Đề tài " Phát triển bền vững ngành công nghiệp Việt Nam"

Chia sẻ: nguyenthixuan0405

Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, nên nhiều quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển. Ở Việt Nam, ngày 17/8/2004 Thủ Tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TT ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững với mục tiêu tổng quát là nhằm đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài " Phát triển bền vững ngành công nghiệp Việt Nam"

 

  1. Mục lục Mở đầu Nội dung I. Những vấn đề chung về phát triển bền vững ngành công nghiệp II. Nội dung phát triển bền vững ngành công nghiệp III. Định hướng và giải pháp phát triển bền vững công nghiệp Kết luận
  2. Mở đầu Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, nên nhiều quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển. Ở Việt Nam, ngày 17/8/2004 Thủ Tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TT ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững với mục tiêu tổng quát là nhằm đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài lòng giữa con người và tự nhiên; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữ ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, với sự hỗ trợ của dự án VIE/01/021, Bộ Công nghiệp triển khai xây dựng Định hướng chiến lược phát triển bền vững công nghiệp với mục tiêu “ Định hướng Chiến lược phát triển bền vững quốc gia” trong ngành công nghiệp. Chương trình này đưa ra những định hướng lớn mang tính chiến lược và sự ưu tiên để phát triển kinh tế ngành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là: phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và chăm lo quyền lợi của người lao động, góp phần phát triển xã hội; đồng thời làm định hướng cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xây dựng các chương trình hành động thực hiện phát triển bền vững và định hướng đến 2020. Việc phát triển bền vững ngành công nghiệp được thực hiện trong điều kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Sự ổn định về chính trị - xã hội, những thành tựu về phát triển kinh tế đất nước, những thắng lợi về ngoại giao, an ninh quốc phòng, những chuyển biến mạnh mẽ về cải cách hành chính và luật pháp đã tạo ra các điều kiện 2
  3. thuận lợi cho công nghiệp phát triển. Song trình độ của các DN, sức cạnh tranh trên thương trường còn biểu hiện rất yếu, kém. Nội dung I. Những vấn đề chung về phát triển bền vững ngành công nghiệp 1. Thực trạng phát triển ngành công nghiệp Bước sang thời kì đổi mới của Việt Nam nhất là từ Đại Hội lần thứ VI ( tháng 12/1986) đã mở ra hướng phát triển mới cho nền kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng. Chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nên cơ chế thị trường với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế đã dần dần đưa kinh ta nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Tính năm 2010 cả nước có hơn 350.000 doanh nghiệp công nghiệp, với tổng số lao động ước tính là 47,41 triệu lao động người, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 15,2%/năm trong giai đoạn 2005-đầu 2010. Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, dệt may, da giày. Khai thác triệt để các điều kiện thuận lợi, sản xuất công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào nhịp độ phát triển kinh tế chung của đất nước. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,7%, cao hơn 2,7%/năm so với KH và cao hơn 1,6% so với 5 năm trước, đã góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; trong đó khu vực nhà nước tăng khoảng 12,1%, khu vực ngoài nhà nước tăng 21,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,3%. 5 năm trước (1996–2000) tốc độ này lần lượt là 9,8%, 11,6% và 22,4%. Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp khoảng 10,3%. Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng (tính theo giá trị sản xuất) công nghiệp chế biến tăng từ 79,7% năm 2000 lên 83,2 % năm 2005; CN khai thác giảm từ 13,8% năm 2000 còn 3
  4. 10,7% năm 2005, tương tự công nghiệp sản xuất, phân phối điện - khí - nước từ 6,5% còn 6,1%. Năng lực sản xuất của nhiều ngành, nhiều sản phẩm tăng lên đáng kể, một số sản phẩm đã cạ nh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước, đáp ứng cơ bản nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế và đóng góp lớn vào xuất khẩu. Một số sản phẩm như điện sản xuất, than sạch, thép cán, xi măng, giấy đã hoàn thành kế hoạch trước thời hạn. Một số ngành công nghiệp mới đã được hình thành và phát triển như đóng tầu, chế tạo thi ết bị đồng bộ, sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, chế biến đồ gỗ... Tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu, phụ tùng, thiết bị chế tạo trong nước ngày càng tăng. Quá trình nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới ngày càng được chú trọng và có xu hướng phát triển. Đến nay, cả nước có hơn một trăm khu công nghiệp - khu chế xuất, trong đó nhiều khu hoạt động có hiệu quả. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn phát triển, ngành nghề đa dạng, đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp (6%), thu nhập lao động nông thôn được cải thiện. Phát triển công nghiệp tuy đạt tốc độ cao nhưng hiệu quả tăng trưởng chưa tuơng xứng. Tốc độ hiện đại hoá, đổi mới công nghệ chậm. Công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn chưa đ áp ứng yêu cầu. Tăng trưởng khu vực đầu tư nước ngoài có chiều hướng giảm. Tỷ trọng khu vực công nghiệp tư nhân còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng. Vai trò nhà nước trong chỉ đạo thực hiện Chiến lược, Quy hoạch, Chính sách chưa hiệu quả, nhiều lúc còn thiếu nhất quán, để mất cơ hội. Cơ chế, chính sách không đồng bộ, thiếu ổn định, đặc biệt chưa xây dựng được một cơ chế phát triển doanh nghiệp hữu hiệu để tạo năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của nhiều ngành và sản phẩm còn thấp, chưa rõ các sảm phẩm mũi nhọn, trọng điểm. Công nghiệp phụ trợ chậm phát triển. Tỷ trọng đầu tư cho phát triển công nghiệp còn thấp so với yêu cầu. Đầu tư cho một 4
  5. ngành công nghiệp cơ bản chưa được tập trung quyết liệt. Xuất khẩu tăng khá nhưng giá trị gia tăng còn thấp do tỷ lệ sử dụng nguyên phụ liệu nhập khẩu còn cao. Hoạt động dịch vụ công nghiệp chưa phát triển. Đặc biệt trong thời kỳ này, VN tham gia các tổ chức quốc tế thì năng lực cạnh tranh, cũng như quá trình sx cần được nâng cao hơn. 2. Những cơ hội của ngành công nghiệp hiện nay Tiến trình đổi mới của Việt Nam trong những năm qua đã đem lại biến đổi sâu sắc về kinh tế và xã hội, vượt qua tình trạng suy thoái về kinh tế. Đây là điều kiện để công nghiệp tiếp tục đẩy mạnh đổi mới trong thời gian tới. Bên cạnh đó môi trường kinh tế - xã hội đã có nhưng thuận lợi có nhiều so với thời kỳ trước đổi mới. Sự ổn định về chính trị trong nước là nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công trong công cuộc tiếp tục đổi mới kinh tế CN. Môi trường pháp lý đang dần bổ sung nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh theo pháp luật cho mọi thành phần kinh tế, mọi DNCN. Việt nam là một nước đang phát triển, có vị trí địa lý rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế. Đặc biệt là nằm trong khu vực kinh tế phát triển và tăng trưởng năng động nhất thế giới. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để tiếp thu những thành tựu kĩ thuật và công nghiệp, kinh nghiệm của các nước trong khu vực để vượt lên cùng sự phát triển của các nước. Đồng thời được giao lưu học hỏi, trao đổi, thử sức cạnh với các nước bạn về các mặt Quan hệ giữa VN và thế giới ngày càng được xích gần lại. VN là thành viên của khối ASEAN, tham gia AFTA và APEC, thực hiện có hiệu quả Hiệp định thương mại với Mỹ, trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), thị trường xuất khẩu của VN ngày càng mở rộng, xu hướng các nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào VN ngày càng tăng qua các kênh đầu tư trực tiếp và gián tiếp…Với vị thế quốc tế hiện nay, nước 5
  6. ta có nhiều điều kiện tranh thủ vốn nhờ các khoản đầu tư trực tiếp và gián tiếp, các nguồn vốn lớn như ODA và công nghệ tiên tiến cho sự phát triển một nền kinh tế công nghiệp phát triển sản xuất được nhiều chủng loại sản phẩm hàng hóa chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu. Đưa công nghệ cao vào các ngành truyền thống để tiếp tục phát triển và nâng cao dần. Từ đó phát triển các ngành công nghiệp nặng, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 3. Những thách thức của ngành công nghiệp VN vẫn còn nhiều vấn đề thuộc quan điểm cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế công nghiệp vẫn chưa được làm rõ như vấn đề sở hữu, vấn đề bóc lột, vấn đề cải cách các doanh nghiệp Nhà nước, cải cách các thủ tục hành chính cho sự đầu tư, phát triển. Năng lực của bộ máy quản lý Nhà nước còn nhiều nhược điểm, yếu kém. Chính sách kinh tế, biện pháp quản lý không đồng bộ, hay thay đổi, thiếu nhất quán. Chưa tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi trong đầu tư trong nước và quốc tế. Công cuộc cải cách hành chính nhà nước vẫn chưa được khai thông, nhiều thủ tục phiền hà. Mặc dù công nghiệp trong những năm gần đấy có tốc độ tăng trưởng khá song chưa có được những yếu tố cần thiết để đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững. Đầu tư trong nước cho sản xuất công nghiệp vẫn còn thấp, cơ cấu công nghiệp chậm thay đổi nên chưa phát huy được tiềm năng lao động và tài nguyên thiên nhiên để đạt được hiệu quả kinh tế cao. Khoảng cách tụt hậu của công nghiệp VN so với các nước còn khá lớn dẫn đến sản phẩm CN khó cạnh tranh được với sản phẩm của các nước nhất là sản phẩm của các nước phát triển. Hiện nay sức cạnh tranh trên thương trường của chúng ta không đủ lớn, trong lúc hội nhập kinh tế quốc tế càng được mở rộng, và tham gia nhiều tổ chức, hiệp hội thế giới. 6
  7. Khoa học và tri thức quản lý kinh tế ngày càng phong phú, hiện đại. Song trình độ của các nhà sản xuất – kinh doanh VN vẫn còn non yếu. Do vậy làm hạn chế yêu cầu phát triển của công nghiệp và hội nhập kinh tế Thị trường vốn, tiêu thụ sản phẩm trên thế giới đang trong giai đoạn khan hiếm, muốn nhận được đầu tư của nước ngoài, VN phải tạo môi trường hấp dẫn, công nghiệp phải vươn lên để cạnh tranh với các nước; khai thác, quản lý và sử dụng vốn một cách hiệu quả hơn nữa nhằm tạo được uy tín để làm ăn lâu dài với các nước. II.Nội dung phát triển bền vững ngành công nghiệp 1. Tăng trưởng bền vững Hiện nay, mục tiêu hàng đầu của nước ta là ổn định kinh tế vĩ mô, song vấn đề tăng trưởng bền vững cũng rất được chú trọng. “Tăng trưởng bền vững” bao hàm cùng lúc các đảm bảo tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng. Chất lượng tăng trưởng thể hiện ở 3 yếu tố chính: giá trị gia tăng (VA), năng lực cạnh tranh và cơ cấu nông nghiệp. Trong đó giá trị gia tăng là chỉ tiêu quan trọng bậc nhất phản ánh chất lượng tăng trưởng. Quý I/2010, giá trị sản xuất công nghiệp tăng tới 13,6% so với quý I/2009, nhưng giá trị tăng thêm chỉ là 5,65%. Trong khi đó, quý I năm ngoái, giá trị sản xuất công nghiệp chỉ tăng 2,1% so với cùng kỳ, nhưng giá trị tăng thêm của khu vực này là 1,5%. Khoảng cách khá lớn giữa giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm luôn là một trong những lý do cơ bản khiến dư luận đặt dấu hỏi về hiệu quả của sản xuất. Tuy nhiên, các nghiên cứu bước đầu đã cho thấy, có sự không tương xứng gữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Giá trị gia tăng thấp có thể là một biểu hiện đặc trưng cho thời kỳ đầu phát triển công nghiệp hóa dụa vào gia công, song nếu không nhận diện và điều chỉnh kịp thời sẽ tạo ra các mầm mống không bền vững trong tương lai; Năng lực cạnh tranh phản ánh những giá trị lợi thế vô hình và hữu hình, 7
  8. những cơ hội tạo ra lợi nhuận của toàn bộ nền công nghiệp. Và đã trở thành yếu tố quan trọng trong đánh giá chất lượng. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước được chia thành ba nhóm: các sản phẩm có thế mạnh xuất khẩu, các sản phẩm có thể cạnh tranh trong tương lai, nhưng hiện vẫn cần được bảo hộ, và các sản phẩm không thể cạnh tranh quốc tế. Đối với nhóm thứ nhất, năng lực cạnh tranh thể hiện ở chỉ tiêu tỷ lệ giá trị xuất khẩu trong giá trị sản xuất của Việt Nam liên tục tăng trong các năm qua. Các mặt hàng trong nhóm thứ hai và thứ ba của Việt Nam đã được bảo hộ trong một thời gian dài, tuy nhiên cho đến nay, những hàng hoá thuộc hai nhóm này vẫn có chất lượng kém và giá thành cao, không thể cạnh tranh trên thị trường trong nước chứ chưa nói đến khả năng xuất khẩu. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước được thể hiện rõ nhất qua các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu. Từ năm 2000 đến nay, nhìn chung, hai chỉ tiêu trên của Việt Nam đều thấp, mặc dù có xu thế tăng trong các năm 2000-2004 (tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt 4,85% năm 2004), nhưng lại giảm vào năm 2005 (4,42%). Với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của sản phẩm còn rất thấp, năng lực cạnh tranh trên bình diện quốc gia của Việt Nam cũng không mấy khả quan. Việt Nam luôn nằm ở nhóm nước có năng lực cạnh tranh thấp của thế giới, và năng lực cạnh tranh của Việt Nam hầu như không được cải thiện theo thời gian, thậm chí còn xấu đi. Trong bối cảnh chứng khoán hóa nền kinh tế, các yếu tố cạnh tranh quyết định bởi giá trị được đánh giá trên thị trường chứng khoán. Các giá trị được xây dựng trên cơ sở niềm tin của các nhà đầu tư, bởi các dấu hiệu đảm bảo cho tăng trưởng lâu dài. Cơ cấu bền vững là cơ cấu phản ánh được xu thế phát triển chung, đảm bảo các cân đối nội tại thượng – hạ nguồn, công nghiệp phụ trợ… và xuất/nhập khẩu. Đó là cơ cấu đa dạng nhưng thống nhất và có khả năng hỗ trợ tốt cho nhau, cho phép tạo ra các 8
  9. giá trị gia tăng lớn nhất. Trong đó, hàm lượng công nghệ và chế biến sâu trở thành động lực chính của tăng trưởng, quyết định nội dung về chất của cơ cấu. bên trong đó, công nghiệp bền vững còn phải được hỗ trợ bởi hệ thống đổi mới và nghiên cứu triển khai có năng lưc, cơ sở thúc đẩy năng suất và chất lượng. Để đảm bảo tăng trưởng về chất lượng DN cần nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực theo hướng chuyên nghiệp hóa và công nghiệp hóa nhằm nâng cao năng suất lao động, qua đó gián tiếp giảm chi phí hoạt động, có chính sách cụ thể về đào tạo, tuyển dụng, sử dụng và thường xuyên và đào tạo lại nguồn nhân lực, nhanh chóng tiếp cận và tiếp thu, áp dụng những kỹ năng quản lý và sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp ở các nước phát triển. Tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp, hợp lý hóa quy trình sản xuất kinhdoanh nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động. Tăng cường triển khai các hệ thống quản lý sản xuất kinh doanh nhằm giảm rủi ro, giảm tỷ lệ kém chất lượng, tiết kiệm chi phí; khi khai thác hiệu quả những tiện ích của công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. DN cần đẩy mạnh mối liên kết giữa người sản xuất – người cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào với doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu khoa học. Lấy xuất khẩu làm mục tiêu phát triển công nghiệp trên cơ sở tập trung mọi nguồn lực cho phát triển nhóm ngành công nghiệp đang có lợi thế cạnh tranh. Trong quý I/2010, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn được duy trì mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: dệt may đạt 2,2 tỷ USD, tăng 12,3%; giày dép đạt 1 tỷ USD, tăng 10,1%; thủy sản đạt 861 triệu USD, tăng 14,5%; điện tử máy tính đạt 703 triệu USD, tăng 40,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 716 triệu USD, tăng 26,3%; máy móc thiết 9
  10. bị, dụng cụ phụ tùng đạt 630 triệu USD, tăng 66,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 425 triệu USD, tăng 151,7%. Tuy nhiên, có một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực giảm so với cùng kỳ cả về lượng và giá trị như: Gạo giảm 30,7% về lượng và giảm 16,8% về giá trị; cà phê giảm 25,3% về lượng và giảm 31% về giá trị. Ưu tiên thỏa đáng cho việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất để góp phần bảo đảm khả năng độc lập, tự chủ của nèn kinh tế; thúc đẩy phát triển một cách chọn lọc các ngành công nghiệp có tiềm năng, các sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao và công nghiệp quốc phòng. Có cơ chế, chính sách phát triển các vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến. 10
  11. 2. Hội nhập kinh tế quốc tế Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế, bắt nguồn từ quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đơn thuần giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan mà đã được mở rộng ra tất cả lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế thương mại, nhằm mục đích mở cửa thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối với trao đổi thương mại. Việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng chủ yếu là dựa vào nguồn lực của các thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Tăng cường hợp tác liên kết, đưa ngành công nghiệp và xây dựng nước ta hội nhập vào khu vực và quốc tế, trước hết thông qua việc thu hút mạnh đầu tư và công nghệ nguồn của các công ty đa quốc gia tham gia phát triển công nghiệp và xây dựng ở Việt Nam. Nước ta cần phải chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, gắn kết các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, đảm bảo được lợi ích dân tộc, nâng cao được sự cạnh tranh của nền kinh tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong quá trình hội nhập. Như Báo cáo Chính trị Đại hội IX của Đảng, nhất là Nghị quyết 07- NQ/W ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về Hội nhập kinh tế quốc tế đã nhấn mạnh quan điểm: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, đảm bảo tính độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân 11
  12. tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái. 3. Tiêu dùng bền vững công nghiệp Như ta đã biết nguyên tắc quan trọng của phát triển bền vững là hài hòa giữa phát triển và bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là việc làm cấp thiết, thường xuyên và lâu dài. Nó mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong tiêu dùng công nghiệp. Trong CN, phát triển phải đi đôi với giảm thiểu ô nhiễm và phát thải. Tuy nhiên, điểm chốt của vấn đề bảo vệ môi trường trong công nghiệp là tiêu dùng công nghiệp. Bởi tiêu dùng công nghiệp là nguyên nhân cơ bản tạo nên chất thải và các tác động tới môi trường và cả xã hội. Sản xuất công nghiệp không tránh khỏi tiêu dùng tài nguyên đất đai, nước, năng lượng và nguyên liêu khoáng và cả con người, song tiêu dùng thế nào để các tài nguyên tái tạo có thể tái tạo được và giảm thiểu thấp nhất lãng phí các nguồn TN không tái tạo. Tiêu dùng bền vững chính là cách phòng ngừa tốt nhất, đảm bảo cả ba lợi ích cho hiện tại và tương lai. Trong tiêu dùng quan trọng nhất là tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng sản phẩm công nghiệp. Tiêu dùng sản xuất bao hàm cả việc khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất cần phải thực hiện sao cho tiết kiệm và hiệu quả, giảm thấp nhất chi phí tài nguyên trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị công nghiệp tạo ra. Thay thế tài nguyên truyền thống bằng tài nguyên tri thức , phát triển con người nhằm tạo ra ngày càng nhiều cấc nguồn lực tri thức thay thế với khả năng lớn hơn. Giảm tiêu dùng tài nguyên chính là giảm phát thải và bảo vệ môi trường. Còn tiêu dùng sản phẩm CN đang tạo ra lượng chất thải rất lớn như hàng tiêu dùng, bao gói, 12
  13. hóa chất … Nếu không được xử lý sẽ tạo ra ảnh hưởng ô nhiễm môi trường rất lớn, song nếu xử lý sẽ rất tốn kém. Tiêu dùng bền vững sẽ hướng tới các sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm không chất thải, các mô hình CN sinh thái trong đó có các sản phẩm và chất thải được quay vòng, tái sử dụng, trao đổi trong một “vòng đời khép kín” 4. Phát triển doanh nghiệp bền vững Doanh nghiệp là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của công nghiệp, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm cho người lao động, phát triển vào nền kinh tế là rất đáng kể. Mỗi DN phải thực sự bền vững mới tạo ra nền công nghiệp bền vững. DN bền vững phản ánh năng lực tự điều chỉnh và thích nghi trong môi trường luôn biến động, hàm chứa không chỉ các nội dung về kinh tế mà còn trách nhiệm xã hội đầy đủ của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội đầy đủ chính là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường và xã hội, song lớn hơn, xu hướng mới mong muốn tạo ra các sắc thái văn hóa doanh nghiệp. Bền vững trước hết phải bắt nguồn từ trong ý thức, quyết định hành động và ứng xử của mỗi doanh nghiệp và chính văn hóa doanh nghiệp tạo ra các giá trị gia tăng vô hình của doanh nghiệp trong nhiều trường hợp lớn hơn giá trị hữu hình mà doanh nghiệp tạo ra. Đó chính là cách tiếp cận cạnh tranh mới trong một thế giới hội nhập và theo các chuẩn mực giá trị mới. Các DN thường được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. Vì DN làm cho nền kinh tế năng động, tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Và là trụ cột của kinh tế địa phương: các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các 13
  14. địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. Bởi vậy, nhà nước luôn chú trọng công tác khuyến khích DN phát triển, tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ bồi dưỡng năng lực doanh nghiệp (đào tạo nguồn lực quản lý, hỗ trợ về công nghệ, v.v...), và những hỗ trợ về tín dụng (thành lập ngân hàng chuyên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay, bảo lãnh tín dụng cho DN, thành lập các công ty đầu tư mạo hiểm, v.v...), và những hỗ trợ khác (như mặt bằng kinh doanh). 5. Công bằng xã hội Phát triển bền vững chính là nhằm đến con người và đạt được mức độ công bằng hơn trong chia sẻ phúc lợi xã hội đối với con người. Công nghiệp trong các lựa chọn của mình phải hướng đến hay tạo ra các cơ hội để thực hiện công bằng xã hội đang đặt ra. Gắn với chia sẻ cơ hội thực hiện công bằng xã hội đối với các nhóm lợi ích, sao cho mọi người đều có quyền bình đẳng tiếp cận và chia sẻ các thành quả của công nghiệp hóa – phù hợp thể chế chính trị và an ninh. Những thành tựu phát triển đạt được như ngày hôm nay một phần chính là nhờ sự ổn định chính trị và những giá trị lịch sử được thiết lập. Môi trường chính trị, an ninh quốc phòng có ổn định thì mới có thể thu hút nhiều nhà đầu tư, tạo niềm tin tưởng đối với bạn bè trên thế giới. Và vấn đề an ninh luôn có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển công nghiệp bền vững. Tại Đại hội VIII, Đảng ta đã bổ sung một quan điểm quan trọng là “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”. Đồng thời, Đảng đã đề ra những quan điểm chỉ đạo việc hoạch định hệ thống chính sách xã hội, đó là: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay 14
  15. trong từng bước và suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư. 15
  16. III.Định hướng và giải pháp phát triển bền vững công nghiệp 1. Định hướng phát triển công nghiệp bền vững Từ kết quả đạt được của ngành CN từ năm 2001-2005, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, đã góp phần quan trọng trong quá trình thực hiện mục tiêu Chiến lược phát triển KT - XH 10 năm của Việt Nam đến năm 2020 và tạo nền tảng để đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, ngành CN cần phải thường xuyên xem xét, cập nhật những định hướng, giải pháp, cơ chế, chính sách để hoàn thiện Chiến lược nhằm phát huy cao độ mọi nguồn lực trong nước, thu hút tối đa và khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy lợi thế cạnh tranh, định hướng tốt hơn cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển CN theo những mục tiêu chung. Thời gian đến năm 2020 không còn nhiều. Những đất nước được gọi là “ con hổ”, “con rồng” trong vùng đã tìm được cho mình một mô hình phát triển khai thác triệt để bối cảnh quốc tế và thế mạnh riêng của họ. Đó là Nhật Bản, Hàn Quốc trong thời kì bảo hộ. Singapore, Malaysia, Thái Lan trong thời kì đầu của quá trình toàn cầu hóa; Trung Quốc và Ấn Độ trong thời gian gần đây. Trong bối cảnh hóa hiện đại ngày nay, Việt Nam cũng cần tìm cho mình một cách đi riêng. Chúng ta cần học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm và tri thức của các nước đi trước, đồng thời phải có những sáng tạo lớn mang dấu ấn Việt từ thực tiễn phát triển đất nước để xây dựng mô hình phát triển CNVN. Chỉ có như thế mới có thể tạo ra những bước tiến mạnh mẽ, rút ngắn nhanh khoảng cách với các nước khác. Việt Nam cần phải tập trung phát triển mạnh những ngành mũi nhọn như dệt may, giày dép, lắp ráp cơ điện tử, chế biến nông- lâm- thủy hải sản, ngành công nghệ cao như công nghệ điện tử tin học, công nghệ sinh 16
  17. học, vật liệu mới... kêu gọi đầu tư nước ngoài vào những ngành CN cần nhiều vốn, dựa vào nguồn tài nguyên như dầu khí, luyện kim. Đẩy mạnh xuất khẩu CN, coi xuất khẩu là mục tiêu phát triển, là thước đo đánh giá khả năng chủ động hội nhập. Chuyển hướng từ xuất khẩu sản phẩm sơ cấp sang xuất khẩu dựa chủ yếu sản phẩm thứ cấp nhằm nâng cao ưu thế so với các nước trong việc khai thác, sử dụng nguồn lao động dồi dào. Tái cơ cấu CN theo hướng hình thành cơ cấu CN năng động, giảm dần tỷ trọng khu vực nhà nước, tăng dần khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài; chú trọng phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cơ cấu phân bố công nghiệp theo hướng phát triển và dịch chuyển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động về nông thôn, hình thành công nghiệp nông thôn, phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn. Phát triển CN đi đôi với bảo vệ môi trường. Thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ môi trường, đầu tư mới và cải tạo các hệ thống xử lý môi trường; chú trọng áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn; nghiên cứu hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường, ưu tiên ứng dụng công nghệ sạch và công nghệ thân thiện môi trường. Tăng cường công tác vệ sinh an toàn, bảo hộ lao động, an toàn cháy nổ, quan tâm chăm lo đời sống, sức khỏe, bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững trong ngành CN. 2. Giải pháp phát triển công nghiệp bền vững Thực tế, CNVN đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao (15,2%), nhưng chất lượng tăng trưởng vẫn chậm. Giá trị gia tăng thấp, phát triển công nghiệp hoá dựa vào gia công. Chúng ta phải nghĩ đến xu hướng “ tiêu chuẩn hoá ”, phân đoạn sản xuất và số hoá lĩnh vực CN, phân công các ngành trở nên phổ biến, dễ chia sẻ, nhưng cũng cạnh tranh hơn. Nền CN nước ta mặc dù nhỏ bé, nhưng phải có chỗ đứng trong không gian chung, 17
  18. tạo bước đi hợp lý để cân bằng cho được các quan hệ nhiều chiều, hình thành một mắt xích trong mạng lưới phân công trong khu vực Đông Nam Á, trên thị trường kinh tế thế giới như đóng tàu, dệt may và tới đây có thể là một số ngành CN phụ trợ… Để phát huy hiệu quả của các giải pháp ta cần phải thực hiện một cách đồng bộ, trong một tổng thể thống nhất các giải pháp chủ yếu sau: Một là: phát triển công nghiệp phải dung hòa được các lợi ích có liên quan. Hai là: phát triển công nghiệp phải song hành cùng bảo vệ môi trường. Trong lĩnh vực kinh tế, ưu tiên thay đổi mô hình xản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường, thực hiện quá trình “ công nghiệp hóa sạch”. Sử dụng tiết kiện tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải một cách hiệu quả. Phòng ngừa và kiên quyết xử lý tình trạng ô nhiễm do hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo ra. Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, khuyến khích sử dụng sử dụng nguyên liệu và công nghệ tại các cơ sở sản xuất. Ba là: cần tập trung phát triển những ngành hàng, sản phẩm có giá trị gia tăng, hàm lượng chất xám cao, công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, giải quyết vấn đề việc làm cho lao động dư thừa. Bốn là: Giải pháp về vốn đầu tư cho sản xuất công nghiệp. Năm là: cải cách các thủ tục hành chính, khuyến khích tư nhân bỏ vốn phát triển sản xuất công nghiệp nhất là hàng tiêu dùng. Sáu là: giải pháp về đào tạo lao động trong nghanh công nghiệp. Phát triển mạnh nguồn nhân lực, đào tạo bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho công nhân, đặc biệt là đội ngũ công nhân bậc cao, đa dạng hóa các hình thức đào tạo. Bảy là: hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô, xây dựng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng cho sản xuất CN. Hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển CN, đa dạng hó các loại hình sở hữu và tổ chức sản xuất công nghiệp. Nhà nước tạo ra hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp công nghiệp hoạt động trong nước phát triển đủ sức cạnh tranh với công nghiệp 18
  19. ngoài nước. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như mạng lưới giao thông thuận lợi, mạng lưới điện, thông tin liên lạc, thúc đẩy trao đổi hàng hóa, giao lưu kinh tế. Tám là: cần quan tâm đến các vấn đề, quy hoạch, dự báo, đầu tư công nghệ và bảo vệ môi trường. Chín là: Phát triển CN môi trường để bảo vệ môi trường. 19
  20. KẾT LUẬN Nhìn lại những năm qua trong việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngành công nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành quả rất đáng khích lệ, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, tình hình thời tiết, dịch bệnh trong nước gây những ảnh hưởng không nhỏ. Phát động được phong trào thi đua rộng lớn khắp cả nước về phát triển Công Nghiệp – tiểu thủ CN, Ngành Công Nghiệp đã liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao; Cơ cấu sản xuất và chất lượng sản phẩm có bước chuyển biến tích cực; Giải quyết bước đầu việc chuyển dịch cơ cấu lao động, phân bố lực lượng sản xuất đã có xu hướng tập trung trên cơ sở phát huy lợi thế của vùng, địa phương; Một số sản phẩm đã có khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị trường trong nước và quốc tế. Đến nay, cả nước có hơn một trăm khu công nghiệp - khu chế xuất, trong đó nhiều khu hoạt động có hiệu quả. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông thôn phát triển, ngành nghề đa dạng, đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp (6%), thu nhập lao động nông thôn được cải thiện. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, ngành công nghiệp cần phải thường xuyên xem xét, cập nhật những định hướng, giải pháp, cơ chế, chính sách để hoàn thiện Chiến lược phát triển của ngành đến năm 2020 là cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp, nhằm phát huy cao độ mọi nguồn lực trong nước, thu hút tối đa và khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy lợi thế cạnh tranh, định hướng tốt hơn cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển CN theo những mục tiêu chung. Ngành công nghiệp Việt Nam đang tập trung phát triển theo 3 nhóm ngành với những cơ chế, chính sách khác nhau. Mỗi nhóm ngành cần có các cơ chế chính sách khác nhau của Chính phủ cũng như các doanh nghiệp để đảm bảo sự phát triển hài hoà, có chọn lọc và hiệu quả chung của nền kinh tế. 20
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản