Đề tài “Phương thức tín dụng chứng từ – Thực trạng và biện pháp”

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:105

2
490
lượt xem
248
download

Đề tài “Phương thức tín dụng chứng từ – Thực trạng và biện pháp”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài “phương thức tín dụng chứng từ – thực trạng và biện pháp”', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài “Phương thức tín dụng chứng từ – Thực trạng và biện pháp”

  1. LUẬN VĂN “Phương thức tín dụng chứng từ – Thực trạng và biện pháp”
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................... 3 CHƯƠNG I....................................................................................................... 4 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN ................................................................... 4 TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ HIỆN NAY .................................................. 4 I . THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ...................................................................... 4 1. THANH TOÁN QUỐC TẾ LÀ GÌ? .............................................................. 5 2.VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ .......................................................................................................................... 6 II. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ. ................................................................................... 7 1.PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ................................................. 7 2. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ.............................................. 8 III. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ................... 13 1.TẦM QUAN TRỌNG- PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA UCP ........................... 13 2. PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - ÁP DỤNG UCP 500 ........... 14 3. XU HƯỚNG ĐỔI MỚI HOÀN THIỆN UCP 500 CỦA PHÒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ............................................................................................... 21 IV. LUẬT ĐIỀU CHỈNH THANH TOÁN QUỐC TẾ. ................................... 23 1. NHỮNG NÉT NỔI BẬT CỦA UCP ........................................................... 23 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA UCP VÀ LUẬT PHÁP QUỐC GIA. ..................... 24 CHƯƠNG 2 .................................................................................................... 26 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG UCP 500 TRONG THANH TOÁN QUỐC TỪ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA................................................. 26 I. SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ BUÔN BÁN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA........................................................................................... 26 1.BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI. ............................................................... 26 2.BỐI CẢNH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM. .................................................... 28 3.QUAN HỆ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY. ........................................................................................... 29 4. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG UCP 500 TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM ..................................................................................................... 31 1. MỘT SỐ TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM. .............................. 31 TÌNH HUỐNG:............................................................................................... 32 5.NHỮNG TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THEO L/C ĐƯỢC ÁP DỤNG UCP 500 ........................................................................... 45 CHƯƠNG 3 .................................................................................................... 47
  3. GIẢI PHÁP NHẰM ÁP DỤNG CÓ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.......................................... 47 I. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH.................................... 47 XUẤT NHẬP KHẨU TRONG THỜI GIAN TỚI........................................... 47
  4. LỜI MỞ ĐẦU Thế giới ngày nay càng ngày càng có khuynh hướng tiến tới sự hoà nhập, hội tụ. Dù muốn hay không, sự mở cửa của nền kinh tế đã làm cho trái đất thực sự trở thành một cộng đồng với đầy đủ ý nghĩa của từ này hơn bao giờ hết. Trong cộng đồng này, các quốc gia là những thành viên chấp nhận sự lệ thuộc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau vừa công khai vừa vô hình. Sự ràng buộc lẫn nhau trong cộng đồng bắt đầu từ khía cạnh kinh tế. Thương mại quốc tế là cầu nối xa xưa nhất giữa các vùng và các nước từ thời cổ đại. Nếu thương mại đã từng là người dẫn đường cho chiến tranh, thì cũng chính nó là tác nhân giúp cho thế giới ý thức được thì cần có lẫn nhau vì sự tồn tại chung. Hàng hoá của mỗi quốc gia dần dần được buôn bán trên khắp thế giới. Mỗi nước đối với cộng đồng thế giới giống như mỗi thành viên trong mỗi nền kinh tế quốc gia, đều là người bán và cũng là người mua. Do họ vừa là người bán vừa là người mua, sự tồn tại của nước này cần cho sự tồn tại của các nước khác và ngược lại. Các nước đều phụ thuộc lẫn nhau, và đều ý thức một cách tự nhiên rằng mỗi nước không thể phát triển một cách mạnh mẽ và bền vững nếu dựa trên các quan hệ kinh tế bất bình đẳng, phương hại đến lợi ích của nhau. Cho đến ngày nay, hầu hết nhân dân của gần như tất cả các nước trên thế giới vì tính tất yếu của cuộc sống luôn chỉ quan tâm đến không chỉ tình hình trong nước mà cả tình hình kinh tế và thương mại của quốc tế. Bởi vì những thay đổi ở ngoài biên giới tưởng chừng không có liên quan, nhưng kỳ thực nó sẽ lan truyền chấn động, ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của mỗi người. Nói chung, xuất khẩu và nhập khẩu tác động đến tiềm năng sản xuất, tổng cầu và thu nhập của mỗi quốc gia. Do vậy, xuất phát từ lợi ích kinh tế, và mỗi cá nhân đều cần quan tâm nghiên cứu quan hệ kinh tế quốc tế và những tác động của quan hệ này. Đương nhiên quan hệ quốc tế là bộ phận cầu nối và hạt nhân quan trọng của quan hệ kinh tế quốc tế. Khi tìm hiểu về thương mại quốc tế, chúng ta buộc phải có những hiểu biết nhất định về các vấn đề tiền tệ, tài chính và thanh toán quốc tế. Đó là lẽ đương nhiên, bởi vì nếu thương mại là cầu nối cho sự liên hệ của cộng đồng thế giới, thì tiền tệ và thanh toán quốc tế là công cụ để nó thực hiện chức năng cầu nối này. Một phương thức thanh toán quốc tế được phổ biến rộng rãi nhất trong thương mại quốc tế là Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Việc sử dụng phương thức thanh toán này tuy phức tạp nhưng lại thoả mãn lợi ích của cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu, thông qua ngân hàng, người nhập khẩu có được sự bảo đảm cho quyền sở hữu lô hàng nhập khẩu và ngược lại người xuất khaảu có được sự bảo đảm cho việc nhận đủ số tiền của lô hàng xuất khẩu. Vì khối lượng thanh toán bằng phương thức tín
  5. dụng chứng từ ngày càng rộng lớn, do đó Phòng Thương mại quốc tế tại Paris – ICC (International Chamber of Commerce) đã ban hành Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, viết tắt là UCP (Uniform Customs and Practice for Documentary Credit) vào năm 1993 nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa người nhập khẩu, người xuất khẩu và các ngân hàng có liên quan trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Bản quy tắc này có hiệu lực từ 01/01/1994 sửa đổi từ điều luật ban hành năm 1983, và thường biết đến là UCP 500. Để có điều kiện hiểu sâu hơn về Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cũng như nguồn luật điều chỉnh nó, tôi đã chọn đề tài : “ Việc áp dụng UCP 500, ICC trong “Phương thức tín dụng chứng từ” – Thực trạng và biện pháp”. Cấu trúc của khoá luận gồm: Chương I: PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ HIỆN NAY. Chương II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG UCP 500 TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA. Chương III: GIẢI PHÁP NHẰM ÁP DỤNG CÓ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI. CHƯƠNG I PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ HIỆN NAY I . THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ.
  6. 1. THANH TOÁN QUỐC TẾ LÀ GÌ? Thanh toán quốc tế là việc thanh toán giữa các nước với nhau về những khoản tiền nợ lẫn nhau phát sinh từ những quan hệ giao dịch về kinh tế, tài chính, chính trị, văn hoá.... Chủ thể trong thanh toán quốc tế có thể là thể nhân, pháp nhân hoặc chính phủ của các nước. Thanh toán quốc tế là chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại. Nó được hình thành và phát triên cơ sở phát triển ngoại thương của 1 nước và ngân hàng thương mại được nhà nước giao cho độc quyền làm công tác thanh toán này. Do vậy các giao dịch thanh toán trong ngoại thương đều phải thông quan ngân hàng. Nghiệp vụ này đã tạo sự hoà hợp hệ thống ngân hàng Việt nam vào hệ thống ngân hàng thương mại thế giới, tạo sự an toàn hiệu quả đối với ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp XNK. Thanh toán quốc tế đòi hỏi chuyên môn cao. Luật pháp mỗi nước khác nhau nên trong thương mại đã có những quy định thống nhất, những thông lệ quốc tế mà các bên tham gia, kể cả ngân hàng đều phải tuân thủ: UCP 500, IRC 522, Incoterms 2000 ... do phòng Thương mại Quốc tế phát hành đều là những quy phạm pháp luật tuỳ chọn, nhưng khi đã chọn thì buộc phải tuân theo. Thanh toán quốc tế là việc chi trả bằng tiền liên quan đến các dịch vụ mua bán hàng hoá hay công ứng lao vụ... giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Các quan hệ quốc tế được phân chia thành 2 loại: bao gồm thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch. + Thanh toán phi mậu dịch: Là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hoá cũng như cung ứng lao vụ, nó không mang tính thương mại. Đó là hững chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại, các chi phí về vận chuyển và đi lại của đoàn khách nhà nước, các tổ chức của từng cá nhân. + Thanh toán mậu dịch: Khác hoàn toàn với thanh toán phi mậu dịch, thanh toán mậu dịch phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và các dịch vụ thương mại, theo giá cả quốc tế. Thông thường trong nghiệp vụ thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hoá kèm theo. Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại hoặc bằng một hình thức cam kết khác (thư, điện giao dịch). Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định rõ cách thức thanh toán dịch vụ thương mại phát sinh. Về cơ bản, thanh toán quốc tế phát sinh dựa trên cơ sở hoạt động ngoại thương. Thanh toán là khâu cuối cùng của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, vì vậy nếu công tác thanh toán quốc tế được tổ chức tốt thì giá trị của hàng hoá xuất khẩu mới đưọc thực hiện, góp phần thúc đẩy ngoại thương phát triển. Thanh toán quốc tế trở thành một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại. Quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng. Hàng năm một khối lượng hàng hoá rất lớn được giao lưu trên thị trường thế giới. Cho nên thanh toán
  7. quốc tế yêu cầu phải có những phương thức thanh toán mới cho phù hợp. Do đặc tính thuận lợi của hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng ở các nước, do đó thanh toán quốc tế sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt (chuyển khoản ) là chủ yếu. 2.VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ Thanh toán quốc tế tạo môi trường ứng dụng công nghệ ngân hàng: Hệ thống ngân hàng của mỗi nước dù đã hay đang phát triển đều hết sức quan tâm đến hoạt động thanh toán quốc tế. Tiêu chí hoạt động thanh toán là nhanh chóng kịp thời và chính xác. Do đó, các công nghệ tiên tiến của ngành ngân hàng đều được ứng dụng nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn các tiêu chí nêu trên. Ngân hàng ở các nước đều có mức đầu tư đáng kể vào công nghệ thông tin và xử lý dữ liệu. Thanh toán quốc tế mang tính an toàn cao: Nếu điều kiện về con người và công nghệ được thoả mãn thì thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ thực sự an toàn. Các biện pháp an toàn trong thanh toán luôn được chú trọng: mã hoá thông tin truyền đi, thiết lập mã điện (test key), lọc những thông tin gây nhiễu, đối chiếu số liệu tài khoản thôg qua mạng vi tính...đã tọ cho giao dịch thanh toán ngày càng an toàn cho các bên tham gia. Thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản cho Ngân hàng: Trong quá trình thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế cho khách hàng,ngân hàng yêu cầu khách hàng ký quỹ 1 khoản tiền tỷ lệ với giá trị mà ngân hàng bảo lãnh sẽ thanh toán. Nguồn tiền này tương đối ổn định và phát sinh thường xuyên trong việc thực hiện các tín dụng thư nhập khẩu cho khách hàng. Ngoài ra, tiền khách hàng nộp để giải chấp hàng nhập khẩu do ngân hàng quản chấp, kỳ hạn thanh toán nước ngoài chưa đến cũng là một nguồn tạo thanh khoản cho ngân hàng dưới hình thức tiền tập trung chờ thanh toán. Thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại: Thông qua việc bảo lãnh cho khách hàng trong nước, thanh toán cho Ngân hàng nước ngoài , Ngân hàng thực hiện thanh toán quốc tế sẽ có được những quan hệ đại lý với ngân hàng và đối tác nưóc ngoài. Mối quan hệ này dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ. Với thời gian hoạt động nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ ngày càng mở rộng. Đây cũng là hiệu quả do thanh toán quốc tế mang lại.
  8. II. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ. 1.PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ. Phương tiện thanh toán là công cụ mà người ta thực hiện trả tiền cho nhau trong quá trình buôn bán với nhau. Tiền mặt là phương tiện thanh toán nhưng trong thanh toán quốc tế nó giữ vai trò thứ yếu. Phương tiện thanh toán chủ yếu dùng trong thanh toán quốc tế là hối phiếu (Bill of exchange, Drafts), séc (cheque, check), thẻ tín dụng... Mỗi công cụ thanh toán đều có công dụng riêng của nó, thích hợp cho từng đối tượng và loại hình giao dịch thanh toán của các chủ thể kinh tế. Phần lớn các công cụ thanh toán có khả năng lưu thông (chuyển nhượng, mua bán) và được xem như là tiền tệ. Các đặc điểm của loại công cụ có thể chuyển nhượng là: Công cụ phải được chuyển nhượng bằng cách chuyển giao hay ký hậu và chuyển giao. Quyền sở hữu được chuyển giao cho người đáng tin cậy và người đó không biết bất kỳ khiếm khuyết naò về quyền sở hữu của người chuyển nhượng. Người đang nắm giữ hợp pháp có thể đứng tên khởi kiện. Không cần thông báo việc chuyển nhượng cho các bên có liên quan. Quyền sở hữu được chuyển nhượng tự do, không bị ràng buộc bởi các phần đóng góp hay trái quyền đối ứng giữa các bên tham gia trước đó mà bên được chuyển nhượng không được thông báo cho biết. Hối phiếu và séc được chuyển quyền sở hữu bằng cách trao tay giống như giấy bạc ngân hàng chỉ trong trường hợp chúng có quy định thanh toán cho người cầm giữ chúng. Trong các trường hợp hối phiếu và séc được thanh toán theo lệnh, các công cụ đó yêu cầu phải được ký hậu và chuyển giao quyền sở hữu. - Hối phiếu: Hối phiếu là một lệnh đòi tiền vô điều kiện do người bán (người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ...) ký phát đòi tiền người mua (người nhập khẩu, người nhận cung ứng) và yêu cầu người này phải trả một lượng tiền nhất định tại một địa điểm nhất định trong một thời gian xác định được quy định trong hối phiếu cho người hưởng lợi. * Từ đầu thế kỷ 20, do sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế đã thúc đẩy các nước đi đến thiết lập một thoả ứơc quốc tế về hối phiếu nhằm thống nhất những nguyên tắc cơ bản về hối phiếu trong thương mại quốc tế. * Về phương diện pháp lý trên thế giới cho đến nay, có 3 nguồn điều chỉnh lưu thông hối phiếu đó là: Công ước Giơ-ne-vơ 1930 – 1931 (Geneva Covention of 1930) gồm 2 luật: + Luật thống nhất về hối phiếu (Uniform Law for Bill of Exchange – ULB) + Luật thống nhất về séc (Uniform Law for check – ULC) Luật hối phiếu của Anh năm 1882 (Bill of Exchange Act of 1882 – BEA)
  9. Luật thương mại thống nhất của Mỹ năm 1962 (Uniform Commercial Code of 1962 – UCC) Ba nguồn luật điều chỉnh lưu thông hối phiếu nói trên có những đặc điểm rất khác nhau và nhìn chung ULB thuộc công ước Giơnevơ 1930 – 1931 được quy định chi tiết chặt chẽ hơn BEA-UCC và nó cũng được nhiều nước áp dụng. – Séc: Séc là một lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản tiền gửi- ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người cầm séc, gười có tên trong séc hoặc trả theo lệnh của chính người ấy. Hiện nay, séc là một phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến trong giao lưu thanh toán nội địa của tất cả các nước. Trong thanh toán nội địa nước ta có séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc chuyển tiền. Trong thanh toán quốc tế, séc cũng được sử dụng rộng rãi cho thanh toán tiền hàng, cung ứng lao động, du lịch và các khoản phí mậu dịch. Thực tiễn về sử dụng séc trong kinh tế thị trường. Các nhà nghiên cứu không đồng ý về nguồn gốc của séc mà chỉ đi đến một kết luận chung là séc được thông dụng tại nước Anh từ thế kỷ 17 và phát triển mạnh vào thế kỷ 19. Trong thời kỳ Việt nam là thuộc địa của Pháp, séc cùng với các luật séc của Pháp đã được những người Pháp mang đến và áp dụng tại Việt nam, luật séc được ban hành sớm nhất tại Việt nam là Luật 1865 của Pháp, được ban hành vào tháng 4 năm 1967. Như vậy séc đã có mặt tại Việt nam từ những năm 60 của thế kỷ 19. Việc sử dụng séc được các Ngân hàng thương mại Việt nam khuyến khích và quảng bá nên séc ngày càng trở nên thông dụng ở Miền nam vào thập niên 60 và đầu thập niên 70. 2. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ. Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu. Hiện nay trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ... Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu điểm nhược điểm, thể hiện thành mâu thuẫn quyền lợi giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu. Vì vậy, việc vận dụng phương thức thanh toán thích hợp phải được các bên bàn bạc thống nhất và ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương. Mỗi phương thức là một phương pháp bảo đảm thanh toán; việc chuyển giao “tiền thật sự” hay “chi trả” giữa người mua và người bán được thực hiện bởi các phương thức đó. Cho dù lựa chọn phương thức nào, đến khi thanh toán thì cũng cần các ngân hàng can dự vào. Các ngân hàng vận dụng chu trình thanh toán quốc tế sẽ bảo đảm thực hiện việc chuyển tiền từ người mua đến người bán . Việc chuyển tiền này có thể được thực
  10. hiện theo chỉ thị của người mua, ngân hàng cũng có thể can dự vào với tư cách là thụ uỷ của nhà xuất khẩu để thu hồi tiền nợ bán hàng hay để trả tiền với danh nghĩa thực hiện theo cam kết trong một tín dụng chứng từ. Dưới đây, tôi muốn điểm qua một số phương thức thanh toán quốc tế hiện hành. Đây là một số phương thức thường được sử dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt nam cũng như ở các nước trên thế giới. - Phương thức ghi sổ (Open account) Là phương thức thanh toán mà trong đó người xuất khẩu khi xuất khẩu hàng hoá , cung ứng dịch vụ thì ghi nợ cho người nhập khẩu, theo dõi vào một cuốn sổ riêng và việc thanh toán các khoản nợ này sẽ được thực hiện vào một thời kỳ nhất định. - Phương thức chuyển tiền (Remittance) Là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó người nhập khẩu (người mua, người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (Beneficiary) theo một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định. Về hình thức, việc chuyển tiền của ngân hàng phục vụ người nhập khẩu có thể tiến hành bằng điện (Telegraphic Transfer) hoặc băng thư (Mail Transfer) Có thể mô hình hoá ngiệp vụ này theo sơ đồ: Phương thức chuyển tiền: Ngân hàng phục vụ (4) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu người xuất khẩu (2) (3) (5) (1) Người nhập khẩu Người xuất khẩu
  11. (1): Người xuất khẩu sau khi ký hợp đồng, trong đó quy định phương thức thanh toán là chuyển tiền sẽ tiến hành giao hàng cùng bộ chứng từ giao hàng cho người nhập khẩu. (2): Người nhập khẩu sau khi nhận hàng một thời gian nhất định quy định trong hợp đồng sẽ liên hệ với ngân hàng phục vụ mình để nhờ chuyển trả tiền hàng (dịch vụ) cho người xuất khẩu. (3): Ngân hàng ghi Nợ tài khoản (hoặc thu tiền) của người nhập khẩu trong khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của bộ chứng từ nhập khẩu. (4): Ngân hàng tiến hành chuyển tiền cho ngân hàng phục vụ xuất khẩu heo chỉ định. (5): Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu tiến hành báo Có cho người xuất khẩu. 2.3 - Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of Payment) Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì tiến hành uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền hàng trên cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu lập. Có hai hình thức nhờ thu là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ: Nhờ thu trơn (Clean Collection): Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ cho người nhập khẩu, sau đó lập hối phiếu uỷ quyền cho ngân hàng phục vụ mình nhờ thu tiền từ người nhập khẩu. Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection): Người xuất khẩu chỉ giao hàng cho người nhập khẩu, sau đó lập hối phiếu cùng bộ chứng từ giao hàng uỷ quyền cho ngân hàng phục vụ mình nhờ thu. Ngoài ra, tuỳ theo thời hạn thanh toán còn có nhờ thu chứng từ đổi lấy sự chấp nhận (D/A: Documents against Acceptance): theo phương thức này, người nhập khẩu khi nhận được hối phiếu có kỳ hạn do người xuất khẩu lập chỉ cần chấp nhận thanh toán trên hối phiếu là có thể nhận được bộ chứng từ nhận hàng, việc thanh toán xảy ra sau 1 kỳ hạn ghi trên hối phiếu. Nhờ thu chứng từ đổi lấy sự thanh toán (D/P: Documents against Pyment) thì khó khăn hơn: Người Nhập khẩu phải thanh toán tiền hàng tại ngân hàng nhờ thu, ngân hàng mới giao chứng từ nhận hàng. Quy trình này được mô hình hoá như sau:
  12. Phương thức nhờ thu: (3) Ngân hàng phục vụ Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu người xuất khẩu (6) (5) (4) (7) (2) (1) Người nhập khẩu Người xuất khẩu Người xuất khẩu sau khi ký hợp đồng, trong đó quy định phương thức thanh toán là Nhờ thu, sẽ tiến hành giao hàng cùg bộ chứng từ giao hàng cho người nhập khẩu. Người xuất khẩu sau đó chuyển hối phiếu (nếu là nhờ thu trơn) hoặc bộ chứng từ kèm hối phiếu (nếu là nhờ thu kèm chứng từ) cho ngân hàng phục vụ mình uỷ thác để nhờ thu.
  13. Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển hối phiếu (hoặc hối phiếu kèm chứng từ) cho ngân hàng phục vụ người nhập khẩu để nhờ thu. Ngân hàng người Nhập khẩu chuyển hối phiếu (hoặc hối phiếu kèm chứng từ) cho người nhập khẩu để đổi lấy tiền hoặc đổi lấy sự chấp nhận cho ngân hàng của mình. Người Nhập khẩu chuyển trả tiền hoặc trả lại hối phiếu đã chấp nhận cho ngân hàng của mình. Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển tiền hoặc hối phiếu đã chấp nhận cho ngân hàng phục vụ người xuất khẩu. Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu báo Có hoặc trả lại hối phiếu cho người xuất khẩu. (Trong trường hợp nhờ thu đổi lấy sự chấp nhận, khi đến hạn thanh toán người nhập khẩu tiến hành các bước (5), (6), (7) lần nữa để tiến hành thanh toán) Hiện nay, phương thức thanh toán Nhờ thu được thống nhất theo luật điều chỉnh URC phiên bản số 522, hiệu lực từ ngày 1.1.1996 trên toàn thế giới. 2.4 - Phương thức thanh toán CAD (Cash Agains Documents) Theo phương thức thanh toán này, người Nhập khẩu buộc phải mở tài khoản ký quỹ tại một ngân hàng thuộc nước người xuất khẩu. Sau khi được ngân hàng xác nhận đã có số tiền ký quỹ trên tài khoản, người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ giao hàng cho người Nhập khẩu. Sau khi xem xét bộ chứng từ, người nhập khẩu chắc chắn rằng hàng đã được giao và sẽ cấp cho người xuất khẩu Thư xác nhận (Letter of Confirmation). Người xuất khẩu mang thư này xuất trình với ngân hàng nơi người nhập khẩu ký quỹ phong toả. Ngân hàng đối chiếu với chữ ký đã đăng ký của người nhập khẩu và nếu đúng, sẽ chuyển tiền phong toả này vào tài khoản của người xuất khẩu để thanh toán tiền hàng. Phương thức thanh toán này có lợi cho người xuất khẩu vì họ chỉ chuẩn bị hàng xuất sau khi có xác nhận phong toả của ngân hàng. Phương thức này thường được thực hiện khi người nhập khẩu có văn phòng đại diện tại nước người xuất khẩu. - Phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ Đây là phương thức thanh toán được áp dụng nhiều nhất trong thương mại quốc tế vì nó đảm bảo lợi ích cho các bên trong thanh toán. Nếu các phương thức trên , việc thanh toán phụ thuộc vào người mua thì trong phương thức này người bán bảo đảm nhận đựơc tiền thanh toán đúng thời hạn khi họ xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo theo yêu cầu và ngân hàng lúc này không chỉ đóng vai trò là trung gian làm dịch vụ mà tham gia hẳn vào quá trình thanh toán với tư cách là một chủ thể. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một cam kết của ngân hàng sẽ trả tiền cho người xuất khẩu theo chỉ dẫn và chịu mọi phí tổn của người nhập khẩu số tiền đúng trị giá của hàng hoá để giao khi người xuất khẩu đã xuất trình đầy đủ bộ chứng từ cho ngân hàng (Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn ở phần tiếp theo).
  14. III. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.TẦM QUAN TRỌNG- PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA UCP Sự ra đời của UCP Lần đầu tiên Qui tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practice for documentary Credits) gọi tắt là UCP được Phòng thương mại quốc tế công bố vào năm 1933. Nó là một bộ các Qui tắc được công nhận rộng rãi điều chỉnh đến việc sử dụng tín dụng chứng từ trong thương mại Quốc tế. Trong quãng thời gian từ năm 1933 đến nay, nhiều mặt của hoạt động buôn bán quốc tế đã thay đổi sâu sắc, nhưng qui tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ vẫn là một văn bản đầy sức sống của buôn bán quốc tế. Trải qua quá trình áp dụng, UCP đã được sửa đổi vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983 và 1993 nhằm hoàn thiện hơn nữa việc áp dụng UCP để điều chỉnh các mối quan hệ trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Ý nghĩa, tầm quan trọng Tại sao Qui tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ lại trở thành và vẫn còn cần thiết đến thế qua một thời gian dài như vậy, một thời gian mà chắc chắn kéo dài đến thế kỷ 21. Đó chính vì hai lý do: Lý do thứ nhất: thực tiễn buôn bán quốc tế tiếp tục đòi hỏi phải dùng tín dụng chứng từ và do đó đòi hỏi phải có một tập hợp các qui phạm được quốc tế thừa nhận để điều chỉnh việc sử dụng tín dụng chứng từ. Cũng như những năm trước đây, người bán vẫn ngần ngại khi chuyển giao hàng hoá của họ trước khi nhận được tiền, trong khi người mua lại muốn nắm được hàng hoá trước khi trả tiền. Nhưng rất khó mà làm cho việc trả tiền trùng với việc giao hàng thực tế, do đó người ta thường thoả thuận với nhau một biện pháp thoả hiệp - trả tiền “ giao hàng tượng trưng” tức là giao chứng từ di chuyển quyền sở hữu hay quyền kiểm soát hàng hoá. Vì vậy sự tín nhiệm trở thành quan trọng và các ngân hàng được yêu cầu tham dự bằng cách cam kết có điều kiện với người bán là sẽ trả tiền khi xuất trình các chứng từ và khi thực hiện đúng các điều kiện do người mua qui định. Đó là nguyên nhân vì sao vẫn thường xuyên cần đến tín dụng chứng từ. Lý do thứ hai: Qui tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ rất may mắn là một văn bản sống được Uỷ ban Ngân hàng của Phòng Thương mại Quốc tế thường xuyên sửa đổi từ ngày văn bản ra đời. Phạm vi áp dụng - Tính chất pháp lý của UCP Văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của chứng từ là “ Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ - UCP “ của Phòng Thương mại Quốc tế. Bản qui tắc này
  15. mang tính chất pháp lý quốc tế tuỳ ý không mang tính chất bắt buộc, có nghĩa là khi áp dụng nó các bên đương sự phải thoả thuận ghi vào L/C. Và khi bản qui tắc này đã được thoả thuận ghi vào L/C trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, nó được coi như là điều luật chủ yếu để điều chỉnh các mối quan hệ giữa người nhập khẩu, người xuất khẩu, các ngân hàng và các bên liên quan trong phương thức thanh toán này. Các điều khoản của UCP sẽ cung cấp cho các ngân hàng, các luật gia, các người nhập khẩu, các người xuất khẩu, các hãng vận tải sự giúp đỡ thực hành và trợ lực có liên quan đến thương mại quốc tế. Những nội dung chủ yếu của UCP Những qui định chung và định nghĩa Hình thức thông báo tín dụng Nghĩa vụ và trách nhiệm Các chứng từ Các điều qui định khác Tín dụng chuyển nhượng Chuyển nhượng thu tiền được 2. PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - ÁP DỤNG UCP 500 Trước đây, thư tín dụng( Letter of Credit) hay gọi là L/C là một bức thư do một người gưỉ cho một hay nhiều người khác yêu cầu những người này ứng tiền cho người thứ 3 được ghi trong thư một số tiền nhất định và cam kết sẽ hoàn trả số tiền đó cho người đã ứng ra. L/C được trao cho khách hàng, tức là người yêu cầu mở L/C đồng thời cũng là người hưởng lợi L/C. Mục đích của L/C là nhằm chuyển tiền từ nơi người yêu cầu mở L/C đến nơi người đó sẽ sử dụng. Điển hình nhất là L/C du lịch (Traveller’s Letter of Credit). Thương mại quốc tế phát triển, các phương thức thanh toán lần lượt được thử nghiệm, cải tiến nhằm đảm bảo tốt nhất cho quyền lợi của cả nhà xuất khẩu lẫn nhập khẩu. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã ra đời và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Ý nghĩa của phương thức tín dụng chứng từ. Khi hàng hoá được mua hay bán ra nước ngoài thì những giao dịch này có thể trở lên phức tạp, rắc rối vì một số những lý do sau: thời gian giao hàng, rủi ro trên đường đi, thói quen, quy tắc điều khiển việc xuất nhập khẩu và thực tế thì người bán hàng và người mua ở các nước khác nhau. Hơn nữa có thể cả hai bên chưa bao giờ gặp nhau vì vậy chưa thể làm quen với tình trạng kinh doanh của mỗi bên. Vậy đòi hỏi phải có một phương thức thanh toán bảo vệ lợi ích cho các bên tham gia vào giao dịch này. Người mua phải biết khi nào phải thanh toán, thanh toán cho ai và có nhận được hàng hoá đúng theo yêu cầu không. Còn lợi ích của người bán là nhận khoản tiền thanh
  16. toán cho hàng hoá của mình một cách nhanh nhất. Để thoả mãn lợi ích của cả hai bên, một phương thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong hệ thống ngân hàng là phương thức tín dụng chứng từ. Với phương thức này người xuất khẩu phải gửi đến ngân hàng bộ chứng từ yêu cầu thanh toán, nếu phù hợp người xuất khẩu sẽ nhận được tiền hàng. Những yêu cầu trong tín dụng chứng từ phải được ghi trong hợp đồng mua bán. Nó có 3 chức năng: + Chức năng thanh toán: là việc dùng chứng từ làm cơ sở thanh toán giữa hai bên. + Chức năng bảo đảm: là sự cam kết trừu tượng, ngân hàng mở đảm bảo thanh toán cho người xuất khẩu trong trường hợp nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán cho nhà xuất khẩu. + Chức năng tín dụng: là dùng tín nhiệm để vay hoặc ký quỹ một khoản tín dụng trong thời hạn giữa đôi bên. - Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ: Người xin mở L/C (Applicant): là người mua, người nhập khẩu hàng hoá, người viết đơn yêu cầu mở L/C đối với ngân hàng. Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing bank) hay còn gọi là ngân hàng phát hành: là ngân hàng tại đó L/C được mở. c) Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising bank): ngân hàng này thường nằm ở nước người hưởng lợi. Nó là ngân hàng do ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo hộ tới người thụ hưởng về tất cả những điều khoản và điều kiện của thư tín dụng. Chức năng chính của ngân hàng thông báo là chứng tỏ với người hưởng lợi rằng khoản tín dụng này được xác thực khi mà bản thân nó được ngân hàng phát hành xác định là đúng. Hầu hết các ngân hàng phát hành đều tự chọn lấy ngân hàng thông báo có thể vì ngân hàng này có chi nhánh tại nước người thụ hưởng hoặc có mối quan hệ qua lại (có tài khoản tại ngân hàng đó) với một ngân hàng đại lý ở nước người hưởng thụ. Nhưng cũng không loại trừ trường hợp người mua (người xin mở L/C) tự chọn lấy ngân hàng thông báo theo yêu cầu của người thụ hưởng mà qua ngân hàng đó khoản tín dụng sẽ được thông báo. Điều 7 UCP 500 quy định trách nhiệm cho ngân hàng thông báo như sau: “Một tín dụng có thể được thông báo không có thể xác minh được tính chân thật bề ngoài của Tín dụng mà mình phải thông báo, thì ngân hàng không được chậm trễ phải thông báo cho ngân hàng mà các chỉ thị đã nhận từ ngân hàng đó biết rằng nó không có khả năng xác minh được tính chân thật bề ngoài của Tín dụng và tuy nhiên nếu nó đồng ý thông báo Tín dụng thì phải thông báo cho Người hưởng lợi rằng nó không thể xác minh được tính chân thật bề ngoài của Tín dụng “ d) Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank):
  17. Là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của nó. Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế. Ngân hàng mở L/C phải yêu cầu một ngân hàng khác xác nhận cho mình sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng mở L/C. Muốn xác nhận , ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí rất cao (Confirming charges) và đôi khi còn phải đặt trước một khoản tiền (cash over); mức đặt tiền trước có thẻ là 100% trị giá L/C. Thông thường các ngân hàng chỉ xác nhận cho L/C không huỷ ngang. 2.3- Thư Tín dụng L/C là một công cụ quan trọng của phương thức Tín dụng chứng từ: L/C là văn bản pháp lý trong đó Ngân hàng mở cam kết trả tiền co người xuất khẩu nếu họ xuất trình được một bộ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C. L/C có tính chất quan trọng, đó là nó hình thành trên cơ sở của Hợp đồng mua bán, tức là phải căn cứ vào Hợp đồng mua bán để người nhập khẩu làm đơn yêu cầu mở L/C và sau khi mở rồi L/C lại hoàn toàn độc lập với Hợp đồng mua bán, có nghĩa là khi thanh toán Ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào L/C. Những nội dung chủ yếu của một L/C bao gồm những điều khoản sau đây: a. Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C: Tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng của nó. Tác dụng của số hiệu là để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng. - Địa điểm mở L/C: là nơi mà Ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa trong việc chọn luật áp dụng khi xẩy ra ranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó. - Ngày mở L/C: là ngày bắt đầu phát sinh sự cam kết của Ngân hàng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày Ngân hàng mở L/C chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của người nhập khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cuối cùng là căn cứ của người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng hạn quy định trong hợp đồng hay không. b. Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ: - Ngân hàng mở L/C ( Issuing Bank) - Người xin mở L/C ( Applicant) - Người thụ hưởng L/C ( Beneficiary) - Ngân hàng thông báo thư tín dụng ( Advising Bank) - Ngân hàng xác nhận ( Confirming bank) - Ngân hàng trả tiền ( Negotiating bank or Paying Bank) c. Số tiền của thư tín dụng: Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số, vừa được ghi bằng chữ và thường thống nhất với nhau, Không thể chấp nhận một thư tín dụng có số tiền ghi bằng số và bằng chữ mâu thuẫn chau. Tên đơn vị tiền tệ phải ghi rõ ràng, vì cùng một tên gọi là đôla Hồng Kông (HKD), đô la Úc ( AUC), đô la Canada ( CAD)...Không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt
  18. đối. Cách ghi tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được dù hàng giao có tính chất nguyên cái hay rời ( ví dụ: ... một số tiền không quá là X...) Điều 39 UCP 500 quy định: a. Những từ "vào khoảng", "ước chừng", "độ chừng" hoặc những từ tương tự được dùng để nói về số tiền của Tín dụng hoặc số lượng hoặc giá đơn vị ghi trong Tín dụng phải được hiểu là cho phép một sự xê dịch hơn kém không quá 10% so với số tiền hoặc số lượng hoặc đơn giá mà những từ ấy nói đến. b. Trừ khi một Tín dụng quy định không được giao hàng nhiều hay ít hơn số lượng hàng quy định, thì một dung sai 5% hoặc hơn kém có thể được chấp nhận miễn là lúc nào số tiền của các lần thanh toán không được vượt quá số tiền của Tín dụng. Dung sai này không được áp dụng khi Tín dụng quy định số lượng tính bằng một đơn vị bao kiện hoặc một số đơn vị chiếc. c. Trừ khi một Tín dụng cấp giao hàng từng phần có quy định ngược lại hoặc trừ khi điều phụ "b" ở trên được áp dụng thì cho phép, néu Tín dụng quy định số lượng hàng hoá phải được giao đủ và nếu Tín dụng quy định một đơn giá thì giá đó không được chiết giá. Điều khoản này không áp dụng các từ nêu trong điều phụ "a" ở trên được sử dụng trong Tín dụng". d. Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong thư Tín dụng: - Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà Ngân hàng mở L/C cam kết sẽ trả tiền cho người xuất khẩu nếu người xuát khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và phù hợp với những điều quy định trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C (Date of issue) đến ngày hết hiệu lực của L/C (Expiry date). Cần phải chú ý là có nước quy định rằng nếu thời hạn hiệu lực của L/C dưới 3 tháng thì phí thông báo L/C phải chịu là 0,1%, còn trên 3 tháng đến dưới 6 tháng là 0,2%, vậy không nên mở L/C có thời hạn trên 3 tháng.muốn vậy phải xác định một thời hạn hiệu lực của L/C hợp lý, có nghĩa là nó vừa tránh đọng vốn cho người nhập khẩu vừa không gây khó khăn cho việc xuất trình giấy tờ thanh toán của người xuất khẩu. Việc xuất khẩu này cần thoả mãn các nguyên tắc: + Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C. + Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không được trùng với ngày giao hàng (tối thiểu phải bằng tổng số của số ngày cần phải có để thông báo mở L/C, số ngày lưu L/C ở Ngân hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập. + Ngày hết hạn hiệu lực L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý. Thời gian này thường là 21 ngày kể từ ngày giao hàng. Trong bất cứ trường hợp nào, các chứng từ không thể được xuất trình sau ngày hết hạn hiệu lực của L/C. Điều 43 UCP 500 quy định: "Ngoài những quy định ngày hết hiệu lực cho việc xuất trình giấy tờ, mỗi Tín dụng khi yêu cầu lập chứng từ vận tải cũng phải quy định một
  19. thời hạn rõ ràng tính từ ngày giao hàng mà trong thời hạn đó chứng từ vận tải phải được xuất trình phù hợp với các điều kiện của Tín dụng. Nếu không quy định một thời hạn như vậy, các Ngân hàng sẽ từ chối các chứng từ được xuất trình cho Ngân hàng sau 21 ngày kể từ ngày giao hàng. Trong bất cứ trường hợp nào, các chứng từ không thể xuất trình sau ngày hết hạn hiệu lực của Tín dụng" Thời hạn giao hàng (date of Delivery) cũng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán qui định. e. Những nội dung về hàng hoá : như tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu... g. Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá: như điều kiện cơ sở giao hàng ( FOB, CIF, CFR...) h. Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình: Là một nội dung then chốt của L/C bởi vì bộ chứng từ thanh toán quy định trong L/C là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định của L/C phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu nếu bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều quy định trong L/C. Chúng ta sẽ quay lại vấn đề này ở Điểm 5. i. Sự cam kết trả tiền của ngân hàng ở L/C: Là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C. k. Những điều khoản đặc biệt khác ( có thể hoàn trả bằng điện T/T Reimbursement). m. Chữ ký của ngân hàng mở L/C ( tính pháp lý) Hình thức mở L/C Có hai cách mở L/C: Bằng thư và bằng điện. Mở L/C bằng thư phải có ký tên, sau đó chuyển đi qua đường bưu điện. Vì mất thời gian đi đường lâu nên hiện nay hình thức này rất ít dùng. 2.4 - Những chứng từ cần thiết mà người xuất khẩu thường phải xuất trình khi yêu cầu ngân hàng thanh toán Tất cả những chứng từ này phải được ghi trong L/C, thông thường nó bao gồm: Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice) Đây chính là căn cứ để người xin mở L/C (nhập khẩu) lập đơn mở L/C. ĐIều 37 UCP 500 quy định: "…. Mô tả hàng hoá trong hoá đơn thương mại phải phù hợp với môt tả hàng hoá trong Tín dụng…" Vận đơn (Bill of Lading) Khi nhà xuất khẩu chất hàng lên tàu để chuyển sang nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu nhận được một vận đơn. Điều 23 UCP500 quy định: "…trên bề mặt của vận đơn ghi rõ tên người chuyên chở và đã ký tên hoặc được chứng thực: bởi người chuyên chở hoặc người đại lý đích danh hoặc đại diện của người chuyên chở, hoặc
  20. bởi thuyền trưởng hoặc một người đại lý đích danh hoặc dại diện của thuyền trưởng…." Vận đơn có thể là vận đơn chuyển thẳng (non-negotiable or straight) hoặc vận đơn có thể chuyển nhượng (negotiable or to order). Điều này phụ thuộc vào điều khoản trong L/C. B/L thường được lập thành 03 bản. Bằng việc yêu cầu một bộ đầy đủ B/L, nhà nhập khẩu nhận tất cả ba bản. Nhà xuất khẩu phải gửi đến sau khi chất hàng một thời gian hợp lý sau khi chất hàng lên tàu. Nếu B/L được gửi đến sau khi chất hàng một thời gian dài thì được coi như là B/L cũ và bị phạt. Thực tế không có một điều lệ nào quy định về số ngày như thế nào là quá dài. Một quy tắc chung nhất là B/L sẽ là gửi muộn nếu như khi nó được gửi đến ngân hàng thì không đủ thời gian xử lý bộ chứng từ và thời gian để gửi B/L đến cảng trước khi hàng hoá đến cảng. c.Bảo hiểm (Insurance) Các chứng từ bảo hiểm phải do công ty bảo hiểm hoặc người bảo hiểm hoặc đại lý của họ phát hành và ký. Nếu chứng từ bảo hiểm chỉ rõ rằng nó được phát hành nhiều bản chính, thì tất cả các bản chính phải được xuất trình, trừ khi có quy định ngược lại trong tín dụng (Điều 34 UPC 500). Bảo hiểm có thể do bên bán hoặc bên mua mua theo giá tính trong L/C. Nếu giá CIF thì bên bán mua. Nếu giá FOB thì bên mua mua. Bảo hiểm được mua với số tiền phải: - Theo giá CIF (giá hàng +phí bảo hiểm + cước phí cảng đến quy định) hoặc giá CIP (cước phí và bảo hiểm tới nơi hàng đến quy định ) của hàng hoá tuỳ từng trường hợp + 10%. Có hai vấn đề cần chú ý khi kiểm tra chứng từ bảo hiểm là: - Số tiền bảo hiểm không được nhỏ hơn số tiền của L/C. - Ngày mua bảo hiểm phải trước ngày xếp hàng lên tàu. d. Hối phiếu (Draft or Bill of Exchange) Hối phiếu phải chỉ rõ được ký phát cho ai, ngân hàng mở L/C hay ngân hàng trả tiền ngay hay sau bao nhiêu ngày, đòi toàn bộ hay một phần trị giá của hoá đơn thương mại. e. Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate of Quality) f. Giấy chứng nhận số lượng (Certificate of Quantity) g. Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin): Do một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu hoặc Phòng Công nghiệp và Thương mại của nước đó cấp. h. Giấy chứng nhận kiểm tra chất lượng i. Chi tiết về đóng gói (Detailed packing list) k. Giấy chứng nhận của người thụ hưởng (Ben's certificate) 2.5 - Qui trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng chứng từ

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản