Đề tài: Phương pháp nuôi cá lóc thịt

Chia sẻ: canhchuon_1

An Giang là một trong những tỉnh đầu nguồn của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) hằng năm lượng nước lũ tràn về đây rất sớm và trùng với thời gian thu hoạch xong lúa hè thu. Trong các tháng tiếp theo của mùa lũ, thu nhập và đời sống của người dân không cao và tương đối bấp bênh do chủ yếu dựa vào nghề đánh bắt thủy sản như giăng câu, giăng lưới, bắt ốc... (Trung Liêm, 2004). Trước tình hình đó, Phòng Nông Nghiệp và Xây Dựng huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã khuyến khích phát triển nhiều mô hình sản xuất...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài: Phương pháp nuôi cá lóc thịt

Đề tài
Phương pháp nuôi cá lóc
thịt
LỜI CẢM TẠ
---♣---
Xin gởi lời cảm tạ và biết ơn sâu sắc đến:
 Quí thầy cô Khoa Nông Nghiệp & Tài Nguyên Thiên Nhiên, Trường Đại
Học An Giang đã truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt quá trình
học tập.
 Cán bộ hướng dẫn: Cao Quốc Nam và Trương Ngọc Thúy đã tận tình
hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
 Tập thể cán bộ và bà con nông dân xã Tân Trung, huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thu thập số liệu trong quá
trình thực hiện đề tài.
 Cùng các bạn sinh viên lớp ĐH2PN2 đã không ngừng giúp đỡ và động
viên chúng tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học An Giang.


Chân thành cảm tạ.
Long Xuyên, ngày 23 tháng 05 năm 2004
Tô Phước Thủ
TÓM LƯỢC
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại xã Tân Trung huyện Phú Tân tỉnh
An Giang từ tháng 9 năm 2004 đến tháng 4 năm 2005 nhằm tổng kết và theo dõi
mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ. Kết quả điều tra cho thấy nguồn lực
lao động trong nông hộ tương đối ít, số người trên nông hộ trung bình nhỏ hơn
hoặc bằng 5, chiếm 86,7%, có độ tuổi lao động chính (18-60 tuổi) chiếm 76% và
có trình độ học vấn đa phần là thấp (55% là cấp I và 38% là cấp II). Nguồn đất
đai của các hộ tương đối ít, 43,33% nông hộ có diện tích đất canh tác lúa, còn lại
56,67% nông hộ chỉ có diện tích đất vừa đủ để ở và nuôi cá. Diện tích ao và thể
tích vèo để nuôi cá lóc trung bình là 884 m2/hộ và 89,41m3/hộ, tương ứng.
Nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động nuôi cá lóc trong vèo được tiếp nhận chủ
yếu từ các chương trình truyền hình (26%). Số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc
trong vèo của người dân trung bình là 5,34 năm. Nguồn vốn để phục vụ cho việc
nuôi cá lóc trong vèo đa phần là kết hợp giữa vốn nhà và vốn vay tư nhân
(87%)với lãi suất cao. Lý do chủ yếu mà nông dân áp dụng mô hình nuôi cá lóc
trong vèo trong mùa lũ khá đa dạng, trong đó tạo thêm thu nhập chiếm 33%,
nguồn nước tốt hơn chiếm 30%, dễ tìm cá mồi chiếm 17% .
Giá thành sản xuất ra 1,0 kg cá lóc thịt tương đối cao (18.420 đồng/kg) do hệ số
tiêu tốn thức ăn khá cao (4,71) trong khi đó giá bán của cá lóc thịt là 19.370
đồng/kg. Lợi nhuận mà nông dân thu được sau mỗi vụ nuôi là 29.190 đồng/ m³
vèo (tương đương 2,3 triệu /hộ) và tỷ lời/vốn là 0,04, và nếu không kể công lao
động gia đình thì thu nhập trung bình/nông hộ đạt 4,57 triệu/hộ (tỷ lệ lời/vốn là
0,09). Sau 2-12 năm nuôi cá lóc trong vèo, 100% nông dân trong cuộc điều tra
cho rằng đời sống của họ thay đổi theo chiều hướng tăng do có lợi nhuận cao và
thu nhập thường xuyên.
Có 3 yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của mô hình là vốn
để mua thức ăn cho cá, chiếm 79%, kế đến là thị trường đầu ra, chiếm 17% và
còn lại là chất lượng thức ăn, chiếm 4%.



i
MỤC LỤC
-----оOо-----

Nội dung Trang
LỜI CẢM TẠ.................................................................................................................... i
TÓM LƯỢC.....................................................................................................................ii
MỤC LỤC.......................................................................................................................iii
DANH SÁCH BẢNG.....................................................................................................vii
Bảng số.............................................................................................................. vii
Tựa bảng............................................................................................................ vii
PHỤ CHƯƠNG……………………………………………... ……………....pc-1.....viii
DANH SÁCH HÌNH...................................................................................................... ix
Chương 1 GIỚI THIỆU.................................................................................................1
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU............................................................................ 2
2.1. Sự phân loại và phân bố của cá lóc.................................................................... 2
2.1.1. Phân loại........................................................................................................ 2
2.1.2. Sự phân bố của cá lóc................................................................................... 2
2.2. Một số đặc điểm của cá lóc..................................................................................2
2.2.1. Đặc điểm hình thái......................................................................................... 2
2.2.2. Đặc điểm dinh dưỡng.....................................................................................3
2.2.3. Đặc điểm sinh trưởng.....................................................................................3
Giai đoạn nhỏ, cá lóc chủ yếu tăng trưởng về chiều dài, cá càng lớn thì sự tăng
trọng ngày càng nhanh. Trong tự nhiên, sức lớn của cá không đều, phụ thuộc vào
điều kiện thức ăn sẵn có trong thuỷ vực. Trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm
sóc tốt cá có thể lớn từ 0,5 đến 0,8 kg/năm, đạt tỷ lệ sống cao và ổn định (Phạm Văn
Khánh, 2000). Sau 1 năm tuổi, thân cá lóc dài 38,5-40 cm, nặng 625-1.395 g, cá 3
tuổi thân dài 45-59 cm, nặng 1.467-2.031 g , con đực và con cái chênh lệch lớn về
trọng lượng (Minh Dung, 2004). .................................................................................. 3
2.2.4. Đặc điểm sinh sản.......................................................................................... 3
2.3. Phương pháp nuôi cá lóc thịt.............................................................................. 4
2.3.1. Nuôi trong ao đất........................................................................................... 4
2.3.2. Nuôi cá lóc kết hợp trong ruộng lúa.............................................................. 4
Diện tích vuông ruộng nuôi cá lóc từ 0,5-3 ha, phải có mương và bờ bao xung
quanh. Chiều dài mương bằng chiều dài bờ bao, rộng 1,5-2m, sâu 0,8-1m. Phải có
hệ thống cống bọng cấp thoát nước khi cần thiết. Mật độ thả nuôi là 0,5-1 con/m2
và thời gian nuôi khoảng 6-7 tháng. Trong mô hình này để chủ động được nguồn
thức ăn cho cá lóc người ta thường thả nuôi kết hợp một số loài cá khác như: cá mè
vinh để nâng cao năng suất của ruộng nuôi. Việc cho cá ăn có thể là nguồn cá tạp
tự nhiên trong mùa lũ, hay có thể bổ sung thêm thức ăn chế biến (Dương Tấn Lộc,
2001; Đại học An Giang, 2003). .................................................................................... 4


i
2.3.2. Nuôi cá lóc ở rừng......................................................................................... 5
Hai lâm trường Mùa Xuân, Phương Ninh ở Cần Thơ trước đây có khoảng 1000 đìa
nhử cá tự nhiên, nay đưa diện tích rừng vào nuôi cá gần 4000 ha. Rừng U Minh,
khu Tràm Chim, các rừng nước ngọt, sông cụt, nước kém lưu thông là nơi nuôi và
dưỡng cá lóc tự nhiên. Nơi đây có điều kiện sống thích hợp cho cá lóc, thức ăn tự
nhiên rất phong phú có ở tại chỗ. Có thể nuôi cá 2-3 năm, cá đạt vài kg mỗi con
(Dương Tấn Lộc, 2001)...................................................................................................5
2.3.4. Nuôi cá lóc trong vèo (mùng lưới).................................................................6
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................8
3.1. Vật liệu.................................................................................................................. 8
3.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 8
3.2.1. Thể thức thống kê.......................................................................................... 8
Phỏng vấn điều tra nông hộ và chọn mẫu điều tra theo chủ đích............................ 8
3.2.2 Phương pháp tiến hành................................................................................... 8
3.2.2.1. Theo dõi mô hình nuôi cá lóc trong vèo................................................. 8
3.2.2.2. Tổng kết mô hình nuôi cá lóc trong vèo................................................. 8
3.2.3. Chỉ tiêu theo dõi.............................................................................................9
3.2.3.1. Theo dõi 3 nông dân đang nuôi cá lóc trong vèo với những chỉ tiêu cụ
thể như sau............................................................................................................ 9
3.2.3.2. Tổng kết mô hình nuôi cá lóc trong vèo ............................................. 10
3.3. Phân tích thống kê:........................................................................................... 10
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................................11
4.2. Thông tin nông hộ.............................................................................................. 12
4.2.1. Nguồn nhân lực............................................................................................12
4.2.2. Đất đai..........................................................................................................13
Khi phỏng vấn về nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động nuôi cá lóc trong vèo, thì
nông dân ở vùng nghiên cứu cho rằng nguồn thông tin trên thường xuyên được tiếp
cận chủ yếu từ các nguồn: chương trình truyền hình (tivi), chiếm tỷ lệ 26%, tiếp theo
là đài phát thanh (radio) chiếm tỷ lệ 20% và giữa các nông dân nuôi cá lóc (18%).
Ngoài ra, họ còn tiếp nhận những thông tin từ nhiều nguồn khác nữa như: sách
báo, bà con thân thuộc, cán bộ kỹ thuật viên của huyện hoặc xã (Bảng 4.3). Điều
này cho thấy người dân tại địa bàn nghiên cứu rất quan tâm đến những tiến bộ về
kỹ thuật nuôi cá và thông tin phục vụ cho nuôi cá lóc rất đa dạng. Tuy nhiên các
nguồn thông tin trên còn mang tính chấp giá, bị động và chưa được sắp xếp, hệ
thống hóa hoàn chỉnh. Để phục vụ tốt hơn, thiết nghĩ cần phải có một hình thức tiếp
nhận và chuyển giao thông tin giữa người nuôi cá và cơ quan khoa học cũng như
thị trường,... dễ dàng hơn như các mô hình câu lạc bộ khuyến nông, hợp tác xã kiểu
mới,.................................................................................................................................14
4.3. Hoạt động nuôi cá trong mùa lũ....................................................................... 15
4.3.1. Mùa vụ nuôi cá lóc trong vèo...................................................................... 15
Đa phần những hộ được phỏng vấn thì nuôi cá lóc trong vèo quanh năm. Tận dụng
ao sẵn có, họ thường nuôi 3 vụ cá lóc trên một năm: (1) vụ mùa mưa (từ tháng 4 đến


i
tháng 8 dl), (2) vụ mùa lũ (từ tháng 7-8 đến tháng 11-12 dl) và (3) vụ mùa nghịch
(từ tháng 12 đến tháng 4 dl). Trong năm 2004, kết quả điều tra cho thấy phần đông
người dân đã chọn thời điểm thả cá sớm vào đầu tháng 6, chiếm tỷ lệ 86,67% (Bảng
4) và cá được thu hoạch sớm vào đầu tháng 10, chiếm tỷ lệ 76,67% do giá cá thịt
cao. Các hộ còn lại (23,33%) thì neo lại chờ giá cao hơn. Điều này cũng tương tự
như nhận định của Dương Tấn Lộc (2001) theo ông, ở ĐBSCL mùa lũ tràn về từ
tháng 7 đến tháng 11 hằng năm, do đó người dân nuôi cá lóc cần có nguồn giống
sớm, bắt đầu nuôi từ tháng 5 đến tháng 8 cá được 100g/con. Giai đoạn này cá ăn
mạnh dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên có sẵn và nước lũ lớn thì hiệu quả nuôi sẽ
cao.................................................................................................................................. 15
4.3.2. Lý do nông dân áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ........ 16
4.3.4. Kỹ thuật nuôi............................................................................................... 17
4.3.4.1. Phương pháp cải tạo ao.........................................................................17
4.3.4.2. Phương pháp chuẩn bị vèo nuôi ..........................................................19
4.3.4.3. Cách đặt vèo và phương pháp cấp nước............................................... 20
4.3.4.4. Nguồn cá giống, mật độ thả và kích cỡ cá thả nuôi............................. 21
4.3.4.5. Nguồn thức ăn .....................................................................................22
Do nguồn thức ăn không ổn định nên muốn dự trữ thức ăn lại cho cá lóc thì 56,67%
số người nuôi phải mua thức ăn cho cá ở chợ huyện (Bảng 9). Người nuôi cho rằng
khi mua cá mồi ở huyện thì giá tương đối rẻ hơn so với ở xã. Do thiếu phương tiện
vận chuyển và dự trữ, 40% nông dân còn lại phải mua thức ăn ở phạm vi xã (chủ
yếu là cua, ốc và cá tạp mà người dân trong xã khai thác được và bán lại cho những
người nuôi cá lóc ở địa phương). Nhưng lượng thức ăn này giá cả không ổn định và
bấp bênh nên chủ yếu là người dân phải mua cá mồi ở huyện nơi đây tập trung
nhiều trại vựa cá mồi lớn và ổn định. Nếu so sánh với xã Vĩnh Hội Đông của huyện
An Phú thì ngoài việc mua cá mồi ở phạm vi xã hoặc huyện thì người dân còn mua
cá ở phạm vi tỉnh nhiều hơn, do phải đi mua cá mồi xa nên làm tăng thêm chi phí
vận hành của người nuôi, thậm chí do điều kiện tự nhiên giáp với nước bạn
Campuchia nên một số nông dân ở đây còn sang Campuchia để mua cá mồi. Qua
điều này cho thấy nguồn cung cấp thức ăn ở xã Tân Trung tương đối thuận lợi hơn
so với nơi khác, người dân không phải đi xa để mua cá mồi, góp phần giảm chi phí
vận hành và tăng lợi nhuận sau mỗi vụ nuôi cá lóc trong vèo. ................................. 23
4.3.4.6. Phương pháp cho cá lóc ăn của người dân.......................................... 23
4.3.4.8. Quản lý dịch bệnh ................................................................................ 25
4.3.5. Các chỉ tiêu năng suất và sinh khối lúc thu hoạch của cá lóc trong mô hình
nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ 2004................................................................ 26
4.3.6. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ năm 2004
................................................................................................................................ 29
4.4. Đời sống của nông dân sau khi áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo.......33
4.5. Các yếu tố quyết định thành công của mô hình nuôi cá lóc trong vèo màu lũ
năm 2004.................................................................................................................... 35
4.6. Những khó khăn trở ngại của mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ
năm 2004.................................................................................................................... 36
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ......................................................................... 40


v
5.1. Kết luận...............................................................................................................40
5.2. Đề nghị................................................................................................................ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................43
PHỤ CHƯƠNG............................................................................................................. 46




v
DANH SÁCH BẢNG


Bảng số Tựa bảng Trang

Phụ chương 1: Phiếu phỏng vấn nông hộ thực hiện mô hình nuôi cá lóc trong vèo
trong mùa lũ năm 2004. pc-1....................................................................................... viii
Thành viên trong gia đình năm 2004 pc-1.................................................................. viii
Thời vụ nuôi cá lóc pc-2...............................................................................................viii
Vụ cá lóc trong mùa lũ pc-3.........................................................................................viii
Nguồn cá giống. pc-4................................................................................................... viii
Thức ăn pc-4.................................................................................................................viii
Chi phí đầu tư pc-5.......................................................................................................viii
Tỉ lệ sống, năng suất pc-6............................................................................................ viii
Sinh khối lúc thu hoạch và thu nhập pc-6.................................................................. viii
Tín dụng pc-8................................................................................................................viii
Thu nhập từ các loại cây trồng, vật nuôi ………………………………..pc-9........ viii
Thu nhập khác trong nông hộ pc-11........................................................................... viii
Nguồn thông tin cho hoạt động nuôi cá lóc pc-12........................................................ix
Yếu tố quyết định thành công của mô hình. pc-13....................................................... ix
Phụ chương 2: Sổ theo dõi……………………………………………….....................ix
pc-14................................................................................................................................ix
Bảng 1: Tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên trong gia đình tại xã
nghiên cứu..................................................................................................................... 13
Bảng 2: Diện tích đất, thể tích vèo nuôi, và số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc trong
vèo của nông dân ở xã Tân Trung................................................................................14
Bảng 3: Nguồn thông tin cho hoạt động nuôi cá lóc...................................................15
Bảng 4: Thời gian thả, thời gian thu và những lý do thúc đẩy người dân áp dụng mô
hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ...................................................................... 15
Bảng 5: Nguồn vốn để thực hiện mô hình nuôi cá lóc trong vèo của người dân ở xã
Tân Trung, Phú Tân, An Giang trong mùa lũ năm 2004........................................... 17
Bảng 6: Phương pháp cải tạo ao của nông dân nuôi cá lóc trong vèo tại xã Tân
Trung, Phú Tân, An Giang trong mùa lũ năm 2004................................................... 19




v
Bảng 7: Cách thức chuẩn bị vèo trước mỗi vụ nuôi của nông dân tại địa bàn nghiên
cứu..................................................................................................................................20
Bảng 9: Nguồn cá giống, loại thức ăn và nguồn thức ăn mà người dân ở xã Tân
Trung sử dụng để thực hiện mô hình trong mùa lũ năm 2004...................................22
Bảng 10: Phương pháp quản lý chất lượng nước ao.................................................. 25
Bảng 11: Phương pháp quản lý sức khỏe cá lóc nuôi của người dân tại địa bàn
nghiên cứu ................................................................................................................... 26
Bảng 12: Các chỉ tiêu năng suất, sinh khối lúc thu hoạch, hệ số tiêu tốn thức ăn, giá
bán và giá thành sản xuất của cá lóc trong mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa
lũ 2004............................................................................................................................28
Bảng 13: Hiệu quả kinh tế nuôi cá lóc trong vèo mùa lũ 2004 ..................................29
Bảng 14: So sánh hiệu quả kinh tế giữa hai nhóm hộ có lãi và thua lỗ tại địa bàn
nghiên cứu trong mùa lũ năm 2004............................................................................. 32
Bảng 15: Sự thay đổi đời sống của nông dân và yếu tố quyết định sự thành công khi
áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo........................................................................ 34
Bảng 16: Những khó khăn trở ngại của mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ
năm 2004 tại xã Tân Trung, Phú Tân, An Giang........................................................38
PHỤ CHƯƠNG……………………………………………...……………....pc-1
Phụ chương 1: Phiếu phỏng vấn nông hộ thực hiện mô hình nuôi cá lóc
trong vèo trong mùa lũ năm 2004................................................................. pc-1
Thành viên trong gia đình năm 2004................................................................ pc-1
Thời vụ nuôi cá lóc........................................................................................... pc-2
Vụ cá lóc trong mùa lũ......................................................................................pc-3
Nguồn cá giống.................................................................................................pc-4
Thức ăn............................................................................................................. pc-4
Chi phí đầu tư................................................................................................... pc-5
Tỉ lệ sống, năng suất......................................................................................... pc-6
Sinh khối lúc thu hoạch và thu nhập.................................................................pc-6
Tín dụng............................................................................................................pc-8
Thu nhập từ các loại cây trồng, vật nuôi ....... ………………………………..pc-9
Thu nhập khác trong nông hộ......................................................................... pc-11
Nguồn thông tin cho hoạt động nuôi cá lóc.................................................... pc-12
Yếu tố quyết định thành công của mô hình.................................................... pc-13


v
Phụ chương 2: Sổ theo dõi……………………………………………… pc-14




DANH SÁCH HÌNH

Hình Tựa hình Trang
số
Hình 4.1: Vị trí địa lý của huyện Phú Tân, tỉnh An Giang......................................... 12
Hình 4.2. Mật độ và kích cỡ cá thả nuôi của người dân............................................. 22




i
Chương 1 GIỚI THIỆU

An Giang là một trong những tỉnh đầu nguồn của Đồng Bằng Sông Cửu
Long (ĐBSCL) hằng năm lượng nước lũ tràn về đây rất sớm và trùng với thời
gian thu hoạch xong lúa hè thu. Trong các tháng tiếp theo của mùa lũ, thu nhập
và đời sống của người dân không cao và tương đối bấp bênh do chủ yếu dựa vào
nghề đánh bắt thủy sản như giăng câu, giăng lưới, bắt ốc... (Trung Liêm, 2004).
Trước tình hình đó, Phòng Nông Nghiệp và Xây Dựng huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang đã khuyến khích phát triển nhiều mô hình sản xuất trong mùa lũ nhằm tận
dụng nguồn lao động nhàn rỗi và diện tích mặt nước để nâng cao thu nhập cho
người dân, trong đó có mô hình trồng ấu, rau nhút và nuôi trồng thủy sản (Phòng
Xây dựng và Phát triển Nông thôn huyện Phú Tân - tỉnh An Giang, 2003).
Tân Trung là một xã có diện tích tự nhiên khoảng 790 ha gồm 2406 hộ,
hoạt động chính của người dân trong xã là sản xuất nông nghiệp và đa số có mức
sống trung bình. Trong mùa lũ, nuôi cá lóc trong vèo là mô hình sản xuất điển
hình của xã từ năm 2002 đến nay và toàn xã có đến 105 hộ nuôi (UBND xã Tân
Trung, 2004). Đây là một hình thức nuôi cá khá đơn giản và tận dụng tốt nguồn
thức ăn tự nhiên rẻ tiền như: cá tạp, cua, ốc bươu vàng…nhưng mang lại hiệu
quả kinh tế cao (Tuấn Khanh, 2004). Tuy nhiên ngoài những thành công trước
mắt, mô hình này vẫn còn nhiều hạn chế khi mà mức độ thâm canh ngày càng
cao, giá cả thị trường bấp bênh, kỹ thuật nuôi chưa thích hợp, ... (Phòng Xây
dựng và Phát triển Nông thôn huyện Phú Tân-tỉnh An Giang, 2003).
Do đó để khảo sát hiện trạng nuôi cá lóc trong vèo, tìm hiểu những khó
khăn trở ngại của nông dân và đánh giá được hiệu quả kinh tế của hình thức nuôi
này, chúng tôi đã tiến hành tổng kết và theo dõi mô hình này trong mùa nước lũ
năm 2004 nhằm giúp người dân có thể duy trì và thực hiện mô hình này một
cách có hiệu quả hơn mỗi khi lũ về.




1
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1. Sự phân loại và phân bố của cá lóc

2.1.1. Phân loại
Cá lóc thuộc
Bộ cá Vược: Perciformes
Họ: Ophicephalidae
Giống: Ophicephalus Bloch
Loài: Ophicephalus striatus Bloch, 1972

2.1.2. Sự phân bố của cá lóc
Cá lóc sống ở nước ngọt, có thể sống được ở nước lợ với nồng độ muối
nhỏ hơn 15 phần ngàn, chúng sống ở sông suối, ao đìa và đồng ruộng. Vùng
phân bố rộng từ Trung Quốc đến Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Miến
Điện, Ấn Độ, Philippin (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, ngoài bốn loài cá lóc đã được phát hiện
từ lâu là: cá lóc thường (Ophicephalus striatus Bloch, 1972), cá lóc bông
(Ophicephalus micropeltes Cuvier và Valenciennes), cá chành dục
(Ophicephalus gachua Hanmilton) và cá dày (Ophicephalus lucius Cuvier và
Valenciennes) thì còn có cá lóc môi trề (Channa sp), nó được tìm ra ở tỉnh Đồng
Tháp và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long vào năm 1997. Loài cá này có tốc độ
tăng trưởng rất nhanh nên người dân rất thích nuôi. Hiện nay cá lóc môi trề được
nuôi nhiều hơn cả cá lóc thường và cá lóc bông và có sinh khối lúc thu hoạch
nuôi nhiều nhất trong các loài cá lóc. Một số nơi còn nuôi cá lai giữa cá lóc
thường và cá lóc môi trề (Phạm Văn Khánh; Lý Thị Thanh Loan, 2004).




2
2.2. Một số đặc điểm của cá lóc

2.2.1. Đặc điểm hình thái
Cá lóc có đầu lớn, đỉnh đầu rất rộng, dẹp bằng, mõm ngắn, miệng to,
hướng lên, rạch miệng xiên và kéo dài qua đường thẳng đứng kể từ bờ sau của
mắt. Răng bén nhọn, cá không có râu, mắt lớn, lỗ mang lớn. Thân dài, hình trụ,
tròn ở phần trước và dẹp bên ở phần sau. Vảy lược lớn, phủ khắp thân và đầu.
Đường bên hoàn toàn gãy khúc ở hai nơi khoảng vảy 15-20 và thụt xuống 2 hàng
vảy, phần sau của đường bên chạy liên tục khoảng giữa thân (Trương Thủ Khoa
và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Cũng theo tác giả trên lúc cá sống có màu xanh đen, nâu đen đến đen ở
phần lưng và nhạt dần xuống bụng, bụng cá có màu trắng sữa. Ở cá nhỏ hai bên
hông có từ 10-14 sọc đen lợt vắt xéo ngang thân, các sọc này lợt dần và mất hẳn
ở cá lớn. Vi lưng, vi hậu môn, vi đuôi có các đốm đen vắt ngang qua các tia vi.

2.2.2. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc là loài cá dữ, phàm ăn (miệng rộng, răng sắc), có tính ăn rộng, cỡ
cá dài 3 cm ăn giáp xác, ấu trùng…Cỡ cá dài 3-8 cm ăn ấu trùng côn trùng, tôm
non, nòng nọc, các loại cá nhỏ khác, thân dài hơn 20 cm ăn cá tạp, ếch, … (Ngô
Trọng Lư; Thái Bá Hồ, 2003). Ngoài ra cá lóc có thể ăn được thức ăn chế biến
(Đại học An Giang, 2003; Huỳnh Thu Hòa, 2004).

2.2.3. Đặc điểm sinh trưởng
Giai đoạn nhỏ, cá lóc chủ yếu tăng trưởng về chiều dài, cá càng lớn thì
sự tăng trọng ngày càng nhanh. Trong tự nhiên, sức lớn của cá không đều, phụ
thuộc vào điều kiện thức ăn sẵn có trong thuỷ vực. Trong điều kiện nuôi có thức
ăn và chăm sóc tốt cá có thể lớn từ 0,5 đến 0,8 kg/năm, đạt tỷ lệ sống cao và ổn
định (Phạm Văn Khánh, 2000). Sau 1 năm tuổi, thân cá lóc dài 38,5-40 cm, nặng
625-1.395 g, cá 3 tuổi thân dài 45-59 cm, nặng 1.467-2.031 g , con đực và con
cái chênh lệch lớn về trọng lượng (Minh Dung, 2004).


3
2.2.4. Đặc điểm sinh sản
Cá lóc từ 1-2 tuổi bắt đầu sinh sản, có thể đẻ đến 5 lần/năm. Trong tự
nhiên cá đẻ ở nơi yên tĩnh, có nhiều cây cỏ thực vật thủy sinh, đẻ vào sáng sớm
sau mỗi trận mưa rào 1-2 ngày. Trước lúc đẻ cá làm tổ hình tròn đường kính
khoảng 40-50 cm. Ở nhiệt độ 25-30°C sau ba ngày nở thành con (Ngô Trọng Lư,
2003).


2.3. Phương pháp nuôi cá lóc thịt
Cá lóc là đối tượng nuôi rất được người dân ưa chuộng, thịt trắng, ngon,
có giá trị dinh dưỡng cao đồng thời có giá trị xuất khẩu (Trích trong Nguyễn Văn
Triều và ctv, 1999). Ở Việt Nam thì ĐBSCL là nơi nuôi cá lóc nhiều nhất dựa
trên nguồn thức ăn tự nhiên phong phú và giá rẻ (Dương Tấn Lộc, 2001).
Phương pháp nuôi cá lóc khá là phong phú như nuôi trong lung đìa, rừng, ruộng
lúa, ao đất, lồng bè, vèo, ...

2.3.1. Nuôi trong ao đất
Ao nuôi có diện tích trung bình từ 400-500 m2, độ sâu nước 2,5-3 m. Bờ
ao phải chắc và cao, có cống cấp và thoát nước. Mật độ nuôi dao động từ 15-50
con/m2 (Dương Tấn Lộc, 2001; Phạm Văn Khánh; Lý Thị Thanh Loan, 2004) và
có thể thả ghép thêm một số loài cá khác nhằm tận dụng thức ăn dư thừa như trê
vàng lai, rô đồng. Thức ăn cho cá là tép, cá tạp, cá biển, cua, ốc, … Trong 4
tháng đầu thức ăn được xay nhuyễn và trộn thêm chất kết dính, vitamin C, và
đưa xuống sàng ăn. Từ tháng thứ 5 trở đi cho cá ăn thức ăn được bằm nhỏ. Hằng
ngày bơm bổ sung nước mới cho ao, cứ 5-10 ngày thay nước mới một lần từ
1/3-1/2 thể tích ao. Sau thời gian nuôi từ 6-8 tháng, cá có thể đạt kích cỡ trung
bình 0,7-0,8 kg/con. Cá được thu hoạch một lần bằng lưới kéo. Năng suất cá lóc
nuôi ở ĐBSCL trong các năm 2002-2003 có thể đạt từ 300-400 tấn/ha một vụ
nuôi (Phạm Văn Khánh; Lý Thị Thanh Loan, 2004).




4
Tuy nhiên, với phương pháp nuôi cá lóc trong ao đất (cá lóc là đối tượng
nuôi chính) thì cá chậm lớn, kích cỡ cá lúc thu hoạch không đồng đều, tốn nhiều
công lao động trong khâu thu hoạch và tỷ lệ hao hụt khá cao sau khi thu hoạch
do cá bị ngạt sình. Ngoài ra chi phí thay nước khá lớn trong mỗi vụ nuôi.

2.3.2. Nuôi cá lóc kết hợp trong ruộng lúa
Diện tích vuông ruộng nuôi cá lóc từ 0,5-3 ha, phải có mương và bờ bao
xung quanh. Chiều dài mương bằng chiều dài bờ bao, rộng 1,5-2m, sâu 0,8-1m.
Phải có hệ thống cống bọng cấp thoát nước khi cần thiết. Mật độ thả nuôi là
0,5-1 con/m2 và thời gian nuôi khoảng 6-7 tháng. Trong mô hình này để chủ
động được nguồn thức ăn cho cá lóc người ta thường thả nuôi kết hợp một số
loài cá khác như: cá mè vinh để nâng cao năng suất của ruộng nuôi. Việc cho cá
ăn có thể là nguồn cá tạp tự nhiên trong mùa lũ, hay có thể bổ sung thêm thức ăn
chế biến (Dương Tấn Lộc, 2001; Đại học An Giang, 2003).
Nhìn chung cách nuôi này đòi hỏi phải có diện tích đất ruộng khá lớn,
tốn kém chi phí thiết kế vuông ruộng và khâu thu hoạch, khó quản lý và chăm
sóc cá nuôi, cá chậm lớn.

2.3.3. Nuôi cá lóc ở rừng
Hai lâm trường Mùa Xuân, Phương Ninh ở Cần Thơ trước đây có
khoảng 1000 đìa nhử cá tự nhiên, nay đưa diện tích rừng vào nuôi cá gần 4000
ha. Rừng U Minh, khu Tràm Chim, các rừng nước ngọt, sông cụt, nước kém lưu
thông là nơi nuôi và dưỡng cá lóc tự nhiên. Nơi đây có điều kiện sống thích hợp
cho cá lóc, thức ăn tự nhiên rất phong phú có ở tại chỗ. Có thể nuôi cá 2-3 năm,
cá đạt vài kg mỗi con (Dương Tấn Lộc, 2001).
Rừng có thể kết hợp nuôi cá lóc là rừng có nhiều lung bào trũng, cây
thưa vừa phải hoặc đất có khoảng trống và cây dày đặc, có nơi ngập từ 0,3 m trở
lên trong suốt thời gian 5-7 tháng hay quanh năm. Diện tích rừng từ 5-500 ha có
thể thiết kế cho một vuông nuôi. Cỡ cá giống thả có chiều dài thân từ 8-10 cm và



5
mật độ thả từ 0,5-1 con/m2 măt nước. Nguồn thức ăn của cá lóc chủ yếu có từ tự
nhiên như: cá sặc bướm, cá rô đồng, cá nhỏ, tép, ốc, nhái, cào cào, động vật phù
du, ấu trùng muỗi…Để tăng sinh khối lúc thu hoạch cá lóc, người nuôi phải nuôi
thêm cá sặc bướm, cá rô đồng,… Thu hoạch cá thường dùng lưới chụp đìa và
mỗi năm đìa có thể chụp cá 2-3 lần.
Nhìn chung với cách nuôi này có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên
sẵn có nhưng thời gian nuôi cá lóc rất dài, tỷ lệ hao hụt cao, năng suất cá không
ổn định, diện tích nuôi quá rộng nên gặp nhiều khó khăn trong khâu quản lý, dễ
xảy ra nạn trộm cắp và phòng chống rái cá ăn thịt cá lóc nuôi.

2.3.4. Nuôi trong lồng bè
Năng suất và khả năng mắc bệnh của cá lóc nuôi trong bè phụ thuộc rất
lớn vào vị trí đặt bè. Bè nuôi nên đặt ở những nơi có chất lượng nước tốt, không
bị ô nhiễm, có mực nước sâu, giao thông thuận tiện, đồng thời gần nơi tiêu thụ
sản phẩm. Kích cỡ bè nuôi dao động từ 4 m x 3,5 m x 2,5 m. Cỡ cá thả từ 10-15
g/con, mật độ thả trung bình là 120-130 con/m3 (Đại học An Giang, 2003). Thức
ăn là cá linh băm nhỏ, phế phẩm ở các chợ như đầu cá, ruột cá,… xay nhuyễn
đặt lên tấm vĩ bằng tre cho cá lóc ăn. Thường sau 3 tháng nuôi cá đạt trọng
lượng 1,2 kg/con (Ngô Trọng Lư, 2003).
Ưu điểm của phương pháp này là cá lớn nhanh nhưng nhược điểm là tốn
kém chi phí ban đầu cho việc đóng bè, tốn nhiều dây, cột để neo bè, không an
toàn lắm nếu nuôi cá lóc trong mùa lũ, phải chọn lựa vị trí đặt bè thích hợp.
Ngoài ra khâu phòng trị bệnh cho cá khó khăn do không quản lý được nguồn
nước.

2.3.5. Nuôi cá lóc trong vèo (mùng lưới)
Hằng năm khi lũ về với nguồn nước dồi dào nên thức ăn tự nhiên rất đa
dạng như các loài phiêu sinh vật, động vật đáy..., thành phần chủng loài tôm, cá,
cua, ốc cũng rất phong phú góp phần làm tăng sinh khối lúc thu hoạch khai thác



6
thủy sản nuôi và thủy sản tự nhiên trong vùng (Dương Nhựt Long, 2004). Bên
cạnh đó nghề nuôi cá lóc trong vèo cũng phát triển nhanh từ những năm 2002
đến nay ở các huyện đầu nguồn của tỉnh An Giang, Đồng Tháp (Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, 2003; Dương Nhựt Long, 2004). Người
dân nuôi cá lóc đã nghĩ đến việc dùng lưới thưa để tiện việc quản lý, dễ quan sát
khi cho cá ăn và giảm chi phí khi thu hoạch. Mùa nước năm 2003, ở An Giang
mô hình này phát triển mạnh với số lượng gần 1500 cái (thể tích nuôi đạt trên
35.000 m3) có 1.182 hộ tham gia, giải quyết việc làm thường xuyên cho 1.421
lao động, lãi thu được trung bình từ 2 triệu-4 triệu đồng/8-10 m2 (Nguyễn Văn
Phương, 2003).
Vèo nuôi được đặt trong ao là tốt nhất với kích thước vèo là
5 m x 3 m x 2 m, nuôi khoảng 3.000-5.000 con. Mặt dưới của vèo cách đáy ao là
0,5 m. Thức ăn là những loài cá tạp, cua, ốc. Khi cá lớn cho ăn nguyên con hoặc
xay nhuyễn. Ngày cho cá ăn 2-3 lần. Việc nuôi cá lóc trong vèo có thể giảm chi
phí đầu tư ban đầu và dễ áp dụng cho những nông dân nghèo, ít đất. Ngoài ra
vèo nuôi ít bị phụ thuộc bởi mực nước lũ, nước dâng lên đến đâu có thể nâng vèo
lên đến đó. Tận dụng khoảng không còn lại trong hầm để thả nuôi các loài cá
khác mà không cần cho ăn. Vừa làm giảm ô nhiễm môi trường nước vừa hạn chế
được dịch bệnh vừa tăng thu nhập.
Nhìn chung đây là một mô hình nuôi tuy mới nhưng đã mang lại không
ít điều lợi cho người dân như tạo thu nhập và lợi tức và tận dụng công lao động
nhàn rỗi trong mùa lũ. Theo Nguyễn Văn Dính (2004) thì nuôi cá lóc trong
mùng lưới là giải pháp xóa đói giảm nghèo nhanh nhất đối với nông dân vì có
thể nuôi đến 200 con trong 1m3 nước mà vẫn có lời, không tốn chi phí đào hầm,
ít hao hụt.
Tuy nhiên hình thức nuôi này rất còn mới nên gặp không ít khó khăn
trong khâu quản lý chất lượng nước, kỹ thuật nuôi, nguồn thức ăn và giá cá thịt
trên thị trường. Mặt khác, ảnh hưởng của phương pháp nuôi này lên môi trường



7
xung quanh cũng chưa được đánh giá như: chất lượng nước, nguồn lợi tự
nhiên…




8
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vật liệu
- Địa điểm xã Tân Trung huyện Phú Tân.
- Thời gian thực hiện từ tháng 9/2004 đến tháng 4/2005.
- Dùng xe gắn máy để đi lại.
- Phiếu phỏng vấn (phụ chương 1)
- Sổ ghi chép (phụ chương 2)
3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Thể thức thống kê
Phỏng vấn điều tra nông hộ và chọn mẫu điều tra theo chủ đích.

3.2.2 Phương pháp tiến hành
- Theo dõi một số hộ nông dân tiêu biểu đang nuôi cá lóc trong mùa lũ.
- Phỏng vấn nông hộ: thành phần nông hộ gồm có khá (giàu), trung bình và
nghèo đang nuôi cá lóc trong mùa lũ.

3.2.2.1. Theo dõi mô hình nuôi cá lóc trong vèo
Chọn 3 nông dân đang nuôi cá lóc trong vèo điển hình của xã (danh sách
do cán bộ địa phương cung cấp). Định kỳ theo dõi một tuần/1 lần.

3.2.2.2. Tổng kết mô hình nuôi cá lóc trong vèo
- Tiếp xúc trực tiếp với địa phương để thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện
tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất nông nghiệp của xã trong thời
gian qua.
- Chọn 30 hộ nông dân đang nuôi cá lóc trong vèo để tham gia vào cuộc
phỏng vấn theo mẫu soạn sẵn (ở phụ chương 1).
- Tổng hợp và xử lý các số liệu đã thu thập được.



9
3.2.3. Chỉ tiêu theo dõi

3.2.3.1. Theo dõi 3 nông dân đang nuôi cá lóc trong vèo với những chỉ tiêu cụ
thể như sau


Về kỹ thuật nuôi
Thời vụ nuôi, cách thức họ chuẩn bị ao, vèo trước mỗi vụ nuôi, cách
chọn vị trí để đặt vèo trong ao, thời gian mà họ thả cá giống, cách quản lý chất
lượng nước cũng như phương pháp phát hiện và phòng trị bệnh trên cá lóc nuôi
trong vèo của họ.
Hiệu quả kinh tế của mô hình
- Về chi phí cố định gồm có: đào ao, sên vét ao, vèo cá, vợt, dây, sàng ăn,
máy xay thức ăn, hệ thống ống dẫn, máy bơm nước, thùng chứa thức ăn và một
số chi phí khác phát sinh trong quá trình nuôi. Kết quả của chi phí cố định được
tính toán sau khi trừ ra chi phí khấu hao hằng năm hay vụ (Phụ chương 4).
- Về chi phí vận hành gồm có: vôi bột, cá giống, vitamin- premix, thuốc
phòng và trị bệnh, thức ăn, xăng, dầu, điện, lao động thuê, lao động gia đình, và
một số chi phí khác….
Những khó khăn trở ngại và cách giải quyết khó khăn
 Chất lượng nước,
 Giá cả thức ăn,
 Kỹ thuật nuôi,
 Khâu phòng trị bệnh cho cá lóc
 Vốn để thực hiện mô hình một cách có hiệu quả.
Yếu tố quyết định sự thành công của mô hình
Xét trong quá trình thực hiện mô hình này thì trong một số yếu tố mà
chúng tôi đã dự kiến như: vốn sản xuất để mua thức ăn và tự sản xuất giống, thị
trường đầu ra, chất lượng nước, cá giống tốt, thức ăn tốt, mức lũ, kỹ thuật nuôi,
chính sách của chính quyền địa phương thì yếu tố nào quan trọng nhất quyết
định sự thành công của mô hình.


1
3.2.3.2. Tổng kết mô hình nuôi cá lóc trong vèo
Thông tin định tính
- Đặc điểm nông hộ: tìm hiểu về độ tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ và
các thành viên trong gia đình, kinh nghiệm mà họ thực hiện mô hình.
- Các điều kiện cần thiết để thực hiện mô hình có hiệu quả cao
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm, nơi bán sản phẩm, giá cẩn phẩm,loại người
mua sản phẩm của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
- Khả năng kết hợp với những mô hình canh tác khác: nuôi kết hợp một số
loài cá khác ngoài vèo.
Thông tin định lượng
- Kỹ thuật nuôi tương tự như trên
- Các số liệu kinh tế như chi phí đầu vào và đầu ra của sản phẩm
- Năng suất (cách tính theo phụ chương 3)
3.3. Phân tích thống kê:
- Tổng hợp và phân tích các số liệu đã thu thập được
- Dùng phần mềm EXCEL 5.0 để phân tích và xử lý các số liệu đã thu
thập.




1
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm vùng nghiên cứu
Nằm dọc sông Tiền, hằng năm lượng nước lũ đổ về Phú Tân tương đối
lớn. Trong khi Phú Mỹ, Tân Hòa, Phú Hưng là những xã sản xuất lúa nếp nổi
tiếng của huyện thì Tân Trung lại có điều kiện tự nhiên khác khá đặc thù. Là
một xã mới thành lập được tách ra từ xã Tân Hòa (tháng 12 năm 2003) với lợi
thế vùng đất ngập sâu và thời gian ngập nước kéo dài; diện tích tự nhiên khoảng
790 ha gồm 2406 hộ, hoạt động chính của người dân trong xã là sản xuất nông
nghiệp. Toàn xã có 5 ấp mỗi ấp đều có thế mạnh riêng của mình: ấp Tân Thành
và Trung II trồng màu, ấp Mỹ Hóa trồng lúa một vụ; ấp Vàm Nao trồng lúa 2 vụ.
Tận dụng lợi thế đó của mình vào mùa nước nổi nơi đây thực hiện nhiều mô hình
nuôi trồng thuỷ sản như: trồng ấu, rau nhút. Đặc biệt là nuôi cá lóc, toàn xã có
158 hộ nuôi trong đó có 105 hộ nuôi cá lóc trong vèo.




Hình 4.1: Vị trí địa lý của huyện Phú Tân, tỉnh An Giang




1
4.2. Thông tin nông hộ

4.2.1. Nguồn nhân lực
Kết quả phỏng vấn về thông tin nông hộ được trình bày ở bảng 1. Chủ
hộ của các mô hình nuôi cá lóc trong vèo có độ tuổi trung bình nằm trong
khoảng 18 đến hơn 60 tuổi, trong đó độ tuổi từ 18-60 chiếm tỷ lệ cao nhất
(75,86%) và còn lại là trên 60 tuổi (24,13%). Độ tuổi của các thành viên trong
gia đình dao động từ nhỏ hơn 18 đến cao hơn 60 tuổi và đa phần (67%) đều nằm
trong độ tuổi lao động chính (18-60 tuổi). Ngoài ra, số người trên nông hộ từ nhỏ
hơn hoặc bằng 5 chiếm đến 86,7% và từ 6-8 người chiếm 10,3%. Điều này cho
thấy tại địa bàn nghiên cứu các hộ nuôi cá lóc trong vèo có số người nằm trong
độ tuổi lao động chính nhiều, cho thấy nguồn nhân lực để thực hiện mô hình này
rất dồi dào.
Đa phần chủ hộ nuôi cá lóc trong vèo có trình độ văn hóa tương đối thấp
trong đó 3% mù chữ, 55% học cấp I, 38% học cấp II và 3% học cấp III. Tương
tự, các thành viên trong gia đình cũng có trình độ học vấn thấp 64% học cấp I,
30% học cấp II và 6% học cấp III. Kết quả này cho thấy trình độ học vấn thấp
của nông dân đã phần nào hạn chế trong việc tiếp nhận các tiến bộ về kỹ thuật
nuôi cá. Nông dân chủ yếu nuôi cá lóc theo tập quán, học hỏi kinh nghiệm lẫn
nhau và vừa học vừa rút kinh nghiệm (Phòng Xây dựng và phát triển nông thôn
huyện Phú Tân - tỉnh An Giang, 2003; Phòng Xây dựng và Phát triển nông thôn
huyện An Phú, 2004; Phòng Xây dựng và phát triển nông thôn huyện Châu Phú
2003a).




1
Bảng 1: Tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên trong gia đình
tại xã nghiên cứu
Chủ hộ Thành viên gia đình
Diễn giải
Số người Phần trăm (%) Số người Phần trăm (%)
Nhóm tuổi
18 Tuổi 0 0 26 27,66
18-60 Tuổi 22 75,86 63 67,02
>60 Tuổi 7 24,13 5 5,32

Trình độ văn hóa
Mù chữ 1 3,45 0 0
Cấp I 16 55,17 56 64,37
Cấp II 11 37,93 26 29,89
Cấp III 1 3,45 5 5,74




4.2.2. Đất đai
Khi phỏng vấn các hộ nuôi cá lóc trong vèo, phần trăm số hộ có đất canh
tác lúa là 43,33 %, còn lại là các hộ chỉ có diện tích đất vừa đủ để ở và nuôi cá,
chiếm 56,67%. Diện tích đất trung bình của các hộ canh tác lúa là 4.100 m2 và ao
nuôi cá là 884 m2 (Bảng 2). Kết quả này cho thấy, mô hình nuôi cá lóc trong vèo
trong mùa lũ đòi hỏi diện tích đất không lớn và rất thích hợp cho các hộ ít đất
sản xuất, đặc biệt là các hộ nghèo.

4.2.3. Kinh nghiệm và số thể tích vèo nuôi cá lóc
Thể tích vèo nuôi cá ở huyện Phú Tân khá cao, trung bình là 87,03
m3/hộ (Bảng 2). Đa phần người dân trong xã có số năm kinh nghiệm nuôi cá
trong vèo tương đối cao, qua tổng số hộ điều tra thì trung bình các hộ đã thực
hiện mô hình này khoảng 5,34 năm, người nuôi cá lâu nhất là 12 năm và người
nuôi ít nhất cũng được 2 năm. Đây cũng là một trong những thế mạnh của người



1
dân nuôi cá lóc tại địa bàn nghiên cứu, nếu so với các huyện khác thì số năm
kinh nghiệm nuôi cá lóc trong vèo của nông dân ở Phú Tân nhiều hơn so với ở
huyện Châu Phú là 2,17 năm (Cao Quốc Nam và ctv, 2005).


Bảng 2: Diện tích đất, thể tích vèo nuôi, và số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc
trong vèo của nông dân ở xã Tân Trung
Diễn giải Trung bình Thấp nhất Cao nhất
Diện tích ruộng (m2) 4100 0 20000
Diện tích ao (m2) 884,03 100 4500
Thể tích vèo nuôi (m3/hộ) 89,41 18 270
Số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc trong 5,34 2 12
vèo (năm)



Khi phỏng vấn về nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động nuôi cá lóc
trong vèo, thì nông dân ở vùng nghiên cứu cho rằng nguồn thông tin trên thường
xuyên được tiếp cận chủ yếu từ các nguồn: chương trình truyền hình (tivi),
chiếm tỷ lệ 26%, tiếp theo là đài phát thanh (radio) chiếm tỷ lệ 20% và giữa các
nông dân nuôi cá lóc (18%). Ngoài ra, họ còn tiếp nhận những thông tin từ nhiều
nguồn khác nữa như: sách báo, bà con thân thuộc, cán bộ kỹ thuật viên của
huyện hoặc xã (Bảng 4.3). Điều này cho thấy người dân tại địa bàn nghiên cứu
rất quan tâm đến những tiến bộ về kỹ thuật nuôi cá và thông tin phục vụ cho nuôi
cá lóc rất đa dạng. Tuy nhiên các nguồn thông tin trên còn mang tính chấp giá, bị
động và chưa được sắp xếp, hệ thống hóa hoàn chỉnh. Để phục vụ tốt hơn, thiết
nghĩ cần phải có một hình thức tiếp nhận và chuyển giao thông tin giữa người
nuôi cá và cơ quan khoa học cũng như thị trường,... dễ dàng hơn như các mô
hình câu lạc bộ khuyến nông, hợp tác xã kiểu mới,...




1
Bảng 3: Nguồn thông tin cho hoạt động nuôi cá lóc



Nguồn thông tin Tần suất Phần trăm (%)
Tivi 27 26
Radio 21 20
Nông dân khác 19 18
Bà con thân thuộc 13 13
Kỹ thuật viên 12 12
Dịch vụ buôn bán 6 6
Sách báo 6 5
4.3. Hoạt động nuôi cá trong mùa lũ

4.3.1. Mùa vụ nuôi cá lóc trong vèo
Đa phần những hộ được phỏng vấn thì nuôi cá lóc trong vèo quanh
năm. Tận dụng ao sẵn có, họ thường nuôi 3 vụ cá lóc trên một năm: (1) vụ mùa
mưa (từ tháng 4 đến tháng 8 dl), (2) vụ mùa lũ (từ tháng 7-8 đến tháng 11-12 dl)
và (3) vụ mùa nghịch (từ tháng 12 đến tháng 4 dl). Trong năm 2004, kết quả điều
tra cho thấy phần đông người dân đã chọn thời điểm thả cá sớm vào đầu tháng 6,
chiếm tỷ lệ 86,67% (Bảng 4) và cá được thu hoạch sớm vào đầu tháng 10,
chiếm tỷ lệ 76,67% do giá cá thịt cao. Các hộ còn lại (23,33%) thì neo lại chờ
giá cao hơn. Điều này cũng tương tự như nhận định của Dương Tấn Lộc (2001)
theo ông, ở ĐBSCL mùa lũ tràn về từ tháng 7 đến tháng 11 hằng năm, do đó
người dân nuôi cá lóc cần có nguồn giống sớm, bắt đầu nuôi từ tháng 5 đến
tháng 8 cá được 100g/con. Giai đoạn này cá ăn mạnh dựa vào nguồn thức ăn tự
nhiên có sẵn và nước lũ lớn thì hiệu quả nuôi sẽ cao.




1
Bảng 4: Thời gian thả, thời gian thu và những lý do thúc đẩy người dân áp
dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ
Diễn giải Tần suất Phần trăm (%)
1. Thời gian thả cá
- Tháng 6
26 86,67
- Tháng 7 4 13,33
2. Thời gian thu hoạch
- Tháng 10 23 76,67
- Tháng 11 7 23,33
3. Lý do nông dân áp dụng mô hình
- Tạo thêm thu nhập trong mùa lũ 10 33,33
- Nguồn nước tốt hơn 9 30,00
- Dễ tìm mồi cho cá 5 16,67

- Nhiều công lao động nhàn rỗi 4 13,33
2 6,67
- Giá cá mồi thấp


So với các huyện lân cận, điều kiện tự nhiên ở Phú Tân có nhiều thuận
lợi cho việc thả và thu cá sớm nên cá nuôi có giá cao. Ở các huyện Châu Phú và
An Phú thì vụ nuôi cá lóc trong mùa lũ của người dân thường bắt đầu từ tháng 7
đến tháng 11 hoặc tháng 12 (dl) hằng năm. Thời điểm này có thuận lợi là nguồn
thức ăn phong phú và nguồn nước dồi dào nhưng do trong thời gian này người
dân khai thác được lượng cá tự nhiên khá cao nên giá cá lóc nuôi sẽ không cao.
Chính điều này đã dẫn đến giá cá lóc nuôi ở Châu Phú và An Phú thấp hơn so
với giá cá thịt ở Phú Tân (Cao Quốc Nam và ctv, 2005).

4.3.2. Lý do nông dân áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ
Do đây là vùng đất trũng được hình thành bởi hợp lưu của 2 con sông
Tiền và sông Hậu (sông Vàm Nao) nên thông thường hằng năm nước lũ đến và
rút trễ hơn gần 1 tháng so với các địa phương khác trong vùng. Dựa vào điều

1
kiện tự nhiên này nên người dân nơi đây đã ý thức được việc khai thác và sản
xuất trong mùa lũ. Mô hình nuôi cá lóc trong vèo đã được người dân mạnh dạn
áp dụng trong những năm gần đây và đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể
(UBND xã Tân Trung, 2003). Kết quả điều tra vào năm 2004 về lý do áp dụng
mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ được trình bày ở bảng 4.
Kết quả ở bảng 4 cho thấy lý do để người dân áp dụng mô hình nuôi cá
lóc trong vèo trong mùa lũ khá phong phú, có đến 33,33% người dân trả lời rằng
tạo thêm nguồn thu nhập, 30% cho rằng vào thời điểm mùa lũ có nguồn nước tốt
hơn so với các thời điểm khác trong năm và đây cũng là một trong những lý do
được người dân nuôi cá ở cả 3 huyện Châu Phú, An Phú và Phú Tân đề cập đến
nhiều nhất (Cao Quốc Nam và ctv, 2005). Phần lớn người dân trong xã thường
nuôi cá quanh năm và qua nhiều năm nuôi cá lóc họ nhận thấy rằng mùa lũ thì
chất lựợng nước tốt hơn so những thời điểm khác trong năm do nước đổ từ
thượng nguồn về. Bên cạnh đó thì 16,67% cho rằng vào mùa lũ thì dễ tìm mồi
cho cá và 6,67% nông dân cho rằng giá cá mồi trong mùa lũ thấp hơn so với các
thời điểm khác trong năm. Hơn nữa, nguồn cá tự nhiên (cá mồi) cũng rất dồi
dào. Theo Dương Nhựt Long (2004) thì hằng năm khi lũ về với nguồn nước dồi
dào nên thức ăn tự nhiên rất đa dạng như các loài phiêu sinh vật, động vật đáy...,
thành phần chủng loài tôm, cá, cua, ốc cũng rất phong phú góp phần làm tăng
sinh khối lúc thu hoạch khai thác thủy sản nuôi và thủy sản tự nhiên trong vùng.
Ngoài ra một số ý kiến khác thì cho rằng họ đã có sẵn ao, mùng lưới đầu tư từ
những vụ lũ trước, do đó nếu không nuôi thì phí của nên họ đã tiếp tục thực hiện
mô hình này. Như đã đề cập ở trên thì vào mùa lũ nông dân trong xã không sản
xuất lúa hay trồng màu được, do đó họ có công lao động nhàn rỗi ở địa phương
rất lớn và thay vì phải đi làm thuê thì một số nông dân đã nghĩ ra cách lấy công
lao động làm lời từ việc nuôi cá lóc trong vèo vào thời gian mùa lũ.




1
4.3.3. Nguồn vốn để sản xuất
Nguồn vốn để sản xuất là một trong những yếu tố rất quan trọng, do chi
phí nuôi cá lóc rất cao, và mức sống trung bình nên đa phần người dân tại địa
bàn nghiên cứu phải vay thêm vốn bên ngoài. Kết quả điều tra cho thấy có đến
26/30 (86,67%) hộ được phỏng vấn vừa dựa vào vốn tự có và vừa phải vay thêm
vốn bên ngoài với lãi suất cao. Có 3 hộ dựa vào nguồn vay của nhà nước với lãi
suất thấp hơn chiếm 10% số hộ điều tra và chỉ có 1 hộ (3,33%) có khả năng lo đủ
nguồn vốn để nuôi cá lóc (Do hộ này nuôi với số lượng ít).


Bảng 5: Nguồn vốn để thực hiện mô hình nuôi cá lóc trong vèo của người
dân ở xã Tân Trung, Phú Tân, An Giang trong mùa lũ năm 2004

Nội dung Tần số Phần trăm (%)
- Vốn nhà và vốn vay của tư nhân 26 86,67
- Vốn vay ngân hàng 3 10,0

- Vốn nhà tự có 1 3,33



4.3.4. Kỹ thuật nuôi

4.3.4.1. Phương pháp cải tạo ao
Cải tạo ao là một trong những khâu kỹ thuật rất quan trọng mà bất cứ
người nuôi cá nào cũng phải thực hiện trước mỗi vụ nuôi, vì ngay trong đáy ao
có thể tồn tại nhiều loại tác nhân gây bệnh khác nhau, đặc biệt các ao vừa kết
thúc một vụ nuôi. Do đó việc tẩy dọn ao đìa trước mỗi vụ nuôi là những thao tác
kỹ thuật rất quan trọng không chỉ để tiêu diệt hết tác nhân gây bệnh, mà còn có ý
nghĩa tạo ra môi trường thích hợp và ổn định. Đây là một công việc rất cần thiết
và quan trọng nên khi được phỏng vấn thì có hầu hết nông dân có cách chuẩn bị
khá giống nhau: đó là rút cạn nước, vét bùn ở đáy ao và rải vôi hoặc rải muối và
sau đó tiến hành phơi đáy ao; chỉ khác nhau ở chỗ có hộ rải vôi chiếm tỷ lệ
53,33%, trong khi đó 46,67% còn lại cho rằng rải vôi và kết hợp với muối thì


1
hiệu quả cải tạo ao sẽ cao hơn (Bảng 6). Điều này cũng dễ hiểu bởi vôi thì có tác
dụng nâng cao pH và diệt khuẩn, còn muối thì có tác dụng diệt các vi khuẩn gây
bệnh sống trong môi trường nước ngọt. Rút cạn nước ao là thao tác đầu tiên khi
tẩy dọn, có thể đào thải ra khỏi ao một lượng tác nhân là vi khuẩn, nấm, ký sinh
trùng rất lớn. Thời gian phơi đáy ao của mỗi nông dân đều khác nhau tùy theo
thói quen và kinh nghiệm của họ thấp nhất là 1 ngày và cao nhất là 10 ngày, cách
làm này có thể tiêu diệt được một số mầm bệnh nhưng tốt nhất là nên phơi đáy
ao từ 1-2 tuần lợi dụng nhiệt độ, độ khô và tác dụng diệt trùng của tia tử ngoại
trong ánh sáng mặt trời. Còn việc bón vôi hay muối để sát trùng diệt tạp và nâng
cao pH của ao nuôi, góp phần vào việc hạn chế dịch bệnh xảy ra trong quá trình
nuôi cá lóc. Cách chuẩn bị ao này cũng được nông dân ở An Phú áp dụng và
theo những hộ đã theo dõi và phỏng vấn thì cách làm này mang lại hiệu quả rất
cao trong suốt vụ nuôi của họ.


Bảng 6: Phương pháp cải tạo ao của nông dân nuôi cá lóc trong vèo tại xã
Tân Trung, Phú Tân, An Giang trong mùa lũ năm 2004

Nội dung Tần số Phần trăm (%)
Phương pháp
- Rút cạn nước,vét bùn ở đáy ao,bón 16 53,33
vôi, phơi đáy ao.
- Rút cạn nước, vét bùn ớ đáy ao, bón 14 46,67
muối, vôi, phơi đáy ao.
Tổng 30 100
Thời gian làm
8-10 ngày trước khi thả 3 10,35
4-7 ngày trước khi thả 22 72,41
1-3 ngày trước khi thả 5 17,24
Tổng 30 100



2
4.3.4.2. Phương pháp chuẩn bị vèo nuôi
Phương pháp chuẩn bị vèo trước mỗi vụ nuôi có khác nhau giữa các hộ
nuôi (Bảng 7), có 33,33% nông dân cho rằng nên ngâm vèo trong nước vôi một
ngày trước khi thả cá, 30% nên giặt sạch, phơi nắng và vá lại vèo trước mỗi vụ
nuôi, 26,67% nông dân thì ngâm vèo trong thuốc tím và 10% số nông dân còn lại
có cách làm khác như ngâm vèo trong thuốc hay nước muối, … Theo nông dân
thì những cách làm này có tác dụng tiêu diệt mầm bệnh trên vèo nuôi của các vụ
nuôi trước và làm sạch vèo tạo điều kiện trao đổi nước tốt trong quá trình nuôi.
Cách giặt sạch và vá vèo được nông dân thực hiện tương đối nhiều, một
cái vèo lưới tốt (loại lưới Thái) có thể sử dụng được đến 2 năm do đó sau mỗi vụ
nuôi nông dân chỉ cần giặt sạch và thay phần lưới cước phía trên là có thể nuôi
được vụ thứ hai. Nhìn chung cách thức chuẩn bị vèo của nông dân ở đây cũng
tương tự như một số địa phương khác.


Bảng 7: Cách thức chuẩn bị vèo trước mỗi vụ nuôi của nông dân tại địa bàn
nghiên cứu
Diễn giải Tần số Phần trăm (%)
Ngâm vèo trong vôi 10 33,33
Ngâm vèo trong thuốc tím 8 26,67
Giặt sạch & vá vèo bằng tay 9 30
Khác 3 10
Thời gian thực hiện là một ngày trước khi thả cá

4.3.4.3. Cách đặt vèo và phương pháp cấp nước
Qua kết quả điều tra cho thấy đa số nông dân (60%) thường áp dụng đặt
vèo ở góc ao, nơi gần bọng thoát nước ra (Bảng 8). Bởi vì đa phần nông dân ở
đây phải dùng máy để cấp nước cho ao nuôi cá (86,67%), với cách làm này thì
máy bơm sẽ được đặt ở bọng cấp nước vào, khi cấp nước vào thì một phần nước
ao cũ trong ao cùng với những chất cặn bã còn xót lại trong vèo sẽ theo nước
thoát ra ngoài. Một bộ phận nông dân khác thì lại chọn cách đặt vèo của mình ở

2
giữa ao, chiếm tỷ lệ 40% vì theo họ ở giữa ao thì nước sâu khi đó cá chúi xuống
đáy vèo sẽ không đụng đất bùn và không làm cho nước ao bị bẩn.
Do điều kiện đất thấp nên một số hộ cấp nước cho ao mình bằng phương
pháp thủy triều chiếm 13,33%, cách này giúp họ giảm được chi phí vận hành và
tăng thêm lợi nhuận trong quá trình nuôi cá. Tuy nhiên hình thức này chỉ chiếm
một số lượng rất nhỏ.


Bảng 8: Cách thức đặt vèo và phương pháp cấp nước của nông dân
Diễn giải Tần số Phần trăm (%)
Cách đặt vèo trong ao
- Đặt vèo ở góc ao 18 60
- Đặt vào ở giữa ao 12 40
Phương pháp cấp nước vào ao
- Bơm 26 86,67
- Thủy triều 4 13,33



4.3.4.4. Nguồn cá giống, mật độ thả và kích cỡ cá thả nuôi
Qua nhiều năm kinh nghiệm nông dân nuôi cá lóc cho biết muốn việc
nuôi cá đạt hiệu quả cao thì cá giống phải tốt và phải chủ động được nguồn cá
giống phục vụ cho việc nuôi cá quanh năm. Theo kết quả điều tra có đến 27/30
hộ được phỏng vấn đã tự sản xuất cá giống chiếm tỷ lệ 90% (Bảng 9), còn lại là
10% phải mua cá giống bên ngoài do chưa tự sản xuất được. Việc tự sản xuất ra
cá giống để nuôi có một ý nghĩa rất quan trọng là lựa chọn đựợc giống tốt, kích
cỡ đồng đều và khỏe mạnh. Đây là một trong những yếu tố quyết định đến năng
suất cá nuôi về sau. Ngoài ra, có thể có thêm nguồn thu nhập từ việc bán cá
giống dư thừa. Kết quả điều tra này cũng tương tự như kết quả điều tra ở xã Vĩnh
Hội Đông của huyện An Phú đa số người dân ở đây cũng tự sản xuất giống để
nuôi. Điều này rất phù hợp với xu hướng nuôi cá hiện nay do xuất phát từ quan
niệm phòng bệnh tổng hợp cho động vật thủy sản nên người ta rất chú trọng đến


2
khâu sản xuất con giống, chất lượng con giống tốt khỏe mạnh thì cá sẽ lớn
nhanh, kích cỡ đồng đều và ít xảy ra dịch bệnh trong quá trình nuôi.
Kích cỡ cá thả ở đây ít biến động, thấp nhất là 40 g/con, cao nhất là 100
g/con và trung bình là 71,03 g/con (Bảng 11). Đối với mật độ thả cá thì biến
động rất lớn giữa các hộ nuôi, dao động từ 11,11-152,78 con/m3 vèo nuôi và
trung bình là 59,14 con/ m3 vèo nuôi. Mật độ thả này tương đối thấp, bởi theo
Nguyễn Văn Dính (2004) thì trên 1m3 vèo có thể thả đến 200 con cá lóc. Ngoài
ra theo kết quả điều tra năm 2004, nông dân ở xã Vĩnh Thạnh Trung huyện Châu
Phú, An Giang thả với mật độ trung bình là 102 con/m 3 vèo. Tuy nhiên theo ý
kiến của những nông dân ở địa điểm nghiên cứu này cho biết qua nhiều năm
kinh nghiệm nuôi cá thì thả với mật độ từ 50-100 con/m3 vèo thì cá sẽ lớn nhanh,
ít bệnh và đạt được kích cỡ thương phẩm đồng đều




Hình 4.2. Mật độ và kích cỡ cá thả nuôi của người dân

4.3.4.5. Nguồn thức ăn
Tận dụng một số loại thức ăn sẵn có trong mùa lũ như ốc bươu vàng, cá
tạp,…là phương châm của việc nuôi cá lóc trong mùa lũ. Nhưng do lũ năm 2004
không lớn, hơn nữa thời tiết xấu hay có mưa bão nên lượng cá tự nhiên đánh bắt
được rất thấp và không ổn định nên phần lớn nông dân phải sử dụng thức ăn chủ




2
yếu là cá biển cho cá lóc, chiếm tỷ lệ 83,33%, còn lại là 16,67% người nuôi cho
cá lóc ăn cá tạp, cua, ốc (Bảng 9).


Bảng 9: Nguồn cá giống, loại thức ăn và nguồn thức ăn mà người dân ở xã
Tân Trung sử dụng để thực hiện mô hình trong mùa lũ năm 2004
Diễn giải Tần số Phần trăm (%)
Nguồn cá giống
- Giống nhà 27 90,00
- Giống mua 3 10,00

Thức ăn cho cá lóc
- Cá biển 25 83,33

- Cá đồng, cua, ốc 5 16,67

Nguồn thức ăn
12 40,00
- Phạm vi xã
17 56,67
- Phạm vi huyện
1 3,33
- Phạm vi tỉnh

Do nguồn thức ăn không ổn định nên muốn dự trữ thức ăn lại cho cá lóc
thì 56,67% số người nuôi phải mua thức ăn cho cá ở chợ huyện (Bảng 9). Người
nuôi cho rằng khi mua cá mồi ở huyện thì giá tương đối rẻ hơn so với ở xã. Do
thiếu phương tiện vận chuyển và dự trữ, 40% nông dân còn lại phải mua thức ăn
ở phạm vi xã (chủ yếu là cua, ốc và cá tạp mà người dân trong xã khai thác được
và bán lại cho những người nuôi cá lóc ở địa phương). Nhưng lượng thức ăn này
giá cả không ổn định và bấp bênh nên chủ yếu là người dân phải mua cá mồi ở
huyện nơi đây tập trung nhiều trại vựa cá mồi lớn và ổn định. Nếu so sánh với xã
Vĩnh Hội Đông của huyện An Phú thì ngoài việc mua cá mồi ở phạm vi xã hoặc
huyện thì người dân còn mua cá ở phạm vi tỉnh nhiều hơn, do phải đi mua cá
mồi xa nên làm tăng thêm chi phí vận hành của người nuôi, thậm chí do điều
kiện tự nhiên giáp với nước bạn Campuchia nên một số nông dân ở đây còn sang


2
Campuchia để mua cá mồi. Qua điều này cho thấy nguồn cung cấp thức ăn ở xã
Tân Trung tương đối thuận lợi hơn so với nơi khác, người dân không phải đi xa
để mua cá mồi, góp phần giảm chi phí vận hành và tăng lợi nhuận sau mỗi vụ
nuôi cá lóc trong vèo.

4.3.4.6. Phương pháp cho cá lóc ăn của người dân
Cho cá ăn cũng là một khâu kỹ thuật rất quan trọng quyết định đến năng
suất và sinh khối lúc thu hoạch cá nuôi. Giai đoạn cá còn nhỏ khoảng 40 g/con
thì người nuôi tiến hành cho cá ăn nhiều lần trong ngày có thể là từ 3 đến 4 lần,
thức ăn phải được rửa sạch và xay nhuyễn. Đến khi cá lớn hơn khoảng 250 g/con
thì tiến hành cho cá ăn 2 lần trong một ngày vào buổi sáng (khoảng 8 hoặc 9 giờ)
và buổi chiều (từ 4 đến 5 giờ). Trong một tháng cuối cùng trước khi bán thì đa
phần nông dân chỉ cho cá ăn 1 lần trong ngày, theo họ cách cho ăn này cá vẫn
tăng trọng bình thường. Tất cả nông dân ở đây đều cho cá lóc ăn bằng cách rải
thức ăn lên sàng ăn (sàng ăn có thể làm bằng tre hoặc làm bằng lưới cước). Cách
làm này có thể giúp họ quan sát được lượng thức ăn cũng như tình trạng sức
khỏe của cá nuôi, giúp họ có thể điều chỉnh lượng thức ăn hợp lý, nếu không thì
dễ dẫn đến tình trạng thức ăn dư thừa vừa mất hiệu quả kinh tế vừa làm ô nhiễm
nước trong ao, dẫn đến tình trạng phải thường xuyên thay nước trong ao và làm
tăng chi phí vận hành trong suốt vụ nuôi.




2
Hình 4.3. Phương pháp cho cá lóc ăn của người dân

4.3.4.7. Quản lý chất lượng nước ao
Việc quản lý chất lượng nước ao cũng là một khâu rất quan trọng. Kết
quả điều tra cho thấy nông dân quản lý chất lượng nước ao có chứa vèo cá lóc
nuôi bằng các phương pháp như thay nước đinh kỳ (mỗi tuần thay một lần), quan
sát màu nước và xử lý bằng hóa chất (Bảng 10). Quản lý chất lượng nước bằng
phương pháp thay nước định kỳ chiếm tỷ lệ cao nhất (50%), kế đến là quan sát
màu nước (43,33%) và cuối cùng là xử lý nước ao bằng hóa chất mỗi khi nước
ao bị ô nhiễm. Tùy vào kinh nghiệm nuôi, mà mỗi người nuôi có thể áp dụng
một phương pháp khác nhau.
Nội dung Tần suất Phần trăm (%)
Quan sát màu nước 13 43,33
Thay nước định kỳ 15 50,00
Bằng hóa chất 2 6,67
Tổng 30 100


Bảng 10: Phương pháp quản lý chất lượng nước ao


Qua thực tế và kết quả theo dõi 3 hộ nuôi cho thấy, đối với những nông
dân áp dụng việc thay nước ao theo định kỳ thì sẽ mang lại kết quả cao nhất, cá
ít bị dịch bệnh và tăng trọng bình thường. Nhìn chung cách quản lý chất lượng
nước ao của nông dân ở Phú Tân tương đối giống ở trường hợp nông dân ở Vĩnh
Hội Đông huyện An Phú, quản lý chất lượng nước ao của mình bằng 3 cách nêu
trên.

4.3.4.8. Quản lý dịch bệnh
Động vật thủy sản sống trong nước nên quá trình phòng bệnh không
giống gia súc trên cạn. Mỗi khi cá trong ao bị bệnh không thể chữa từng con mà
phải chữa theo quần đàn. Thuốc dùng phải tính cho tổng số cá sống trong ao nên
tốn kém nhiều, các loại thuốc chữa bệnh bên trong cơ thể động vật thủy sản
thường phải trộn vào thức ăn, nhưng những con bị bệnh thường không ăn, những


2
con khỏe lại ăn nhiều, nên dù có sử dụng loại thuốc đúng nhưng hiệu quả sẽ
không cao và những con khỏe mạnh cũng phải dùng thuốc làm ảnh hưởng đến
sinh trưởng của chúng (Hứa Thị Phượng Liên, 2004). Do đó nguyên tắc trong
nuôi thủy sản là phòng bệnh hơn chữa bệnh, ý thức được tầm quan trọng của
việc này nên 63,33% nguời dân đã chọn cách trộn thuốc vào thức ăn theo định
kỳ để phòng bệnh cho cá và 36,67% nông dân thì quan sát sức khỏe cá lúc cho
ăn (Bảng 11). Các nhà nuôi trồng thủy sản luôn luôn đặt vấn đề phòng bệnh cho
động vật thủy sản lên hàng đầu và họ cho rằng “ Phòng bệnh là chính, chữa bệnh
khi cần” (Đỗ Thị Hòa, 2004). Với cách trộn thuốc vào thức ăn theo định kỳ của
người dân rất tốn kém chi phí và dễ dẫn đến tình trạng cá bị kháng thuốc và làm
ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước trong ao. Quan sát tình trạng sức khỏe của
cá nuôi lúc cho ăn cũng là một cách rất hay dễ dàng phát hiện cá bệnh mà có
biện pháp phòng trị kịp thời.
Ngày nay để đạt hiệu quả kinh tế cao trong nuôi trồng thủy sản người
dân nên áp dụng biện pháp phòng trị bệnh tổng hợp, tức là kiểm tra kỹ về khâu
lựa chọn con giống, quản lý môi trường nuôi, dinh dưỡng cho cá nuôi. Nếu làm
tốt các khâu này thì năng suất và chất lượng cá nuôi sẽ cao hơn và người nuôi sẽ
đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.
Bảng 11: Phương pháp quản lý sức khỏe cá lóc nuôi của người dân tại địa
bàn nghiên cứu
Nội dung Tần suất (%)
- Trộn thuốc vào thức ăn theo định kỳ 19 63,33
- Quan sát lúc cho cá ăn 11 36,67

Tổng 30 100



4.3.5. Các chỉ tiêu năng suất và sinh khối lúc thu hoạch của cá lóc trong mô
hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ 2004
Qua kết quả điều tra cho thấy thời gian nuôi cá lóc trong vèo trong mùa
lũ 2004 trung bình là 4,29 tháng (Bảng 12), ngắn nhất là 4 tháng và dài nhất là 5

2
tháng. Thời gian nuôi có sự biến động như thế cũng tùy thuộc vào kỹ thuật chăm
sóc của người nuôi và giá cả trên thị trường (khi nào cá lóc có giá thì người ta sẽ
bán); và còn một lý do khác nữa là một số hộ do không có khả năng lo tiền mua
thức ăn cho cá nuôi của mình nên phải bán sớm. Tỷ lệ sống của cá lóc trong vèo
nuôi dao động trong khoảng từ 33,33% đến 95,2%, trung bình khoảng 75,47%,
tỷ lệ sống này tương đối cao do kích cỡ thả khi bắt đầu nuôi cá thịt tương đối lớn
trung bình là 70 g/con (Bảng 12) và trong quá trình nuôi họ cũng thực hiện tốt
khâu quản lý chất lượng nước, chất lượng thức ăn và phòng trị bệnh cho cá. Tốc
độ tăng trưởng của cá lóc biến động tương đối lớn thấp nhất là 1,47 g/ngày và
cao nhất là 7,83 g/ngày, trung bình mỗi ngày cá tăng khoảng 5,09 g, tốc độ tăng
trưởng này là tương đối trung bình, cao hơn so với cá lóc nuôi trong ao và thấp
hơn so với cá lóc nuôi trong bè.
Năng suất cá nuôi cũng dao động rất lớn thấp nhất là 7,33 kg/m 3, cao
nhất đến 95,83 kg/m3, và trung bình là 27,35 kg/m3, còn sinh khối lúc thu hoạch
thì dao động từ 8,3 kg/m3 đến 111,11 kg/m3 và trung bình là 31,09 kg/m3, nếu so
với các địa phương khác thì năng suất và sinh khối lúc thu hoạch cá nuôi ở 2
huyện An Phú và Phú Tân không khác nhau (ở An Phú năng suất và sinh khối
lúc thu hoạch cá nuôi lần lượt là 19,19 kg/m3 và 22,21 kg/m3) nhưng lại thấp hơn
so với huyện Châu Phú (năng suất và sinh khối lúc thu hoạch cá nuôi lần lượt là
40,1 kg/m3 và 47,71 kg/m3) do ở huyện Châu Phú mật độ cá nuôi cao hơn và chi
phí đầu tư cũng cao hơn (Cao Quốc Nam và ctv, 2005).
Do lựa chọn thời điểm thả nuôi không đồng đều nên thời gian thu hoạch
của các hộ nuôi cá ở địa bàn nghiên cứu không giống nhau cho nên kích cỡ lúc
thu hoạch dao động rất lớn từ 300 g đến 1000 g và kích cỡ cá trung bình người
dân thu hoạch là 713,33 g/con. Một lý do khác dẫn đến kích cỡ cá khác nhau lúc
thu hoạch của người dân là do giá cả thị trường khi nào thấy cá có giá là người ta
tiến hành bán cá của mình, hơn nữa cách chăm sóc, quản lý, phòng trị bệnh cũng
làm cho kích cỡ cá nuôi không đồng đều.



2
Giá cá thịt mà nông dân bán tương đối cao so với các vùng khác trong
mùa nước lũ năm 2004, trung bình khoảng 19.370 đồng/kg (Bảng 13). Sở dĩ
nông dân bán được giá cao như vậy là do qua nhiều năm kinh nghiệm nuôi họ đã
lựa chọn đúng thời điểm cá có giá cao khi xuất bán (vào tháng 10). Đây là thời
điểm cá lóc có giá cao nhất trong vụ mùa lũ do đến tháng 11 và 12 lượng cá mà
nông dân đánh bắt được từ tự nhiên rất cao dẫn đến giá cá nuôi giảm thấp. Hơn
nữa do chủ động được nguồn cá giống (Bảng 9) và được tuyển chọn tốt nên kích
cỡ cá thương phẩm tương đối tốt và đồng đều (Bảng 4.12) dẫn đến góp phần
nâng cao giá bán của cá lóc thương phẩm. Bên cạnh đó, do làm tốt từ khâu
phòng trị bệnh cũng như quản lý chất lượng nước tốt nên người nuôi đã hạn chế
được tình hình dịch bệnh, cá lớn nhanh khỏe mạnh nên giá bán cao hơn so với
các địa phương khác. Ngoài ra yếu tố thương lái thu mua cũng góp phần ổn định
và nâng cao giá cá thịt. Khi tìm hiểu về thông tin người thu mua thì hầu hết nông
dân đều thu hoạch cá đồng loạt một lần và bán 100% cho thương lái tư nhân có
quen biết. Bởi theo họ những thương lái này thường mua cá lóc với giá cao và ổn
định, hơn nữa mua bán với nhau nhiều năm những thương lái này rất có uy tín
chỉ cần gọi điện thoại là họ đến tận nhà để mua và trả tiền mặt cho nông dân.
Bảng 12: Các chỉ tiêu năng suất, sinh khối lúc thu hoạch, hệ số tiêu tốn thức
ăn, giá bán và giá thành sản xuất của cá lóc trong mô hình nuôi cá lóc trong
vèo trong mùa lũ 2004
Nội dung Trung bình Cao nhất Thấp nhất
Thời gian nuôi (tháng) 4,29 5 3,5
Tỷ lệ sống (%) 75,47 95,2 33,33
Tốc độ tăng trưởng (g/ngày) 5,09 7,83 1,47
Năng suất (kg/m3) 27,35 95,83 7,33

Sinh khối lúc thu hoạch (kg/m3) 31,09 111,11 8,3

Kích cỡ thu hoạch (g/con) 713,33 1000 300
Mật độ thả (con/m3) 87,03 270 18
Kích cỡ thả (g/con) 70 100 40


2
Hệ số tiêu tốn thức ăn (kg/kg tăng 4,71 8,1 3,02
trọng)


4.3.6. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ năm
2004
Với giá cá lóc thương phẩm là 19.360 đồng/kg và kể cả chi phí công lao
động gia đình thì nông dân sẽ thu được lợi nhuận là 26.120 đồng/m 3 vèo nuôi và
tỷ lệ lời trên vốn là 0,04 (chưa trừ lãi suất vay vốn; Bảng 13). Khi xét về hiệu
quả kinh tế không kể chi phí công lao động gia đình thì lợi nhuận và tỷ lệ lời trên
vốn là 52,53 đồng/m3 và 0,09, tương ứng; và sau mỗi vụ nuôi, lợi nhuận mỗi hộ
thu được trung bình là 4,5 triệu, trong đó hộ thu được lợi nhuận cao nhất khoảng
13,8 triệu đồng và hộ bị lỗ khoảng 2,7 triệu đồng sau vụ nuôi.
Bảng 13: Hiệu quả kinh tế nuôi cá lóc trong vèo mùa lũ 2004
Nội dung Trung bình Thấp nhất Cao nhất
 A: Tổng thu nhập (1000 đ/m3) 601,90 106,66 1968,11
Sinh khối lúc thu hoạch (kg/m3) 31,09 8,30 111,11
Giá bán (1000đ/kg) 19,37 12,80 26
Giá thành (1000 đồng/kg) 18,42 11,67 30,28
 B: Tổng chi phí (1000 đ/m3) 575,78 140,38 1910,01
• Chi phí cố định (1000 đ/m3) 13,55 1,67 71,70
- Đào ao 0,60 0 3,50
- Sên vét ao 5,50 0,70 30,56
- Vèo cá 2,45 0,63 8,33
- Vợt, dây, sàng ăn 1,08 0,20 3,13
- Máy xay thức ăn 1,59 0 9,38
- Hệ thống ống dẫn 0,55 0,04 1,67
- Máy bơm 0,92 0 12,50
- Thùng chưa thức ăn 0,86 0,10 2,63
Chi phí vận hành (1000 đ/m3) 562,23 138,71 1838,40

- Vôi bột 1,59 0,93 12,50
- Cá giống 13,75 3,33 45,80
- Vitamin, premix 14,51 1,90 37,04
- Thuốc trị bệnh 16,53 1,85 83,33


3
- Thức ăn 478,39 126,67 1555,56
- Xăng dầu 11,05 0,70 4,17
- Lao động gia đình 26,41 3,33 100
C: Lợi nhuận (C=A-B; 1000 đ/m3) 26,12 -33,72 58,1
D: Lợi nhuận không lao động gia
đình (LNKLĐGĐ)
- LNKLĐGĐ (1000 đồng/m³) 52,53 -30,39 158,10
- LNKLĐGĐ (1000 đồng/hộ) 4571,69 -2717,17 13759,44
Tỉ lệ lời/vốn
- Kể cả lao động nhà (C/B) 0,04 -0,24 0,03
- Không kể lao động nhà (D/B) 0,09 -0,22 0,08

So với kết quả báo cáo của huyện Phú Tân thì thu nhập bình quân của
nông dân nuôi cá lóc trong vèo vào mùa lũ 2003 lãi từ 3-10 triệu đồng/hộ
(UBND huyện Phú Tân; Phòng Xây dựng và Phát triển nông thôn, 2004) thì thu
nhập từ nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ 2004 tại nơi nghiên cứu không cao.
Nguyên nhân dẫn đến thu nhập của mô hình thấp vào năm 2004 là do mùa lũ
2004 không lớn và về chậm nên lượng cá mồi khai thác bị hạn chế, người nuôi
phải mua thêm cá biển với giá cao. Ngoài ra, theo thông tin từ người dân giá cá
lóc thịt trong mùa lũ năm 2004 cũng thấp hơn so với các năm trước. Một lý do
khác dẫn đến hiệu quả kinh tế của mô hình này không cao trong năm 2004 là do
mùa lũ năm nay thấp do đó người dân phải cho cá ăn bằng cá biển nên nguồn
nước thường bị dơ hơn, họ phải thay nước thường xuyên (Bảng 10) làm tăng chi
phí vận hành (giá xăng dầu năm nay cũng cao hơn so với những năm trước).
Tuy nhiên, nông dân ở đây có thể thu được lợi nhuận nhiều hơn nếu biết
ứng dụng các biện pháp kỹ thuật làm giảm chi phí vận hành (cá giống, thức ăn,
giảm hệ số chuyển hóa thức ăn, có biện pháp phòng trị bênh tốt hơn…). Ngoài
ra, qua kết quả theo dõi và điều tra cho thấy nếu áp dụng mô hình này, nông dân
còn thu thêm một khoản lợi nhuận lớn bằng cách tận dụng diện tích còn lại trong
ao để thả nuôi một số loài cá khác như: cá rô đồng, cá trê, cá tra, cá hường, cá rô
phi,…Những loài cá này sẽ sử dụng trực tiếp và gián tiếp thức ăn thừa và chất
thải của cá lóc, cá sẽ lớn rất nhanh mà không cần bổ sung thêm thức ăn. Mặt


3
khác chúng còn góp phần cải thiện môi trường nước trong ao nuôi. Hình thức
nuôi kết hợp trong và ngoài vèo này cũng đã được thực hiện tại hộ ông Cao Văn
Phước, ấp Tân Hòa II, xã Tân Trung, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang trong mùa
lũ năm 2003 và 2004 (Cao Quốc Namvà ctv, 2005).
Nếu so sánh với một số mô hình canh tác khác trong mùa lũ 2004 thì lợi
nhuận trung bình (kể cả công lao động gia đình) của mô hình nuôi cá lóc trong
vèo hơi thấp (2,3 triệu/hộ/89 m3 vèo nuôi và tỷ lệ lời/vốn là 0,04). Bởi theo Võ
Văn Hà và ctv (2005) thì hiệu quả của mô hình nuôi lươn còn thấp với diện tích
nuôi trung bình là 88,6 m2/hộ thì lợi nhuận chỉ đạt khoảng 1,86 triệu đồng/hộ/vụ
và hiệu quả sử dụng đồng vốn của mô hình là 0,13. Cũng theo tác giả này thì lợi
nhuận từ việc trồng rau nhút tại Châu Phú và Phú Tân lần lượt là 3,4 đến 6,5
triệu đồng/ha. Qua kết quả này cho thấy mô hình nuôi cá lóc trong vèo mang lại
lợi nhuận và hiệu quả đầu tư không cao nhưng hiệu quả sử dụng diện tích mặt
nước thì cao hơn.

Khi phân tích riêng từng trường hợp có lãi và thua lỗ của 30 hộ nông dân
trong vùng nghiên cứu, kết quả cho thấy có đến 18/30 hộ thực hiện mô hình này
có hiệu quả, chiếm tỷ lệ 60%, còn lại là 12 hộ thực hiện mô hình không có hiệu
quả, chiếm tỷ lệ 40% (Bảng 14). Giữa các hộ có lợi nhuận và các hộ bị thua lỗ có
sự chênh lệch lớn về năng suất nuôi, sinh khối lúc thu hoạch và các thông số đầu
tư. Ở các hộ có lợi nhuận, năng suất đạt 30,78 kg/m3 trong khi đó ở các hộ thua
lỗ chỉ đạt 20,95 kg/m3. Giá thành để sản xuất ra 1 kg cá lóc thịt rất cao ở nhóm
hộ bị thua lỗ (20.700 đồng/kg) do hệ số chuyển hóa thức ăn cao (5,41) nhưng giá
bán cá thịt lại rất thấp (16.860 đồng/kg) so với nhóm hộ có lãi. Giá cá thịt bán
thấp ở các hộ bị thua lỗ có thể là do kích cỡ thu hoạch thấp hơn so với các hộ có
lãi. Đối với trường hợp các hộ có lãi thì con số lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn
khi kể cả công lao động gia đình tương đối chấp nhận được (130.880 đồng/m3
vèo nuôi và 0,22, tương ứng). Điều này cho thấy, mô hình nuôi cá lóc trong vèo




3
trong mùa lũ có thể phát triển và khuyến cáo đến người dân nếu như chúng ta
loại trừ và khắc phục được các yếu điểm của các hộ chưa thành công.

Bảng 14: So sánh hiệu quả kinh tế giữa hai nhóm hộ có lãi và thua lỗ tại địa
bàn nghiên cứu trong mùa lũ năm 2004
Nhóm hộ có lãi Nhóm hộ bị thua lỗ
(60%) (40%)
Trung Độ lệch Trung Độ lệch
bình chuẩn bình chuẩn
 A: Tổng thu nhập (1000
717,10 467,87 443.82 221,08
đ/m3)
Năng suất (kg/m3) 30,78 21,63 20.95 10,94
Sinh khối lúc thu hoạch (kg/m3) 32,94 24,49 29.56 15,33
Kích cỡ thu hoạch (g/con) 805,56 134,92 575 142,22
Giá bán (1000 đ/kg) 21,03 2,7 16.86 2,82
Giá thành (1000 đ/kg) 17,31 2,12 20,71 4,3

 B: Tổng chi phí (1000 đ/m3) 585,50 406,88 529.4 304,01
Chi phí cố định (1000 đ/m3) 14,31 10,97 11.61 6,66
Chi phí vận hành (1000 đ/m3) 571,19 395,91 547,79 297,93

- Cá giống 13,43 9,86 14,21 9,2
- Thuốc trị bệnh, vitamin, … 46,32 30,6 41,44 19,41
- Thức ăn 487,82 341,85 464,25 253,59
- Lao động gia đình 25,43 16,77 27,89 27,38

C: Lợi nhuận (C=A-B; 1000
130,88 127,22 -103,97 116,69
đ/m3)
D: Lợi nhuận không lao động
gia đình (LNKLĐGĐ)
- LNKLĐGĐ (1000 đồng/m³) 156,31 132,29 -76,08 110,1
- LNKLĐGĐ (1000 đồng/hộ) 13.342,57 12.278,79 -6.289,53 3280,7
Tỉ lệ lời/vốn
- Kể cả lao động nhà (C/B) 0,22 0,31 -0,19 0,39
- Không kể lao động nhà (D/B) 0,27 0,33 -0,14 0,36
Hệ số chuyển hóa thức ăn (kg
4,3 0,45 5,41 1,27
thức ăn/kg tăng trọng)




3
Từ những kết quả trên cho thấy tuy lợi nhuận không cao nhưng mô hình
nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội. Mô hình đã
góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho một bộ phận nông dân nghèo đánh bắt
thủy sản trong mùa lũ, tận dụng được công lao động nhàn rỗi của gia đình (Bảng
4; Cao Quốc Nam và ctv, 2005). Điều này rất có ý nghĩa về mặt xã hội và cũng
đã được đề cập đến trong báo cáo của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn, tỉnh An Giang (2003). Tuy nhiên, khi xét về lâu và dài cần phải cân nhắc
lại bởi hệ số chuyển hóa thức ăn của mô hình rất cao, để có được 1kg cá lóc
thương phẩm phải tiêu tốn đến 4,71 kg thức ăn cá mồi (Bảng 12). Nghề nuôi cá
lóc sẽ có ảnh hưởng xấu lên nguồn lợi thủy sản tự nhiên và sinh kế cho những
người dân hoạt động đánh bắt thủy sản trong mùa lũ. Bên cạnh đó tính rủi ro của
mô hình cũng tương đối lớn (tỷ lệ thành công chỉ đạt 60%, Bảng 14) do hiệu quả
của mô hình này lại phụ thuộc rất lớn vào giá cả thị trường, thời điểm nuôi, giá
cá mồi trên thị trường, rủi ro về kỹ thuật cũng như dịch bệnh xảy ra trên cá
lóc, ….

4.4. Đời sống của nông dân sau khi áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo
Qua kết quả theo dõi và phỏng vấn thì 100% nông dân cho rằng sau từ 2-
12 năm áp dụng mô hình nuôi cá lóc thì đời sống thay đổi theo chiều hướng tăng.
Trong đó 72,41% cho rằng mô hình này mang lại lợi nhuận cao (Bảng 15).
Ông Võ Hữu Đời cho biết sáu năm trước khi chưa áp dụng mô hình này thì đời
sống gia đình ông rất khó khăn phải sống bằng nghề làm thuê để nuôi 9 miệng
ăn, nhưng kể từ khi áp dụng mô hình này thì đời sống gia đình hoàn toàn đổi
khác, nhà cửa khang trang, không những thế gia đình còn sắm được xe gắn máy,
tivi,…và cho con cái được học hành. Theo những người nuôi cá đầu tiên ở xã
cho biết những năm trước khi mà số lượng người nuôi ít thì giá cá mồi rất thấp
khoảng 2000-2500 đồng/kg và tình hình dịch bệnh tương đối ít. Hơn nữa giá cá
thịt cũng ổn định do đó người nuôi có lợi nhuận cao.




3
Bên cạnh đó, thì do nuôi cá quanh năm nên 27,59% nông dân cho rằng
đời sống có thay đổi theo chiều hướng tốt hơn do họ có thu nhập thường xuyên
nên ổn định cuộc sống. Họ có thể xoay trở đồng vốn của mình bằng cách: nuôi
vụ mùa lũ rồi lấy tiền vốn và tiền lời từ vụ này để đầu tư nuôi vụ mùa nghịch (vụ
này có lợi nhuận cao, do giá cá thịt cao, nhưng rất dễ xảy ra rủi ro do điều kiện
thời tiết không thuận lợi). Điều này cũng giống như kết quả báo cáo của huyện
Phú Tân mô hình nuôi cá lóc trong vèo mang lại thu nhập bình quân từ 3-10 triệu
đồng/hộ (Phòng Xây dựng và phát triển nông thôn huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang, 2003 ).

Bảng 15: Sự thay đổi đời sống của nông dân và yếu tố quyết định sự thành
công khi áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo
Diễn giải Phần trăm (%)
1. Đời sống thay đổi theo chiều hướng tăng do: 100
- Thu nhập thường xuyên nên cuộc sống ổn định 27,59
- Lợi nhuận cao 72,41

2. Các yếu tố quyết định sự thành công của mô hình:
- Vốn sản xuất: để mua thức ăn và tự sản xuất cá giống 79,31

- Thị trường đầu ra 17,24
3,45
- Thức ăn tốt

Trên đây là 2 lý do dẫn đến đời sống của người dân thay đổi theo chiều
hướng tăng khi áp dụng mô hình, nhưng nếu so với huyện An Phú thì lý do quan
trọng nhất mà người nuôi cho rằng làm thay đổi cuộc sống của họ là thêm nguồn
thu nhập - do nơi đây cũng có nhiều hộ nuôi cá lóc trong vèo quanh năm (Cao
Quốc Nam và ctv, 2005). Cũng theo tác giả này thì 12% và 37% nông dân ở 2
huyện Châu Phú và An Phú cho rằng đời sống vẫn không thay đổi khi áp dụng
mô hình do giá cá thịt không ổn định và cùng với các lý do khác làm cho mô
hình nuôi cá lóc trong vèo chưa thật sự mang lại lợi nhuận. Điều này có thể do



3
điều kiện tự nhiên tại 2 vùng này nên người dân không thể tiến hành nuôi cá lóc
sớm nên phải chấp nhận bán cá với giá thấp.
4.5. Các yếu tố quyết định thành công của mô hình nuôi cá lóc trong vèo
màu lũ năm 2004
Các yếu tố dẫn đến sự thành công của mô hình đã được trình bày ở bảng
15. Qua đó cho thấy nông dân cần vốn sản xuất để mua thức ăn và tự sản xuất
giống chiếm tỷ lệ cao nhất đến 79,31%. Quá trình nuôi thì kéo dài, ít nhất là 4
tháng dài nhất là 5 tháng hơn nữa lượng thức ăn cho cá lóc ăn ngày càng tăng
cộng thêm giá cá mồi cao nên họ rất cần vốn để đầu tư mua thức ăn. Vì vậy có
thể xem vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với họ và nó có tính quyết định sự
thành công của mô hình. Bên cạnh đó thì thị trường đầu ra cũng không kém phần
quan trọng chiếm đến 17,24%. Vì đa số nông dân cho rằng nếu cá nuôi đạt năng
suất và sinh khối lúc thu hoạch cao nhưng nếu giá cả thị trường bấp bênh, không
ổn định hay giá cá lóc nuôi trên thị trường thấp thì ngừời nuôi sẽ bị lỗ vốn. Do
đó thị trường đầu ra cũng là một yếu tố rất quan trọng. Cuối cùng yếu tố thức ăn
tốt cũng quyết định đến sự thành công của mô hình, chiếm 3,45%. Nhiều nông
dân cho biết: nếu thức ăn tươi sống (nhất là cá đồng) thì cá lóc nuôi sẽ mau lớn
và ít bị bệnh khi đó không cần phải trộn thêm thuốc ngừa bệnh và thuốc bồi
dưỡng vào thức ăn. Nhưng nếu cho ăn cá biển thì nước ao mau bị dơ và cá dễ
mắc bệnh hơn. Do đó trước khi cho ăn bằng cá biển họ phải tốn công rửa thật
sạch, chọn lọc cá mồi tốt và trộn thêm thuốc kháng sinh thuốc bồi dưỡng vào
thức ăn làm tăng chi phí vận hành dẫn đến lợi nhuận của người nuôi kém đi. Khi
đề cập đến yếu tố kỹ thuật thì nông dân ở vùng nghiên cứu cho rằng nuôi cá lóc
trong vèo là một hình thức nuôi khá đơn giản nên đối với họ yếu tố kỹ thuật
không quan trọng lắm vì họ đã được tập huấn từ cán bộ khuyến ngư ở huyện từ
một năm trước. Nếu so sánh với các địa phương khác như Châu Phú và An Phú
thì các yếu tố vốn, thị trường đầu ra, chất lượng nước là những yếu tố được đề
cập đến nhiều nhất (Cao Quốc Nam và ctv, 2005).



3
4.6. Những khó khăn trở ngại của mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa
lũ năm 2004
Những trở ngại khó khăn chủ yếu của mô hình nuôi cá lóc trong vèo
trong mùa lũ 2004 tại địa bàn nghiên cứu là chất lượng nước kém (25%), thức ăn
(25%), dịch bệnh (25%) và vốn sản xuất (25%) (Bảng 16). Theo Đại học An
Giang (2003) vào thời điểm cuối mùa lũ môi trường nước biến động rất lớn và
có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cá nuôi. Đây cũng là khó khăn lớn của
các hộ nông dân đã được phỏng vấn, trong đó 51,72% nông dân cho rằng khi lũ
đến mang theo nhiều phù sa nên nước rất đục. Bên cạnh đó thì 48,28% nông dân
được phỏng vấn cho rằng trong quá trình nuôi do sử dụng thức ăn là cá biển nên
làm cho nguồn nước thường xuyên hôi thối, cá nuôi dễ mắc bệnh do đó họ phải
tốn kém nhiều chi phí thuốc, xăng, dầu bơm nước… dẫn đến chi phí sản xuất cao
và giảm lợi nhuận mô hình.
Khó khăn thứ hai mà nông dân gặp phải là thức ăn (cá mồi) có đến
96,55% nông dân cho rằng thức ăn ở thời điểm mùa lũ 2004 giá cá mồi quá cao
và dao động trong khoảng 3500-4000 đồng/kg, trong khi đó ở thời điểm cùng kỳ
các năm trước giá cá mồi chỉ 2000-3000 đồng/kg. Một khó khăn trở ngại nữa là
do thời tiết năm nay không ổn định thường xuyên xảy ra mưa bão nên 3,45%
thiếu thức ăn trong quá trình nuôi.
Một khó khăn nữa cũng không kém phần quan trọng quyết định đến
năng suất cá nuôi đó là dịch bệnh (25%) - rất thường xảy ra trong quá trình nuôi
và khó điều trị. Bệnh phổ biến và thường gặp nhất trên cá lóc nuôi đó là bệnh
xuất huyết chiếm tỷ lệ 34,48 %, kế tiếp là bệnh mất nhớt chiếm đến 24,14%,
ngoài ra còn một số bệnh phổ biến khác như: ghẻ, đỏ mang, ký sinh trùng. Một
điều đáng lưu ý ở đây là khi điều trị những bệnh này tất cả những nông dân đã
được phỏng vấn đều dùng thuốc điều trị quá liều lượng so với hướng dẫn ghi
trên nhãn thuốc, điều này dễ dẫn đến trường hợp cá bị ngộ độc thuốc. Ngoài ra,
trong quá trình nuôi còn xuất hiện một số bệnh mà nông dân không điều trị được
như hiện tượng cá chết rải rác có khi mỗi ngày chết 1 con hoặc trong 1 tuần chỉ


3
chết 1-2 con, tuy nhiên hiện tượng này không phổ biến lắm chỉ chiếm tỉ lệ
3,45%.
Qua kết quả theo dõi và điều tra một khó khăn lớn nhất và khó giải quyết
nhất đối với người nuôi cá lóc ở xã Tân Trung hiện nay là vốn sản xuất. Do quá
trình nuôi kéo dài và đầu tư mua cá mồi cao nên những hộ nghèo thiếu vốn phải
vay bên ngoài với lãi suất cao chiếm 86,21%, những hộ này không vay được vốn
nhà nước do không đủ điều kiện vay cũng như không có bằng khoán đỏ để thế
chấp với ngân hàng, vay nóng lãi suất quá cao 2,2-4,85%/tháng dẫn đến nhiều hộ
trắng tay sau mỗi vụ nuôi, tính trên lý thuyết thì họ có lời sau mỗi vụ nuôi nhưng
tiền lời này chỉ đủ đóng lãi. Đây là một khó khăn rất lớn đối với những hộ nuôi
cá lóc. Bên cạnh đó thì những hộ có đủ điều kiện vay vốn của nhà nước thì vốn
vay này không đủ để họ thực hiện mô hình. Qua nhiều năm thực hiện mô hình,
những nông dân được phỏng vấn và theo dõi cho biết muốn nuôi 1000 con cá lóc
thì số vốn tối thiểu mà họ phải có là 10 triệu đồng trong khi đó vốn của nhà nước
hỗ trợ cho việc chăn nuôi chỉ từ 5-7 triệu đồng/ hộ. Điều này cũng giống như báo
cáo của Phòng Xây dựng và phát triển nông thôn huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
(2003) vốn vay ngân hàng không đủ và chậm.
Bảng 16: Những khó khăn trở ngại của mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong
mùa lũ năm 2004 tại xã Tân Trung, Phú Tân, An Giang
Nội dung Phần trăm (%)
1. Chất lượng nước 25,00
- Đục 51,72
- Hôi thối 48,28
2. Thức ăn 25,00
- Giá cao 96,55
- Mưa bão thiếu thức ăn 3,45
3. Dich bệnh 25,00
- Xuất huyết 34,48
- Ghẻ 6,9


3
- Mất nhớt 24,14
- Đỏ mang 17,24
- Ký sinh 13,79
- Không tự điều trị được 3,45
4. Vốn 25,00
- Thiếu vốn phải vay bên ngoài với lãi suất cao 86,21
- Vốn vay từ nhà nước không đủ cho sản xuất 13,79

Ở các địa phương khác thì người dân cũng gặp những khó khăn tương tự
như ở đây. Ngoài ra do mới thực hiện mô hình này khoảng 2,17 năm (ở huyện
Châu Phú) nên nhiều nông dân ở đây gặp khó khăn trong kỹ thuật nuôi họ chỉ
học qua bạn bè, dẫn đến hiệu quả kinh tế của mô hình không cao. Do chưa chủ
động đựợc thời vụ nuôi nên 100% nông dân ở 2 huyện Châu Phú và An Phú gặp
khó khăn trong khâu tiêu thụ, giá cả thị trường không ổn định (Cao Quốc Nam
và ctv, 2005).
Qua những kết quả đã phân tích và thảo luận trên đây, thiết nghĩ để việc
thực hiện mô hình tại địa phương một cách có hiệu quả hơn người dân cần phải:
• Thay thế dần nguồn thức ăn từ cá biển sang thức ăn chế biến (thức ăn
công nghiệp).Vì sử dụng thức ăn công nghiệp cá vẫn tăng trọng
nhanh (theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thu Hòa), giá thức ăn
công nghiệp rẻ hơn so với cá biển và sẽ giảm thiểu được tình trạng ô
nhiễm môi trường cũng như tình trạng cạn kiệt nguồn cá mồi trong tự
nhiên.
• Xử lý tốt nguồn nước ao, thường xuyên thay nước theo định kỳ (mỗi
tuần một lần), xử lý tốt nguồn nước ao từ đầu vào đến đầu ra.
• Chon thời vụ nuôi thích hợp để bán sản phẩm của mình được giá cao.




3
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Kết luận

Qua kết quả theo dõi và điều tra nông hộ nuôi cá lóc trong vèo trong
mùa lũ 2004 tại xã Tân Trung, Phú Tân, An Giang chúng tôi rút ra một số kết
luận sau:
Nguồn lực lao động trong nông hộ tương đối ít, có độ tuổi lao động
chính chiếm 75,86% và có trình độ học vấn đa phần là thấp.
Nguồn đất đai của các hộ tương đối ít, 43,33% nông hộ có diện tích đất
canh tác lúa, còn lại 56,67% nông hộ chỉ có diện tích đất vừa đủ để ở và nuôi cá.
Diện tích ao và thể tích vèo để nuôi cá lóc trung bình là 884 m2/hộ và
89,41m3/hộ, tương ứng.
Nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động nuôi cá lóc trong vèo được tiếp
nhận chủ yếu từ các chương trình truyền hình, đài phát thanh, giữa các nông dân
nuôi cá lóc, sách báo, bà con thân thuộc và cán bộ kỹ thuật viên của huyện hoặc
xã. Số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc trong vèo của người dân trung bình là 5,34
năm.
Nguồn vốn để phục vụ cho việc nuôi cá lóc trong vèo đa phần là kết hợp
giữa vốn nhà và vốn vay tư nhân với lãi suất cao, kế đến là sự kết hợp giữa vốn
nhà và vốn vay nhà nước với lãi suất thấp và rất ít là vốn nhà.
Lý do chủ yếu mà nông dân áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong
mùa lũ là: tạo thêm thu nhập, nguồn nước tốt hơn, dễ tìm cá mồi cho cá lóc, tận
dụng công lao động nhàn rỗi trong mùa lũ và giá cá mồi trong mùa lũ rẻ.
Thời điểm thả nuôi cá rất sớm khoảng tháng 6 và thu hoạch vào đầu
tháng 10 để bán cá được giá cao. Trung bình năng suất và sinh khối lúc thu
hoạch cá lóc trong mô hình là 27,35 kg/m3 và 31,09 kg/m3 sau thời gian nuôi
4,29 tháng.




4
Giá thành sản xuất ra 1,0 kg cá lóc thịt tương đối cao do hệ số chuyển
hóa thức ăn và chi phí vận hành cao. Lợi nhuận mà nông dân thu được sau mỗi
vụ nuôi là 29.190 đồng/ m3 vèo (tương đương 2,3 triệu/hộ/vụ) và nếu không kể
công lao động gia đình thì thu nhập trung bình/nông hộ đạt 4,57 triệu/hộ/vụ. Tuy
nhiên tất cả các ý kiến của nông dân đều cho rằng đời sống của họ thay đổi theo
chiều hướng tăng sau khi áp dụng mô hình nuôi cá lóc trong vèo sau từ 2-12
năm.
Vốn để mua thức ăn cho cá, thị trường đầu ra và chất lượng nước là
những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của mô hình nuôi cá lóc
trong vèo trong mùa lũ 2004. Trong khi đó trong mùa lũ 2004 nông dân phải đối
mặt với những trở ngại khó khăn lớn như chất lượng nước kém, dịch bệnh nhiều,
giá thức ăn cao và thiếu vốn sản xuất.


5.2. Đề nghị
Tuy thu nhập bình quân trên nông hộ của mô hình nuôi cá lóc trong vèo
trong mùa lũ 2004 thấp nhưng xét về mặt xã hội thì đây là mô hình tận dụng tốt
công lao động nhàn rỗi trong nông thôn mỗi khi lũ về, thích hợp cho những gia
đình có nhiều công lao động, ít đất và ít vốn để sản xuất. Tuy nhiên cá lóc là loài
cá dữ, ăn động vật nên những hoạt động nuôi cá lóc sẽ có những ảnh hưởng rất
lớn lên môi trường sinh thái tự nhiên vì vậy để phát triển mô hình nuôi cá lóc
một cách có hiệu quả và ổn định cần phải tiếp tục đầu tư nghiên cứu và ứng dụng
các tiến bộ khoa học sau:

 Cần tiếp tục duy trì và mở thêm các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi, phòng
ngừa dịch bệnh và quản lý chất lượng nước cho người dân trong vùng
nuôi cá lóc. Xây dựng hợp tác xã thuỷ sản và khuyến khích người dân
tham gia vào hợp tác xã này.

 Giảm chi phí vận hành và tăng thu bằng cách tác động các biện pháp kỹ
thuật thích hợp vào các hoạt động nuôi cá lóc trong vèo và kết hợp nuôi



4
thêm một số loài cá thích hợp bên ngoài vèo nuôi, ...

 Chính quyền địa phương nên có chính sách thích hợp, tạo điều kiện thuận
lợi cho người dân được vay vốn để có thể duy trì và mở rộng mô hình mỗi
khi lũ về, nhất là đối với những hộ nghèo cần được hỗ trợ và ưu tiên trong
việc vay vốn.




4
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Văn Dính. 01.04.2004. Vua cá lóc [trực tuyến] .Đọc từ:
http://www.datviet.com/forums/archive/index.ph (đọc ngày 23.04.2004).
Minh Dung.10.01.2001. Kỹ thuật nuôi cá lóc [trực tuyến]. Tạp chí khoa học và
công nghệ thuỷ sản. Đọc từ: http://www.vietlinh.com.vn/tech/fish/qua.htm
(đọc ngày 22/09/2004).
Đại học An Giang, 2003. Tài liệu phát triển nông thôn mùa lũ (trang 18).
Võ Văn Hà, Trần Nhựt Phương Diễm, Lê Thị Mỹ Xuyên, Dương Ngọc Thành.
2005. Một số kết quả khảo sát về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế mô hình canh
tác có hiệu quả trong mùa lũ 2004 tại tỉnh An Giang. Sở Khoa Học và Công
Nghệ tỉnh An Giang - Viện Nghiên Cứu Phát Triển Đồng Bằng Sông Cửu
Long. Trang 30-37.
Huỳnh Thu Hòa. 2004. Nghiên cứu xây dựng qui trình nuôi cá lóc ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Trang 1, 77-
87.
Đỗ Thị Hòa. 2004.Giáo trình bệnh học thủy sản. Giáo trình: Khoa thủy sản,
trường đại học Thủy Sản.
Tuấn Khanh. 26.08.2004. Xã Bình Phú, huyện Châu Phú: Phát triển mô hình
nuôi cá lóc trong mùng lưới [trực tuyến] . Trang web tỉnh An Giang. Đọc từ:
http://www.angiang.gov.vn/xemtintintuc.asp (đọc ngày 30.09.2004).
Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan. 2004. Kỹ thuật nuôi một số loài cá
kinh tế nước ngọt và phòng trị bệnh cá. Nhà xuất bản nông nghiệp Thành
Phố Hồ Chí Minh.
Phạm Văn Khánh. 2000. Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt. Nhà xuất bản Nông
Nghiệp.


Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương. 1993. Định loại cá nước ngọt vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ.

4
Trung Liêm. 27.05.2005. Kỳ vọng của người dân vùng lũ. Trang web tỉnh An
Giang. Đọc từ: http://www.angiang.gov.vn/lietkemuc.asp (đọc ngày
24.09.2004).
Hứa Thị Phượng Liên. 2004. Giáo trình thủy sản đại cương. Giáo trình: Khoa
Nông Nghiệp và Tài Nguyên Thiên Nhiên, trường Đại học An Giang
Ngô Trọng Lư. 2003. Kỹ thuật nuôi lươn, ếch, baba, cá lóc. Nhà xuất bản Nông
Nghiệp.
Dương Nhựt Long. 04.07.2004. Nuôi thuỷ sản trước và trong mùa lũ. Tạp chí
khoa học và công nghệ thủy sản (trực tuyến]. Đọc từ
http://www.vietlinh.com.vn/tech/subjects/nuoitom-
domanthap/truocvatronglu.htm (đọc ngày 04/07/2004).
Dương Tấn Lộc. 2001. Kỹ thuật nuôi thuỷ đặc sản nước ngọt. Nhà xuất bản
thành phố Hồ Chí Minh.
Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ. 2003. Kỹ thuật nuôi thuỷ đặc sản nước ngọt. Nhà
xuất bản Nông nghiệp Hà Nội.
Cao Quốc Nam, Trương Ngọc Thuý, Tô Phước Thủ, Phan Thanh Hải, Trịnh
Phát, Dương Ngọc Thành. 2005. Mô hình nuôi cá lóc trong vèo trong mùa lũ
tại An Giang năm 2004. Một số kết quả khảo sát về kỹ thuật và hiệu quả
kinh tế mô hình canh tác có hiệu quả trong mùa lũ 2004 tại tỉnh An Giang.
Sở Khoa Học và Công Nghệ tỉnh An Giang - Viện Nghiên Cứu Phát Triển
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Trang 21-29.
(Nguyễn Văn Phương. 18.09.2003. An Giang thực hiện 3 nhóm mô hình sản
xuất hiệu quả trong mùa nước nổi [trực tuyến]. Báo nông thôn ngày nay.
Đọc từ: http://www.aroviet.gov.vn/tapchi/baontnn/2003/Noidung/so 149-
03.asp. (đọc ngày 20/09/2004).
Phòng Xây dựng và Phát triển Nông thôn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang,
2003a. Báo cáo tình hình tổ chức triển khai thực hiện đề án 31 mùa nước nổi
năm 2003.



4
Phòng Xây dựng và Phát triển Nông thôn huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. 2004.
Báo cáo kết quả thực hiện Đề án 31 năm 2003 - Kế hoạch thực hiện đề án 31
năm 2004.
Phòng Xây dựng và Phát triển Nông thôn huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, 2003b.
Báo cáo kết quả thực hiện Đề án 31 năm 2003 - Kế hoạch về phát triển 2004
– Lĩnh vực nông nghiệp
Nguyễn Văn Triều, Lê Sơn Trang, Dương Nhựt Long. 1999. Kỹ thuật sinh sản
cá lóc đen. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học - Bộ giáo dục và đào
tạo trường ĐHCT, 1999.
Xã Tân Trung huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. 2004. Báo cáo tổng kết tình hình
sản xuất nông nghiệp.




4
PHỤ CHƯƠNG
Phụ chương 1: Phiếu phỏng vấn nông hộ thực hiện mô hình nuôi cá lóc
trong vèo trong mùa lũ năm 2004.
Mã số phiếu:.........
Người phỏng vấn:…………………………....Ngày:……………………
1-Thông tin tổng quát:
Họ tên nông dân:………………………Tên thường gọi:…………………
Địa chỉ:ấp……………xã………………huyện……………………………
Tên sông gần nhà nhất:…………Tên rạch gần nhà nhất:………………
Kinh nghiệm sản xuất: Nuôi cá trong vèo.......…năm
Nhà loại :  Bằng tre lá ;  Bằng gạch,ngói
 Bằng gỗ,ngói ;  Loại khác………
2-Thành viên trong gia đình năm 2004

Nghề nghiệp
Quan hệ với Giới Văn Thời Thời
Tuổi
chủ hộ tính hoá N.Nghiệp gian Khác gian
(%) (%)
Chủ hộ
Vợ/chồng




3. Nuôi cá lóc.
3.1. Diện tích ao nuôi/kích thước vèo.
Hình thức sở Diện tích ao Số vèo Kích cỡ vèo
Số ao
hữu (*) (m2) trong ao (dài x rộng x sâu)


4
(*): 1= của nhà; 2= thuê(cố đất); 3= mượn; 4 =
3.2 Phương pháp nuôi
3.2.1. Thời vụ nuôi cá lóc
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
(dl)




3.2.2.Vụ cá lóc trong mùa lũ

Hoạt động Cách thực hiện Thời gian
Chuẩn bị ao
Chuẩn bị vèo
Cấp nước
Đặt vèo
Thả cá giống
Cho cá ăn


4
Nguồn Phạm vi xã
Phạm vi huyện
thức ăn
Phạm vi tỉnh
(*)
Phạm vi quốc gia
Quản lý chất lượng nước
Quan sát sức khoẻ cá
Quản lý dịch bệnh
Sang thưa
Thu hoạch
Vận chuyển
Bán
Hoạt động khác




(*)phạm vi giữa các xã, huyện, ...




3.3 Nguồn cá giống.
Số lượng giống
Tên loài Giống nhà (con Giống mua (con và Giá Thành tiền
và %) %), ở đâu




4
3.4 Thức ăn
Số lượng (kg)
Thời kỳ Loại thức
T. ăn nhà T. ăn mua Giá Thành tiền
nuôi ăn
(%) (%)




3.4 Chi phí đầu tư
Loại Số lượng Giá Thành tiền
Chi phí cố định
Đào ao
Sên vét ao
Vèo
Cọc,trụ
Dây
Lồng, sô, thao,dợt...
Máy xay thức ăn
Máy bơm nước
Hệ thống ống dẫn nước
Sàng ăn
Thùng chứa thức ăn
Mục khác
Chi phí vận hành
Cá giống
Vôi
Thuốc, hoá chất
Vitamin, Premix


4
Thức ăn
Xăng dầu,điện
Công lao động nhà
Công lao động thuê
Khác




4. Tỉ lệ sống, năng suất


Cá thả Thu hoạch cá
Số Tỷ lệ sống Năng suất
Kích cỡ Sốlượng Kích cỡ
lượng (%) (kg/m2/vụ)
(g/con) (con) (g/con)
(con)




5. Sinh khối lúc thu hoạch và thu nhập:
Loại Lý do bán cho
Loại Sinh khối lúc thu Thành
Giá bán người những ngưòi
cá hoạch (kg) tiền
mua (*) này(**)
Ăn trong
gia Bán
đình/cho



Ghi chú:
(*) Người mua: PA:tư nhân/thương lái; Go:công ty nhà nước; Lo:thị trường địa
phương; Loại khác




5
(**) Lý do bán cho những người này: 1-đến đầu tiên; 2-hợp đồng dài hạn; 3-mua
giá cao;4-cho ứng tiền trước; 5-cung cấp và hướng dẫn kỹ thuật; 6-mua vật tư từ
họ; 7-lý do khác


6.Những trở ngại trong sản xuất
6.1 Sản xuất có những trở ngại gì? Hướng giải quyết?
 Nguồn nước …………………………………………………………….
 Biện pháp phòng và trị bệnh…………………………………………


 Nguồn cá giống…………………………………………………….


 Nguồn lao động …………………………………………………….


 Nguồn thức ăn ……………………………………………………….


 Thị trường ……………………………………………………………


 Vấn đề khác………………………………………………………… ……
……………………………………………………………


6.2 Kỹ thuật
 Kiến thức……………………………………………………….


 Kỹ thuật nuôi ………………………………………………….
 Hệ thống/cách thức khuyến ngư .......................................................
 Vấn đề khác ..………………………………………………………………
………...……………………………………………………………………
.
……………………………………………………………………………………


5
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………..




6.3 Tín dụng
Thời gian
Nguồn vốn Số tiền Lãi suất Mục đích làm gì
trả nợ
Vốn nhà
Vay ngân hàng
Vay bên ngoài
Mượn
Hùng vốn
Nợ
Điều kiện cho vay
Khác

6.4. Đánh giá đời sống kinh tế sau khi áp dụng nuôi cá lóc trong vèo
 Tốt hơn  Không thay đổi  Giảm xuống
Nguyên nhân: ...............................................................................
……………………………………………………………………
…………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………



5
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………..


Tên
Diện tích
cây Số Số Chi phí
trồng, số Giá bán Tổng thu
trồng, lượng lượng đầu tư
lượng (đồng/kg) (đồng
vật (kg) bán (kg) (đồng)
nuôi
nuôi
Cây
trồng,
Hoa
màu

Gia súc
gia cầm



loại
khác




7. Thu nhập từ các loại cây trồng, vật nuôi và thu nhập khác trong năm
2004




5
8.Thu nhập khác trong nông hộ
Hoạt loại Số Số Thu Tổng Tổng Lý do làm
động công người ngày nhập/ngày thu(đ) Chi (đ) việc này
việc tham
gia


Làm
thuê
NN



Thu
nhập
phi
NN
Buôn
bán




5
9. Nguồn thông tin cho hoạt động nuôi cá lóc
Ai thu nhận
Số lần
Nguồn Các thông tin các thông tin
(**)
(*)
Từ những nông dân khác
Bà con thân nhân
TV
Radio
Báo/tạp chí
Tổ chức chính phủ/kỹ thuật
viên
Dịch vụ buôn bán vật tư nông
nghiệp
Các người nghiên cứu, thí
nghiệm và điều tra
Hợp tác xã
Lãnh đạo địa phương
Các nguồn khác (liệt kê)

* : R=Chủ hộ S=Vợ (Chồng) O=Người khác (liệt kê)
** : O=Thường xuyên S=Vài lần N=Chưa bao giờ
10. Yếu tố quyết định thành công của mô hình.
Xếp Vấn đề đã được Vấn đề tồn tại
Yếu tố Lý do
hạng giải quyết và đề xuất
Nguồn vốn
Nguồn giống
Nguồn nước/đất
đai/thủy lợi
Lũ/thời gian
lũ/mức ngập lũ
Thức ăn
Kỹ thuật




5
Thị trường đầu ra

Loại cây trồng vật
nuôi khác
Mối quan hệ với
hàng xóm
Chính sách địa
phương
Khác



Nhận xét của người phỏng vấn: :……………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
………………………………………


Phụ chương 2: Sổ theo dõi


Loại
Ngày, Mua Số Thành
thức Môi trường nước/bệnh cá Khác
tháng ở đâu lượng tiền
ăn
Hiện Chưa
Cách
tượng biết cách
xử lý
xấu xử lý




5
Phụ chương 3: Cách tính toán
Chi phí đầu tư, thu nhập và lợi nhuận
n m
• TC = ∑∑
j i
PiXi

n

• GR = ∑ j
QjPj

• NR = GR – TC
Trong đó:
 TC = Tổng chi phí
 GR = Tổng thu nhập
 NR = Lợi nhuận
 Pi = Giá của biến thứ i
 Xi = Lượng của biến thứ i trong hệ thống
 Pj = Giá sản phẩm trong hệ thống j
 Qj = Lượng sản phẩm trong hệ thống j
• Tỷ lệ sống (%) = (Nt x 100)/Nο
• Tốc độ tăng trưởng (g/ngày) = (Wt-W○)/t



5
• Năng suất (kg/m³) = (Wt-W○)/1000/m³
• Sinh khối lúc thu hoạch (kg/m³) = Wt/1000/m³
Trong đó:
 Nt: Số lượng cá lúc thu hoạch (con)
 Nο: Số lượng cá lúc thả (con)
 Wt: Trọng lượng cá lúc thu hoạch (g)
 W○: Trọng lượng cá lúc thả (g)
 t: Thời gian nuôi cá (ngày)


Phụ chương 4: Cách tính khấu hao cho từng vụ của các chi phí cố định
- Đào ao (2,5%)
- Sên vét ao (50%)
- Vèo cá (25%)
- Dợt, dây, sàng thức ăn (25%)
- Máy xay thức ăn (10%)
- Hệ thống ống dẫn nước (10%)
- Máy bơm nước (5%)
- Thùng chứa thức ăn (25%).




5
5
6
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản