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH. .................................................................... 4

2. Các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH..................................... 4

III. Thực trạng về nguồn nhân lực ngành tài chính – ngân hàng ở Việt Nam. ..................................... 4

B. NỘI DUNG. ................................................................................................................................ 4

I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NGUỒN
NHÂN LỰC..................................................................................................................................... 5

1. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (CNH, HĐH) ........................................................... 5

a. Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa....................................................................................... 5

b. khái niệm nguồn lực con người ..................................................................................................... 5

2. Các quan điểm và chủ trương của đảng về phát huy NNL trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. . 5

II. PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CNH, HĐH Ở NƯỚC. ...................... 7

1. Vấn đề nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH. ............................................................... 7

a. Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta. .......................................................................................... 7

b. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn yếu kèm...............10

2. Các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH .................................10

a. Gắn kết chiến lược phát triển nhân lực và kinh tế ........................................................................11

Hình 1 Chiến lược nhân lực với thông tin đầu vào từ các chiến lược kinh tế ....................................11

b. về chính sách xã hội .....................................................................................................................12

c. Về giáo dục- đào tạo. ...................................................................................................................13

2
III. THỰC TRẠNG VỀ NNL NGÀNH TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM.......................14

TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................................................16




3
A. LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mục tiêu
quan trọng nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thì nguồn nhân
lực chính là chìa khoá của sự thành công. Nguồn nhân lực với trình độ tiên tiến sẽ
chính là nhân tố đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với một
nước đang ở trình độ thấp kém phát triển như nước ta hiện nay không thể không xây
dựng một chính sách phát triển lâu bền, nâng cao dần chất lượng của người lao động,
phát huy nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu lớn lao của toàn dân tộc,
đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó cũng chính là lý do mà nhóm chúng em
chọn đề tài “Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam hiện nay.”




Đề cương chi tiết

A. LỜI MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Tìm hiểu chung về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1. khái niệm chung
a. Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa
b. khái niệm nguồn lực con người
2. quan điểm và chủ trương của đảng về phát huy NNL trong sự nghiệp CNH, HĐH
II. Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1. Vấn đề nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH.
a. Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta.
b. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn
yếu kèm.
2. Các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH
a. Gắn kết chiến lược phát triển nhân lực và kinh tế
b. về chính sách xã hội
c. Về giáo dục- đào tạo
III. Thực trạng về nguồn nhân lực ngành tài chính – ngân hàng ở Việt Nam.
C. KẾT LUẬN.


B. NỘI DUNG.

4
I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ NGUỒN NHÂN LỰC

1. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (CNH, HĐH)

a. Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa

“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động
thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”

b. khái niệm nguồn lực con người

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn lực con người:

Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí
lực, kỹ năng, nghề nghiệp, v.v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong
quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó.

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến
thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để
phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.

 Qua các ý kiến khác nhau có thể hiểu, nguồn lực con người là tổng thể những yếu
tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội, v.v.
tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội.

2. Các quan điểm và chủ trương của đảng về phát huy NNL trong sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.

Trong tiến trình của các cuộc cải biến cách mạng xã hội theo hướng tiến bộ, con
người luôn là mục tiêu, đồng thời là động lực của tiến trình đó. Như vậy vai trò của
nhân tố con người được xem như chủ thể của toàn bộ tiến trình cách mạng. Quan
niệm này xuất phát từ một nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Marx: Con người là chủ
thể của các quan hệ xã hội.



5
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng do con người, vì con người. Chính
vì mục tiêu cao cả của cuộc cách mạng đó mà khi hình dung trên những nét đại thể về
xã hội tương lai, Marx và Engels đã đặt con người vào vị trí trung tâm. Con người là
chủ thể xây dựng, đồng thời là kết quả của sự phát triển xã hội đó.

Công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN hiện nay ở nước ta do Đảng Cộng sản
Việt Nam khởi xướng cũng là nhằm đạt tới mục tiêu cao cả trên. Để đạt tới mục tiêu
đó, nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là thực hiện thành công sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước. Tức là phải bằng mọi cách phát huy vai trò tích cực của con người
Việt Nam cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước. Điều đó có nghĩa là phải tìm
những giải pháp tốt nhất nhằm phát huy nhân tố con người –chủ thể của toàn bộ tiến
trình đó. Nhận thức được tầm quan trọng của nhân tố đó, trong các nghị quyết ban
chấp hàng trung ưng đảng khóa VII, VIII, IX, X đảng ta luôn đánh giá cao sự phát
huy nguồn nhân lực con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

- Nghị quyết IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII nêu rõ: Cùng với khoa
học, công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy. Như
vậy, giáo dục là một dạng đầu tư cho sự phát triển vì nó là động lực thúc đẩy kinh tế
phát triển. Sự nghiệp giáo dục đao tạo có tính xã hội hóa cao. Nền giáo dục và đào tạo
tốt sẽ cho chúng ta nguồn nhân lực với đủ sức mạnh, đáp ứng yêu cầu trước mắt và
lâu dài. Do vậy sự nghiệp giáo dục phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, đồng
thời phải tranh thủ sự hợp tác, ủng hộ của các nước trên thế giới thông qua việc hợp
tác giáo dục.

- Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã quán triệt một trong những quan điểm về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản
cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất
nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với
cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội, bảo vệ môi trường.”

- Tiếp theo đến đại hội thứ IX đảng ta đã xác định: Phát triển giáo dục và đào tạo là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn
6
diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống
quản lý giáo dục; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", thực hiện "giáo
dục cho mọi người", "cả nước trở thành một xã hội học tập". Thực hiện phương châm
"học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã
hội.”

- Đại hôi X xác định: Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu,
chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý
để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với
trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; Xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và
vì dân. Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo; từng bước xây dựng nền
giáo dục hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

II. PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CNH, HĐH Ở NƯỚC.

1. Vấn đề nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH.

a. Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta.

* Số lượng

Các kết quả suy rộng mẫu chủ yếu của cuộc Điều tra mẫu Tổng điều tra dân số và
nhà ở năm 2009 vừa chính thức được Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở
Trung ương công bố. Theo đó, Việt Nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”,
thời kỳ mà nhóm dân số trong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ
tuổi phụ thuộc.

Kết quả điều tra cho thấy, so với kết quả của cuộc Tổng điều tra năm 1999, tỷ
trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33% năm 1999 xuống còn 25% trong năm 2009.
Trong khi đó, tỷ trọng dân số của nhóm 15-59 tuổi tăng từ 58% năm 1999 lên 66%.
Còn nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 8% lên 9% tương ứng trong hai cuộc tổng
điều tra.

Được biết, tính đến thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2009, cả nước có 43,8 triệu người
trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,1% dân số. Trong đó, thành thị có
11,9 triệu người (chiếm 27%), nông thôn có 31,9 triệu người (73%). Lao động nữ
chiếm 46,6% tổng lực lượng lao động.


7
Với số lượng người bước vào độ tuổi lao động đạt mức kỷ lục như hiện nay, cùng
với hàng chục vạn lao động dôi dư từ các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước, 2 thập kỷ
đầu tiên của thế kỷ 21 sẽ tạo ra áp lực rất lớn về việc làm và nguồn vốn đang căng
thẳng với tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao (một số lao động thất nghiệp rơi vào nhóm lao
động trẻ được đào tạo, gây ra nhiều hậu quả cả về kinh tế xã hội. Bên cạnh đó còn có
hàng triệu người già tuy tuổi cao nhưng vẫn còn khả năng và mong muốn được làm
việc.

Trên phạm vi cả nước, cấu trúc dân số biến đổi tạo cơ hội thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế, tuy nhiên do hoàn cảnh địa lý và tình hình kinh tế - xã hội khác nhau
giữa các vùng miền, nên ở các tỉnh đồng bằng do mức sinh sống thấp trong nhiều năm
qua và "cơ cấu dân số vàng" đã bắt đầu phát huy tác dụng, tạo ra nhiều thách thức lớn
về việc làm cho địa phương vốn đất chật người đông. Tại các tỉnh vùng Tây Nguyên,
miền núi Tây Bắc, do mức sinh ở những vùng này vẫn còn cao nên cấu trúc dân số
còn trẻ. Luồng di cư tự phát rất lớn đổ từ các vùng nông thôn, miền núi đến các thành
phố, Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Trong một số doanh nghiệp ở các vùng
này, số lao động ngoại tỉnh chiếm đến 80%.

* Chất lượng

Trong những năm gần đây chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) của Việt Nam
đã được cải thiện 114/179 nước (năm 2008), tuy nhiên chỉ số đó con khá khiêm tốn so
với các nước trong khu vực như singapore (thứ 27 ), Malaysia (thứ 63), Thái Lan (
thứ 77 ) ...

Những nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng trong nhiều năm qua đã chứng minh,
chiều cao của người Việt Nam đang được cải thiện. Nạn đói và chiến tranh đã ảnh
hưởng đến tầm vóc của người Việt Nam; chiều cao trung bình của người Việt Nam
trong thời gian từ năm 1938-1985 hầu như không thay đổi (nam cao 160cm, nữ cao
150cm). Tuy nhiên, trong hơn 10 năm qua , tầm vóc của người Việt Nam đã khá hơn,
chiều cao trung bình người trưởng thành nam hiện nay là 163,7cm. Theo Chương
trình Nâng cao tầm vóc và thể trạng người Việt Nam, kết thúc giai đoạn I (đến năm
2010), chiều cao thân thể trung bình của nam thanh niên 18 tuổi sẽ đạt từ 165cm-
166cm, nữ đạt 154cm-155cm. Theo phân tích của các nhà chuyên môn, hiện tại chiều
cao của nam thanh niên Việt Nam là 1,65m, nữ 1,53m. Sau 25 năm chiều cao trung
8
bình của người Việt Nam đã tăng 6,14cm ở nam và 4,88cm ở nữ. Tính trung bình mỗi
năm chiều cao tăng ở nam là 0,24cm, ở nữ là 0,20cm. .Trong khi đó xu hướng chung
ở các nước phát triển là chiều cao trung bình của nam thanh niên cứ sau 10 năm sẽ
tăng 1 cm và tuổi thọ bình quân của Việt Nam cũng tăng lên. Sau 10 năm (kể từ Tổng
điều tra 1999) tuổi thọ đã đạt 72,8 tuổi đối với nam (tăng 3,7 tuổi) và 75,6 tuổi với nữ
(tăng 5,5 tuổi). Đó là dấu hiệu đáng mừng, đáng khích lệ trong công tác chăm sóc
sức khỏe của nước ta.

Số lượng người lao động tuy tăng và dư thừa, nhưng lại yếu về sức khỏe, trình
độ tay nghề hạn chế lao động khu vực thành thị ở Hà Nội thừa khoảng 7,5% và ở
thành phố Hồ Chí Minh là 6,5% (đó là chưa kể hàng chục van lao động dôi dư do sắp
xếp lại doanh nghiệp Nhà nước). Tại khu vực nông thôn còn dư thừa 26% quỹ thời
gian lao động, tương đương khoảng 9 triệu người, nhưng 95,5% lao động không có
tay nghề, nhưng theo dự báo trong 10 năm tới, số lượng này sẽ tăng lên mức cao nhất
là 1,8 triệu người, do đó việc đào tạo, nâng cao tay nghề và tạo việc làm cho số lao
động hiện tại cũng như cho số thanh niên mới bước vào độ tuổi lao động sẽ thách
thức vô cùng lớn.

Cơ cấu nguồn lao động được đào tạo trong những năm qua còn rất bất hợp lý. Tại
các nước phát triển thì cứ 1 thầy có 10 thợ, nhưng ở nước ta, bình quân một thầy chỉ
có 0,95 thợ. .. Đây chính là tình trạng "thầy nhiều hơn thợ". Trong khi số sinh viên
đại học tăng nhanh thì số công nhân kỹ thuật giảm dần. Đến năm 2010, mỗi năm cần
khoảng 20 ngàn lao động kỹ thuật, nhưng khả năng đào tạo nghề cũng cung ứng
12.000 người/năm. Hiện nay nhu cầu tuyển lao động kỹ thuật hầu như không được
đáp ứng đầy đủ, trong khi lao động phổ thông lại dư thừa quá nhiều.

Tỷ lệ lao động kỹ thuật đã thấp lại phân bổ không đồng đều giữa các ngành và các
thành phần kinh tế. Rất nhiều lao động kỹ thuật tập trung ở các cơ quan trung ương.
Các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, các thành phần kinh tế tập thể , tư nhân, cá thể
còn thiếu nhiều lao động kỹ thuật. Ở khu vực nông thôn, số lao động đã qua đào tạo
chiếm tỷ lệ càng thấp (chỉ khoảng 4%). Đặc biệt vùng miền núi, hải đảo, đang thiếu
lao động kỹ thuật và trí thức trầm trọng, trong khi số tri thức dư thừa giả tạo ở thành
phố ngày càng nhiều. Không những vậy, có những lao động sau khi được đào tạo đã
không làm đúng ngành nghề, thậm chí còn làm công việc của lao động giản đơn.

9
b. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn yếu
kèm.

- Thứ nhất là cho đến nay nền kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế nông nghiệp. Tính
đến hết năm 2007, tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp vẫn còn cao
(29,6%), số lao động trong các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp vẫn còn lớn
(56,8%), tỷ lệ lao động xã hội chưa qua đào tạo chiếm một tỷ lệ đa số. Những chỉ số
này cho thấy đây là một trong những nguyên nhân cơ bản đang tạo ra sự hạn chế
trong sự phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay.

- Thứ hai là thực trạng quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực nước ta những năm
qua còn quá nhiều bất cập. Cho đến nay chúng ta chưa có chiến lược tổng thể trong
việc xây dựng, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực cho quá trình phát triển đất nước
giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ít nhất là đến năm 2020. Việc quy hoạch,
phát triển và sử dụng nguồn nhân lực giữa các ngành, vùng và địa phương trong cả
nước cũng còn nhiều chồng chéo và thiếu các mục tiêu cụ thể. Điều đó dẫn đến tình
trạng khá phổ biến hiện nay là vừa “thừa” vừa “thiếu” nhân lực trong các ngành,
vùng, địa phương.

- Thứ 3 đến là sự lạc hậu về nội dung và phương pháp trong việc đào tạo nguồn nhân
lực ở Việt Nam hiện nay. Các phương pháp dạy và học của chúng ta hiện nay thường
tạo ra sự thụ động đối với người học, như nặng về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực
hành. Do đó, chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo thường bất cập. Người học
thường ít vận dụng được những gì sau khi học, hoặc muốn làm việc được thì người
học phải chấp nhận qua một quá trình “đào tạo lại” không chỉ lãng phí về tiền của mà
còn lãng phí về thời gian đối với người học ....

2. Các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH

Hiện nay, mục tiêu phát triển của đất nước đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam
xác định là phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.

Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; xác định



10
thật rõ xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức
thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị..

a. Gắn kết chiến lược phát triển nhân lực và kinh tế

Trong vài năm gần đây, xu hướng đào tạo theo nhu cầu xã hội nổi lên với việc bắt
đầu có sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường trong công tác đào tạo nhân lực.
Điều này đã cho thấy xu hướng chuyển biến tích cực trong tư duy giáo dục, tuy nhiên
nhìn ở tầm vĩ mô thì sự hợp tác này còn manh mún, các thông tin về nhu cầu nguồn
nhân lực quốc gia chưa được thu thập đầy đủ.

Mấu chốt của vấn đề là chúng ta phải thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ giữa
các chiến lược phát triển nhân lực với các chiến lược phát triển kinh tế. Mối quan hệ
này thể hiện ở chỗ, các chiến lược phát triển kinh tế phải chỉ rất rõ về nhu cầu nguồn
nhân lực (số lượng, kỹ năng cụ thể), và đối với các cơ quan lập chiến lược phát triển
nhân lực phải coi đây là những thông tin đầu vào cơ bản để xây dựng các chiến lược
phát triển nguồn nhân lực.




Hình 1 Chiến lược nhân lực với thông tin đầu vào từ các chiến lược kinh tế

Nguyên tắc là như vậy, tuy nhiên làm thế nào để áp dụng vào thực tế trong khi sự
liên kết giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các Bộ ngành khác trong công tác phát triển
nguồn nhân lực chưa thực sự hiệu quả. Để giải quyết vấn đề này sự phối hợp đa
ngành đóng một vai trò quan trọng, do đó cần thiết phải thành lập một cơ quan lập kế
hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia (Human Resource Development Planning
Center-HRDPC) trực thuộc Chính phủ, để tạo sự liên kết ngang hàng giữa các Bộ,
ngành, địa phương với Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Để mô hình này hoạt động có hiệu quả, HRDPC phải là cơ quan có quyền lực đủ
lớn, do đó người đứng đầu nhất thiết phải là Thủ tướng Chính phủ, các thành viên
thường trực bao gồm các đại diện các Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở đào tạo lớn
trên toàn quốc.

11
Các quốc gia trên thế giới như Singapore, Ấn Độ từ rất sớm đã xác định và thiết
lập được mối quan hệ giữa phát triển các chiến lược kinh tế và chiến lược nhân lực.
Đây được coi là một trong những nền tảng của sự thành công về mặt kinh tế, khoa
học kỹ thuật của các quốc gia này. Đã đến lúc Việt Nam đặt vấn đề lấy sự phát triển
nguồn nhân lực làm động lực cho tăng trưởng kinh tế thông qua sự kết hợp chăt chẽ
các chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược phát triển nguồn nhân lực.

b. về chính sách xã hội

Trong thời gian gần đây, việc “chảy máu chất xám”, di chuyển các nhân tài từ
doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong thời gian tới, khi nền kinh tế được
phục hồi và trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng hoàn thiện, cạnh tranh
nguồn nhân lực sẽ tiếp tục gắt gao hơn. Do đó, Nhà nước cũng như các doanh nghiệp
cần xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với nguồn nhân lực theo mức độ cống
hiến và khả năng phát triển tương lai. Trước hết, chính sách tiền lương cần được xây
dựng và thực hiện một cách linh hoạt theo tiêu chí tài năng. Đồng thời, cần xây dựng
chế độ chính sách ưu đãi đối với nhân lực chất lượng cao để tạo động lực thu hút nhân
tài trong và ngoài nước vào làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, cơ quan hoạch định
chính sách để họ có điều kiện phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của mình. Các
chính sách này không chỉ dừng lại ở lương hay cổ phần mà còn là các phương thức
khác như cung cấp nhà ở, hỗ trợ dịch vụ bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe chất lượng
cao, tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, hỗ trợ phương tiện truyền thông và
đi lại, tín dụng cho nhân viên, du lịch và đào tạo tại nước ngoài, hỗ trợ dịch vụ gia
đình cho nhân viên. Nhà nước và doanh nghiệp cũng cần có chính sách để thu hút
nguồn nhân lực có trình độ kiến thức cao là Việt kiều đang sinh sống tại nước ngoài
về đầu tư tiền bạc và chất xám cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước.

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống khung khổ pháp lý phát triển và sử dụng
nhân lực phù hợp với cơ chế và thể chế kinh tế thị trường.

- Đổi mới căn bản và toàn diện chính sách về sử dụng nhân lực trong khu vực nhà
nước phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường, gồm từ khâu tuyển dụng, bố trí công việc,
trả công lao động, thăng tiến nghề nghiệp và không ngừng cải thiện điều kiện, môi
trường lao động để tạo động lực, kích thích, khuyến khích làm việc sáng tạo và có
12
hiệu quả cao. Xây dựng tiêu chuẩn và quy trình đánh giá nhân lực dựa trên cơ sở
năng lực thực tế, kết quả, hiệu suất, năng suất lao động thực tế và đãi ngộ tương xứng
với trình độ năng lực và kết quả công việc.

c. Về giáo dục- đào tạo.

Mở rộng quy mô giáo dục đào tạo mọi ngành, các cấp học từ mẫu giáo, các cấp
phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học đến việc xúc tiến các trung
tâm dạy nghề, hướng nghiệp...Ngoài ra để nâng cao trình độ nguồn nhân lực ở các
vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, Nhà nước đã có chính sách cấp học bổng, giảm
học phí cho học sinh, sinh viên nghèo vượt khó.

Yếu tố quan trọng quyết định chất lượng nguồn nhân lực là việc đổi mới nội dung,
chương trình và phương pháp đào tạo. Ngoài giáo dục đào tạo văn hóa chuyên môn,
nghiệp vụ về mặt lý thuyết, cần chú ý điều kiện thực hành, ứng dụng, giáo dục kỷ
luật, tác phong lao động công nghiệp, rèn luyện kỹ năng và khả năng thích ứng với
nền kinh tế thị trường

Giáo dục đại học phải kết hợp với nghiên cứu khoa học, phát triển khoa học cả về
cơ bản và ứng dụng. Bảo đảm tập trung đào tạo đội ngũ nhân lực cho công nghiệp
hoá, hiện đại hoá với diện đại trà, đồng thời đặc biệt chú ý tới mũi nhọn

Cùng với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội phải làm tốt việc phát động một cao
trào học tập trong toàn Đảng toàn dân, toàn quân nhằm đào tạo nên những con người
phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng
về đạo đức là động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời là mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội. Vậy mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cần
phải quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người Song song
với vấn đề giáo dục, đào tạo con người, chúng ta cần quan tâm đến vấn đề dân số, sức
khỏe như tăng cường chú trọng đến các chương trình bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ
em, phòng chống suy dinh dưỡng các vùng miền, vùng sâu, vùng xa.

CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN không thể không xuất phát từ tinh
thần nhân văn sâu sắc, không thể không phát triển con người Việt Nam toàn diện để
lấy đó làm động lực xây dựng xã hội ta thành một xã hội "công bằng, nhân ái", "tốt
đẹp và toàn diện" để bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, đặc biệt là đối với thế

13
hệ trẻ, nhất thiết phải từng bước hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội và chúng ta
"tăng trưởng nguồn lực con người khi quá hiện đại hoá các ngành giáo dục, văn hoá,
văn nghệ, bảo vệ sức khoẻ, dân số và kế hoạch hoá gia đình gắn liền với việc kế thừa
và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc" chỉ có trên cơ sở đó khi
phát triển nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường chúng ta mới có thể tránh được
nguy cơ tha hoá, không xa rời những giá trị truyền thống, không đánh mất bản sắc
dân tộc, đánh mất bản thân mình trở thành cái bóng của người khác.

III. THỰC TRẠNG VỀ NNL NGÀNH TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM.

Lĩnh vực ngành Tài chính - Ngân hàng (TCNH) luôn được xã hội quan tâm, bởi lẽ
đây là ngành mà trong những năm vừa qua số lượng tuyển dụng lao động khá lớn do
điều kiện về kinh tế xã hội phát triển. Bất cứ một quốc gia nào để có điều kiện phát
triển tốt thì phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh. Nếu đặt vấn đề phải có hệ thống
ngân hàng vững mạnh thì rõ ràng họ phải quan tâm đến nguồn nhân lực. Đặc biệt
trong thời gian vừa qua, điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế ở các quốc gia nói
chung và Việt Nam nói riêng, nên hệ thống ngân hàng tài chính phát triển và mở rộng
rất nhanh, có điều kiện thu hút nguồn nhân lực về lĩnh vực này khá lớn.

Theo số liệu Bộ Tài chính thì trong những năm qua, quy mô đào tạo trình độ Đại
học, cao đẳng ngành Tài chính - Ngân hàng tăng nhanh. Trong tổng số khoảng 1,5
triệu sinh viên năm học 2006-2007 thì có hơn 400 nghìn sinh viên theo học ngành
TCNH. Dự kiến đến năm 2010, nhu cầu nguồn nhân lực của các lĩnh vực bảo hiểm,
chứng khoán, kiểm toán và thẩm định giá khoảng 13.500 người. Trong đó, lĩnh vực
chứng khoán cần tới 5.000 người, tăng trên 500% so với hiện nay; nhu cầu nhân lực
đối với ngành kiểm toán đứng thứ 2 với tốc độ tăng 103% so với hiện nay (khoảng
3.000 người); lĩnh vực thẩm định giá cũng được dự báo cần tới 500 người (tăng 20%
so với hiện nay)…

Nếu nhìn tổng thể về ngành TCNH mà nhiều trường đào tạo như vậy thì mọi
người nghĩ sẽ thừa nhân lực nhưng nếu nhìn vào chất lượng nguồn nhân lực thì hầu
như các cơ quan tuyển dụng họ vẫn lựa chọn đầu vào ở những trường có truyền
thống.




14
Nhu cầu sử dụng nhân lực trong lĩnh vực TCNH rất rộng vì nhiều lĩnh vực khác họ
cũng cần đến ngành này. Hướng tương lai, ngành TCNH luôn cuốn hút các doanh
nghiệp và các ngân hàng luôn tìm kiếm nguồn nhân lực có chất lượng cao.

Tuy nhiên, trong năm 2008 - 2009, khi tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới
tới Việt Nam thì việc mở rộng các ngân hàng không còn như trước đây, song nguồn
nhân lực cho hệ thống này mọi người vẫn rất quan tâm bởi lý do sau: Lực lượng lao
động chính của ngành này, hàng năm số lượng nghỉ chế độ cũng khá lớn và sàng lọc
trong hoạt động đối với những người đã tuyển dụng nhưng không làm được việc cũng
nhiều.

Đại diện Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam cũng cho biết hiện nay hầu hết các
sinh viên ra trường đều chưa thể đáp ứng ngay được công việc. Gần như 100% các
nhân viên đều phải qua một khóa đào tạo ngắn hạn ít nhất là ba tháng của ngân hàng,
rồi sau đó có một thời gian “cầm tay chỉ việc” mới có thể làm được.

Bên cạnh đó, hàng năm có sự di chuyển nhân lực từ ngân hàng này sang ngân
hàng kia, do vậy bộc lộ nơi thừa, nơi thiếu nên mọi người đều có cảm giác thiếu nhân
lực. Đặc biệt, năm 2010 các ngân hàng nước ngoài họ vào thị trường Việt Nam sẽ rất
nhiều. Đây sẽ là nơi thu hút lực lượng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, kể cả lao
động mới. Từ đó, dẫn đến nhu cầu lao động trong ngân hàng không phải đến ngưỡng
nào là đủ, nó luôn luôn có sự thay đổi, bổ sung liên tục. Thống đốc Ngân hàng nhà
nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu cho biết nhân lực ngành ngân hàng đã thực sự đến
mức báo động đỏ. Nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành này mỗi năm cần khoảng
15.000 nhân viên tốt nghiệp đại học nhưng cộng số sinh viên tại các trường mới chỉ
đáp ứng 11.000 người, mỗi năm thiếu gần 4.000 người

Tin tưởng rằng với sự phát triển CNH,HĐH đất nước ngành ngân hàng sẽ đóng
góp số lượg cũng như chất lượng cho nền kinh tế.



C. KẾT LUẬN

Bất cứ một sự phát triển nào đó cũng đều phải có một động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội được dự trên nhiều nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực. Song chỉ
có nguồn lực con người mới tạo ra động học cho sự phát triển, những nguồn lực khác
15
muốn phát huy tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Do vậy trong bất
cứ xã hội nào, một đất nước nào, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cũng đóng một vai
trò cực kỳ quan trọng. Đặc biệt ở nước ta, vấn đề này lại càng được coi trọng hơn bao
giờ hết. Con người Việt Nam đã làm được những điều kỳ diệu trong lịch sử và con
người Việt Nam chắc chắn cũng làm được những điều kỳ diệu như thế trong tương
lai, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo Trình Kinh Tế Chính Trị Mác – Lênin - NXB Chính trị quốc gia

2. Một số chuyên đề đường lối CM ĐCS – NXB .........................- trang 58-79, 94-112

3. “ Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực tiến hành CNH, HĐH” - Vũ Huy Chương.

4. “CNH-HĐH phát huy lợi thế so sánh kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát
triển ở Châu Á” - PGS. Đỗ Đức Định

5. Tạp chí kinh tế.

6. Văn kiện nghị quyết đại hội VII, VIII, IX, X

7. Báo điện tử:

- http://dantri.com.vn/

- http://vietbao.vn/

- http://vi.wikipedia.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh




16
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản