Đề tài: Quản lý rác thải rắn y tế

Chia sẻ: Tran Hanh | Ngày: | Loại File: PPTX | Số trang:31

0
34
lượt xem
14
download

Đề tài: Quản lý rác thải rắn y tế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế, từ đó đề xuất ra biện pháp quản lý phù hợp, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và các nguồn lây lan bệnh truyền nhiễm. Đề tài sẽ là tài liệu tham khỏa hữu ính cho các bạn sinh viên giúp các bạn làm tốt đồ án tốt nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Quản lý rác thải rắn y tế

  1. ĐỀ TÀI QUẢN LÝ RÁC THẢI RẮN Y TẾ Bộ môn: Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp
  2. ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, sự phát triển hơn nữa các loại hình công nghiệp, dịch vụ, gia tăng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ vật chất… đã làm gia tăng lượng lớn chất thải nguy hại được thải ra môi trường, đặc biệt là chất thải rắn y tế. Chất thải rắn y tế nguy hại tiềm ẩn cao hơn khả năng lây nhiễm, gây tổn thương hơn bất kỳ loại chất thải khác, có thể truyền các bệnh nguy hiểm cho những người phơi nhiễm (như HIV, HBV, HCV). Cùng với chất lượng đời sống được nâng lên thì nhu cầu về y tế của người dân cũng ngày một tăng dẫn đến lượng rác thải y tế tăng cao. Hầu hết các bệnh viện ở nước ta đều xây dựng từ lâu, trong quy hoạch không có hệ thống xử lý chất thải hoặc nếu có cũng không phù hợp và hoạt động kém hiệu quả. Các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, không đảm bảo vệ sinh. Bên cạnh đó nhận thức về thực hành xử lý chất thải trong các bộ y tế, nhân viên làm công tác xử lý chất thải và b ệnh nhân còn chưa cao. Đề tài “Quản lý rác thải rắn y tế” được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế, từ đó đề xuất ra biện pháp quản lý phù hợp, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và các nguồn lây lan bệnh truyền nhiễm.
  3. A TỔNG QUAN RÁC THẢI B THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA RÁC THẢI Y TẾ RẮN Y C PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RÁC THẢI Y TẾ TẾ D KẾT LUẬN
  4. A. TỔNG QUAN 1. Định nghĩa chất thải rắn y tế Chất thải rắn y tế được định nghĩa trong Quyết định 43/2007/QĐ-BYT bao gồm tất cả chất thải rắn được thải ra từ các cơ sở y tế. Định nghĩa chất thải rắn y tế của Tổ chức Y tế Thế giới – WHO thêm vào đó là bao gồm cả những chất thải có nguồn gốc từ các nguồn nhỏ hơn, như: khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo… Chất thải rắn y tế (CTRYT) nguy hại là chất thải rắn (CTR) y t ế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn.
  5. 2. Nguồn gốc phát sinh + Các phòng khám đa khoa. + Các cơ sở , phòng khám nha khoa. + Các phòng xét nghiệm, thí nghiệm. + Các trung tâm, viện nghiên cứu y tế. + Thực nghiệm trên động vật. + Ngân hàng máu. + Các khu điều dưỡng. + Nhà xác. + Trung tâm khám nghiệm tử thi. + Các cơ sở sản xuất dược phẩm
  6. Khoảng 75-90% chất thải bệnh viện là chất thải thông thường nó tương tự như chất thải sinh hoạt, không có nguy cơ gây hại. Chất thải rắn y tế nguy hại chiếm khoảng 10-25%. Bệnh viện theo Bệnh Bệnh viên Bệnh viện đa Bệnh viện Bệnh viện tuyến và chuyên viện đa chuyên khoa khoa tuyến chuyên khoa huyện và khoa khoa trung ương tỉnh tuyến tỉnh ngành trung ương Khối lượng chất thải rắn 0,3 0,225 nguy hại 0,225 0.2 0,175 kg/giường/ngà y Bảng 1 :Mức độ phát sinh chất thải nguy hại trung bình năm 2007
  7.    3.Thành phần và tính chất   a.Tính Chất - Là thông tin quan trọng đánh giá khả năng thu hồi phế liệu lựa chọn công nghệ xử lý thích hợp. - Thành phần chất thải (rác sinh hoạt y tế): . Giấy và giấy thấm : 60% . Plastic : 20% .Thực phẩm thừa : 20% . Kim loại, thủy tinh, chất vô cơ : 7% . Các loại hỗn hợp khác : 3% . Giấy và quần áo : 50-70% . Chất dịch : 5-10% . Thủy tinh : 10-20%
  8.    Phân loại chất thải y tế b.    cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính Căn   chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:
  9. Nhóm A: Chất thải lây nhiễm (nhiễm khuẩn ) là chất thải chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ gây bệnh, bị bệnh khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm … bao gồm các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của bệnh nhân như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…
  10. Nhóm B: Chất thải sắc nhọn là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
  11. Nhóm C: Chất thải hóa học là các chất phóng xạ và các kim loại nặng được thải ra từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu bao gồm: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
  12. Nhóm D: Chất thải dược phẩm là các loại dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị bỏ, không còn nhu cầu sử dụng và
  13. Nhóm E: Chất thải giải phẫu bao gồm các mô, cơ quan người bệnh, động vật, mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai...
  14. B. THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA RÁC THẢI Y TẾ 1. Thực trạng về chất thải y tế hiện nay - Hiện nay, cả nước có 13.640 cơ sở y tế các loại, với tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 47 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại - Theo ước tính, trong một ngày đêm, mỗi giường bệnh thải ra môi trường khoảng 2,5 kg rác thải, chất thải, trong đó từ 10% đến 15% là loại chất thải độc hại, dễ gây lây nhiễm.
  15. - Theo Bộ Y tế, khoảng 2/3 bệnh viện chưa áp dụng phương pháp tiêu huỷ rác thải đảm bảo vệ sinh. Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn khi thải bỏ. Nhà lưu chứa không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng. - Rác thải y tế ở một số địa phương hiện đang là một trong những vấn đề bức xúc bởi ngay cả ở các bệnh viện tuyến tỉnh, hiện nay nhiều địa phương vẫn chưa có lấy một nơi tập kết chất thải.
  16. Nguyên nhân của tình trạng trên là do - Chưa có sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo từ cơ quan quản lý như Bộ Y tế đến cơ sở khám chữa bệnh. - Một số quy định còn chung chung, thiếu thực tế dẫn đến việc tổ chức, phân công trách nhiệm và quản lý chất thải y tế nguy hại còn sai phạm, việc xử lý vi phạm lại chưa nghiêm túc. - Nhận thức của một số đơn vị và cá nhân còn yếu, thậm chí, lợi dụng công việc quản lý chất thải y tế để mưu lợi cho tập thể và cá nhân. Một số cơ sở khám chữa bệnh vì lợi nhuận đã cố tình lờ đi việc đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường - Việc đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống xử lý nước thải, lò đốt, thiết bị xử lý chất thải y tế nguy hại chưa đồng bộ; văn bản pháp luật quy định xử lý hành vi vi phạm còn thiếu chặt chẽ và thiếu tính khả thi.
  17. 2. Ảnh hưởng của rác thải Y tế a) Ảnh hưởng tới con người Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn (như kim tiêm). Các vật sắc nhọn này không chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu vật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh. Như vậy những vật sắc nhọn ở đây được coi là loại chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổn thưởng kép (vừa gây tổn thường, vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV...). Hơn nữa, trong chất thải y tế lại chứa đựng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B.
  18. Các tác nhân này có thể thâm nhập vào cơ thể qua các vết trầy xước, vết đâm xuyên, qua niêm mạc, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải). Nước thải bệnh viện còn là nơi "cung cấp" các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải từ những bệnh viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm cũng như trong các khoa lây nhiễm của các bệnh viện. Những nguồn nước thải này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng làm lây lan các bệnh truyền nhiễm thông qua đường tiêu hóa. Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn
  19.    Ảnh hưởng đến môi trường b)    * Ảnh hưởng tới môi trường đất: Việc chôn lấp rác thải y tế vào trong đất làm ô nhiễm nặng nề môi trường đất, đặc biệt là các chất thải khó phân hủy như túi nilon...
  20.    Ảnh hưởng tới môi trường không khí *    Không khí sẽ bị ô nhiễm một khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu đốt trong -    ớiunhữngkhông ượmphảo. Việc để ttạo ất khí iaxit, thường là HCl và SO2. cùng điề kiện v đả b loại d c ẩm, có th ố ch thả y tế đựng trong túi nilon PVC, ra    Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl,. Br, I..) ở nhiệt độ thấp, cũng sẽ   ạo ra axit như hydrochloride (HCl). Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành dioxins, t   furant.... các loại hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp. Các kim loại nặng, như thủy ngân có thể phát thải theo khí lò đ ốt. Những nguy c ơ này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức khỏe con người trong dài hạn.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản