Đề tài: "Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Hoài Đức (Hà Nội)"

Chia sẻ: hanghuenguyenchithan

Với tư cách là một thiết chế chính trị - xã hội, một hình thức nhà nước, dân chủ có mối quan hệ hữu cơ với pháp luật, bởi pháp luật là một yếu tố cấu thành của nội dung dân chủ. Nền dân chủ chúng ta đã và đang phấn đấu xây dựng là nền dân chủ triệt để, trong đó nội dung cơ bản nhất là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Mặt khác, dân chủ phải đi liền với kỷ cương, pháp chế. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hoà giữa quyền và trách...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài: "Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Hoài Đức (Hà Nội)"

Häc viÖn chÝnh trÞ ­ hµnh chÝnh quèc gia hå chÝ minh




V¬ng ngäc thÞnh




thùc hiÖn ph¸p luËt vÒ d©n chñ ë c¬ 
së trªn ®Þa bµn huyÖn hoµi ®øc, hµ 
néi


Chuyªn ngµnh:  Lý luËn vµ lÞch sö nhµ níc vµ 
ph¸p luËt
M∙ sè : 603801




 luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc




Ngêi híng dÉn khoa häc: TS Lª Thiªn H¬ng




Hµ Néi ­ 2010




1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT



PLDC : Pháp lệnh dân chủ
QCDC: Quy chế dân chủ
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
MTTQ: Mặt trận Tổ quốc




2
MỤC LỤC



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tư cách là một thiết chế chính trị - xã hội, một hình thức nhà
nước, dân chủ có mối quan hệ hữu cơ với pháp luật, bởi pháp luật là
một yếu tố cấu thành của nội dung dân chủ. Nền dân chủ chúng ta đã và
đang phấn đấu xây dựng là nền dân chủ triệt để, trong đó nội dung cơ
bản nhất là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Mặt khác, dân chủ
phải đi liền với kỷ cương, pháp chế. Trong nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa có sự kết hợp hài hoà giữa quyền và trách nhiệm, gắn lợi ích cá
nhân với lợi ích của sự phát triển xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Dân chủ là dân là chủ và dân làm
chủ". Câu nói toát lên sự đồng nhất, tính xuyên suốt của những vấn đề
xoay xung quanh chữ DÂN. Với ý nghĩa đó, dân là "tất cả". Bắt đầu từ
DÂN, mọi việc do DÂN, kết cục vì DÂN. DÂN vừa là điểm xuất phát,
vừa là mục tiêu cuối cùng. DÂN là chủ thể xuyên suốt, là động lực quyết
định mọi sự phát triển: "mọi việc do dân".
80 năm qua, vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, về mối quan hệ giữa dân chủ
và nhà nước, giữa Đảng và nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát
huy dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở trong mọi hoạt động đời sống xã
hội.
Quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đã làm chuyển
biến đáng kể nhận thức của cấp ủy, chính quyền và đoàn thể, phát huy
được quyền làm chủ trực tiếp của cán bộ, công chức, người lao động,
góp phần tích cực, hiệu quả vào công tác xây dựng Đảng, chính quyền
trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên,


3
công chức, viên chức, xây dựng khối đoàn kết trong cơ quan, đơn vị, giữ
vững ổn định chính trị từ cơ sở, tạo động lực quan trọng để hoàn thành
nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.
Tìm hiểu việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa
quan trọng trong việc đề ra những nội dung, hình thức, giải pháp thiết
thực, hiệu quả, nhằm nâng cao ý thức thực hiện pháp luật của người dân
trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt phương châm
“Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, phát huy mạnh mẽ dân
chủ ở cơ sở với quyền tham gia ngày một rộng rãi, bình đẳng và thiết
thực của nhân dân vào việc quản lý xã hội của Nhà nước là động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ xã hội, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.
Bên cạnh những cố gắng và thành tựu bước đầu đạt được, việc thực
hiện pháp luật về dân chủ trên từng địa phương còn có những hạn chế,
thiếu sót, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Có
nơi, có lúc, quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được tôn trọng và
phát huy một cách tối đa. Các chủ thể thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cơ sở chưa thực làm tròn vai trò, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ trong
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
Với những lý do đó, học viên xin chọn đề tài Thực hiện pháp luật
về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn Hoài Đức (Hà Nội) làm luận văn thạc
sĩ, chuyên ngành Lý luËn vµ l ịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Sách
Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo: “Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ
nghĩa”, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991; Nguyễn Khắc Mai: “Dân chủ - di
sản văn hóa Hồ Chí Minh”, NXB Sự thật, Hà Nội 1997; Nguyễn Đình
Lộc: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân”;



4
Lương Gia Ban: “Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”,
NXB CTQG, Hà Nội, 2003…
Các công trình này tập trung làm rõ giá trị nên tảng của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh về dân chủ, dân chủ xã hội chủ
nghĩa, đánh giá khách quan những thành quả, tiến bộ mà chủ nghĩa tư
bản có được cũng như chỉ ra hạn chế do bản chất giai cấp tư sản quy
định.
Hoàng Chí Bảo: “Dân chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 7-1989; Nguyễn Tiến Phồn: “Dân
chủ và tập trung dân chủ - Lý luận và thực tiễn”, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2001
Những tác phẩm này đã nêu rõ thành công, hạn chế trong xây dựng
và thực hiện nền dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt
Nam. Nêu ra những nguyên nhân, hạn chế và giải pháp khắc phục.
2.2. Tạp chí
Hoàng Chí Bảo: “Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân
chủ: Quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Thông tin
lý luận, số 9-1992; Trần Quang Nhiếp: “Thực hiện dân chủ ở cơ sở là
một hệ giải pháp đồng bộ thống nhất”, Báo Đại Đoàn kết, ngày 1-12-
1997; PGS, TS Hoàng Văn Hảo: “Vấn đề dân chủ và các đặc trưng của
mô hình tổng thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2003…
Những bài viết trên bổ sung nhận thức mới, đề xuất cách làm mới
để xây dựng, thực hiện dân chủ phù hợp với đặc điểm lịch sử, truyền
thống của dân tộc, đặc điểm của thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
2.3. Công trình luận án, luận văn
Luận án: Lưu Minh Trị: “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ
sở nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay”, Luận
án tiến sĩ, 1993; Nguyễn Văn Long: “Lệ làng truyền thống với việc hình


5
thành ý thức pháp luật cho nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Luận án
tiến sĩ, 2002…
Luận văn: Trần Quốc Huy: Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ
ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật, Hà Nội, 2005; Lê
Xuân Huy: Ý thức pháp luật với quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn
nước ta hiện nay (Qua thực tế một số tỉnh phía Bắc), Luận văn thạc sĩ
Triết học, 2005
Có thể thấy, đã có nhiều công trình viết dân chủ, dân chủ ở cơ sở
với phạm vi nghiên cứu khác nhau, có giá trị nghiên cứu khác nhau, làm
rõ bản chất, nội dung, tính chất, cơ chế thực hiện dân chủ và vai trò của
việc mở rộng quyền làm chủ của nhân dân đối với sự phát triển kinh tế
xã hội và tiến bộ xã hội. Một số công trình đã nghiên cứu vấn đề dân
chủ ở cơ sở trên địa bàn nông thôn. Song việc đưa ra những giải pháp
nhằm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, đáp ứng nhu cầu dân chủ
của người dân thời kỳ mở cửa hội nhập còn nhiều ý kiến khác nhau.
Với đề tài nghiên cứu Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn Hoài Đức (Hà Nội), Luận văn đi vào nghiên cứu những quan
điểm của Đảng và Nhà nước về dân chủ ở cơ sở; khảo sát thực trạng
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức (Hà
Nội) hiện nay; trên cơ sở đó đề xuất, kiÕn nghị quan điểm, giải pháp
nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của địa
phương trong thời gian tới.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đề tài tiến hành nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Qua phân tích những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cơ sở; từ việc đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở

6
cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức luận văn đề xuất những quan điểm,
giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn huyện Hoài Đức (Hà Nội).
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Phân tích những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và thực hiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở cơ sở;
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa
bàn huyện Hoài Đức (Hà Nội), thành công, hạn chế, nguyên nhân.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực
hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức (Hà Nội)
trong thời gian tới.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về nhà
nước và pháp luật, về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, trong đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể, như: phân tích tổng hợp, thống kê và so sánh, phương pháp lịch
sử và logic…
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
- Làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa
bàn huyện Hoài Đức (Hà Nội) với những thành công, hạn chế.
- Nêu quan điểm và một số giải pháp có tính khả thi để nâng cao
chất lượng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện
Hoài Đức (Hà Nội) trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn:



7
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.




CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ


1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở
CƠ SỞ
1.1.1. Khái niệm pháp luật về dân chủ ở cơ sở
1.1.1.1 Khái niệm dân chủ, khái niệm về dân chủ cơ sở
a) Khái niệm dân chủ:
Thuật ngữ “dân chủ” ra đời từ thời Hy Lạp cổ đại, khoảng thế kỷ
thứ VII-VI trước công nguyên. Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ là do hai
từ hợp thành, “demos” là nhân dân và “kuatos” là quyền lực hay chính
quyền. “Demoskratia” – dân chủ - có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân
dân. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Dân chủ là hình thức tổ
chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là
nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân
chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ
chức và thiết chế xã hội nhất định”1.
Như vậy, dân chủ được coi là tiêu chí đánh giá cách thức, trình
độ tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước đảm bảo quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân. Song vấn đề dân chủ luôn là vấn đề phức tạp,

1
Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội, 1995


8
có nội dung rộng lớn, luôn luôn mới, gắn với những tiến bộ về lịch sử
và văn hóa của loài người. Để nghiên cứu, hiểu rõ bản chất, tính chất và
nội dung của dân chủ phải xem xét nó dưới các góc độ, khía cạnh khác
nhau.
Bản thân thuật ngữ dân chủ được tiếp cận dưới nhiều góc độ:
Triết học, chính trị; dân chủ là một hình thái nhà nước; dân chủ là một
hiện thực chính trị;dân chủ là một hiện thực kinh tế, một hiện thực xã
hội và dân chủ là một trạng thái của hệ thống quan hệ quốc tế. Nếu xét
theo trình độ phát triển của lịch sử nhân loại thì có các nền dân chủ: dân
chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Về mặt phạm vi,
dân chủ rất toàn diện, bao quát các lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng; từ các mối quan hệ giữa con người
với con người đến quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân
với Nhà nước, giữa các tổ chức và thể chế hiện hành, giữa các quốc gia
trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa,
dân chủ còn được hiểu như là phương thức, cách thức tổ chức, là thước
đo số cá thể (cá nhân, tổ chức) tham gia vào quá trình xã hội hóa công
nghệ, tài chính, thông tin, văn hóa. Song, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì
thực chất nội dung, tính chất và khuynh hướng phát triển của dân chủ là
hoàn toàn phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về ai, phục vụ ai
trong mối quan hệ, trong cộng đồng và xã hội đó.
Sự phát triển của dân chủ phụ thộc vào trình độ phát triển kinh tế
- xã hội, năng lực nhận thức của công dân và chính quyền, truyền thống
lịch sử, văn hóa, pháp lý,…Dân chủ là mục tiêu, động lực phát triển của
quốc gia, dân tộc.
Dân chủ là khát vọng được làm chủ, là quyền tự nhiên của con
người trong đó có quyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò
của người chủ và quyền làm chủ đó có lúc, có nơi đã được những người
cầm quyền trong lịch sử nhận thức và thể chế thành pháp luật thực định


9
cùng các thiết chế chính trị - xã hội khác. Song, chỉ đến khi nền dân chủ
vô sản – dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời, thì đó mới là chế độ dân chủ
thực sự, dân chủ của đa số nhân dân với sự đảm bảo thực hiện của pháp
luật, của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì
dân.
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ xã hội chủ
nghĩa
Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là một hiện
tượng lịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới
nhiều hình thức khác nhau trong điều kiện tương ứng của các hình thái
kinh tế - xã hội. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, “dân chủ” có một chất
lượng mới do được phát triển đầy đủ trên cơ sở một nền kinh tế phát
triển cao, nhờ đó con người được giải phóng và phát triển toàn diện.
Trong đó, “sự phát triển của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của
tất cả mọi người”2
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin dân chủ trước hết là một hình thức
Nhà nước. V. I Lênin viết: “ Chế độ dân chủ, đó là một Nhà nước thừa
nhận việc thiểu số phục tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức đảm bảo cho
một giai cấp thi hành bạo lực một cách có hệ thống chống lại giai cấp
khác”3 . Vì vậy, dân chủ luôn mang tính giai cấp, nó tồn tại và biến đổi
cùng với sự biến đổi của cuộc đấu tranh giai cấp và sự thay đổi của
phương thức sản xuất chủ yếu của xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là
một hiện tượng hợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về chất so với
các kiểu dân chủ khác và bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là giải
phóng con người, để con người có thể thực hiện được những quyền tự
nhiên của mình, tự làm chủ vận mệnh và quyết định những vấn đề xã
hội. Theo C.Mác, dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất là chế độ “do nhân

2
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr 51
3
Lênin toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matsxcova, 1978, tr 101



10
dân tự quy định Nhà nước”, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực
Nhà nước. Nhân dân tự tổ chức quyền lực nhà nước qua bầu cử, tham
gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng, kiểm tra, giám sát
hoạt động của Nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân
chủ đại diện. Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị
của dân thành ba nội dung lớn: quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý
các công việc của Nhà nước và quyền bãi miễn.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ xã hội chủ nghĩa có những đặc
điểm cơ bản sau:
+ Dân chủ cho nhân dân lao động
+ Dân chủ thực sự
+ Dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư
tưởng, văn hóa…thực chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự tham gia
một cách thực sự bình đẳng và ngày càng rộng rãi của những người lao
động vào quản lý công việc Nhà nước và xã hội. Thống nhất được
quyền và nghĩa vụ của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Vì
vậy, nó trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội.
- Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ:
Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về “dân chủ” của nhân loại, Hồ
Chí Minh lý giải khái niệm “dân chủ” một cách đơn giản, hết sức cô
đọng và dễ hiểu, dễ thực hiện và kiểm soát. Người nói: “ Chế độ ta là
chế độ dân chủ, tức là dân làm chủ”4, “nước ta là nước dân chủ, địa vị
cao nhất là dân, vì dân là chủ”5. Người viết:
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra
4
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr 251.
5
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr 525.


11
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân6
Như vậy, “dân là chủ” và “dân làm chủ” là cốt lõi trong khái niệm
“dân chủ” của Hồ Chí Minh. Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản
mà nhân loại thừa nhận: dân chủ nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.
Song nghiên cứu về dân chủ, chúng ta phải đứng trên quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi dùng khái niệm “nhân dân” không bao
giờ được đánh đồng các giai cấp, tầng lớp.Vì dân chủ gắn liền với xã
hội có giai cấp, khái niệm dân có thể thay đổi về số lượng, chất lượng
và đối tượng tùy theo tính chất của một xã hội trong từng thế kỷ, từng
nấc thang phát triển nhất định. Có thể nói, khái niệm dân đồng nhất với
khái niệm nhân dân, dân chúng, quần chúng nhân dân.Và việc thực hiện
cho được “dân là chủ, dân làm chủ” đấy chính là thực hiện sứ mệnh lịch
sử, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, bởi vì quần chúng nhân dân là
lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng, là người trực tiếp sản xuất
ra của cải vật chất và sáng tạo ra những giá trị tính thần, nhân tố quyết
định sự tồn tại và phát triển của nhân loại.
b) Khái niệm dân chủ cơ sở:
Quần chúng nhân dân là những người trực tiếp sản xuất ra những
giá trị vật chất và sáng tạo ra giá trị tinh thần. Trong lao động và sinh
sống, nhân dân luôn gắn bó mật thiết với một đơn vị, một tổ chức, một
địa bàn dân cư nhất định. Bất cứ một tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu
trúc, cũng bao gồm hệ thống cấu trúc từ nhỏ đến lớn. Những cấu trúc
nhỏ nhất trong một hệ thống có tư cách như một chỉnh thể tương đối
hoàn chỉnh, độc lập, là nền tảng cho toàn bộ hệ thống được gọi là cơ sở.
Cơ sở là “tế bào” của hệ thống. Bất cứ một công dân, một thành viên
nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một
cơ sở nhất định trong hệ thống. Đó chính là xã, phường, cơ quan, doanh
6
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr 698.



12
nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở…nơi diễn ra các quan hệ nhiều mặt giữa
các tầng lớp nhân dân. Hệ thống chính trị của nước ta được tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, được tổ chức thành 4 cấp: trung ương, tỉnh,
huyện và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng. Xã, phường, thị trấn là nơi trực
tiếp thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước,
là nơi kiểm nghiệm một cách chính xác nhất đường lối của Đảng trong
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong thực tiễn khách quan. Dân
chủ, với ý nghĩa tối cao nhất là quyền tự nhiên của con người được thực
hiện trước hết là ở cơ sở. Nhân dân có quyền được biết, được bàn và
được tham gia giải quyết và kiểm tra giám sát mọi hoạt động diễn ra ở
cơ sở. Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hình thức gián tiếp và dân
chủ trực tiếp ,là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình
bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng đối với những vấn đề
về tổ chức và hoạt động ở cơ sở.Dân chủ trực tiếp là hệ thống báo động
nhạy cảm nhất những vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa. Dân chủ
trực tiếp giúp cho Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm chính sách pháp luật
một cách nhanh nhất, sát với thực tế khách quan, khắc phục bệnh chủ
quan, duy ý chí, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa chính quyền với
nhân dân.
Tăng cường, hoàn thiện và thực hiện dân chủ thực sự là mục tiêu
lâu dài và thường xuyên của Đảng và Nhà nước.Mỗi bước phát triển của
dân chủ phải được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật. Dân chủ
phải gắn liền với pháp luật và thực hiện pháp luật. Song việc phát huy
và mở rộng dân chủ phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội,
trình độ dân trí, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của mỗi cộng
đồng, dân chủ gắn liền với kỷ cương. Hiện tại, các quy định về thực
hiện dân chủ ở cơ sở của Nhà nước ta mới chỉ thể chế đối với cơ sở ở
xã, phường, thị trấn, cơ quan doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần,


13
công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong đó, dân chủ ở xã, phường, thị trấn là
một nội dung quan trọng, chủ yếu đề cập đến thực hiện dân chủ ở cấp
cơ sở trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở nước ta theo phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Còn rất nhiều loại hình cơ sở
khác chưa có quy định về thực hiện dân chủ đặt ra cho Đảng, Nhà nước
yêu cầu tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các quy định của
pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
1.1.1.2. Khái niệm pháp luật về dân chủ cơ sở
Quan điểm của học thuyết Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật
đã giải thích một cách đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật và
những mối quan hệ của nó với các hiện tượng khác trong xã hội có giai
cấp. Pháp luật chỉ phát sinh và tồn tại, phát triển trong xã hội có giai cấp.
Pháp luật vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội. Mức độ
đậm, nhạt của hai tính giai cấp và xã hội của pháp luật rất khác nhau và
thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, đạo đức,
quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị của mỗi nước ở một thời
kỳ lịch sử nhất định.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và
đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là
nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật và Nhà nước là hai
thành tố của thượng tầng chính trị- pháp lý, luôn có mối quan hệ khăng
khít không thể tách rời nhau. Cả hai hiện tượng pháp luật và Nhà nước
đều có chung nguồn gốc cùng phát sinh và phát triển. Nhà nước là một tổ
chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể
được triển khai và phát huy có hiệu quả trên cơ sở của pháp luật. Pháp
luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành, luôn phản ánh
những quan điểm và đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực
Nhà nước và đảm bảo cho quyền lực đó được triển khai nhanh, rộng trên
quy mô toàn xã hội.


14
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân,vì dân, do đó pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông
đảo nhân dân lao động, là pháp luật thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền
tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Nó khác biệt căn bản về
chất so với các kiểu pháp luật trước đó như pháp luật chủ nô, pháp luật
phong kiến, pháp luật tư sản.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện
ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, do Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và đảm bảo thực hiện
bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết
phục mọi người tôn trọng và thực hiện.
Pháp luật giữ vai trò quan trọng, là phương tiện để nhân dân phát
huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Pháp luật là
nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng
rất mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội trong đó có các quan hệ giữa các cá
nhân công dân với Nhà nước, giữa công dân với nhau trong đời sống xã
hội. Pháp luật đảm bảo thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát
huy quyền lực của nhân dân, đảm bảo công bằng xã hội. Dân chủ là
thuộc tính của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, việc tăng cường hiệu lực và
phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống xã
hội luôn gắn liều với quá trình thực hiện và mở rộng dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Dân chủ được thể hóa thành pháp luật. Những quyền tự do dân
chủ của công dân phải được quy định cụ thể trong pháp luật, Nhà nước
phải đảm bảo cho công dân thực hiện các quyền đó trong khuôn khổ luật
định, đồng thời pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ tương ứng mà
công dân phải thực hiện để đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội.
Pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban
hành và đảm bảo thực hiện; điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa
Nhà nước; các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công


15
dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, pháp luật về dân chủ có
phạm vi và nội dung điều chỉnh rất rộng lớn. Pháp luật về dân chủ ở cơ
sở là một nội dung rất quan trọng của pháp luật về dân chủ, bao gồm hệ
thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước, các tổ
chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công dân đảm bảo cho
nhân dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn. Để thực hiện và thể chế
hóa quan điểm của chỉ thị 30/ CT – TW ngày 18/12/1998 của Bộ Chính
trị, ngày 26/2/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết
số 45-1998/ NQ-UBTVQH10 giao cho Chính phủ khẩn chương ban hành
quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Quán triệt tinh thần đó, ngày
11/5/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc
ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã. Thủ tướng Chính phủ đã ra
Chỉ thị số 22/1998/CT-TTg ngày 15/5/1998 về việc triển khai thực hiện
QCDC ở xã và Ban tổ chức – Cán bộ Chính phủ ban hành thông tư số
03/1998/TT-TCCP ngày 6/7/1998 hướng dẫn áp dụng “Quy chế thực
hiện dân chủ xã” đối với phường và thị trấn. Các quy phạm pháp luật đó
được thể hiện ở nhiều văn bản pháp luật bao gồm: Hiến pháp, luật bầu
cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật tổ
chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật đất đai, Luật Thương
mại, Luật khiếu nại tố cáo, Luật phòng chống tham nhũng…Pháp lệnh
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Nghị định 71/1998 quy định về
quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính và Nghị định 07/1999
quy định về quy chế dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước, Nghị định
87/2007 quy định về thực hiện quy chế dân chủ trong công ty trách
nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Nhưng được quy định và thể hiện
tập trung, chủ yếu tại các Nghị định 79,07,71,87 của Chính phủ quy định
quy định về quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở và Nghị định 79/ NĐ


16
được hoàn thiện thành Pháp lệnh số 34/2007 thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn. Các văn bản pháp luật này nhằm thể chế phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trên các lĩnh vực đời sống xã
hội diễn ra ở cơ sở, nơi mỗi công dân đều gắn bó, sinh sống, lao động,
học tập, nơi họ có quyền làm chủ. Trong đó Pháp lệnh thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn là văn bản pháp luật quy định cụ thể những
việc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông tin kịp
thời và công khai để dân biết, những việc dân bàn và quyết định trực
tiếp, những việc nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan Nhà nước
quyết định, những việc dân giám sát, kiêm tra và các hình thức thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn bao gồm cả dân chủ đại diện và dân chủ
trực tiếp.
1.1.2. Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa các
quyền, các giá trị của dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp. Đó là
các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có quyền tự do
bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền của nhân dân lao động được tham
gia vào quản lý Nhà nước (Điều 53), quyền tự do ngôn luận, quyền
được thông tin (Điều 69), quyền của nhân dân được kiểm tra, giám sát
hoạt động của bộ máy và cán bộ công chức Nhà nước ( Điều 8), quyền
bình đẳng nam nữ (Điều 63)…Sự ra đời của quy chế dân chủ cơ sở là
một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho các quy định của
Hiến pháp được thực hiện trên thực tế, làm cho nhân dân nắm vững và
thực hiện được các quyền dân chủ của mình.
Sau một quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, để nâng cao
giá trị pháp lý của các quy định về dân chủ ở cơ sở, UBTVQH đã ban
hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn(thay thế Nghị
định 79/2003/NĐ-CP),34/2007/PL-UBTVQH11. Pháp lệnh này có 6
chương, 28 điều quy định những nội dung cần được giải trình trước dân;


17
những nội dung cần được dân thảo luận và quyết định; những nội dung
cần lấy ý kiến của dân trước khi được cơ quan có thẩm quyền quyết
định; những nội dung phải được dân giám sát; trách nhiệm của chính
quyền và công chức ở các cấp làng- xã; trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân và những người có liên quan trong quá trình thi hành dân
chủ ở cấp xã. Cụ thể như sau:
Một là, những nội dung cần công khai để dân biết:
Một trong những quyền trước tiên của nhân dân đó là quyền được
biết về tình hình chung đang diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa xã hội của đất nước, của địa phương và những vấn đề cụ thể có
liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân mỗi người dân,
cũng như của gia đình và cộng đồng dân cư. Điều 5 Pháp lệnh quy định
những nội dung công khai:
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã.
- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện,
phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến
dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp
xã.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải
quyết các công việc của nhân dân.
- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo
chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng
góp.
- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản
xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo
được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình
thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế.


18
- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa
giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã.
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết
quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân,
Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những
vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã
đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này.
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác
do chính quyền cấp xã trực tiếp thu.
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các
công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực
hiện.
- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần
thiết.
Hai là, những nội dung nhân dân được bàn và quyết định trực
tiếp:
“Dân bàn” là khâu thứ hai đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân.
Bàn là tôn trọng quyền tự do ngôn luận của nhân dân, người dân được
phát ngôn, biểu thị ý chí, nguyện vọng của mình đối với cộng đồng cũng
như với chính quyền. Không có cơ chế dân chủ thì nhân dân sẽ không có
điều kiện “bàn” các vấn đề mình quan tâm. Việc nhân dân được bàn bạc
và quyết định những vấn đề thuộc lĩnh vực pháp luật cho phép đã giúp
cho nhân dân nâng cao nhận thức, phát huy trí tuệ, tạo động lực thúc đẩy
nhân dân tham gia, hưởng ứng nhiệt thành các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước bằng việc đóng góp sức lực, của cải vật chất để
xây dựng các công trình phúc lợi công cộng.


19
Xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế.Như
vậy, vấn đề “Dân biết”, để “bàn”, để “làm” là nhu cầu hết sức cấp bách
và khách quan của mọi người dân. Điều 10, 11, 12 Quy chế quy định
những nội dung, hình thức nhân dân bàn, quyết định trực tiếp:
- Về nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng
góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong
phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một
phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù
hợp với quy định của pháp luật.
- Về hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
- Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những nội dung quy định tại
Điều 10 của Pháp lệnh này bằng một trong các hình thức sau đây:
+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa
bàn từng thôn, tổ dân phố;
+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.
+ Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì
việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu
kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành
chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong
thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp.
+ Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý
kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.
Ba là, những nội dung, hình thức mà nhân dân bàn, biểu quyết,
tham gia ý kiến để cấp có thẩm quyền quyết định:
Ngoài việc người dân được “bàn” và quyết định những vấn đề cụ
thể nêu trên, còn những vấn đề việc quyết định cuối cùng phải do chính
quyền xã hoặc cấp trên thực hiện thì người dân cũng được tham gia bàn
bạc, đóng góp ý kiến để giúp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan


20
Nhà nước cấp trên có những quyết sách đúng đắn và sáng suốt. Thực tế
đã chứng minh có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
được xuất phát từ sáng kiến của quần chúng ở cơ sở. Vì vậy, việc nhân
dân bàn và tham gia ý kiến một số việc chủ yếu là thủ tục bắt buộc
trước khi chính quyền xã hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
định. Những nội dung, hình thức mà nhân dân bàn, tham gia ý kiến để
cấp có thẩm quyền quyết định gồm:
- Về những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết, Pháp lệnh quy định các
lĩnh vực sau:
+ Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
+ Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát
đầu tư của cộng đồng.
- Về hình thức nhân dân bàn, biểu quyết, nhân dân bàn và biểu quyết
những vấn đề trên bằng một trong các hình thức dưới đây:
+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa
bàn từng thôn, tổ dân phố;
+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.
+ Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì
việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu
kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành
chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong
thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại cuộc họp.
+ Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý
kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.
Bốn là, những nội dung nhân dân giám sát:
Giám sát là một nội dung thực hiện quyền dân chủ của nhân dân
nhằm góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể


21
nhân dân trong sạch, vững mạnh. Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng
trong phát hiện những khuyết điểm của cán bộ, công chức trong bộ máy
của Đảng và Nhà nước để chấn chỉnh những sai phạm, đưa mọi hoạt
động vào đúng nền nếp; kịp thời phát hiện những sai phạm để xử lý kỷ
luật,tạo dựng trật tự kỷ cương, góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của
Nhà nước và của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.Do
đó, quyền giám sát không chỉ thể hiện thông qua hoạt động của các cơ
quan chuyên trách giám sát mà còn phải lôi cuốn được đông đảo nhân dân
tham gia. Nhân dân cần được giám sát những gì có liên quan đến quyền
lợi và nghĩa vụ của họ, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quan
nhà nước địa phương, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, những
người có trách nhiệm trong việc thực hiện những quy định về tài chính,
kinh tế,quản lý sử dụng đất đai, chính sách xã hội là việc giải quyết đơn
thư khiếu nại,tố cáo của công dân… Tất cả những nội dung Pháp lệnh
quy định người dân có quyền được biết, được quyết định và được tham
gia ý kiến thì người dân cũng có quyền giám sát. Hình thức giám sát:
Thông qua Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng;
thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với các cơ quan công
quyền; kiến nghị qua Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành
viên.
Năm là, trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ cơ sở:
Trách nhiệm chung: HĐND, UBND xã phối hợp cùng MTTQ và
các tổ chức thành viên cấp xã
Đối với những việc cụ thể(công khai thông tin, tổ chức họp
thôn…), Pháp lệnh quy định trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân(
UBND xã, chủ tịch UBND, trưởng thôn…)
Trên đây là những nội dung trong pháp lệnh dân chủ cơ sở. Dựa
vào nội dung này chúng ta có thể đánh giá những mặt đạt và chưa đạt
được trong quá trình thực hiện Quy chế DCCS của mỗi địa phương.


22
Pháp lệnh dân chủ cơ sở là một công cụ mạnh để thúc đẩy tính minh
bạch và sự tham gia của người dân. Đây là những giá trị mà các tổ chức
xã hội dân sự thường hay đề cao và vận động thực hiện.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân. Pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo
quyền làm chủ của nhân dân và có vị trí tối cao trong cách ứng xử của cả
công dân, các tổ chức và Nhà nước. Song mục đích đó có đạt được hay
không, pháp luật có triển khai thực hiện trong thực tế cuộc sống hay
không phụ thuộc vào hiệu quả thực hiện pháp luật của các chur thể.
Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động)
của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Dưới góc độ
của pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp. Thực hiện pháp
luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của
pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp
của các chủ thể pháp luật.
Chủ thể pháp luật có thể là cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức.
Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là hoạt động có mục đích
làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở đi vào
cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân
dân trong phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng
xã hội giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng hệ thống chính
trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, thực hiện pháp luật về
dân chủ cơ sở chủ yếu là tập trung thực hiện những nội dung quy định
của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn ( Pháp lệnh số
34/ 2007- PL- UBTVQH11) được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông


23
qua ngày 20 tháng 04 năm 2007. Chủ thể thực hiện là nhân dân, các tổ
chức, đơn vị ở cấp xã.
Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở được thực hiện theo
nguyên tắc: đảm bảo trật tự kỷ cương, đảm bảo quyền của nhân dân
được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực
hiện dân chủ ở cấp xã. Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân; công khai, minh bạch trong quá trình thực
hiện dân chủ ở cấp xã; đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng , sự quản lý của
Nhà nước.
1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, khác với thực hiện pháp luật trong
các lĩnh vực, các ngành luật khác ở các chủ thể, phạm vi, nội dung và các
hình thức thực hiện.
Chủ thể thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trước hết là chính
quyền( Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân) cấp xã, các tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở xã và các cơ quan
Nhà nước có liên quan dến việc thực hiện quyền dân chủ ở xã, các công
dân sinh sống trong địa bàn xã. Nhưng năng lực pháp lý của chủ thể lại
được quy định trong các văn bản pháp luật khác. Phạm vi thực hiện pháp
luật được triển khai trên địa bàn từng xã, phường, thị trấn cụ thể với
những nội dung phát sinh trong việc đảm bảo thực hiện phương châm “
dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” trong quản lý Nhà nước, quản
lý xã hội, tổ chức đời sống cộng đồng của nhân dân.
Phạm vi thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở diễn ra giữa các
chủ thể mà một bên bao giờ cũng là công dân sống trong một đơn vị hành
chính lãnh thổ hoặc những đơn vị quần cư nhỏ nhất.




24
Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện
pháp luật về dân chủ cơ sở vừa mang tính chất quản lý hành chính vừa
mang tính chất tự quản.
Tính chất, mức độ của các chế tài xử phạt vi phạm chung chung,
mang tính định tính chứ chưa phải định lượng.
Nội dung thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở rất rộng lớn, có
liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú, được
thực hiện theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”,
trong đó các việc biết, bàn, làm, kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ và
chất lượng thực hiện nội dung này ảnh hưởng quyết định đối với việc
thực hiện nội dung tiếp theo.
1.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức mà các chủ thể tiến
hành các hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi
vào cuộc sống. Các quy phạm pháp luật rất phong phú nên hình thức
thực hiện chúng cũng rất phong phú và khác nhau. Căn cứ vào tính chất
của hoạt động thực hiện pháp luật, có thể xác định thực hiện pháp luật
bao gồm các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng
pháp luật, áp dụng pháp luật. Trong đó, thi hành pháp luật là một hình
thức thực hiện pháp luật, các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp
lý của mình bằng hành động tích cực. Sử dụng pháp luật là hình thức
trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực
hiện những hành vi mà pháp luật cho phép), ở hình thức này các chủ thể
pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật
cho phép theo ý chí của mình. Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
được thực hiện chủ yếu ở hình thức sử dụng pháp luật (đối với chủ thể
là công dân) và áp dụng pháp luật (đối với chủ thể là chính quyền và các
tổ chức chính trị cơ sở). Nếu xem xét thực hiện pháp luật về dân chủ cơ
sở chính là thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở chính là quyền thực hiện


25
quyền dân chủ ở cơ sở thì thực hiện quyền dân chủ được thể hiện ở hai
hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Dân chủ đại diện là việc nhân dân thực hiện quyền làm chủ của
mình thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện cho họ theo nghĩa rộng.
Các cơ quan, tổ chức đại diện cho quyền lực và quyền làm chủ của nhân
dân bao gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan nhà
nước khác, các đoàn thể, các tổ chức xã hội. Theo nghĩa hẹp, cơ quan tổ
chức đai diện cho nhân dân là Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các tổ
chức chính trị xã hội. Dân chủ đại diện thể hiện tập trung thống nhất
quyền lực của nhân dân, tạo ra những điều kiện đảm bảo hiệu lực, hiệu
quả của Nhà nước. Dân chủ đại diện ở cơ sở được thực hiện thông qua
hoạt động của Hội đồng nhân dân và các đoàn thể xã hội chủ yếu bằng
các phương thức cơ bản sau: - thông qua hoạt động của đại biểu Hội
đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân ở cơ sở là những người do
cử tri bầu ra, đại diện cho lợi ích và nguyện vọng của cử tri. Trên cơ sở
nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tìm hiểu những vấn đề mà cử tri quan
tâm, đại biểu Hội đồng nhân dân tập hợp ý kiến của của cử tri và căn cứ
vào quy định của pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân sẽ tham gia xây
dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân nhằm quyết định những chủ
trương, giải pháp thực hiện phù hợp với các quy định của luật pháp.
Chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân quyết định hiệu
quả đại diện của Hội đồng nhân dân. Dân chủ đại diện còn được thực
hiện thông qua việc Hội đồng nhân dân thực hiện các chức năng của Hội
đồng nhân dân: ban hành Nghị quyết nhằm tổ chức thực hiện pháp luật
và giải quyết những vấn đề quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội ở cơ sở phù hợp với ý chí nguyện vọng của nhân dân, Hội
đồng nhân dân giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân. Dân chủ đại
diện cũng được thực hiện thông qua hoạt động của các đoàn thể chính trị
- xã hội như: công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ…Các tổ chức này


26
là tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, do cách thức tổ chức phù hợp
và đại diện cho đoàn viên, hội viên. Trong các phương thức trên thì
phương thức thực hiện thông qua hoạt động của Hội đồng nhân dân có
vai trò quyết định bởi vì thông qua hoạt động của Hội đồng nhân dân,ý
chí của nhân dân trở thành ý chí của Nhà nước, được đảm bảo thực hiện
bằng bộ máy nhà nước và phương thức tác động có tính bắt buộc chung
đối với các thành viên ở cơ sở.
Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp, có nghĩa là
nhân dân trực tiếp làm chủ, trực tiếp tham gia xây dựng và quản lý Nhà
nước ở xã, phường. Văn kiện Đại hội IX, Đại hội X của Đảng xác định
có những phương thức thực hiện dân chủ trực tiếp sau:
 Trưng cầu ý dân;
 Chế độ bầu và bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân
các cấp;
 Hỏi ý kiến nhân dân, đưa ra thảo luận các chủ trương, chính sách,
các quyết định quản lý;
 Khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu tố của nhân dân;
 Chế độ công khai, báo cáo công việc trước nhân dân của cơ quan
nhà nước, cán bộ công chức nhà nước;
 Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề phát triển kinh

tế, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh trật tự trên địa bàn địa phương,
cơ sở;
 Chế độ tự phê bình trước dân;
 Tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu tố, đơn thư dân nguyện;
 Xây dựng chế độ và các tổ chức tự quản đời sống cộng đồng, tập
thể.
Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở được tiến hành bằng hình
thức nào cũng phải đảm bảo yêu cầu, nguyên tắc của pháp chế xã hội


27
chủ nghĩa, tuân thủ nghiêm túc Hiến pháp, pháp luật và giữ vững đường
lối của Đảng, tăng cường khối đoàn kết cộng đồng, phát huy sức mạnh,
trí tuệ của nhân dân để ngày càng thu hút đông đảo nhân dân tham gia vào
quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
1.3. VAI TRÒ CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở XÃ,
PHƯỜNG
1.3.1. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần mở rộng
dân chủ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần hiện
thực hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về dân chủ trong thực tiễn đời sống của nhân dân ở cơ sở
Đảng ta xác định: dân chủ cơ sở là nền tảng, dân chủ ở trung
ương có tính chất quyết định đối với việc xây dựng chính quyền của
dân. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm của bộ máy Nhà nước:
“Dân chủ ở nhiều nơi bị vi phạm, kỷ cương phép nước chưa nghiêm.
Quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng
nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm của bộ phận không nhỏ cán
bộ, công chức, nhất là ở các cơ quan giải quyết công việc cho dân và
doanh nghiệp. Bộ máy chính quyền ở cơ sở nhiều nơi yếu kém” 7. Như
vậy, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở có vai trò trong việc
mở rộng dân chủ, đảm bảo dân chủ ở cơ sở được thực thi nghiêm túc.
Pháp luật, với vai trò là công cụ để giai cấp thống trị thực hiện
quyền lực của mình đối với việc quản lý xã hội và đấu tranh giai cấp,
việc thực hiện pháp luật có ý nghĩa quyết định đảm bảo cho quyền lực
thực sự thuộc về giai cấp đó. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước
“nửa Nhà nước” với quyền lực thuộc về đa số nhân dân lao động, Nhà
nước mang bản chất giai cấp công nhân với trình độ dân chủ cao hơn
7
Đảng Cộng sản Việt Nam(2004), Báo cáo tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30 CT/TW của Bộ
Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Hà Nội.


28
hẳn các chế độ chính trị trước đó. Do đó, việc thực hiện pháp luật về
dân chủ là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền lực thực sự của nhân
dân.
Thứ hai, thực hiện pháp luật dân chủ ở xã, phường là phương thức
quản lý đảm bảo trên thực tế các quyền dân chủ của nhân dân. Nhân
dân được hưởng quyền chính trị cơ bản nhất của người công dân: quyền
bầu cử. Theo quy định của pháp luật về chế độ bầu cử các cơ quan đại
diện cho nhân dân: bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
cấp thì công dân được thực hiện quyền bầu cử của mình tại cơ sở xã,
phường nơi cư trú. Đây là bước khởi đầu để thực hiện Nhà nước của
dân. Nhân dân thiết lập nên bộ máy quản lý Nhà nước của mình để ủy
quyền quản lý, thực hiện quyền dân chủ đại diện thông qua hoạt động
của đại biểu các cơ quan dân cử. Nhân dân có quyền bầu và bãi miễn các
đại biểu dân cử nếu họ không được dân tín nhiệm và thực hiện cơ chế
giám sát thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành
viên. Cũng tại cơ sở xã, phường, nhân dân thực hiện các quyền cơ bản
nhất được Hiến pháp quy định: quyền có nhà ở, quyền tự do tín ngưỡng,
quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, quyền được làm tất cả
những gì mà pháp luật không cấm trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa – xã hội.
Thứ ba, thông qua thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở giúp
Đảng và Nhà nước hoàn thiện đường lối, chính sách về dân chủ nói
chung, dân chủ ở cơ sở nói riêng. Yêu cầu xây dựng Nhà nước Việt Nam
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đặt ra đòi hỏi tính
tối cao của Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước được làm những gì mà
pháp luật quy định còn công dân được làm những gì mà pháp luật không
cấm. Việc thực hiện pháp luật về dân chủ trên tất cả các lĩnh vực diễn
ra ở cơ sở không chỉ giúp cho pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, nhân
dân tự mình làm chủ trong quản lý xã hội mà còn giúp cho Đảng, Nhà


29
nước ngày càng có cơ sở thực tiễn hơn trong việc hoạch định đường lối
chính sách, hoàn thiện pháp luật, vì chỉ có thông qua thực tiễn, nhân dân
mới thực sự là người sáng tạo ra lịch sử.
1.3.2. Vai trò của thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đối với
hoạt động của chính quyền cơ sở.
Thứ nhất, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở xã,
phường, thị trấn vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu nhằm kiện toàn và
nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Hệ thống
chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và hoạt
động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã
hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Pháp luật về dân chủ quy
định cụ thể trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở
đối với việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Với tư cách là chủ thể
của hoạt động thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, hệ thống chính
trị ở cơ sở là khâu then chốt trong tổ chức thực hiện phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Mỗi khâu của quá trình dân chủ
đều đòi hỏi bản thân hệ thống chính trị cũng như mỗi tổ chức thành viên
đều phải kiện toàn tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động
để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Mỗi tổ chức thành viên, căn cứ chức
năng, nhiệm vụ mà có các hình thức thực hiện khác nhau trong cơ chế “
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, song tất cả đều vì
một mục tiêu xây dựng một Nhà nước Việt Nam: “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Dân chủ không chỉ là mục tiêu,
động lực của cả hệ thống mà còn là nguyên tắc, là phong cách công tác
của cán bộ, Đảng viên, công chức, hội viên các đoàn thể nhân dân. Dân
chủ cơ sở là thước đo trình độ phát triển mọi mặt của mỗi cộng đồng
dân cư.



30
Thứ hai, thông qua việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
mà hệ thống chính trị ngày càng nâng cao năng lực tổ chức triển khai
nhiệm vụ, phát triển và bồi dưỡng nguồn cán bộ kế cận cho đội ngũ cán
bộ, công chức, đổi mới phương thức lãnh đạo, tập hợp đoàn viên, hội
viên, điều hòa và gắn kết các nhóm lợi ích, những vấn đề nảy sinh được
phát hiện kịp thời, các khó khăn được tháo gỡ và ngày càng thu hút được
sự tham gia rộng rãi của người dân vào các công việc quản lý nhà nước,
quản lý xã hội.
1.3.3. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần phát
triển kinh tế, văn hóa – xã hội; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội ở cơ sở.
Thứ nhất, thực hiện pháp lệnh về dân chủ ở xã, phường, thị trấn
bảo đảm và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội hơn. Nhà nước
thực hiện chính sách quản lý và phát triển kinh tế - xã hội thông qua
chính sách vĩ mô và vi mô. Trong những năm qua hoạt động quản lý kinh
tế của các cấp chính quyền đã được tách bạch, rạch ròi với chức năng
quản lý sản xuất kinh doanh. Đối với chính quyền cơ sở, đây vừa là nơi
thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh tế - xã
hội, vừa là nơi chịu sự quản lý của cấp chính quyền cấp trên. Toàn bộ
các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, ngắn hạn
của tỉnh, huyện đều có ảnh hưởng và triển khai trên địa bàn xã, phường.
Bên cạnh đó, việc hoạch định các mục tiêu của xã, phường cũng được
HĐND xã, phường thông qua. Mặc dù tầm ảnh hưởng của Nghị quyết
HĐND đối với việc phát triển kinh tế trên địa bàn không lớn, song những
vấn đề mà nhân dân quan tâm, được biết, được bàn, được kiểm tra theo
nội dung của pháp luật thực hiện dân chủ ở xã, phường bao gồm: quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quyết
toán ngân sách, xây dựng cơ sở trường, trạm, các thiết chế văn hóa, công
khai mức thuế, phí và lệ phí, vốn vay xóa đói, giảm nghèo, bình xét gia


31
đình văn hóa, kế hoạch và phương án đền bù giải phóng mặt bằng xây
dựng triển khai các dự án trên địa bàn…đều là những vấn đề ảnh hưởng
trực tiếp đến việc phát triển kinh tế - xã hội ở cả vùng miền. Do đó,
thực hiện pháp lệnh về dân chủ xã, phường, thị trấn góp phần phát triển
kinh tế - xã hội hơn. Thực tiễn quá trình thực hiện pháp lệnh về dân chủ
cơ sở cho thấy, khi tài chính được công khai, nhân dân được đóng góp ý
kiến và sẵn sàng đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, các công trình phúc
lợi công cộng, đất đai được quản lý tốt hơn, việc chuyển đổi mô hình
hợp tác xã nông nghiệp được ủng hộ, công tác dồn điền đổi thửa tạo đà
cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, công tác xã hội
hóa trong giáo dục, y tế được đẩy mạnh, do đó quyền của nhân dân trong
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, y tế được bảo đảm hơn. Việc thực hiện dân
chủ nằm trong một mục tiêu chung “tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Thứ hai, thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường cũng là cơ
sở để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Pháp luật về dân
chủ ở xã, phường là một bộ phận của pháp luật thực định, góp phần
thực hiện chức năng duy trì trật tự xã hội. Quy chế dân chủ, các chế định
pháp luật khác nhau về quyền công dân đảm bảo cho nhân dân được bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, các quyền về kinh tế, pháp luật
nghiêm cấm mọi hành vi gây mất dân chủ, ảnh hưởng đến quyền lợi và
lợi ích hợp pháp của công dân. Các quy định pháp luật đều c ó chế tài để
răn đe, phòng ngừa và trừng trị nghiêm khắc những hành vi vi phạm
quyền con người, quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện pháp lệnh dân
chủ, nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề an ninh
trật tự, xây dựng và tổ chức tự quản đời sống cộng đồng, chính quyền
có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết đơn thư dân nguyện, đảm bảo
quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân. Thực tế chứng minh, ở địa
phương nào thực hiện tốt dân chủ thì ở đó tình hình an ninh chính trị, trật


32
tự an toàn xã hội được đảm bảo, vì sự ổn định, bình yên của từng cụm
dân cư góp phần xây dựng nên sự bình yên, ổn định của cả địa phương,
quốc gia, dân tộc.
1.3.4. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần xây dựng
Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đấu tranh phòng chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác.
Thứ nhất, trong điều kiện một đảng cầm quyền, thực hiện dân
chủ là một giải pháp hạn chế sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Chúng
ta kiên trì thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội do đó việc xây dựng một Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong
sạch, vững mạnh là yêu cầu cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đảng ta
xác định: dân chủ ở cơ sở là nền tảng, dân chủ ở trung ương có tính chất
quyết định đối với việc xây dựng chính quyền của nhân dân.
Thứ hai, thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở không còn là một
khẩu hiệu chung chung mà đã trở thành những quy phạm pháp luật quy
định cụ thể quyền của người dân, nhân dân đã có công cụ để thực hiện
quyền làm chủ của mình ở cơ sở. Chính từ khi có quy chế dân chủ ở cơ
sở và người dân được biết, được bàn, được giải phóng sức sản xuất và
sáng tạo, dân được kiểm tra, giám sát, tài chính được công khai, minh
bạch hơn đã làm hạn chế rất nhiều các biểu hiện tha hóa của cán bộ,
công chức, làm thay đổi tác phong công tác của đa số cán bộ công chức
theo hướng tích cực hơn, trăn trở hơn với lợi ích của dân, sâu sát và tôn
trọng quyền làm chủ của dân. Thực hiện dân chủ cũng đòi hỏi bộ máy
nhà nước phải đẩy mạnh cải cách hành chính để ngày càng phục vụ
nhân dân tốt hơn.




33
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ
SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI


2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI HUYỆN
HOÀI ĐỨC
Hoài Đức là huyện thuộc tỉnh Hà Tây cũ, giáp với trung tâm của
thủ đô Hà Nội, có diện tích đất tự nhiên là 8.245 ha (trong đó vùng đồng
bằng là 5.820 ha, vùng bãi là 2.425 ha); là huyện đất chật người đông với
dân số là 183.484 người, mật độ dân số xấp xỉ là 2.200 người/km2. Hoài
Đức có 20 đơn vị hành chính trực thuộc: thị trấn Trạm Trôi (ở phía bắc)
và 19 xã (An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Di Trạch, Dương Liễu, Đắc
Sở, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Kim Chung, La Phù, Lại Yên,
Minh Khai, Song Phương, Sơn Đồng, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn,
Yên Sở), có 54 làng, 132 khu dân cư. Toàn huyện có 73 tổ chức cơ sở
Đảng, trong đó 20 Đảng bộ xã, thị trấn, 6 đảng bộ trực thuộc, 47 chi bộ
trực thuộc huyện ủy với tổng số 4.518 đảng viên, có 24 cơ quan hành
chính, 6 doanh nghiệp Nhà nước và 202 doanh nghiệp ngoài quốc
doanh...
Từ 1/8/2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của
tỉnh Vĩnh Phúc, 4 xã: Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung của
huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình, huyện Hoài Đức được sáp nhập vào
Hà Nội.
Thành tựu to lớn của nhân dân Hoài Đức trong hơn 20 năm đổi mới
là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,


34
khai phá ngày càng có hiệu quả thế mạnh của địa phương vào phát triển
kinh tế. Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, sâu sắc với những
bước đi thích hợp, trong đó, đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, Hoài
Đức đã tạo nên những thành quả rất to lớn trên mặt trận xây dựng và
phát triển một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Nằm trong vùng Đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, đã từ lâu, Hoài
Đức đã nổi danh với những làng nghề truyền thống đa dạng và phong
phú (nghề tạc tượng ở Sơn Đồng, làm bánh kẹo, dệt len ở La Phù, nhiếp
ảnh ở Kim Chung…). Đây là điều kiện cơ bản để Hoài Đức phát triển
mạnh công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Bên cạnh đó, với vị trí địa lý
hết sức thuận lợi là nằm cạnh khu tam giác kinh tế trọng điểm của khu
vực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), lại có hệ thống
đường giao thông thuận tiện nối liền Hoài Đức với thủ đô Hà Nội và các
tỉnh, thành trong cả nước bằng quốc lộ 6 và quốc lộ 32 và đường cao tốc
Láng – Hòa Lạc, các tỉnh lộ 70, 72, 79; đặc biệt, trong thời gian tới,
tuyến đường vành đai 4 của Thủ đô Hà Nội và tuyến đường Lê Trọng
Tấn kéo dài sẽ đi qua 6 xã của huyện Hoài Đức (An Khánh, Vân Canh,
Di Trạch, Dương Nội, Kim Chung, La Phù) sẽ biến Hoài Đức thành địa
chỉ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Trong những năm gần đây, công
nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã có bước phát triển vượt bậc, trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Tốc độ tăng trưởng ngành công
nghiệp bình quân đạt 15,2%/năm. Sự thay đổi theo chiều hướng tích cực
của công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trong thời gian qua không chỉ
đem lại mức thu nhập ổn định cho người lao động mà còn góp phần to
lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp – tiểu
thủ công nghiệp, hoạt động thương mại, dịch vụ của huyện cũng phát
triển khá đồng bộ. Khai thác triệt để vị trí giao thông thuận lợi là giáp


35
với Hà Nội – thị trường tiêu thụ lớn nhất miền Bắc – đầu mối giao
thương buôn bán với các tỉnh, thành trong cả nước, những năm qua,
thương mại – dịch vụ đã có mức tăng trưởng khác, đáp ứng nhu cầu về
đầu ra, đầu vào của các ngành sản xuất công nghiệp – xây dựng cơ bản
và nhu cầu của thị trường Hà Nội. Hàng năm, Hoài Đức cung cấp
khoảng 10% nhu cầu về rau, quả, các sản phẩm nông nghiệp đã qua chế
biến (miến, mỳ…) cho thành phố Hà Nội.
Trong thời gian tới, huyện Hoài Đức đặt ra nhiệm vụ trọng tâm là
tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế.
Về công nghiệp, xác định đây là ngành kinh tế mũi nhọn, huyện
chủ trương khai thác tiềm năng của từng cơ sở, từng ngành, từng vùng,
từng thành phần kinh tế để phát triên công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
theo hướng kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đáp ứng nhu cầu đời
sống, phục vụ xuất khẩu, giải quyết việc làm, đảm bảo nâng cao đời
sống nhân dân, xây dựng nông thôn mới. Để phục vụ cho việc thực hiện
các mục tiêu trên, huyện đã tiến hành quy hoạch 15 cụm điểm công
nghiệp và xây dựng các vùng công nghiệp tập trung.
Về thương mại – dịch vụ, với mục tiêu đưa thương mại – dịch vụ
thành thế mạnh của huyện, Hoài Đức chủ trương tổ chức lại hệ thống
lưu thông hàng hóa và các tổ chức thương mại – dịch vụ, xây dựng các
chợ nông thôn, xây dựng các trung tâm buôn bán, đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của người dân, kết hợp hình thức xanh – sạch ven sông Đáy để
thu hút khách du lịch và phục vụ nhu cầu giải trí của nhân dân trong
huyện.
Về nông nghiệp, huyện chủ trương phát triển theo hướng sản
xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững trên cơ sở giải quyết tốt nhu cầu
lương thực, thực phẩm của nhân dân trên địa bàn. Nhằm thực hiện mục
tiêu trên, huyện đã tiến hành chuyển dịch cơ cấu cây trông, vật nuôi, quy
hoạch các vùng sản xuất hàng hóa phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của


36
từng vùng: vùng trồng cây ăn quả ở ven sông Đáy và dọc theo các tuyến
quốc lộ, tỉnh lộ, vùng rau sạch ở Vân Cồn …
Để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến tới xây
dựng khu đô thị văn minh, hiện đại, trong thời gian tới, Hoài Đức sẽ
triển khai dự án đường vành đai số 4 của Hà Nội đi qua 6 xã trong
huyện. Trong tương lai không xa, khi dự án này hoàn thành, Hoài Đức sẽ
trở thành một khu đô thị mới của Thủ đô.
Quán triệt sâu sắc quan điểm gắn phát triển kinh kế với phát triển
xã hội, giải quyết hài hòa vấn đề tăng trưởng và phát triển; phát triển
kinh tế hướng vào phục vụ phát triển con người, trong hơn hai mươi
năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Hoài Đức đã nỗ lực không ngừng,
làm cho đời sống văn hóa – xã hội trên địa bàn có những chuyển biến khá
tích cực, đời sống nhân dân được ổn định và cải thiện nhiều mặt.
Nhận thức rõ phát triển nguồn nhân lực là khâu quyết định triển
vọng thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khắc phục
những hạn chế về lao động thiếu kỹ năng và năng suất thấp, nâng cao
sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế; tạo lập những tiền đề, cơ sở quan
trọng hàng đầu để tiếp cận và phát triển nền kinh tế tri thức, Hoài Đức
đã tập trung nhiều nguồn lực cho lĩnh vực cốt yếu là phát triển giáo dục
– đào tạo. Công tác xã hội hóa giáo dục đã từng bước phát triển, đáp ứng
nhu cầu học tập đa dạng trong nhân dân. Hoài Đức đã từng bước sử
dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách và tích cực huy động các nguồn vốn
khác trong cộng đồng. Công tác khuyến học phát triển đa dạng với nhiều
hình thức của các tổ chức xã hội, trong dòng họ; phối hợp chặt chẽ giữa
gia đình, nhà trường và xã hội trong phát triển giáo dục. Đến năm 2008,
giáo dục – đào tạo của huyện phát triển tương đối đa dạng và toàn diện
cả về mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, chất lượng giảng dạy, số
lượng học sinh và giáo viên.



37
Hoài Đức đã thực hiện tốt công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe
nhân dân. Đảng bộ đã lãnh đạo củng cố mạng lưới y tế; thực hiện tốt
chương trình y tế quốc gia, phòng chống dịch bệnh, kết hợp y học hiện
đại với y học cổ truyền dân tộc, động viên toàn dân tham gia bảo hiểm y
tế. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân, quản lý chặt chẽ
các dịch vụ y dược tư nhân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị từng bước
được quan tâm đầu tư. Y tế cộng đồng trên địa bàn từng bước phát triển
dưới nhiều hình thức như phục hồi chức năng cho trẻ em tàn tật, khám
chữa bệnh nhân đạo. Công tác y tế đã phối hợp chặt chẽ với công tác
dân số - kế hoạch hóa gia đình và bảo vệ chăm sóc trẻ em, đảm bảo
nâng cao chất lượng dân số và hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, bảo đảm cơ
cấu và phát triển dân số ổn định.
Một kết quả to lớn là Hoài Đức đã triển khai thực hiện tốt các
chính sách xã hội, trong đó giải quyết việc làm gắn với xóa đói giảm
nghèo là nhiệm vụ quan trọng. Đảng bộ huyện tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo việc thực hiện 2 chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo và
giải quyết việc làm. Kết quả là tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 7,35%
năm 1995 giảm còn 3% năm 2000, cơ bản không còn hộ đói. Nếu như
trong thời gian từ 1995 đến năm 2000, toàn huyện đã tạo thêm việc làm
cho gần 16.500 lao động thì trong 5 năm 2001-2005, trung bình mỗi năm
huyện giải quyết việc làm cho 9.500 người, trong đó tạo việc làm mới
cho 4000-5000 người có thu nhập ổn định.
Hoài Đức cũng thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước đối với các đối tượng chính sách, nhất là Pháp lệnh ưu đãi
người có công; đẩy mạnh phong trào toàn dân chăm sóc phụng dưỡng Bà
mẹ Việt Nam anh hung; quan tâm và khuyến khích làm việc thiện giúp
đỡ người nghèo, tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa thông qua các
cuộc vận động “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Ăn quả
nhớ người trồng cây”…Các hoạt động tín dụng của Ngân hàng chính


38
sách xã hội (được coi như ngân hàng của người nghèo)diễn ra sôi động,
khá hiệu quả và các đoàn thể chính trị - xã hội đặc biệt là Hội nông dân,
Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh đã thực hiện tốt kênh huy động vốn
giúp đỡ người nghèo, các hộ nghèo phát triển kinh tế, xóa đói giảm
nghèo.
Thấu suốt quan điểm văn hóa là mục tiêu, động lực của sự phát
triển; là nền tảng tinh thần của xã hội, Hoài Đức quan tâm xây dựng và
phát triển văn hóa theo hướng vừa hiện đại, vừa đậm chất truyền thống,
giàu bản sắc dân tộc. Các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể chính trị - xã
hội đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, xây dựng nếp
sống văn minh, gia đình văn hóa,làng văn hóa. Duy trì, thực hiện nhiều
hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, giữ gìn thuần phong mỹ tục,
tổ chức các hoạt động lễ hội, bảo vệ tốt văn hóa truyền thống, bài trừ
các hủ tục mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác. Hoạt động văn hóa
văn nghệ quần chúng không chỉ được đẩy mạnh vào các dịp lễ tết, kỷ
niệm những ngày lễ lớn của địa phương và đất nước, với nhiều nội
dung, đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí ngày càng đa dạng của nhân dân,
mà còn luôn được mở rộng dưới các hình thức sinh hoạt câu lạc bộ văn
nghệ, thơ ca, văn hóa truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa làng. Số
lượng các ấn phẩm văn hóa như báo chí, bản in được tăng cường và đa
dạng hơn; hầu hết các xã đã có tủ sách pháp luật và các phương tiện
phục vụ thông tin tuyên truyền cần thiết. Qua đẩy mạnh các cuộc vận
động văn hóa, nếp sống và thái độ ứng xử ở nơi làm việc và nơi công
cộng bước đầu có những chuyển biến tích cực, phong trào văn hóa luôn
nhận được sự ủng hộ và tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân.
2.2. QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI
2.2.1. Quá trình triển khai thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở trên
địa bàn huyện Hoài Đức


39
2.2.1.1. Tình hình cơ sở xã, thị trấn trước khi triển khai thực hiện
pháp lệnh dân chủ ở cơ sở
Năm 1998 trở về trước, sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi
mới đất nước, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện
Hoài Đức đã thu được những thành tựu bước đầu. Cơ chế chính sách của
Đảng, Nhà nước, địa phương từng bước được đổi mới trên các lĩnh vực:
Kinh tế, xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần trong nhân
dân và giữ vững ổn định anh ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn huyện. Hệ thống chính trị từ tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở thường xuyên được củng
cố và kiện toàn đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của
địa phương. Nhiều xã đã từng bước công khai một số vấn đề về thu –
chi ngân sách, chế độ chính sách, khen thưởng – kỷ luật, tiếp nhận và đề
bạt cán bộ. Tư tưởng độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ đã giảm
nhiều. Tình hình đó đã tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho việc thực
hiện có hiệu quả Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị và các Nghị định của Chính
phủ về thực hiện dân chủ ở xã, phường trong những năm qua. Tuy nhiên,
do chưa có văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nên tình hình thực hiện
dân chủ ở một số xã còn hình thức, vẫn còn tình trạng vi phạm dân chủ,
vi phạm các nguyên tắc quản lý kinh tế, quản lý văn hóa xã hội, có nhiều
đơn thư khiếu nại tố cáo vượt cấp, kéo dài. Các biểu hiện độc đoán, gia
trưởng, không công khai trong hoạt động thu, chi ngân sách, xây dựng cơ
bản, quản lý đất đai…đã làm cho nhân dân dị nghị, thậm chí bất bình,
giảm sút lòng tin đối với cấp ủy Đảng và chính quyền.
2.2.1.2. Tình hình tổ chức triển khai thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ
sở
Sau khi tiếp thu chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị và Nghị định 29/CP
của Chính phủ do Tỉnh ủy Hà Tây(cũ) triển khai, Ban thường vụ huyện
ủy đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện quy chế DCCS. Từ năm 1998 đến


40
năm 2008 huyện ủy Hoài Đức đã ban hành các loại văn bản: Chỉ thị số
28 của Ban thường vụ Huyện ủy, thông tri số 07, Công văn số 241 về
hướng dẫn triển khai, xây dựng, thực hiện quy chế dân chủ ở có sở và
ban hành 8 Quyết định thành lập, kiện toàn, bổ sung Ban chỉ đạo thực
hiện quy chế DCCS của huyện. Các xã, thị trấn sau mỗi kỳ Đại hội
Đảng bộ xã và các kỳ Đại hội nhiệm kỳ các Đoàn thể và hàng năm dưới
sự chỉ đạo của Huyện ủy đều kiện toàn, bổ sung Ban chỉ đạo thực hiện
quy chế DCCS của xã, thị trấn.
Đối với cấp cơ sở: 100% cấp ủy xã, thị trấn, cơ quan hành chính,
90% doanh nghiệp nhà nước, 55% doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã xây
dựng kế hoạch thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ các bước triển
khai học tập đến các bước đánh giá, kiểm tra, việc sơ kết, tổng kết hàng
năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm và 10 năm theo đúng kế hoạch của Huyện ủy.
- Hoạt động của Ban chỉ đạo
Qua hơn 10 năm thực hiện chỉ thị 30 của Bộ Chính trị(khóa VIII)
ban chỉ đạo thực hiện quy chế DCCS của huyện Hoài Đức đã được kiện
toàn, bổ sung 8 lần, Ban chỉ đạo đã tham mưu giúp cấp ủy xây dựng kế
hoạch hướng dẫn cơ sở từ khâu triển khai học tập đến việc kiểm tra,
đánh giá sơ, tổng kết theo kế hoạch của cấp trên. Ban chỉ đạo của huyện
đã giúp cấp ủy kiểm tra xây dựng thực hiện quy chế DCCS ở các xã, thị
trấn, cơ quan hành chính, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài
quốc doanh cụ thể: Năm 2000 kiểm tra 10 đơn vị, năm 2001 kiểm tra 12
đơn vị, năm 2003 kiểm tra 13 đơn vị, năm 2005 kiểm tra 15 đơn vị, năm
2007 triển khai đợt tuyên truyền, học tập Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn, năm 2008 kiểm tra 32 đơn vị. Qua các đợt kiểm tra
đã đánh giá đúng được kết quả của thực hiện quy chế DCCS ở tất cả
các loại hình cơ sở, đồng thời qua kiểm tra đã làm rõ những nguyên nhân
tồn tại của cơ sở, từ đó tìm ra những giải pháp khắc phục mặt hạn chế,
thiếu sót để nhằm hoàn chỉnh hơn các quy chế đã xây dựng trong thời


41
gian tới. Ban chỉ đạo cũng xác định và nhận thức sâu sắc rằng việc kiểm
tra đánh giá sơ kết, tổng kết hàng năm là để nhằm tiếp tục thực hiện có
hiệu quả Chỉ thị số 10 của Ban bí thư Trung ương Đảng và kết luận 159
của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở năm sau tốt hơn năm trước.
- Xây dựng mô hình thí điểm
Năm 1998: Ban chỉ đạo quy chế dân chủ huyện đã chọn xã Minh
Khai, xã Yên Sở làm điểm bước triển khai học tập đến nhân dân ở khu
dân cư để rút kinh nghiệm trước khi triển khai ra diện rộng.
Năm 2001: đã xây dựng xã Vân Côn làm điểm việc triển khai học
tập đến nhân dân, đã chọn 10 xã khá làm trước rồi triển khai đồng loạt
các xã còn lại. Ban chỉ đạo của huyện phân công các thành viên phụ trách
từ 2 đến 3 xã và kết hợp với Ban chỉ đạo các xã để giám sát, kiểm tra
việc tuyên truyền, học tập quy chế dân chủ và vận động nhân dân tham
gia học tập đạt tỷ lệ cao.
Kết quả học tập:
Đại diện dân toàn huyện đạt 65%
Cán bộ công chức khu vực cơ quan đạt 87%
Cán bộ công nhân viên lao động doanh nghiệp nhà nước 75%
Cán bộ công nhân viên lao động doanh nghiệp ngoài quốc doanh
85%
Số xã triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở: 20 xã thị trấn
Số cơ quan triển khai thực hiện QCDC: 40/40 cơ quan
Số DNNN đã triển khai QCDC: 03 doanh nghiệp
Số doanh nghiệp NQD đã triển khai QCDC: 19 doanh nghiệp.
- Triển khai và thực hiện các Nghị định của Chính phủ: NĐ 29, NĐ
79, NĐ 71, NĐ 07, Pháp lệnh số 34
100% các xã, thị trấn, cơ quan hành chính, doanh nghiệp Nhà nước,
doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã căn cứ vào Chỉ thị số 10, Thông báo,


42
kết luận 159 của Ban bí thư TW Đảng, căn cứ vào kế hoạch kiểm tra 2
năm, 3 năm, 5 năm, 10 năm của Ban chỉ đạo huyện để xây dựng kế
hoạch, kiện toàn ban chỉ đạo và tiến hành kiểm tra, đánh giá sơ kết, tổng
kết đúng quy trình và đạt được yêu cầu, kế hoạch đề ra.
Căn cứ vào kế hoạch số 22 – KH/BCĐ của Ban chỉ đạo thực hiện
QCDC ở cơ sở của tỉnh Hà Tây(cũ), Ban chỉ đạo thực hiện QCDC của
huyện đã xây dựng kế hoạch số 77 – KH/BCĐ của huyện để triển khai
học tập Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đến cán bộ,
đảng viên và nhân dân trong huyện.
Cấp huyện: ngày 31/12/2007 tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt
gồm BTV Huyện ủy, Thường trực HĐND, UBND, Ban chỉ đạo thực
hiện QCDC của huyện, thủ trưởng các phòng, Ban ngành, MTTQ,
trưởng các đoàn thể huyện, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND,
Chủ tịch UBND, Chủ tịch MTTQ xã, thị trấn để triển khai Kế hoạch số
77 của Ban chỉ đạo huyện và học tập các nội dung trong Pháp lệnh thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Từ quí I/2008 các xã, thị trấn tổ chức học tập đến cán bộ, đảng
viên, các đoàn thể tuyên truyền rộng rãi đến nhân dân trong toàn huyện.
Sau bước triển khai học tập đã có 15 xã thành lập được tổ rà soát văn
bản đã bổ sung sửa đổi được một số Qui chế, Qui ước từ thôn, làng, xã.
Sau hơn 10 năm quán triệt và tổ chức thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ
chính trị, quá trình thực hiện Nghị định 29, Nghị định 79 và nay là Pháp
lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, nhận thức của các cấp ủy
Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân của Huyện Hoài Đức trong
việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân đã có chuyển biến tích cực,
chỉ thị của Đảng và những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ
ở cơ sở là một nội dung hợp lòng dân, đáp ứng được sự mong đợi của
nhân dân nên được nhân dân đồng tình và hưởng ứng rộng rãi, quá trình
tổ chức thực hiện có nhiều thuận lợi và đạt những thành tích đáng phấn


43
khởi. Pháp luật về thực hiện dân chủ thực sự đi vào cuộc sống và ngày
càng hoàn thiện. Nội dung hoạt động của cả hệ thống chính trị đã tập
trung theo hướng “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách
nhiệm với dân”.
2.2.2. Kết quả thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở trên địa bàn
Huyện Hoài Đức, Hà Nội.
2.2.2.1. Kết quả thực hiện phương châm “dân biết, dân làm, dân
bàn, dân kiểm tra.
* Về những việc thông báo đến dân biết
Căn cứ vào những nội dung của Nghị định 29, Nghị định 79 và
Pháp lệnh 34 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các xã, thị trấn đã xây
dựng QCDC và thực hiện công khai, báo cáo trước nhân dân theo các
hình thức sau:
Thông qua các kỳ họp HĐND, thông qua các Hội nghị tiếp xúc cử
tri, thông qua các Hội nghị đoàn thể và các buổi họp dân, đồng thời thông
báo trên hệ thống thông tin đại chúng để thông báo kịp thời các chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chương trình,
nhiệm vụ trọng tâm của xã, các dự án phát triển công nghiệp, đô thị, giao
thông…cụ thể như: đề án qui hoạch kế hoạch sử dụng đất đai, dự toán
thu, chi ngân sách xã hàng năm, việc thu và sử dụng các loại quỹ từ
nguồn huy động đóng góp của nhân dân, các chủ trương vay vốn để phát
triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, việc sơ kết các hoạt động của
HĐND, UBND, kế hoạch bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án thu
hồi đất. Qua đó để nhân dân biết được tình hình phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương, đồng thời góp ý kiến với cấp ủy Đảng, chính quyền
các cấp về những vấn đề mà nhân dân quan tâm. 12 xã thực hiện tốt 14
việc, 5 xã thực hiện tốt 13 việc và 3 xã thực hiện tốt 11 việc.
Thực hiện có nền nếp, thường xuyên qui định về những việc cần
thông báo để nhân dân biết đã trở thành công việc hàng đầu của chính


44
quyền xã, thị trấn trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, tạo
điều kiện cho nhân dân nắm bắt những vấn đề thiết thực liên quan đến
cuộc sống cộng đồng và bản thân mỗi công dân, từ đó làm cơ sở dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra.
* Về những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
Các nguồn kinh phí nhân dân đóng góp để xây dựng đường làng,
ngõ xóm, xây dựng, sửa đổi, bổ sung bản qui ước làng, xây dựng và sửa
chữa các công trình phúc lợi của địa phương đều được đưa ra để nhân
dân họp bàn và quyết định công khai dân chủ, ủy ban nhân dân xã chỉ
giám sát, kiểm tra sau khi đã được nhân dân góp ý và thực hiện.
Kết quả bầu cử HĐND 3 cấp năm 1999, năm 2004 – 2005,
HĐND, ủy ban MTTQ đã tổ chức tốt công tác hiệp thương, lựa chọn
giới thiệu người tham gia ứng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, huyện, xã
vừa đảm bảo đúng luật vừa đảm bảo dân chủ, công khai. Từ đó nhân
dân đã tích cực tham gia đi bầu cử để thực hiện quyền và trách nhiệm
của mình, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu của toàn huyện cả hai đợt đạt trên
99,65%.
Kết quả 10 năm toàn huyện đã kiện toàn 20 ban thanh tra nhân dân
với 172 thành viên, đã thành lập được 132 tổ hòa giải ở cơ sở với 1.135
thành viên, bầu được 128 trưởng thôn trưởng cụm dân cư. Thực hiện
chức năng giám sát, Ban thanh tra nhân dân đã cùng với chính quyền và
ngành chức năng đã nhận và giải quyết gần 2000 vụ kiến nghị của nhân
dân, kết hợp với tổ hòa giải ở cơ sở hằng năm đã hòa giải hàng trăm vụ
mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, góp phần bảo vệ hạnh phúc của nhiều
gia đình và giữ vững tinh thần ổn định tại các khu dân cư.
10 năm qua toàn huyện đã xây dựng được 113,11 km đường làng,
ngõ xóm bằng bê tông, lát gạch với tổng số tiền trên 153.394 triệu đồng,
trong đó do nhân dân đóng góp trên 100 tỷ đồng. Xây dựng, bổ sung, sửa
đổi hoàn chỉnh được 54/54 bản Qui ước làng, trong đó 05 bản qui ước


45
làng đang được các cấp thẩm định. Xây dựng mới 14 trạm y tế xã, 15/20
điểm bưu điện văn hóa xã, 72 nhà văn hóa thôn, làng. Xây dựng mới
được 69 trường học cao tầng với 630 phòng học với tổng kinh phí là 126
tỷ đồng. Có 10 xã làm tốt 6 việc và 10 xã làm tốt 5 việc.
* Về những việc nhân dân tham gia ý kiến chính quyền quyết định
Các dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quy
hoạch kế hoạch sử dụng đất đai, phương án đền bù đất đai đã được
nhân dân tham gia thảo luận và đóng góp ý kiến. Nhất là cuộc bầu cử
HĐND 3 cấp và các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI, khóa XII,
nhân dân đã phát huy quyền làm chủ của mình, đã lựa chọn và giới thiệu
các đại biểu có đủ tiêu chuẩn, có tín nhiệm với nhân dân tham gia ứng
cử đại biểu HĐND các cấp. Có 10 xã làm tốt 8 việc, 5 xã làm tốt 7 việc
và 5 xã làm tốt 5 việc.
* Về những việc nhân dân giám sát, kiểm tra
Thông qua các kỳ họp HĐND, thông qua Ủy ban MTTQ và các
đoàn thể nhân dân, thông qua các hoạt động của cơ quan kiểm tra Đảng,
các cơ quan chấp hành pháp luật và cơ quan thanh tra Nhà nước, hoạt
động thanh tra nhân dân – Ban giám sát cộng đồng. Nhân dân đã thực
hiện chức năng giám sát của mình đối với các hoạt động của HĐND,
hoạt động của đại biểu HĐND và cán bộ UBND giám sát việc thu, chi
ngân sách xã, quản lý sử dụng đất đai, giám sát kết quả nghiệm thu các
công trình do nhân dân đóng góp xây dựng, thu, chi các loại quỹ và lệ phí
theo quy định của nhà nước.
Qua đó, nhân dân kiến nghị những vụ việc xử lý còn chậm, những
vụ việc mới phát sinh để giúp cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể hoàn
thành nhiệm vụ theo chức năng của mình. 10 năm qua tính đến tháng
10/2008 đã nhận tổng số đơn là 1.032 đơn thư với 359 vụ, thuộc thẩm
quyền cấp huyện là 180 vụ, đã giải quyết 68/98 vụ đạt 70,5%, số vụ



46
còn tồn tại đang được xem xét giải quyết. Có 11 xã làm tốt 10 việc và 9
xã làm tốt 6 việc.
Kết quả điều tra do tác giả thực hiện tháng 5 năm 2010 trên địa
bàn 19 xã và 1 thị trấn của Huyện Hoài Đức như sau:
Trong số 326 cán bộ cơ sở được hỏi thì có tới 261 người đã được
đọc trực tiếp quy chế và 152 người đã trực tiếp tham gia và triển khai
quy chế dân chủ. Đối với 353 người dân thì có 173 người đã nghe nói
đến, 127 người đọc trực tiếp văn bản.
Trong số 353 người dân được hỏi về mức độ tham gia thực hiện
quy chế thực hiện dân chủ của nhân dân, kết quả cho thấy trong lĩnh vực
về dự án xây dựng công trình công cộng có 253 người được biết, 88
người được bàn, 65 người được quyết định,, 46 người được kiểm tra và
31 người không được tham gia. Về lĩnh vực thanh tra, kiểm tra các vụ
tiêu cực có 107 người được biết, 21 người được bàn, 9 người được
kiểm tra nhưng có tới 120 người không được tham gia(xem Phụ lục 3,
mục I, II, III).
Thực hiện các nội dung của phương châm “dân biết, dân bàn, dân
kiểm tra” đã thực sự đi vào cuộc sống, là yêu cầu bắt buộc trong việc
đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Hệ thống chính trị ở cơ
sở đã ngày càng nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của việc thực
hiện phương châm và ngày càng có kinh nghiệm hơn qua thực tiễn hơn
10 năm triển khai và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
2.2.2.2. Kết quả thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở với phát triển
kinh tế - xã hội .
Thời kỳ từ 1998 đến nay là thời kỳ toàn Đảng bộ và nhân dân
thành phố đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinh
thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X. Đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới, khơi dậy tiềm năng và giải phóng sức sản xuất của
nhân dân, cùng với các cơ chế, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, việc


47
phát huy và triển khai quy chế dân chủ ỏ cơ sở đã góp phần huy động
sức dân trong việc phát triển kinh tế - xã hội địa phương và xây dựng các
công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị. Về mục tiêu kinh tế xã hội, cấp
ủy, chính quyền từ huyện Hoài Đức đến các xã, thị trấn trực thuộc đã
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ - thương mại, công nghiệp. Tốc độ
tăng trưởng bình quân 5 năm gần đây là 14,1 %(riêng năm 2007 là
15,9%). Năm 2008, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng theo
hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giảm dần tỷ
trọng nông nghiệp. Công nghiệp – xây dựng ước chiếm 55,15(tăng
14,3% so với năm 1998); thương mại – dịch vụ chiếm 31,955( tăng
8,25% so với năm 1998); nông nghiệp chỉ chiếm 12,95%( giảm 22,55%
so với năm 1998). Năm 2009, kinh tế tiếp tục tăng trưởng ước thực hiện
2.608 tỷ đồng, đạt 98,5% kế hoạch, tăng 11,9% so với năm 2008. Tốc độ
tăng trưởng GDP tăng 13,6% so với năm 2008. Thu nhập bình quân đầu
người năm 2008 là 13 triệu đồng/người/năm., năm 2009 là 15 triệu đồng/
người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo là 5,79%(theo tiêu chí mới). Hiện tại huyện
đang triển khai và thực hiện các dự án phát triển giao thông, các cụm,
điểm công nghiệp, các khu đô thị mới, tổng số là 183 dự án, tổng diện
tích quy hoạch là 3.696 ha. Phát triển 3 tiểu vùng khôi phục các làng
nghề truyền thống: chế biến hàng nông sản thực phẩm, nghề may, dệt
kim, nghề thêu, nghề mộc, đục tượng, nghề sản xuất bánh kẹo, nghề
trồng nấm, mộc nhĩ…Trong nông nghiệp đã xây dựng và phát triển
nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi như mô hình: lợn
hướng nạc, bò sữa, gà ấp trứng, gà thịt, mô hình cây ăn quả, mô hình cây
cam canh, bưởi diễn, mô hình rau an toàn, trồng hoa,…từ đó đã đẩy
nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
đã làm cho bộ mặt nông thôn mới của huyện ngày một thay đổi khang
trang, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện cả về mặt vật


48
chất, văn hóa và tinh thần. Các phong trào văn hóa văn nghệ thể thao tạo
không khí sôi nổi, lành mạnh, các cuộc vận động giúp nhau xóa đói giảm
nghèo, ủng hộ đồng bào gặp khó khăn thiên tai được phát động thường
xuyên. Vấn đề chăm sóc các gia đình chính sách có điều kiện hơn. Kết
quả điều tra cho thấy có đến 291 người trong tổng số 326 người được
hỏi cho rằng tình hình phát triển kinh tế - xã hội của xã, thị trấn có
chuyển biến tốt hơn nhờ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở( xem phụ
lục 3- mục III, bảng 3a).
2.2.2.3. Kết quả thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở với cuộc vận
động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
Thực hiện Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ Chính trị về thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở, các xã, thị trấn của huyện Hoài Đức đã kết hợp
chặt chẽ nội dung thực hiện quy chế dân chủ với phong trào “Toàn dân
đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”(từ tháng 6/2001 là cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”)
nhằm khắc phục những vấn đề không lành mạnh về đạo đức, lối sống
và xây dựng môi trường văn hóa, văn minh trong từng gia đình, làng, xã,
vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh, bài trừ hủ
tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan. Mặt trận Tổ quốc với vai trò, vị trí,
chức năng của chủ thể thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với chức
năng, nhiệm vụ trong cuộc vận động đã tham mưu cho cấp ủy huyện,
xã, thị trấn thành lập Ban chỉ đạo Ban vận động ở mỗi cấp, phối hợp với
các tổ chức thành viên, các ngành lồng ghép chương trình, các phong trào
quần chúng trên địa bàn dân cư để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng
cuộc vận động. Cuộc vận động đã mang lại hiệu quả thiết thực, phát
huy dân chủ, khơi dậy tiềm năng nội lực của nhân dân trong phát triển
kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy các giá
trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng nếp sống văn hóa, góp
phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn, ngăn chặn và đấu tranh phòng


49
chống tệ nạn xã hội. Các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm căp, nghiện ma
túy…ở nhiều khu dân cư đã giảm và không phát sinh thêm.. Qua hơn 10
năm thực hiện Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa,
xây dựng và thực hiện Bản Qui ước làng văn hóa đã được phát động đều
khắp và được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đến nay đã có 54/54 làng
đã xây dựng được bản Qui ước làng, có 29/54 làng đạt tiêu chuẩn làng
văn hóa, 33 cơ quan đạt danh hiệu cơ quan văn hóa, hàng năm có 755 hộ
gia đình đạt gia đình văn hóa. Toàn huyện có 17.566 đối tượng thuộc
diện gia đình chính sách được hưởng chế độ ưu tiên của nhà nước và
1.804 đối tượng xã hội thuộc diện có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó
khăn được hưởng mức trợ cấp thường xuyên. Tiếp tục thực hiện có
hiệu quả phong trào đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo, ngày vì người
nghèo. Hơn 10 năm qua đã xây dựng được 107 ngôi nhà tình nghĩa, nhà
đại đoàn kết, tu sửa được 520 ngôi nhà dột nát trị giá gần 1 tỷ đồng. Đã
giải quyết cơ bản các vấn đề tồn đọng sau chiến tranh. Thông qua hoạt
động của cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư người dân đã thực sự phát huy quyền làm chủ trong lĩnh vực
văn hóa, xã hội, quan tâm hơn tới lợi ích cộng đồng, xây dựng xã hội
thân thiện.
2.2.2.4. Kết quả thực hiện pháp lệnh dân chủ đối với việc củng cố
và nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở, đẩy mạnh cải
cách hành chính.
Việc thực hiện quy chế dân chủ thực sự đã đáp ứng được mong
mỏi của nhân dân đối với những yêu cầu cơ bản nhất trong cách làm
việc, ứng xử của chính quyền cơ sở đối với nhân dân, góp phần quan
trọng vào sự đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự điều
hành, chỉ đạo, quản lý của chính quyền. Chuyển biến rõ nét nhất là sự
thay đổi nhận thức và cách thức, lề lối làm việc của chính quyền theo
hướng dân chủ hơn, công khai hơn. Cán bộ công chức xã, thị trấn đã sâu


50
sát hơn, biết lắng nghe ý kiến nhân dân trong việc xây dựng các mục
tiêu, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Việc thực hiện chức năng công quyền cũng như chăm lo đến quyền lợi
của nhân dân đã minh bạch hơn. Nếu như trước đây chính quyền còn có
biểu hiện hành chính, cửa quyền, áp đặt người dân ít biết đến công việc
của chính quyền thì khi thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” nhân dân đã thực sự được tôn trọng, được chính
quyền lắng nghe và tiếp thu ý kiến. Công tác điều hành, quản lý Nhà
nước của UBND các cấp có chuyển biến. UBND huyện chủ động xây
dựng Kế hoạch thực hiện cơ chế chính sách của Trung ương trong việc
ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích cầu sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội;
các lĩnh vực trọng tâm, phức tạp như quản lý sử dụng đất đai, giải
phóng mặt bằng…dược tập trung giải quyết; duy trì tốt mối quan hệ
chặt chẽ với UBMTTQ và các đoàn thể huyện. Huyện Hoài Đức đã thực
hiện chương trình cải cách hành chính.Triển khai thực hiện Quyết định
số 84/2009/QĐ- UBND của UBND Thành phố về quy định thực hiện cơ
chế “một cửa” để giảm phiền hà, sách nhiễu trong nhân dân; đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin. Tổ chức 26 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho
2.200 cán bộ công chức huyện, xã, thị trấn. Thực hiện phương châm Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ nhận thức như vậy
các cấp chính quyền đã có nhiều chuyển biến rõ rệt trong lề lối làm
việc, phương pháp điều hành và tác phong cán bộ Nhà nước đã sát dân,
gần dân hơn, các cấp chính quyền từ huyện đến cơ sở đã từng bước
nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, đổi mới lề lối làm việc theo lối
dân chủ, công khai hóa, chống được bệnh quan liêu, mệnh lệnh, cửa
quyền, hách dịch, đã từng bước đưa công tác tiếp dân, giải quyết đơn
thư khiếu nại tố cáo của công dân vào nền nếp và theo đúng qui định của
pháp luật. Hơn 10 năm qua, các cấp chính quyền đã xây dựng được Qui
chế tiếp dân, thông báo lịch tiếp dân hằng tuần, phân công cán bộ tiếp


51
dân,. bố trí địa điểm tiếp dân thuận lợi, từng bước chấn chỉnh và lập lại
trật tự, kỷ cương ở nơi tiếp dân. Vì vậy, việc giải quyết đơn thư khiếu
nại tố cáo của công dân cơ bản được thực hiện kịp thời và đúng trình tự
của pháp luật.
2.2.2.5. Kết quả thực hiện pháp lệnh dân chủ đối với việc nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đổi mới hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở gắn với thực hiện cuộc
vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII là một nhiệm vụ
trọng tâm, xuyên suốt của các cấp ủy từ huyện đến các xã, chi bộ thôn,
làng. Các cấp ủy xã, thị trấn đã xác định và nhận thức đúng đắn vị trí, vai
trò và chức năng của đảng bộ xã, thị trấn đối với việc lãnh đạo thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của các tổ chức đảng ở cơ sở là một yêu cầu cấp bách để thực hiện
và đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền và các đoàn
thể nhân dân.
- Đối với tổ chức Đảng: Qua hơn 10 năm thực hiện QCDC ở cơ
sở, các cấp ủy đảng đã chú trọng quán triệt triển khai trong cán bộ đảng
viên và các tầng lớp nhân dân về các quan điểm lấy dân làm gốc, xây
dựng Qui chế phối hợp hoạt động với các tổ chức đoàn thể, xây dựng
mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa đảng với nhân dân, sự gắn bó đó là
nhân tố quyết định hoàn thành các nhiệm vụ về KT-Xh, an ninh quốc
phòng trong hơn 10 năm qua. Các cấp ủy Đảng đã quán triệt đến cán bộ,
đảng viên và nhân dân luôn cảnh giác với âm mưu diễn biến hòa bình
của kẻ địch, kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng tham ô, lãng phí, cơ
hội trục lợi, bảo vệ, giữ vững sự đoàn kết trong Đảng; thường xuyên
quan tâm, chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảm bảo chi bộ
giữ vai trò chính trị hạt nhân lãnh đạo, thực hiện tốt các chủ trương,


52
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các qui định của địa
phương; chấn chỉnh lề lối làm việc và tác phong, phong cách của người
cán bộ, công chức từ huyện đến cơ sở; hệ thống tổ chức chi bộ Đảng và
các đoàn thể được sắp xếp lại theo mô hình thôn, xóm, cụm dân cư, đảm
bảo sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ đối với các chi hội, chi đoàn với
phương châm xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tăng cường triển khai thực hiện
QCDC ở cơ sở về dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Kết quả sau
hơn 10 năm thực hiện QCDC gắn với cuộc vận động xây dựng chỉnh
đốn Đảng huyện ủy Hoài Đức đã triển khai đến 100% tổ chức cơ sở
Đảng, hàng năm việc thực hiện kiểm điểm ở các cấp ủy Đảng và đảng
viên được thực hiện nghiêm túc, đúng qui trình hướng dẫn của Bộ Chính
trị và của tỉnh ủy Hà Tây(cũ). Qua đó đã nâng cao nhận thức một bước
về tư tưởng, chính trị và các quan điểm về đường lối của Đảng đối với
cán bộ, đảng viên trong huyện. Từ đó đã bám sát các chương trình hành
động, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, tích cực giải
quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. 100% cấp ủy đã xây
dựng Qui chế hoạt động của cấp ủy và hoạt động theo Qui chế, đồng
thời những thiếu sót, khuyết điểm của tập thể, của cán bộ, đảng viên đã
được làm rõ để rút kinh nghiệm và đề ra biện pháp sửa chữa. Đối với
một số cấp ủy, đảng viên có dấu hiệu vi phạm, được tiến hành kiểm tra,
xem xét, kết luận và xử lý thi hành kỷ luật theo đúng điều lệ Đảng. Kết
quả trong hơn 10 năm qua đã xử lý kỷ luật Đảng 330 đảng viên, trong đó
cách chức 8, khai trừ 45, cảnh cáo 161, khiển trách 116. Hơn 10 năm qua
đã kết nạp được 1641 đảng viên mới. Kết quả phân loại tổ chức cơ sở
Đảng như sau:
Năm 1998: tổng số tổ chức cơ sở Đảng dự phân loại là 69. Trong
đó số tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh là 14 Đảng bộ, 22 chi



53
bộ, chiếm 52,2%; tổ chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ là 27 Đảng
bộ, chiếm 39,15; tổ chức cơ sở đảng yếu kém là 6 Đảng bộ, chiếm 8,75.
Năm 2007: tổng số tổ chức cơ sở Đảng dự phân loại là 78. Trong
đó số tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh là 55, chiếm 70,5%; tổ
chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ là 27, chiếm 25,6%; tổ chức cơ sở
đảng yếu kém là 3, chiếm 3,8%. Qua điều tra: 282 người trong tổng số
326 người được hỏi đánh giá công tác xây dựng đảng của địa phương có
chuyển biến tốt hơn, 296 người cho rằng lòng tin của nhân dân đối với
Đảng, chính quyền tăng lên nhờ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
( xem Phụ lục 3- mục III, bảng 3a).
- Mặt trận Tổ quốc là một chủ thể đặc biệt trong việc tổ chức
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Nhận thức được vị trí, vai trò
của Mặt trận Tổ quốc đối với việc thực hiện phương châm “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức thành viên đã không ngừng đổi mới và nâng cao chất
lượng hoạt động theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp
hành Trung ương khóa IX. Kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong tổ chức hoạt động, chú trọng nâng
cao chất lượng thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội. Với
vai trò là các tổ chức liên minh các tổ chức chính trị và vai trò thành viên
trong Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở, MTTQ từ huyện đến cơ sở
đã căn cứ vào hướng dẫn của các cấp ủy đảng để xây dựng chương
trình phối hợp với chính quyền các cấp, triển khai Chỉ thị 30 của Bộ
Chính trị, Chỉ thị số 10, thông báo kết luận 159 của Ban bí thư Trung
ương và các Nghị định: NĐ 29, NĐ 79 của Chính phủ, Pháp lệnh 34 của
UB Thường vụ Quốc hội khóa 11, Nghị quyết liên tịch số 09 của Chính
phủ- UBTW MTTQ Việt Nam. Các văn bản, Chỉ thị của tỉnh, huyện về
thực hiện QCDC ở cơ sở đến 20 xã, thị trấn. Năm 2006, tổ chức lấy
phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND và


54
trưởng thôn theo quy định của Nghị định 79- CP ngày 07/7/2003 của
Chính phủ về quy chế dân chủ ở xã và Thông tri 06 ngày 25/01/2005 của
UBTW MTTQ Việt Nam đạt kết quả tốt. Năm 2008, hướng dẫn chỉ đạo
MTTQ các cơ sở tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ
tịch HĐND, UBND các xã, thị trấn. Năm 2009, MTTQ đã tuyên truyền,
vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước và các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Phối hợp,
chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra và giám sát việc thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở; tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các chức danh Chủ tịch, phó
Chủ tịch HĐND&UBND xã, thị trấn; giám sát 214 cuộc về chương trình
kinh tế-xã hội; tổ chức 152 Hội nghị tiếp xúc cử tri với Đại biểu HĐND
các cấp. Vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; vận
động xây dựng quỹ “vì người nghèo” được 769.657.063 đồng; hỗ trợ
xây, sửa 52 ngôi nhà Đại đoàn kết với kinh phí trên 2 tỷ đồng. Tổ chức
03 đợt tập huấn cho 800 cán bộ làm công tác Mặt trận. Mặt khác, tăng
cường công tác chỉ đạo, giám sát và chú trọng đến vấn đề liên quan đến
đời sống và lợi ích của nhân dân. Cùng với chính quyền cơ sở xây dựng
các bản Qui ước, hương ước làng, kiện toàn, củng cố các Ban thanh tra
nhân dân và các tổ hòa giải ở cơ sở. Tuyên truyền, vận động nhân dân
tham gia xây dựng nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội và
mừng thọ đúng với quy định của UBND tỉnh. Vận động nhân dân tham
gia các phong trào đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện, xóa đói giảm
nghèo đạt hiệu quả. MTTQ, các tổ chức thành viên trong hệ thống dân
vận từ huyện đến cơ sở đã tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân ở
các cơ sở xã thực hiện các dự án thu hồi đất để phát triển giao thông, các
cụm, điểm công nghiệp, các khu đô thị mới… Chấp hành chủ trương về
đền bù giải phóng mặt bằng, đồng thời qua công tác vận động để nắm
bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh kịp thời với các cấp
và cũng qua đó để đề xuất những giải pháp xử lý đối với những trường


55
hợp lợi dụng dân chủ không gắn với kỷ cương pháp luật. Phối hợp với
các ngành, các thành viên để xây dựng và thực hiện tốt các chương trình
quốc gia phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt các chỉ
thị, Nghị quyết liên tịch giữa UBTW MTTQ VN với lực lượng vũ trang
và các đoàn thể nhân dân trên mọi lĩnh vực, thực sự là vai trò nòng cốt
trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư”
- Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cũng chú trọng đổi mới và
đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng, đổi mới phương thức
hoạt động với nhiều hình thức phong phú. Liên đoàn Lao động đã phát
huy vai trò quyền làm chủ tập thể của người lao động, tham gia giám sát
việc thực hiện các chế độ, chính sách của cán bộ, công chức, công nhân
viên lao động với các cơ quan hành chính, doanh nghiệp Nhà nước, doanh
nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng lao động trong việc ký kết thỏa ước
lao động tập thể, chế độ làm việc, chế độ nghỉ ngơi, an toàn lao động,
vệ sinh lao động và chế độ BHXH cho người lao động. Thực hiện có
hiệu quả các phong trào thi đua” Lao động sản xuất giỏi, lao động sáng
tạo. Hơn 10 năm qua đã có 4.475 sáng kiến cải tiến kỹ thuật làm lợi trên
12 tỷ đồng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba
cho Liên đoàn lao động huyện, Huân chương lao động hạng nhất, nhì, ba
cho công t y Cổ phần Thực phẩm Minh Dương, phát động phong trào xây
dựng cơ quan văn hoá đã thu hút cán bộ công chức, công nhân viên liên
đoàn tham gia tổ chức công đoàn. Thành lập mới 33 tổ chức công đoàn
ngoài quốc doanh và tổng số đoàn viên công đoàn ưu tú được giới thiệu
kết nạp vào Đảng là 809 đoàn viên. Hội phụ nữ tiếp tục thực hiện có
hiệu quả phong trào thi đua “phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo,
xây dựng gia đình hạnh phúc” và 6 nhiệm vụ của Hội. Hội Cựu chiến
binh phát huy truyền thống anh bộ đội cụ Hồ, tổ chức các cấp đã tích
cực tham gia tuyên truyền, vận động hội viên thực hiện tốt các chương


56
trình phát triển kinh tế - xã hội va an ninh quốc phòng địa phương; phát
huy vai trò bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền các cấp, luôn cảnh giác
với âm mưu diến biến hoà bình của kẻ địch, chú trọng xây dựng và củng
cố tổ chức cơ sở Hội vững mạnh, kết nạp được 3.196 hội viên mới nâng
tỷ lệ hội viên đạt 88,355. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực
hiện QCDC ở cơ sở gắn với 2 phong trào: “Thanh niên lập nghiệp và
tuổi trẻ giữ nước”, các cấp bộ đoàn đã từng bước đổi mới cả về nội
dung và phương thức hoạt động để tập hợp, thu hút thanh niên, tiếp tục
chỉ đạo và thực hiện tốt phong trào thanh thiếu nhi và hoạt động của Hội
Liên hiệp thanh nhiên. Hội nông dân qua hơn 10 năm thực hiện QCDC ở
cơ sở, các cấp hội đã đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất,
kinh doanh giỏi, làm giàu, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông
thôn mới.
2.3. HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI.
2.3.1. Hạn chế.
Việc triển khai, xây dựng thực hiện QCDC ở cơ sở một số xã, cơ
quan và doanh nghiệp Nhà nước chưa nghiêm túc thực hiện dẫn đến tình
trạng một số cán bộ tự đề cao quyền hạn của mình, buông lỏng quản lý
Nhà nước, còn biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời dân, không chịu
lắng nghe ý kiến của nhân dân, chưa thực hiện tốt những nội dung của
QCDC, có tư tưởng cục bộ gây mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
Một bộ phận nhân dân chưa nhận thức đúng đắn vấn đề dân chủ
gắn với kỷ cương, quyền lợi, gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân,
đã lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi ích cá nhân, lợi dụng quyền dân chủ
để yêu sách, cố tình chống đối chính quyền, lôi kéo, kích động quần
chúng để khiếu kiện vượt cấp đông người gây mất trật tự an ninh nơi
công sở, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, chính quyền.


57
Vai trò quản lý Nhà nước của một số cấp chính quyền cơ sở yếu,
bên cạnh đó một bộ phận nhân dân cố tình không chịu hiểu chủ trương,
chính sách pháp luật dẫn đến tình trạng vi phạm luật đất đai, cố tình
không thực hiện các quyết định của Chính phủ về phát triển công
nghiệp, đô thị, đang là vấn đề nổi cộm trong huyện. Do đó, công tác giải
phóng mặt bằng các dự án lớn đang gặp khó khăn.
Nhiều vụ việc tồn đọng do lịch sử để lại khó giải quyết đặc biệt
là vấn đề nhà đất, quyền thừa kế, chế độ khen thưởng huân, huy
chương kháng chiến, chế độ thờ cúng liệt sĩ vì vậy vẫn còn tình trạng
khiếu kiện kéo dài vượt cấp gâu mất trật tự nơi tiếp dân.
Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể đã được đổi mới và chú
trọng nâng cao chất lượng song chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của
thời kỳ đổi mới, tăng tốc phát triển và hội nhập, vẫn mang nặng tính
hình thức, hành chính; ở một số xã yếu, chưa phát huy được chức năng
bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, đồng thời chưa thực sự là lực lượng
nòng cốt trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, quan liêu và các hiện tượng tiêu cực của MTTQ và
các đoàn thể còn hạn chế, hầu như chưa có vụ việc tiêu cực nào bị các
đoàn thể nhân dân phát hiện, tố cáo. Các đoàn viên, hội viên với tư cách
là công dân cũng chưa thực sự phát huy hết quyền và trách nhiệm. Chủ
thể rất quan trọng trong thực hiện pháp luật về dân chủ là nhân dân thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng còn rất nhiều hạn chế.
Một số cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài
quốc doanh, việc triển khai QCDC ở cơ sở đối với những việc phải công
khai đến cán bộ công nhân viên chức và lao động như công khai về tài
chính của cơ quan, chưa thực hiện những việc người lao động được
quyết định và được giám sát như: biểu quyết thông qua thoả ước lao
động tập thể và thực hiện thoả ước lao động tập thể, một số chính sách


58
Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và chế độ thai sản cho lao động nữ
chưa được thực hiện theo quy định.
Đối với ngành giáo dục: một số trường học, việc triển khai thực
hiện Nghị định 71-NĐ/CP và QĐ số 04 của Bộ giáo dục đào tạo chưa
sâu, chưa đồng bộ, nhiều trường hợp thực hiện QCDC còn mang tính
hình thức, chưa bám sát QĐ 04 để xây dựng quy chế trong trường học
nhất là trách nhiệm của hiệu trưởng, bí thư chi bộ nhà trường.
2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế.
Hoài Đức là huyện phát triển mạnh các dự án về công nghiệp, đô
thị và giao thông, hàng nghìn ha đất nông nghiệp bị thu hồi, các chính
sách đền bù, hỗ trợ của Nhà nước còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ,
phần lớn lực lượng lao động nông thôn không có việc làm. Một số doanh
nghiệp sau khi giải phóng mặt bằng không phát triển được sản xuất kinh
doanh đã để đất hoang hoá, trong khi đó thực hiện chủ trương hợp nhất
giữa Hà Tây và Hà Nội. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng bức xúc trong nhân dân.
Một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, thủ trưởng cơ quan, doanh
nghiệp chưa nhận thức đầy đủ Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị và các Nghị
định của Chính phủ do đó ngay từ khi triển khai thực hiện cũng như việc
xây dựng kế hoạch chưa bám sát vào các quan điểm chỉ đạo, chưa phát
huy được quyền dân chủ đại diện và quyền dân chủ trực tiếp. Xây dựng
quy chế chưa phù hợp, chưa gắn dân chủ với kỷ cương xã hội, quyền
hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ, một số nơi còn dập
khuôn theo quy chế của Trung ương, bởi vậy chưa chống được tệ quan
liêu, mệnh lệnh, xa rời dân ở một số cấp chính quyền.
Các quan điểm, chủ trương của Đảng chậm được thể chế hoá, cơ
chế, chính sách tiến hành chưa đồng bộ, nhất là thực hiện QCDC ở cơ
sở còn bộc lộ nhiều thiếu sót, có nơi mang tính hình thức. Sự thiếu nhất
quán trong các chính sách, nhất là chính sách đền bù giải phóng mặt bằng


59
dẫn đến thiếu lòng tin trong nhân dân, phát sinh việc khiếu kiện kéo dài
gây mất trật tự ở địa phương.
Nhận thức và hiểu biết của một số cán bộ(đối với cấp xã) về
QCDC còn hạn chế dẫn tới tổ chức thực hiện không tốt.
Hoạt động của Ban thanh tra nhân dân và tổ hoà giải ở cơ sở còn
hạn chế, chưa phát huy được vai trò trong việc phối hợp để giải quyết
những vụ việc mâu thuẫn, những vụ tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân
dân, do đó đã để cho việc gây mất đoàn kết kéo dài dẫn đến đơn thư
khiếu kiện vượt cấp đông người. Một số Đảng uỷ còn ở loại yếu kém,
chưa phải là chỗ dựa vững chắc cho các đoàn thể hoạt động. Xây dựng
mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền với Mặt trận, các đoàn thể
còn thiếu đồng bộ, các đoàn thể chậm đổi mới cả về nội dung và
phương thức hoạt động, do đó chưa thu hút được quần chúng ưu tú tham
gia hoạt động xã hội.
Ban chỉ đạo thực hiện QCDC từ huyện đến xã hoạt động có lúc
chưa thường xuyên, chưa chủ động xây dựng kế hoạch tự kiểm tra, tự
đánh giá rút kinh nghiệm trong chỉ đạo. Do đó, chưa giúp được cấp uỷ
những hình thức động viên các đơn vị, các cá nhân làm tốt, đồng thời
chưa có các biện pháp tích cực nhằm uốn nắn giúp đỡ những nơi chưa
làm tốt.
Do nhận thức có lúc còn chủ quan, nóng vội, xem nhẹ quyền dân
chủ của nhân dân do đó một số xã thực hiện việc hợp đồng thuê thầu
đất, đun, đốt gạch, thực hiện việc cổ phần hoá lưới điện, triển khai các
dự án xây dựng các cụm, điểm công nghiệp, các khu đô thị mới ở An
Khánh, Lại Yên, An Thượng...thực hiện chưa đúng quy trình, chưa công
khai dân chủ rộng rãi nên nhân dân chưa đồng tình dẫn đến việc khiếu
kiện, chống đối người thi hành công vụ, đã làm ảnh hưởng đến niềm tin
của nhân dân với Đảng, làm giảm uy tín của cán bộ, đảng viên.



60
Đối với loại hình xã, thị trấn chủ yếu vẫn thực hiện xây dựng
QCDC theo Nghị định 29-CP. Bởi vì từ cấp tỉnh, huyện không tổ chức
tập huấn, hướng dẫn thực hiện Nghị định 79-CP mà chỉ triển khai bằng
văn bản đến các ngành, đoàn thể và cơ sở xã, thị trấn.
2.3.3. Bài học kinh nghiệm trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Sau hơn 10 năm thực hiện QCDC ở cơ sở, từ các kết quả đạt
được ở cấp xã, thị trấn, cơ quan và doanh nghiệp trong huyện Hoài Đức,
có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là: Phải đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp
uỷ Đảng. Đây là nhân tố quyết định và đảm bảo cho thắng lợi việc thực
hiện QCDC ở cơ sở. Qua tổng kết hơn 10 năm đã cho thấy ở địa
phương, đơn vị nào cấp uỷ Đảng nhận thức đúng vai trò lãnh đạo trực
tiếp toàn diện và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính
trị(Khoá VIII), các Nghị định của Chính phủ, Pháp lệnh thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn và các văn bản hướng dẫn khác thì ở đó đạt
được kết quả tốt. Còn ở đơn vị nào, địa phương nào chưa thực hiện tốt
vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ Đảng thì ở đó kết quả
thấp.
Hai là: Phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, thị trấn và
thôn ngang tầm nhiệm vụ, có tâm. Cán bộ phải thực sự gần dân, trọng
dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân thì mới có dân chủ thực sự vì
cán bộ là “cái gốc của mọi công việc”. Cán bộ đảng phải có năng lực
lãnh đạo, tầm bao quát và tư duy chính trị sắc bén, là trung tâm đoàn kêt
của đội ngũ cán bộ; công chức chính quyền phải có năng lực quản lý và
điều hành với chuyên môn vững vàng, cán bộ MTTQ và các đoàn thể
phải có năng lực vận động, lôi cuốn, thu hút quần chúng, biết khơi dậy
tìêm năng và điều hoà lợi ích của tất cả các tầng lớp nhân dân trên địa
bàn. Phải thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân vận


61
khéo thì việc gì cũng tốt”. Cán bộ công chức phải công tâm, khách quan,
biết lắng nghe ý kiến của dân, giải quyết công việc thấu tình đạt lý, mọi
công việc phải được giải quyết triệt để, tận gốc không để dân phải thắc
mắc, khiếu kiện. Không để vụ việc từ chỗ dễ giải quyết phải trở thành
“điểm nóng”.
Ba là: Phải đổi mới và nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục
quy định của pháp luật về dân chủ, về quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ
công dân. Thông qua tuyên truyền làm chuyển biến tư tưởng, nhận thức
của cán bộ, đảng viên và nhân dân từ đó thống nhất trong hành động dân
chủ. Công tác tuyên truyền phải được duy trì thường xuyên, liên tục vớí
nhiều hình thức phong phú, coi trọng biểu dương điển hình tiên tiến, nội
dung ngắn gọn, dễ nhớ, dễ làm, để cho nhân dân thấy dân chủ là mục
tiêu và là động lực cho sự nghiệp cách mạng từ đó thu hút sự quan tâm,
kích thích tính tự giác, tích cực của người dân vào các công việc chung
của cộng đồng, tôn trọng pháp luật và có ý thức tham gia xây dựng
Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.
Bốn là: Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh
quốc phòng nâng cao đời sống nhân dân vì kinh tế phát triển mới đảm
bảo cho các hoạt động khác, đảm bảo cho các quyền của dân về văn
hoá, xã hội, trật tự trị an được thực hiện. Kinh tế phát triển mới có điều
kiện nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao dân trí. Thực tế chứng minh
ở xã, thị trấn nào mà điều kiện kinh tế xã hội phát triển, tỷ lệ hộ nghèo
thấp, trình độ dân trí cao thì xã, thị trấn đó thực tốt hơn quyền làm chủ
của dân, việc huy động sức dân có nhiều thuận lợi.
Năm là: Phải thực hiện linh hoạt, sáng tạo nội dung phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, kết hợp hài hoà giữa dân chủ
đại diện và dân chủ trực tiếp, không quá đề cao dân chủ trực tiếp mà coi
nhẹ dân chủ đại diện hay ngược lại, dân chủ nhưng phải đảm bảo kỷ
cương, không ỷ lại cho nhân dân tự lo mà phải định hướng, có trách


62
nhiệm với nhân dân. Các sáng kiến trong nhân dân phải được tiếp thu và
nhân rộng trên cơ sở sơ kết, tổng kết đánh giá kịp thời từng nhiệm vụ
công tác nói riêng và thực hiện dân chủ nói chung.




63
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI


3.1. PHƯƠNG HƯỚNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI.
3.1.1. Tuyên truyền, phổ biến, thực hiện các nội dung của Pháp

luật dân chủ cơ sở đến các tầng lớp nhân dân.
Việc tuyên truyền, phổ biến các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các
văn bản của TW, của thành phố, của huyện về xây dựng, thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở đến cán bộ, đảng viên, cán bộ công chức, công nhân
lao động và nhân dân trong huyện có vai trò rất quan trọng bao gồm: Chỉ
thị số 30-CT/TW, Chỉ thị số 10-CT/TW của Bộ Chính trị, Thông báo, Kết
luận số 159-TB/TW ngày 15/11/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng,
Nghị quyết Trung ương 7(khóa IX), Nghị định 71, Nghị định 07, Nghị
định 87 của Chính phủ và đặc biệt là triển khai thực hiện Pháp lệnh số
34/2007/PL-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 11 về
pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đến tất cả mọi cán
bộ, đảng viên và nhân dân. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trọng tâm là làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh các ngành, các cấp chỉ đạo, rà soát, bổ sung
tiêu chuẩn cụ thể, sát hợp với từng đơn vị để tổ chức thực hiện, tiến
hành đồng thời với việc rà soát, bổ sung quy ước, hương ước. Đối với
việc triển khai thực hiện Nghị định 87/NĐ các ngành liên quan và Liên
đoàn lao động tỉnh cần có kế hoạch chỉ đạo cụ thể đối với các công ty
quốc doanh và ngoài quốc doanh, trọng tâm là hướng dẫn bổ sung các qui
chế, quy định mới, phù hợp với qui định của Nghị định. Đồng thời với
việc triển khai thực hiện Nghị định phải chỉ đạo thành lập các tổ chức


64
đoàn thể, hội, công đoàn trong các đơn vị kinh tế này, nhằm phát huy vai
trò làm chủ và các hoạt động giám sát của người lao động.
Kết hợp lồng ghép tốt các nội dung công tác trên đây, nhất là cuộc
vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” sẽ có
tác động sâu rộng, thiết thực, hiệu quả đối với việc thực hiện các nội
dung của pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
3.1.2. Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đảm bảo an ninh- quốc

phòng, tạo môi trường và động lực cho việc thực hiện pháp luật về
dân chủ cơ sở
Phát động rộng rãi các phong trào thi đua yêu nước trong các tầng
lớp nhân dân nhằm khai thác các nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội,
đảm bảo quốc phòng, an ninh mà trọng tâm là chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, phát triển ngành nghề, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, giải
quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện
tốt cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiện
qui chế văn hóa công sở. Đồng thời với việc phát triển kinh tế-xã hội
cần quan tâm thực hiện tốt các chính sách xã hội, hoàn thành cơ bản việc
xây dựng nhà ở cho hộ nghèo.
Tổ chức tốt việc kiểm tra, tự kiểm tra nắm chắc tình hình cơ sở,
kịp thời phát hiện những vụ việc phức tạp, phối hợp tốt giữa các cấp,
các ngành, các lực lượng giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc khiếu
nại, tố cáo kéo dài về đền bù, giải phóng mặt bằng, không để công dân
tụ tập khiếu kiện đông người, vượt cấp, chủ động xử lý dứt điểm và
đúng luật đối với những vi phạm kỷ luật của tổ chức Đảng, cán bộ,
đảng viên sau khi có kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm
quyền, không để kéo dài.
3.1.3. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng và chính quyền xã, thị trấn thực
sự trong sạch, vững mạnh nhằm nâng cao năng lực, chất lượng,



65
hiệu quả lãnh đạo, quản lý đối với việc thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cơ sở
Thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trong những
năm qua ở huyện Hoài Đức cho thấy, ở đâu tổ chức đảng và chính quyền
cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh thì ở đó năng lực, chất lượng lãnh
đạo, quản lý việc thực hiện pháp luật về dân chủ được thể hiện rõ nét:
từ việc quán triệt đến việc tổ chức thực hiện những nội dung cụ thể của
pháp luật về dân chủ ở cơ sở được triển khai nghiêm túc, chủ động, có
chương trình, kế hoạch cụ thể, hiệu quả lãnh đạo, quản lý công tác này
nâng lên rõ nét. Ngược lại, ở nơi nào tổ chức Đảng, chính quyền yếu
kém, mất đoàn kết, lại tồn đọng các vụ việc tham nhũng, tiêu cực chưa
được giải quyết thì nơi đó tỏ ra thờ ơ với pháp luật về dân chủ, nếu cấp
trên thúc ép phải triển khai thì chỉ làm hời hợt, tắc trách, hình thức, chiếu
lệ cho xong, thậm chí họ rất sợ khi nói đến những yêu cầu, nội dung dân
chủ ở cơ sở quy định trong quy chế, trong pháp lệnh. Chính vì vậy,
muốn đảm bảo thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trước hết phải
quan tâm đến vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng và chính quyền thực
sự trong sạch, vững mạnh. Đương nhiên, chính việc triển khai thực hiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở sẽ có tác động mạnh đến việc củng cố tổ
chức đảng, chính quyền cũng như cả hệ thống chính trị ở xã, thị trấn.
3.1.4. Kiện toàn Ban chỉ đạo, tăng cường kiểm tra, bảo đảm điều

kiện vật chất cho việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
Tiếp tục củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo các cấp, các ngành, thành
viên trong Ban chỉ đạo. Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, các Ban chỉ
đạo tham mưu cho cấp ủy, UBND những giải pháp thiết thực, giải quyết
những vấn đề bức xúc hiện nay ở cơ sở. Ban chỉ đạo các ngành phải chủ
động đi cơ sở chỉ đạo, kiểm tra giải quyết những vấn đề thuộc phần
trách nhiệm của ngành mình đảm nhiệm. Tập trung chỉ đạo việc rà soát,
sửa đổi, bổ sung hương ước, qui ước, quy chế làm việc phù hợp với


66
pháp lệnh và Nghị định mới ban hành, chỉ đạo tốt việc tổng kết, đánh giá
tình hình, kết quả công tác xây dựng cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ
năm 2010, xây dựng kế hoạch hoạt động hoạt động năm 2011, đảm bảo
sát với tình hình cụ thể của cơ quan, đơn vị, địa phương.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo các điều kiện để
thực hiện quy chế dân chủ như sau: xây dựng công sở, xây dựng nơi họp
thôn, đầu tư trang thiết bị cần thiết để đủ điều kiện cho hoạt động và
làm việc của cán bộ công chức và hội họp của nhân dân. Củng cố và
tăng cường hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, tạo điều kiện thuận
lợi để nhân dân và các tổ chức đoàn thể thực hiện chức năng giám sát và
phản biện xã hội.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN
CHỦ CƠ SỞ Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC.
3.2.1. Nâng cao nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về

vai trò, tầm quan trọng và nội dung của pháp luật về dân chủ cơ
sở.
Một trong những nguyên nhân làm hạn chế chất lượng thực hiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở là chủ thể thực hiện pháp luật bao gồm cả
các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở và cấp trên cơ sở, công chức,
cán bộ và nhân dân chưa nhận thức đúng đắn sâu sắc và đầy đủ về vai
trò và tầm quan trọng nội dung của dân chủ nói chung và pháp luật về
dân chủ nói riêng.
Nền dân chủ hiện nay mà chúng ta đã đạt được là thành quả cách
mạng Việt Nam, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Để đảm bảo
có dân chủ thực sự Nhà nước Việt Nam đã ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật quy định quyền làm chủ của nhân dân trong tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Nhờ có pháp luật về dân chủ
mà Nhà nước mới có cơ sở để thiết lập, củng cố, tăng cường quyền lực,
đảm bảo Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, nâng cao trình độ


67
quản lý và thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ công chức, pháp luật
về dân chủ cũng là phương tiện để Nhà nước thực hiện vai trò đại diện
của mình trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội đảm bảo dân chủ đi đôi
với kỷ cương, đảm bảo công bằng xã hội, cũng nhờ có pháp luật về dân
chủ mà mối quan hệ mới về dân chủ được hình thành và phát triển, sự
hoàn thiện pháp luật về dân chủ góp phần nâng cao trình độ dân chủ,
khả năng và trình độ làm chủ của nhân dân. Do đó, để có nền dân chủ
thực sự trên phạm vi cả nước, mỗi địa phương, cơ sở cần nâng cao nhận
thức đúng đắn và đầy đủ cho đội ngũ cán bộ, công chức, nhân dân về vai
trò và tầm quan trọng nội dung của pháp luật về dân chủ, qua đó thúc
đẩy tính tự giác và tinh thần làm chủ của mỗi công dân, mỗi tổ chức
trong hệ thống chính trị đối với việc thực hiện dân chủ.
Đại hội Đảng lần thứ VII chỉ rõ: “Điều kiện quan trọng để phát
huy dân chủ lả xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí trình độ hiểu biết pháp luật
và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân”8
Để nâng cao nhận thức đúng đắn và đầy đủ của các chủ thể thực
hiện pháp luật về dân chủ cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp:
- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo để nâng cao
trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân và đội ngũ cán
bộ, công chức.
- Tiếp tục phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật nói chung và
pháp luật về dân chủ nói riêng một cách thường xuyên bằng các hình
thức phong phú: dạy về dân chủ, quyền làm chủ và trách nhiệm của
công dân ở tất cả các cấp học ngay từ trong trường trung học cơ sở và
trung học phổ thông, biểu dương những địa bàn, khu dân cư thực hiện
tốt dân chủ ở cơ sở, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tổ chức tư
vấn về quyền làm chủ của người dân trong các lĩnh vực liên quan đến
8
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1991, tr 91


68
lợi ích thiết thực, quyền có nhà ở, quyền sử dụng đất, quyền tự do kinh
doanh…Nâng cao hiệu quả sử dụng về chất lượng, số lượng tủ sách
pháp luật, phát các tờ rơi, lập các chuyên mục, chuyên đề về dân chủ
trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức tham quan học tập trao
đổi kinh nghiệm trong thực hiện dân chủ giữa các khu dân cư trong và
ngoài xã, thị trấn.
- Giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự cường của
dân tộc, ý thức tự giác của công dân trong làm chủ vận mệnh của mình
và vai trò của cá nhân đối với cộng đồng xã hội. Thúc đẩy tinh thần dũng
cảm đấu tranh với các biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, tiêu cực, tham
nhũng, lợi dụng dân chủ hoặc vi phạm dân chủ. Kiên quyết bài trừ tư
tưởng cục bộ dòng họ, các hủ tục lạc hậu, câu nệ làm hạn chế tính tự
giác tích cực của nhân dân.
- Thông tin đầy đủ, khách quan về dân chủ tư sản, về dân chủ của
các chế độ chính trị hiện nay trên thế giới để cán bộ, nhân dân hiểu rõ
bản chất dân chủ thực sự của chế độ xã hội chủ nghĩa.
- Xử lý kiên quyết và nghiêm chỉnh những trường hợp vi phạm
pháp luật về dân chủ, vi phạm dân chủ hoặc lợi dụng dân chủ để khiếu
kiện tố cáo không đúng sự thật, bôi nhọ cơ quan và công chức nhà nước
gây chia rẽ bè phái, mất đoàn kết.
- Tiếp tục quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” và thực hiện
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với mọi
công việc, mọi hoạt động của hệ thống chính trị ở xã, thị trấn, tuyên
truyền để mọi người dân hiểu và nắm rõ nội dung, phạm vi của từng
việc biết, bàn, làm và kiểm tra giám sát theo quy định của Pháp lệnh
34/PL về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, từ đó thức đẩy người
dân biết đòi hỏi các chủ thể khác phải thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ
của mình trong bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, khắc phục tình
trạng thờ ơ chính trị, thờ ơ với các vấn đề chung trong cộng đồng dân


69
cư, thờ ơ với các công việc của chính quyền, với chính quyền lợi và
nghĩa vụ công dân của một bộ phận không nhỏ nhân dân.
- Tổ chức thực hiện nghiêm túc cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức và các tầng lớp nhân dân; giáo dục cán bộ, đảng viên nêu cao
vai trò tiền phong, gương mẫu, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống;
ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức lối sống; đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, cơ hội,
thực dụng.
3.2.2. Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống

chính trị ở xã, thị trấn gắn với việc thực hiện nội dung pháp luật
về dân chủ ở cơ sở.
Những năm vừa qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp
nhằm củng cố hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh của nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa. Song, do chưa thể chế hóa đồng bộ đường lối chính sách
của Đảng thành các quy phạm pháp luật nên hoạt động của hệ thống
chính trị còn có những hạn chế nhất định. Nhưng bản thân các điều lệ,
quy chế, nguyên tắc hoạt động của từng tổ chức trong hệ thống chính trị
cũng là yếu tố cơ bản, quan trọng, thúc đẩy và đảm bảo cho hệ thống
hoạt động đúng chức năng, tôn chỉ, mục đích, góp phần lãnh đạo xã hội
phát huy dân chủ. Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định: “Thực hiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn
hệ thống chính trị”9. Sau hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa X về “đổi mới và nâng cao chất
lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, huyện Hoài Đức
đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi, việc triển khai các giải
pháp nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở xã, thị
trấn được cấp ủy từ huyện đến xã, thị trấn quan tâm thực hiện, chất
9
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1991, tr 90


70
lượng hệ thống chính trị ở cơ sở được nâng lên rõ rệt, đội ngũ cán bộ
công chức cơ bản đạt chuẩn theo quy định. Tuy nhiên vẫn còn một số
hạn chế yếu kém cần khắc phục: dân chủ chưa thực sự được phát huy,
chất lượng sinh hoạt Đảng, đoàn thể không cao và thực hiện quy chế
hoạt động, quy chế phối hợp thiếu chặt chẽ, hình thức, hành chính hóa
trong công tác đoàn thể, còn tình trạng quan liêu, các chủ trương, chính
sách của cấp trên mới dừng ở việc triển khai đến chi bộ, Ban công tác
mặt trận, các chi hội đoàn thể ở thôn nhưng chưa đến được nhiều với
dân.
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, huyện Hoài
Đức đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 có 80% trở lên Đảng bộ
xã, thị trấn đạt trong sạch vững mạnh, 90% trở lên các tổ chức chính trị-
xã hội cơ sở đạt vững mạnh. Tỷ lệ thu hút đoàn viên, hội viên đạt 95%,
thanh niên đạt 75%, 80% cán bộ chuyên trách có trình độ chuyên môn Đại
học, 1005 trung cấp lý luận chính trị trong đó có 30% cao cấp lý luận,
100% công chức xã, thị trấn có trình độ chuyên môn đại học và trung cấp
lý luận chính trị, thành thạo tin học văn phòng. Để tiếp tục thực hiện
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020, Chương trình tổng kết cải cách hành chính Nhà nước giai
đoạn 2001-2010, Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị và thực hiện các Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 4,5,6 Ban chấp hành Trung ương khóa X về “đổi
mới và kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng về tổ
chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã
hội”, “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý của bộ máy nhà nước”, “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, “Nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ
cán bộ đảng viên”. Hệ thống chính trị từ huyện đến xã, thị trấn cần thực
hiện tốt các nội dung sau:


71
Một là: Tiến hành rà soát việc thực hiện chức năng nhiệm vụ và
quy chế làm việc của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở xã, thị trấn.
Trên cơ sở đó điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc, quy chế
phối hợp giữa các tổ chức đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy
Đảng và phát huy được tính chủ động của chính quyền và các đoàn thể.
Toàn bộ hệ thống chính trị ở cơ sở phải được đặt trong và bảo đảm cơ
chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” khắc phục
khuynh hướng Đảng buông lỏng lãnh đạo hoặc bao biện làm thay, hạn
chế tính chủ động của các tổ chức khác trong hệ thống.
Hai là: Xây dựng tổ chức đảng thực sự là hạt nhân chính trị. Các
cấp ủy Đảng, tổ chức đảng tăng cường công tác giáo dục chính trị tư
tưởng, chủ động dự báo tình hình để trang bị thông tin có tính định
hướng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, các báo cáo viên, tuyên truyền viên
phải đổi mới hình thức trao đổi thông tin, nâng cao chất lượng thông tin,
chú ý phương pháp tuyên truyền, đối với địa bàn xã, thị trấn cán bộ và
nhân dân có điều kiện nắm nhiều nguồn thông tin thì phải hướng dẫn và
quán triệt quan điểm của Đảng khi tiếp nhận, xử lý và thu thập thông
tin, đối với địa bàn xã thì tổng hợp thông tin để dễ tiếp thu, dễ nhớ. Bồi
dưỡng cho cán bộ, đảng viên kỹ năng lãnh đạo, giải quyết những tình
huống cụ thể xảy ra ở thôn. Nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, xây
dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Xây dựng cấp ủy thực sự
tiêu biểu cho sức chiến đấu của Đảng bộ, chi bộ, đảm bảo tiêu chuẩn
theo quy định của Nghị quyết TƯ 3 khóa VIII. Thực hiện tốt cuộc vận
động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đưa cuộc
vận động đi vào chiều sâu, xây dựng nhiều tấm gương, nhiều điểm sáng
trong phong trào thi đua. Phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của từng
đảng viên trong việc thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, nói đi đôi với làm, đi đầu trong ứng dụng tiến bộ vào sản xuất,
kinh doanh, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói


72
giảm nghèo, làm giàu chính đáng. Củng cố và xây dựng đảng bộ cơ sở
xã, thị trấn, chi bộ thôn thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và tự phê bình, phê
bình trong sinh hoạt Đảng, tăng cường đoàn kết, gắn bó, tình thương yêu
đồng chí trong Đảng. Thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt Đảng và
nâng cao chất lượng sinh hoạt Chi bộ, đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo
dục và tính chiến đấu để mọi đảng viên hiểu và xác định rõ vị trí, nhiệm
vụ của mình trong thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát
huy dân chủ, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Nội dung sinh
hoạt phải thiết thực, thông tin kịp thời đường lối của Đảng, Chính sách
pháp luật của Nhà nước, tình hình thời sự, tập trung thảo luận và giải
quyết kịp thời những vấn đề mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm.
Vấn đề khó khăn nhất hiện nay của các Chi bộ thôn là đội ngũ đảng viên
đa số tuổi cao, sức yếu, khó phân công nhiệm vụ cho đảng viên nên
những nội dung về lãnh đạo phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây
trồng vật nuôi, ứng dụng khoa học kỹ thuật thường lúng túng, triển khai
thực hiện kém hiệu quả. Công tác phát triển đảng viên mới còn chậm,
chưa đáp ứng được yêu cầu do đó cần phải chăm lo công tác phát triển
đảng viên mới, chú trọng về chất lượng thông qua phong trào thực tiễn
của các đoàn thể quần chúng để lựa chọn, bồi dưỡng những hội viên,
đoàn viên ưu tú để kết nạp vào Đảng. Chú trọng công tác kiểm tra và
quản lý đảng viên, nhất là đảng viên công tác trong cơ quan chính quyền,
đảng viên đi làm ăn xa. Kịp thời ngăn chặn vi phạm, giáo dục, răn đe cán
bộ đảng viên có dấu hiệu phai nhạt lý tưởng, thoái hóa biến chất, mất
dân chủ hoặc lợi dụng dân chủ để đả kích, chia rẽ gây mất đoàn kết
trong nhân dân, trong đảng, gây mầm mống “điểm nóng”. Đối với đảng
viên đang công tác tại các cơ quan, doanh nghiệp cư trú trên địa bàn thực
hiện nghiêm túc Quy định 76 QĐ/TW của Bộ Chính trị, thông tin kịp thời
những vấn đề của khu dân cư, giữ mối liên hệ mật thiết, khuyến khích


73
và thu hút đảng viên sinh hoạt tại nơi cư trú đi bầu, gương mẫu và đóng
góp trí tuệ, công sức, tiền của vào việc xây dựng khu dân cư tiên tiến.
Đổi mới việc xây dựng và thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy xã, thị
trấn, chi bộ thôn theo hướng tập trung vào bàn và nghị quyết những nội
dung chuyên đề, thiết thực đối với từng xã, khu dân cư, đảm bảo lãnh
đạo toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội trên địa bàn, những vấn đề
lớn, trọng tâm đã có nghị quyết của Trung ương, của cấp ủy cấp trên thì
xây dựng chương trình và kế hoạch thực hiện, không ra nghị quyết rập
khuôn, máy móc, hình thức.
Đối với những vấn đề lớn đòi hỏi phải có sự phối hợp của tất cả
các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở thì đảng ủy đề ra chủ trương
và giải pháp định hướng cho các tổ chức thành viên bàn biện pháp cụ thể
và tổ chức thực hiện theo chức năng. Đối với những nhiệm vụ thuộc
thẩm quyền của chính quyền và các đoàn thể thì chính quyền và các
đoàn thể chủ động đề xuất biện pháp thực hiện, Đảng ủy cho ý kiến về
những nội dung quan trọng. Các nội dung có liên quan, ảnh hưởng lớn
tới đời sống nhân dân thì cấp ủy chính quyền, các đoàn thể phải tổ chức
lấy ý kiến nhân dân theo đúng quy định của Pháp lệnh 34 về thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Thực hiện đúng quy định của Đảng về
xin ý kiến đóng góp của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, đảng viên
dự bị,quần chúng ưu tú đề nghị kết nạp, ý kiến của các đoàn thể tham
gia xây dựng Đảng. Khắc phục tình trạng kết quả đánh giá phân loại
đảng viên còn hình thức, nể nang, né tránh, chưa sát đúng với tình hình
thực tế của phong trào và kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi
bộ thôn, chi bộ cơ quan xã, thị trấn. Phải thực sự lấy kết quả hoàn thành
nhiệm vụ được giao, tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong gương mẫu
làm thước đo đánh giá phân loại đảng viên. Đối với những đảng viên là
cán bộ nghỉ hưu, sức khỏe yếu và tự nguyện xin miễn công tác và sinh
hoạt thì miễn công tác và sinh hoạt. Những đảng viên 2 năm liền xếp


74
loại vi phạm tư cách thì đưa ra khỏi Đảng bằng hình thức phù hợp. Xây
dựng quỹ khen thưởng hợp lý và kịp thời khen thưởng biểu dương đảng
viên có thành tích xuất sắc, ngoài mức khen do cấp trên quy định, từng
xã, thôn có thể khen thưởng đảng viên, quần chúng có nhiều đóng góp
tích cực trong công tác xây dựng Đảng với mức thưởng thực sự là động
lực thúc đẩy phong trào thi đua. Khắc phục bệnh chạy theo thành tích
trong Đảng, Đảng bộ, chi bộ được đánh giá là trong sạch vững mạnh;
phải thực sự hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, là hạt nhân chính trị ở
cơ sở, lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy dân chủ
ở cơ sở đảm bảo phát triển kinh tế-xã hội với mức tăng trưởng khá và
bền vững, an ninh quốc phòng được củng cố và giữ vững.
Ba là: Đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp, xây
dựng chính quyền xã, thị trấn thực sự của dân, do dân và vì dân, thực
hiện tốt chế độ tự quản của thôn, xóm.
Tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền
xã, thị trấn ban hành, loại bỏ những văn bản hết hiệu lực, nội dung
chồng chéo, trái với nội dung và qui định của cấp trên. Cung cấp cho cán
bộ, công chức đầy đủ thông tin về chính sách pháp luật của Nhà nước
để vận dụng, giải quyết theo chức trách và thẩm quyền. Thực hiện đầy
đủ các nội dung “dân biết, dân bàn”, cán bộ công chức và đại biểu Hội
đồng nhân dân phải thường xuyên gặp gỡ, đối thoại, tiếp thu và kịp thời
giải quyết các vấn đề do các đơn vị đóng trên địa bàn và nhân dân đặt ra
hoặc đang rất bức xúc. Các quyết định hành chính của UBND, Chủ tịch
UBND xã, thị trấn phải đảm bảo tính khách quan, chính xác, đúng thẩm
quyền, đúng thủ tục ban hành. Giải quyết đúng đắn và phối hợp kịp thời
mối quan hệ với tòa án nhân dân, thi hành án dân sự trong việc kiểm kê
định giá tài sản tranh chấp trong các vụ kiện dân sự, cưỡng chế thi hành
án trong giải quyết các vụ án hành chính, lao động, xét xử án hình sự.
Mở rộng và tăng số lượng các phiên tòa xét xử lưu động trên địa bàn.


75
Đẩy mạnh tiến độ thi hành án dân sự có giá ngạch dưới 500.000đ trên
địa bàn xã, thị trấn, rà soát đúng đắn, khách quan các đối tượng thực sự
khó khăn, không có điều kiện thi hành án để giải quyết miễn phí thi hành
án, hạn chế thấp nhất số vụ việc thi hành án còn tồn đọng. Thực hiện
tốt công tác hòa giải ở cơ sở, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện, mất
đoàn kết kéo dài trong nhân dân. Thường xuyên kiểm tra, xin ý kiến góp
ý qua hòm thư góp ý việc cán bộ công chức tiếp nhận và giải quyết công
việc. Xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách
nhiệm, khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được
giao. Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, cải cách hành
chính, coi đây là khâu đột phá trong toàn bộ quá trình thực hiện cơ chế
“một cửa” và “một cửa liên thông” đối với tất cả các công việc của dân.
Giảm hội họp, tăng cường xuống các khu dân cư đối với cán bộ cơ sở,
qui định chặt chẽ và phân công trách nhiệm cụ thể của cán bộ chủ chốt
trong hệ thống chính trị cơ sở với các địa bàn dân cư. Lấy kết quả thực
hiện nhiệm vụ và phát huy dân chủ của địa bàn khu dân cư được phân
công theo dõi, chỉ đạo làm thước đo đánh giá cán bộ, công chức. Bố trí
lịch tiếp dân, địa điểm tiếp dân chu đáo, tiếp tục triển khai ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý hành chính. Chuẩn bị các điều kiện kỹ
thuật, nhân lực để có thể xây dựng được chính quyền điện tử tới cấp xã,
thị trấn. Công khai chi tiết tất cả các khoản thu để nhân dân có điều kiện
giám sát. Chủ động xây dựng đề án về tổ chức lại Hội đồng nhân dân
theo định hướng của Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về đẩy mạnh cải
cách hành chính, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà
nước. Thực hiện tốt dân chủ đại diện, tập trung xây dựng Ủy ban nhân
dân xã, thị trấn đủ mạnh để thực sự vừa làm tốt chức năng quản lý hành
chính Nhà nước, vừa là tổ chức đại diện cho nhân dân, phục vụ và đáp
ứng kịp thời công việc của dân. Tổ chức thực hiện thí điểm việc nhân
dân trực tiếp bầu Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, thị trấn. Phát huy trách


76
nhiệm người đứng đầu trong hệ thống chính trị cơ sở, nhất là trách
nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong thực hiện Pháp
lệnh 34, luật khiếu nại tố cáo, luật phòng chống tham nhũng…
Với vai trò là tổ chức tự quản, đại diện cho nhân dân và chính
quyền xã, thị trấn thực hiện một số nhiệm vụ hành chính tại thôn, xóm,
trưởng thôn là cầu nối giữa chính quyền cơ sở với nhân dân, thôn là nơi
nhân dân tự quyết định các vấn đề của khu dân cư nên việc thực hiện tốt
chế độ tự quản của thôn và giải quyết một số nhiệm vụ hành chính là
một trong những biện pháp hữu hiệu, một yêu cầu nâng cao và phát huy
dân chủ trực tiếp. Để thôn thực hiện tốt chế độ tự quản, giúp chính
quyền xã tổ chức và quản lý đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân,
tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy nội lực của các
tầng lớp nhân dân, phát huy dân chủ thì nâng cao năng lực công tác, vai
trò trách nhiệm của trưởng thôn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Chính
quyền xã, thị trấn cần sâu sát mọi hoạt động của thôn, xóm, phân công
cán bộ phụ trách, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc giúp trưởng thôn trong
thực thi nhiệm vụ. Đối với những công việc khó khăn phức tạp, cán bộ
chính quyền cần sát cánh với các trưởng thôn để cùng giải quyết, khắc
phục tình trạng thờ ở, ỷ lại, bỏ mặc cho cán bộ thôn. Ủy ban nhân dân
xã, thị trấn phải định kỳ tổ chức các hội nghị giao ban với các trưởng
thôn để nắm bắt tình hình và việc điều hành của cán bộ thôn, kịp thời
giải quyết những vướng mắc, kiến nghị của nhân dân. Tập trung rà soát,
xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ thôn, lựa chọn nhân sự trưởng thôn
thực sự là những người gương mẫu, nhiệt tình, trách nhiệm, có uy tín
trong cộng đồng dân cư, từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ thôn. Định kỳ
hàng năm mở các lớp bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ và hoạt động cho
cán bộ thôn. Kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh tăng mức trợ cấp cho
trưởng thôn. Trước mắt, các xã, thị trấn tự cân đối ngân sách xem xét trợ
cấp thêm ngoài chế độ tỉnh quy định để giúp đội ngũ cán bộ thôn thực


77
hiện tốt hơn vai trò, trách nhiệm. Khen thưởng kịp thời cán bộ thôn có
thành tích xuất sắc trong các phong trào, thực hiện nghiêm túc chế độ
bầu và bãi miễn trưởng thôn theo quy định của Pháp lệnh 34 về thực
hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn. Giải quyết hài hòa, đúng mức
mối quan hệ trong công việc hành chính giữa Chủ tịch Ủy ban nhân dân
xã, thị trấn với trưởng thôn trong điều kiện quy định mới của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã không có thẩm quyền cho thôi giữ chức trưởng thôn,
tránh tạo nên sức ỳ trong giải quyết các mệnh lệnh hành chính của chính
quyền nhưng vẫn đảm bảo quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện
của nhân dân.
Bốn là: Đổi mới công tác cán bộ và nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ cơ sở.
Thực tiễn cách mạng trong những năm qua đã chứng minh quan
điểm đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của công
việc”, “cán bộ phải lả công bộc, là người đày tớ trung thành của nhân
dân”. Dù cho pháp luật của Nhà nước có đầy đủ và hoàn thiện đến đâu
nhưng cán bộ yếu kém và sai lệch về nhận thức, năng lực hạn chế thì
pháp luật cũng không thể đi vào cuộc sống hoặc nhận thức đầy đủ
nhưng không thực hiện, nói không đi đôi với làm, thậm chí vi phạm kỷ
luật thì công việc hiệu quả kém đi hoặc mắc sai lầm, khuyết điểm, vi
phạm kỳ luật. Để giải quyết và khắc phục những hạn chế, yếu kém
trong phát huy dân chủ, phát triển kinh tế - xã hội cần thiết phải xác định
lấy công tác cán bộ là một trong những khâu đột phá. Cần phải nâng cao
nhận thức của cấp ủy về công tác cán bộ. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các
Nghị quyết về công tác cán bộ của Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ
làm công tác tổ chức cán bộ. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, tổ
chức chính trị và cơ quant ham mưu về công tác tổ chức cán bộ phải chịu
trách nhiệm liên đới về việc đề bạt cán bộ.



78
Thực hiện quy phạm gắn với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao
chất lượng công tác quy hoạch, bảo đảm quy hoạch “động” và “mở”,
đào tạo phải gắn vơi quy hoạch, khắc phục tình trạng đào tạo tràn lan,
cán bộ đủ bằng cấp nhưng chạy theo tiêu chuẩn một cách hình thức,
thực tế không thạo việc, kỹ năng nghề nghiệp kém. Thu hút cán bộ,
chuyên gia giỏi và tiếp nhận sinh viên được đào tạo chính quy về công
tác tại xã, thị trấn, chấm dứt tình trạng tiếp nhận và tuyển dụng cán bộ
công chức cơ sở chưa có trình độ chuyên môn đại học theo chuyên ngành
phù hợp. Thực hiện phân công, phân cấp quản lý cán bộ công chức xã và
xác định rõ chức trách của từng chức danh. Thực hiện tốt chính sách cán
bộ gắn với bố trí sử dụng và nâng cao chất lượng cán bộ. Đối với số cán
bộ chuyên trách và công chức xã đạt tiêu chuẩn về chuyên môn và lý
luận chính trị trung cấp trở lên nếu dưới 50 tuổi cho đào tạo tiếp, trên 50
tuổi phải nghỉ công tác và được hỗ trợ kinh phí. Kịp thời thay thế những
cán bộ năng lực yếu, 2 năm liền không hoàn thành nhiệm vụ và đưa ra
khỏi bộ máy những cán bộ tham nhũng, lãng phí, sa sút và thoái hóa về
phẩm chất đạo đức, lối sống. Bố trí, sử dụng cán bộ đúng người đúng
việc theo năng lực, sở trường công tác, quan tâm chính sách nhưng không
nặng nề về chính sách trong đề bạt cán bộ, đảm bảo trẻ hóa đội ngũ và
nâng tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ chủ chốt thành phố phải trải qua công tác
tại cơ sở xã, thị trấn. Làm tốt công tác điều động, luân chuyển cán bộ,
thực hiện cơ chế thi tuyển chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý. Thực
hiện điều động cán bộ chủ chốt từ xã này sang xã khác tạo sự liên thông
trong đội ngũ cán bộ công chức trong huyện.
Năm là: Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng của Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn huyện.
Với vai trò rất quan trọng trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở
xã, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cần phải tiếp tục đổi
mới phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động. Chỉ thị 30 của Bộ


79
Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ đã nêu rõ trách
nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm
ba việc: Phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội
viên, đoàn viên và nhân dân chỉ thị này và các quy chế dân chủ ở cơ sở,
làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân,
quyền của các tổ chức chính trị xã hội đã được quy định trong quy chế
dân chủ và giám sát thực hiện các quy chế dân chủ ở cơ sở. Để thực
hiện tốt vai trò, trách nhiệm đã được thể chế hóa trong Nghị định 29,
Nghị định 79 và nay là Pháp lệnh 334, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị xã hội ở cơ sở xã, thị trấn cần phải tiếp tục triển khai các nội
dung sau:
+ Nâng cao trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội trong xây dựng khối đạo đoàn kết toàn dân, tổ chức và
vận động nhân dân thực hiện tốt pháp lệnh thực hiện dân chủ, phản ánh
ý kiến của nhân dân về xây dựng Đảng và chính quyền, phát giác các
hành vi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đi ngược lại với lợi ích
của nhân dân. Tham gia giải quyết các mâu thuẫn trong nhân dân, những
khiếu kiện, thắc mắc của nhân dân đối với cán bộ cơ sở, với chính
quyền xã, thị trấn, thôn. Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội phải thể
hiện được vại trò của mình đối với nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân
dân và thu hút, lôi cuốn quần chúng vào các hoạt động của mình. Mặt
trận Tổ quốc phải thực sự là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự
nguyện rộng rãi nhất, tập hợp và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
+ Đổi mới phương thức hoạt động, tập trung xây dựng chương
trình công tác cụ thể gắn với từng địa bàn khu dân cư, từng đối tượng
hội viên, đoàn viên. Từng tổ chức thành viên của Mặt trận phát huy tính
chủ động nhưng đặt trong sự phối hợp chặt chẽ, tất cả chương trình
vận động đều nhằm một mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ chính trị của


80
toàn hệ thống Đảng, chính quyền, đoàn thể. Khắc phục triệt để bệnh
hành chính hóa công tác đoàn thể. Các tổ chức Hội phụ nữ, Hội nông
dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên căn cứ vào chức năng nhiệm
vụ, đặc điểm riêng và lợi thế của tổ chức để xây dựng chương trình vận
động phù hợp, tập trung vào việc đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
Thực hiện có hiệu quả, thực chất trên cơ sở tự nguyện tự giác của nhân
dân trong các cuộc vận động mang tính chất xã hội từ thiện.
+ Tiếp tục phổ biến tuyên truyền mục đích hoạt động, nội dung
điều lệ của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, để từng
thành viên, đoàn viên, hội viên nắm được nguyên tắc hoạt động, quyền
và trách nhiệm khi tham gia công tác. Phấn đấu tăng số lượng đoàn viên,
hội viên và quản lý chặt chẽ, quan tâm bồi dưỡng để nâng cao năng lực
vận động nhân dân cho đội ngũ cán bộ không chuyên trách, cán bộ đoàn
thể ở thôn
+ Tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, thực
hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc ở
cơ sở. Các tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý Nhà nước theo luật
định, thực hiện tốt các quy chế phối hợp công tác các nghị quyết, thông
tư liên tịch đã ký kết.
+ Phân cấp rõ rang và đảm bảo nguồn kinh phí từ ngân sách để
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở xã, thị trấn
chủ động trong hoạt động trên cơ sở dự toán ngân sách hàng năm đã
được Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thông qua. Khắc phục tình trạng
“xin – cho” giữa các tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền xã, thị
trấn. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên phải tự cân đối kinh
phí hoạt động trên cơ sở thu đủ đoàn phí, hội phí, minh bạch trong quản
lý hội phí, đoàn phí và các khoản hỗ trợ, quyên góp. Các tổ chức thực
hiện tín chấp cho đoàn viên, hội viên vay vốn phải có trách nhiệm với


81
các tổ chức tín dụng, các dự án cho vay trong việc quản lý vốn vay và thu
hồi vốn.
Sáu là: Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên đối
với cơ sở
Đổi mới việc triển khai nghị quyết, chủ trương của cấp trên đến
cơ sở và nâng cao chất lượng nghị quyết, chất lượng các kế hoạch,
chương trình công tác của hệ thống chính trị cấp trên cơ sở, đảm bảo sát
thực tiễn, dễ nhớ, dễ thực hiện, đáp ứng được các yêu cầu của cơ sở và
nhân dân, đối với những chủ trương lớn cần chỉ đạo làm điểm rút kinh
nghiệm trước khi triển khai ra diện rộng. Tiếp tục đẩy mạnh việc phân
cấp cho cơ sở trong các lĩnh vực: quản lý ngân sách, đầu tư xây dựng cơ
bản, giải phóng mặt bằng, quản lý cán bộ công chức, viên chức giáo dục
và y tế…Các phòng, ban, đoàn thể huyện phải phối hợp chặt chẽ và
thống nhất trong chỉ đạo cơ sở và giải quyết các vụ việc tồn đọng. Cán
bộ huyện phải tăng cường đi cơ sở, gắn trách nhiệm cá nhân trong phụ
trách cơ sở, trong đánh giá cán bộ hàng năm phải kiểm điểm nghiêm túc
kết quả theo dõi, chỉ đạo và thực hiện các chương trình công tác tại cơ
sở. Khắc phục tình trạng quan liêu, hành chính hóa công tác đoàn thể,
công văn giấy tờ và hội họp nhiều nhưng tình hình cơ sở không chuyển
biến, phải tìm được các biện pháp phù hợp với từng cơ sở. Tăng cường
công tác kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước tại cơ sở, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong công
tác. Kiên quyết và nhất quán trong chỉ đạo cơ sở. Tập trung chỉ đạo và
tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị yếu kém, giải quyết triệt để các vụ việc
nổi cộm kéo dài, các kết luận sau thanh kiểm tra phải được thi hành
nghiêm túc và triệt để. Tiến hành đánh giá phân loại các tổ chức trong hệ
thống chính trị cơ sở, đánh giá cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt
một cách nghiêm túc khách quan, đúng chất lượng, không hình thức và
không chạy theo thành tích. Khắc phục tình trạng thi đua khen thưởng


82
không sát với tình hình thực tế, tình hình cơ sở còn nhiều yếu kém nhưng
vẫn được cấp xét khen thưởng, kết quả thi đua thiếu vững chắc, không
thực sự là điển hình để các đơn vị khác học tập. Thực hiện tốt quy chế
phối hợp giữa khen thưởng của chính quyền với khen thưởng của các tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
3.2.3. Gắn việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở với việc

phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng.
Sự phát triển của dân chủ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế
- xã hội, năng lực nhận thức của công dân và chính quyền do đó thực
hiện dân chủ không thể tách rời phát triển kinh tế - xã hội. Không có dân
chủ trong điều kiện đói nghèo, an ninh không được đảm bảo, người dân
chỉ có thể phát huy quyền làm chủ khi nỗi lo mưu sinh không còn là nỗi
lo thường trực. Phát huy dân chủ để phát triển kinh tế - xã hội và phát
triển kinh tế - xã hội để đảm bảo điều kiện cho dân chủ là yêu cầu, mục
tiêu hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị. Huyện Hoài Đức là một
huyện có các điều kiện kinh tế - xã hội khá thuận lợi song so với yêu
cầu, tiềm năng, lợi thế thì sự phát triển chưa tương xứng, phát huy dân
chủ cũng còn nhiều hạn chế, chưa thực sự phát huy được sức sản xuất
và khả năng lao động sáng tạo trong nhân dân để làm giàu, trách nhiệm
và nghĩa vụ công dân chưa được thực hiện triệt để. Huyện Hoài Đức
cần tập trung triển khai thực hiện các biện pháp phát triển kinh tế - xã
hội gắn với củng cố an ninh quốc phòng, phát huy và đảm bảo quyền
dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, đảm bảo chính sách xã hội và tạo được
môi trường ổn định về an ninh, trật tự để nhân dân yên tâm lao động, sản
xuất, kịp thời giải quyết những vướng mắc của nhân dân, chăm lo và
bảo vệ lợi ích của nhân dân, nhất là nhân dân phải thu hồi đất, tái định
cư trong thực hiện giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án.
Trước hết, chính quyền từ huyện đến xã, thị trấn phải thực hiện
nhất quán chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về


83
sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, quan tâm đúng mức đến sự
phát triển của doanh nghiệp tư nhân, các hộ cá thể, tiểu chủ, hoàn thành
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế và
hộ gia đình, tạo điều kiện thu hút đầu tư trên địa bàn. Đảm bảo quyền
của pháp nhân, thể nhân trong lĩnh vực kinh tế. Công tác quy hoạch phải
đảm bảo đồng bộ, chú ý bố trí dành quỹ đất để xây dựng các thiết chế
văn hóa, các công trình phúc lợi cho nhân dân. Quy hoạch phát triển
thương mại, dịch vụ trên cơ sở phát huy thế mạnh của người dân trong
các lĩnh vực: bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng, nhà đất, lao
động. Quy hoạch, bảo vệ và tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử, văn hóa
tâm linh nhằm phục vụ và đảm bảo quyền của nhân dân trong lĩnh vực
văn hóa, tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Tiếp tục đẩy nhanh tốc độ công
nghiệp hóa, tập trung phát triển để huyện Hoài Đức trở thành huyện có
ngành dệt may phát triển. Phát triển các làng nghề như Dương Liễu,
Minh Khai, Cát Quế…Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi, rà soát điều chỉnh lại quy hoạch xây dựng, các đề án phát triển
nông nghiệp của huyện, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm
phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có chất lượng cao.
Thực hiện nghiêm túc luật ngân sách Nhà nước, công khai tình hình ngân
sách xã, thị trấn, công khai mức thuế của các hộ kinh doanh trên địa bàn,
đảm bảo không thất thu và đảm bảo lợi ích của người nộp thuế. Kiên
quyết xử lý những trường hợp lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép,
không phép, vi phạm quy hoạch. Ứng dụng công nghệ tin học vào công
tác quản lý đất đai. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục.
Kêu gọi và thu hút đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo dạy nghề.
Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống loa truyền thanh xã, thị trấn và
khai thác có hiệu quả. Đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây mới bệnh viện
huyện và các trung tâm y tế dự phòng. Xây dựng các chương trình giải
quyết việc làm, xóa đói và giảm nghèo bền vững. Đẩy nhanh tiến độ


84
thực hiện chương trình xóa nhà tranh tre, dột nát, ổn định đời sống nhân
dân. Thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách ưu đãi các gia đình thương
binh liệt sĩ, người có công với cách mạng, người tàn tật và cứu trợ xã
hội. Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động và giải quyết việc làm.
Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm
của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân nhân đối với công tác phòng
chống tệ nạn xã hội.
Thực hiện tốt các biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông. Tiếp
tục thực hiện chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, tuyên truyền
vận động nhân dân tham gia phát hiện, tố giác tội phạm, quản lý, cảm
hóa, giáo dục người vi phạm pháp luật. Xây dựng lực lượng tuần tra
nhân dân ở các thôn, xóm, các mô hình phong trào quần chúng tự quản
trong công tác phòng chống tội phạm có hiệu quả. Tiếp tục thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về
chiến lược bảo vệ Tổ quốc và quy chế phối hợp giữa lực lượng công an
và quân đội về đảm bảo an ninh quốc gia. Đẩy mạnh và nâng cao chất
lượng hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trong các nhà
trường, quản lý và huấn luyện thường xuyên lực lượng dân quân tự vệ
và dự bị động viên, thực hiện có hiệu quả “chiến lược an ninh quốc gia”
và “chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới” tăng cường các biện
pháp giải quyết ổn định các vấn đề nổi cộm về an ninh, mâu thuẫn
khiếu kiện đông người. Tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết khiếu
nại tố cáo, đảm bảo giữ vững an ninh cơ sở, không để xảy ra “điểm
nóng”. Tiếp tục đổi mới phương pháp hoạt động của lực lượng công an
trên cơ sở phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, xây dựng thế
trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, tăng cường
các biện pháp vận động nhân dân, dựa vào nhân dân để nắm tình hình kịp
thời phát hiện mọi âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch và tội
phạm. Thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh trật


85
tự, cải cách hành chính và thực hiện cơ chế “một cửa” trong đăng ký hộ
khẩu, cấp chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận điều kiện về an ninh
trật tự gắn trách nhiệm của cảnh sát khu vực, của công an xã với địa bàn
dân cư. Thực hiện tốt công tác khoán việc, khoán địa bàn và kiến nghị
đổi mới tổ chức hoạt động của công an phường theo hướng lập đồn
công an khu vực, đưa lực lượng công an xã vào hoạt động chính quy.
3.2.4. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống quan liêu, tham

nhũng, lãng phí, xây dựng chính quyền cơ sở thực sự trong sạch
vững mạnh.
Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã yêu cầu “toàn Đảng,
toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội phải có quyết tâm chính trị cao
đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí”10 thể hiện quyết tâm chính trị đó,
Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa X đã thảo luận và ra
nghị quyêt về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng
chống tham nhũng, lãng phí” nhằm tạo chuyển biến rõ rệt đảm bảo xây
dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân
với chế độ. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng lãng phí là cuộc đấu tranh
khó khăn và phức tạp đòi hỏi phải có sự quyết tâm cao của toàn bộ hệ
thống chính trị và phải được nhân dân đồng tình ủng hộ, phải dựa chắc
vào nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân trong phát hiện, tố giác và
đấu tranh với các hành vi tham nhũng lãng phí, vì bất cứ một công trình,
dự án đầu tư nào cũng đều diễn ra ở một địa bàn dân cư, một địa
phương cơ sở nhất định, mọi hoạt động, lối sống, quan hệ của cán bộ
công chức đều không thoát ly khỏi cuộc sống và mối quan hệ đời
thường. Phần lớn các vụ tham nhũng, lãng phí đều được xem xét xử lý
do quần chúng nhân dân phát hiện, tố cáo. Ngân sách Nhà nước do nhân
dân đóng thuế và phải phục vụ cho lợi ích của xã hội, hoạt động của
Nhà nước phải thực sự vì dân, người dân có quyền đòi hỏi Nhà nước
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia,
10

Hà Nội, 2006


86
phải trong sạch vững mạnh, đội ngũ cán bộ, công chức phải thực sự là
công bộc của dân. Cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng lãng phí
đòi hỏi phải tiến hành và thực hiện nghiêm túc các giải pháp đồng bộ mà
Nghi quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa X đề ra,
theo đó, hệ thống chính trị ở cơ sở phải thực hiện tốt các nội dung sau:
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức
trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân về công tác
phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Phải làm tốt các nội dung sau đây:
Thứ nhất: Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân xã,
cơ quan, đơn vị , doanh nghiệp, tổ chức triển khai, quán triệt kịp thời,
sâu rộng nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 3 khóa X, Luật
phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đến
cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân.
Thứ hai: Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, Đài truyền thanh
huyện, xã, thị trấn tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến quan
điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về
phòng chống tham nhũng, lãng phí. Phối hợp với các đài, báo của Trung
ương, địa phương nêu gương người tốt, việc tốt và kịp thời phê phán, lên
án các cơ quan, đơn vị, cá nhân vi phạm Luật phòng chống tham nhũng,
Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Cụ thể như sau:
- Ban hành các văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện pháp luật
phòng, chống tham nhũng lãng phí.
- Ủy ban nhân dân huyện rà soát lại các văn bản do Hội đồng nhân
dân huyện ban hành; kiến nghị hủy bỏ hoặc bổ sung, sửa đổi những nội
dung, quy định không còn phù hợp với nghị quyết của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước còn chồng chéo, sơ hở đến các tổ chức, cá nhân
lợi dụng nhũng nhiễu gây khó khăn để tham nhũng, lãng phí.
Thứ ba: Tổ chức thực hiện các quy định về kê khai tài sản; trách
nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng, lãng


87
phí trong cơ quan, đơn vị do mình phụ trách; quy định chế độ hội họp,
đón tiếp khách; Quy định về việc kỷ niệm các ngày truyền thống, lễ hội,
đón nhận danh hiệu anh hung, đón nhận huân chương…Rà soát bổ sung,
sửa đổi, hoàn thiện hệ thống các định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu
ngân sách, trang bị tài sản, thiết bị làm việc thuộc thẩm quyền của
huyện ủy ban hành; đảm bảo thiết thực, hiệu quả.
Thứ tư: Ủy ban nhân dân huyện chủ trì phối hợp với Ban tuyên
giáo huyện ủy, các đoàn thể nhân dân hướng dẫn xây dựng cốt cách
người dân huyện; Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm
việc trong cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội
– nghề nghiệp.
Các cơ quan, tổ chức, đơn vị rà soát, bãi bỏ hoặc bổ sung, sửa đổi
những văn bane, quy định do mình ban hành không còn phù hợp; cải tiến,
hệ thống hóa những quy định về trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết
công việc, rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy trình làm việc, quy trình công
tác cho phù hợp với quy định của Luật phòng chống, chống tham nhugx,
Luật, Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Xây dựng cơ chế kiểm tra,
giám sát cán bộ, công chức trong tiếp nhận và giải quyết công việc của
tổ chức và công dân, xây dựng, ban hành công khai quy chế chi tiêu nội
bộ các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong cơ quan, đơn vị.
Thứ năm: Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, nâng cao tính
tiền phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên, đề cao vai trò
của chi bộ trong quản lý giáo dục đảng viên, cụ thể là:
- Huyện ủy, đảng ủy, chi ủy trực thuộc có trách nhiệm lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng lãng phí, coi đây là
nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng
viên.
- Đảng viên, cán bộ, công chức phải thường xuyên tự tu dưỡng
bản thân, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, tích cực thực hiện nhiệm


88
vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị, giải quyết tốt các
quan hệ hành chính, tôn trọng pháp luật, sống có kỷ luật, kỷ cương.
- Ủy ban kiểm tra huyện ủy và cấp ủy cơ sở xác định rõ nhiệm vụ
phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tập trung vào các lĩnh vực đất đai, tài
chính – ngân sách, xây dựng cơ bản, tổ chức cán bộ, tuyển dụng, tuyển
sinh, tố tụng, giải quyết khiếu nại, tố cáo thanh tra, kiểm tra, kiên quyết
xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, lãng phí của tổ
chức đảng và đảng viên.
- Ban tổ chức huyện ủy tham mưu cho Ban Thường vụ huyện ủy
điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi các quy chế, quy định về phân công, phân
cấp tổ chức bộ máy và cán bộ; đánh giá và bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán
bộ. Thực hiện xử lý nghiêm quy định về xử lý trách nhiệm người đứng
đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng, lãng phí.
- Tiếp tục thực hiện tốt Quy định 76 của Bộ Chính trị, chi bộ
Đảng phải nắm chắc việc thực hiện nhiệm vụ và quan hệ xã hội của
từng đảng viên; giáo dục, nhắc nhở, kiểm tra kịp thời, xử lý những đảng
viên có dấu hiệu vi phạm. Nghiêm cấm tổ chức đảng, đảng viên bao che
cho những hành vi tham nhũng, lãng phí.
- Nâng cao tính chiến đấu, thực hiện dân chủ, công khai, tự phê
bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng theo phương châm: “Trên trước,
dưới sau, trong trước, ngoài sau”. Hàng năm cấp ủy nhận xet, đánh giá
đảng viên phải có nội dung về thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng
phí.
- Hàng năm, cán bộ chủ chốt cơ sở phải trực tiếp tự phê bình và
phê bình tại hội nghị đại diện cho nhân dân do Mặt trận Tổ quốc tổ
chức.
Thứ sáu: Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các
cơ quan, đơn vị; tăng cường giám sát các cơ quan dân cử; phát huy vai trò



89
của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại
chúng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Cụ thể như sau:
- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện nghiêm túc các quy định
về công khai, minh bạch theo pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản
lý cấp trên; có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động của mình
cho các cơ quan, tổ chức, các đơn vị khác và nhân dân theo quy định của
pháp luật; có trách nhiệm làm rõ, trả lời những nội dung báo chí nêu, trả
lời các yêu cầu, đề nghị của các cơ quan báo chí về nội dung liên quan
đến tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.
- Tăng cường công tác giám sát của các ban và của đại biểu Hội
đồng nhân dân huyện và các xã, thị trấn đối với hoạt động của các cơ
quan, đơn vị và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức
thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và việc thực hiện phòng,
chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chất vấn của
các đại biểu Hội đồng nhân dân tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân
các cấp.
- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tạo điều kiện thuận
lợi để Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
quần chúng thực hiện chức năng giám sát theo pháp luật; thực hiện tốt
quy chế dân chủ ở cơ sở và quy chế giám sát cộng đồng; nâng cao hiệu
quả hoạt động của tổ chức thanh tra nhân dân.
- Ban Tuyên giáo, Trung tâm bồi dưỡng chính trị, Đài truyền thanh
huyện, xã, thị trấn có trách nhiệm tuyên truyền phổ biến kịp thời đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thông tin
kịp thời, đầy đủ, trung thực các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực đến
các tầng lớp nhân dân, góp phần định hướng dư luận trong xã hội.
Thứ bảy: Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng



90
phí. Tập trung phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong các ngành và lĩnh
vực trọng điểm. Cụ thể như sau:
- Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện có kế
hoạch phân công lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
thực hành tiết kiệm.
- Các ngành công an, Kiểm soát, Tòa án, Thanh tra, Ủy ban Kiểm
tra huyện ủy căn cứ các chức năng, nhiệm vụ, có sự phân công lãnh đạo
công tác phòng, chống tham nhũng. Đồng thời phải rà soát, củng cố và
nâng cao năng lực đội ngũ của các ngành đảm bảo đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng.
- Các cơ quan, đơn vị tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc
tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí còn tồn đọng và mới phát sinh từ cơ
sở, xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham
nhũng, tiêu cực, không kể chức vụ, nghỉ hưu hay chuyển công tác khác
theo quy định của pháp luật.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng ngừa, thanh tra,
kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử các hành vi tham nhũng, lãng phí. Ủy
ban kiểm tra Đảng từ huyện đến các xã, thị trấn phải nâng cao trách
nhiệm, chủ động phát hiện, xử lý tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi
phạm trong thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công an huyện
chủ động thực hiện tốt công tác phòng ngừa, nâng cao biện pháp nghiệp
vụ nhằm phát hiện, điều tra kịp thời, nghiêm minh theo pháp luật các vụ
việc tham nhũng, tiêu cực. Thanh tra huyện: tăng cường thanh tra kinh tế
- xã hội, tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm là đầu tư xây dựng cơ bản,
quản lý và sử dụng đất đai, quản lý thu – chi ngân sách, quản lý tài sản
công, các công trình dự án có dấu hiệu tiêu cực, nhằm nâng cao hiệu quả
đầu tư, chống thất thoát, lãng phí; tổ chức thanh tra việc thực thi công vụ
ở các lính vực: quản lý đất đai, cấp phép đầu tư xây dựng, cấp giấy



91
chứng nhận quyền sử dụng đất, tổ chức đấu thầu; quản lý hộ tịch, hộ
khẩu, tuyển sinh; tiếp nhận, điều động cán bộ, công chức.
3.2.5. Kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất những

kiến nghị nhằm từng bước bảo đảm thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cơ sở.
Thực tiễn sinh động là nơi kiểm nghiệm đúng đắn nhất mọi chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Theo
quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin , tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội nhưng ý thức xã hội có thể tiến bộ hơn tác động trở lại đối với
tồn tại xã hội. Do đó, việc thường xuyên sơ kết, tổng kết để rút kinh
nghiệm,từng bước hoàn thiện pháp luật về dân chủ nói chung và dân chủ
ở cơ sở là một giải pháp góp phần nâng cao và đảm thực hiện pháp luật
về dân chủ. Pháp luật về dân chủ bao gồm nhiều văn bản quy phạm
pháp luật khác nhau nhưng chủ yếu được quy định tại Nghị định 29,
Nghị định 79 và nay là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị
trấn.
Quá trình hoàn thiện quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ
ở cơ sở đang từng bước được nghiên cứu song bên cạnh việc hoàn thiện
và nâng giá trị pháp lý ở mức xây dựng luật thực hiện dân chủ bao gồm
cả điều chỉnh việc thực hiện dân chủ và loại hình cơ sở khác thì cần
thiết phải tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật khác có
liên quan và điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, quyền
làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực. Quá trình tổng kết thực tiễn
gắn với việc hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực pháp lý cao hơn, tiến bộ
hơn sẽ đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của pháp luật. Do đó, để
từng bước hoàn thiện và đảm bảo sự đồng bộ trong việc thực hiện pháp
luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, chúng tôi kiến nghị cần phải điều



92
chỉnh, bổ sung, hoàn thiện và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
sau:
- Nghiên cứu, bổ sung sửa đổi Hiến pháp
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
qui định các quyền cơ bản của công dân, tổ chức bộ máy nhà nước và
chế độ bầu cử…Theo đó hệ thống tổ chức bộ máy vẫn theo hệ thống
hành chính bốn cấp cho cả các cơ quan quyền lực, quản lý hành chính
nhà nước, cơ quan tư pháp. Song với việc thực hiện Nghị quyết Trung
ương 4 khóa X về cải cách hành chính và bộ máy nhà nước và thực hiện
thí điểm bỏ Hội đồng nhân dân ở quận, huyện, phường thì cần thiết
phải có rút kinh nghiệm và sửa đổi Hiến pháp để làm cơ sở cho việc
điều chỉnh bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật khác.
- Xây dựng và ban hành luật trưng cầu dân ý
Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa được xây dựng nhằm phát
huy dân chủ cao độ và đang từng bước được hoàn thiện, pháp luật Việt
Nam đã quy định nội dung của quyền dân chủ, các yêu cầu đảm bảo
thực hiện dân chủ, cách thức tổ chức thực hiện dân chủ, song một trong
những chế định quan trọng để đảm bảo quyền dân chủ trực tiếp, để
nhân dân tự lựa chọn quyết định và thể hiện ý chí của mình đối với
những vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương thì chưa có. Cùng
với sự phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí đang ngày càng được
nâng cao đảm bảo cho năng lực tự quyết định, lựa chọn những vấn đề
“quốc kế, dân sinh” của nhân dân có điều kiện hơn, đã đến lúc cần thiết
phải ban hành luật trưng cầu dân ý để quy định rõ rang những vấn đề
nào nhà nước phải đưa ra để nhân dân thảo luận và biểu quyết, trình tự,
thủ tục, hệ quả pháp lý của cuộc trưng cầu dân ý…
- Tiếp tục hoàn thiện luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và luật bầu
cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp



93
Việc thực hiện bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng
nhân dân hiện nay còn rất nhiều hạn chế cả về thể chế và tổ chức thực
hiện, vì nhiều lý do, trong đó cả bệnh hình thức, thành tích trong công tác
vận động và tổ chức bầu cử mà nhiều địa phương chưa có báo cáo hết
những hạn chế trong thực hiện. Do đó cần tổng kết thực hiện luật để
tiếp tục bổ sung, hoàn thiện luật bàu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu
Hội đồng nhân dân các cấp theo hướng dân chủ, thực sự tăng trách
nhiệm và rang buộc về mặt pháp lý của các đại biểu dân cử với cử tri,
quy định rõ hơn về tranh cử, về chương trình hành động của ứng cử
viên, quy định những chức danh nhân dân bầu trực tiếp…trên cơ sở tiếp
tục giữ vững nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và
bỏ phiếu kín.
- Tiếp tục hoàn thiện luật Mặt trận Tổ quốc, Luật khiếu nại tố
cáo, Luật phòng chống tham nhũng và các văn bản quy phạm pháp luật
khác
Việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trên đảm bảo
cho nhân dân thực hiện tốt chức năng giám sát các đại biểu dân cử và cơ
quan nhà nước, xây dựng nhà nước thực sự trong sạch vững mạnh của
dân, do dân và vì dân.
Huyện Hoài Đức với vị trí, vai trò là cấp địa phương, cơ sở mặc
dù không thể nắm bắt và tổng kết việc thực hiện các qui định của pháp
luật về dân chủ ở tầm vĩ mô, song qua thực tiễn thực hiện ở địa phương,
với sự trăn trở, cầu thị, lắng nghe ý kiến của nhân dân, thường xuyên sơ
kết, tổng kết đúc rút kinh nghiệm cũng sẽ góp phần thiết thực vài công
cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo hướng
thống nhất, đồng bộ, đảm bảo phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân
dân.




94
KẾT LUẬN
Dân chủ vừa là bản chất, vừa là mục tiêu của Đảng, Nhà nước ta,
đồng thời là nhu cầu, nguyện vọng thiết tha của nhân dân. Bản chất và
nhu cầu đó chỉ được thực hiện khi Đảng cụ thể hóa thành đường lối,
thành chính sách và được Nhà nước thể chế hóa thành luật pháp. Khi đó
dân chủ mới trở thành hiện thực và trở thành động lực thúc đẩy xã hội
phát triển. Song việc phát huy và mở rộng dân chủ phải phù hợp với
trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa
của mỗi cộng đồng, dân chủ phải gắn với kỷ cương.
Dân chủ là yêu cầu, là nguyên tắc hoạt động của toàn bộ hệ thống
chính trị từ Trung ương tới cơ sở, trong đó dân chủ ở cơ sở là bộ phận
quan trọng, đảm bảo phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân.
Pháp luật về dân chủ ở cơ sở là một nội dung quan trọng của pháp luật
về dân chủ, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan
hệ giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và công dân
diễn ra ở cơ sở. Các quy phạm đó được thể hiện ở nhiều văn bản quy
phạm pháp luật nhưng được quy định và thể hiện tập trung chủ yếu tại
các Nghị định 29, 79 CP/CP và được hoàn thiện thành Pháp lệnh số
34/2007 về thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn. Các quy
phạm pháp luật này nhằm thể chế hóa phương châm “dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” trên các lĩnh vực đời sống xã hội, diễn ra ở cơ sở,
nơi mỗi người dân đều gắn bó sinh sống, lao động và học tập, nơi họ có


95
quyền làm chủ. Pháp luật về dân chủ ở cơ sở đảm bảo việc thực hiện
dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện của nhân dân.
Thực tiễn hơn 10 năm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã
chứng minh đường lối đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của
Đảng, sự thể chế hóa kịp thời của Nhà nước về dân chủ ở cơ sở. Ở đơn
vị, địa phương nào thực hiện tốt quy chế dân chủ thì ở đơn vị, địa
phương đó phát huy được tiềm năng, trí tuệ, sức lực của nhân dân để
phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống chính trị vững mạnh, ngược lại nếu
dân chủ bị vi phạm thì tình hình kinh tế - xã hội kém phát triển, địa
phương mất ổn định, hệ thống chính trị yếu kém. Quá trình thực hiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở cũng đã giúp chúng ta đúc rút được những
kinh nghiệm quý báu, làm cơ sở để đề ra phương hướng, cùng với
những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, chất lượng,
hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của các chủ thể. Các
giải pháp nhằm đảm bảo và phát huy dân chủ bao gồm giải pháp giải
pháp về nâng cao nhận thức, phát huy vai trò các chủ thể, góp phần đảm
bảo về kinh tế và thể chế thành pháp luật quyền làm chủ của nhân dân.
Trong đó giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ
thống chính trị ở cơ sở gắn việc thực hiện nội dung pháp luật về dân
chủ với cải cách hành chính và cải cách tư pháp là giải pháp cơ bản có ý
nghĩa quyết định đến việc đảm bảo phát huy dân chủ ở cơ sở theo đúng
tinh thần Đại hội Đảng lần thứ VII.
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đối với sự phát triển của địa
phương và đất nước, luận văn đã nghiên cứu toàn diện quá trình triển
khai, những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong
việc thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức và
đề xuất hệ thống các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế đó,



96
góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở ở Hoài
Đức nói riêng và trên địa bàn cả nước nói chung.
Tuy nhiên, nhận thức và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
hiện nay là một vấn đề rất mới và phức tạp, phụ thuộc nhiều vào điều
kiện đặc thù của từng địa phương và trong phạm vi luận văn mới chỉ có
điều kiện nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình và những vấn đề xảy
ra trong thực hiện quy chế dân chủ ở mô hình một tỉnh, đề ra một số giải
pháp pháp lý chung ở tầm vĩ mô và những giải pháp thực hiện cụ thể áp
dụng cho huyện Hoài Đức mà chưa có điều kiện nghiên cứu sâu và rộng
hơn.
Vì vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luật dân
chủ ở cơ sở, làm cho pháp luật dân chủ cơ sở thực sự đi vào cuộc sống,
cần có những công trình nghiên cứu ở cấp độ cao hơn, sâu sắc và khái
quát hơn về từng mảng vấn đề trong thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ
sở, về quá trình thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở của các nhóm địa
phương có điều kiện tương đồng và đặt trong tương quan so sánh với
các địa phương khác trong nước và kết quả thực hiện chung cả nước, từ
đó sẽ có cái nhìn tổng quát, toàn diện, chính xác và đầy đủ hơn.




97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Trịnh Ngọc Anh, “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây

dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh”, Tạp chí Cộng sản,
(11), 2003.
2. Lê Trọng Ân, “Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong

sự nghiệp đổi mới”, Tạp chí Cộng sản, (24), 2004.
3. Lương Gia Ban, Dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
4. GS, TS Hoàng Chí Bảo (Chủ biên): Hệ thống chính trị ở cơ sở

nông thôn hiện nay (sách tham khảo), NXB Lý luận Chính trị, Hà
Nội, 2005.
5. C. Mác và Ph Ăngen, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Nxb Sự

thật, Hà Nội, 1976.
6. Chính phủ, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã(ban hành kèm theo

Nghị định 29/1998/NĐ/CP ngày 11/5/1998), Hà Nội, 1998.
7. Chính phủ, Chỉ thị số 24/1998 ngày 19/6 của Thủ tướng Chính

phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng,
bản, thôn, ấp, cụm dân cư, Hà Nội, 1998.


98
8. Chính phủ, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã(ban hành kèm theo

Nghị định số 79/2003/NĐ-Cp ngày 07/07/2003), Hà Nội, 2003.
9. Chính phủ, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10 về cán bộ,
công chức phường, xã, thị trấn, Hà Nội, 2003.
10. Chính phủ, Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT- UBMTTQVN

ngày 17/04/2008 của Chính phủ - UBTWMTTQVN hướng dẫn thi
hành các điều 11, 14, 16, 22 và Điều 26 của Pháp lệnh thực hiện
dân chủ ở xã, phường và thị trấn, Hà Nội, 2008.
11. Vũ Hoàng Công, Hệ thống chính trị ở cơ sở - đặc điểm, xu hướng

và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
12. Nguyễn Cúc (Chủ biên): Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

trong tình hình hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn , NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
13. Trần Bạch Đằng, Dân chủ cơ sở một sức mạnh truyền thống của

dân tộc Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, (35), Hà Nội, 2003.
14. Trương Quang Được, Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực

hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí cộng sản, (12), Hà Nội,
2002.
15. Đại Việt địa dư toàn biên, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Hà

Nội, Viện sử hoc và Nhà xuất ban Văn hoa, 1997.
̣ ̉ ́
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ

thị số 30 CT/TW của Bộ Chính trị(khóa VIII) về xây dựng và thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Hà Nội, 2004.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1991.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001.


99
20. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Ban chấp hành Trung

ương lần thứ 3, Khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Ban chấp hành Trung

ương lần thứ 5, Khóa IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Ban chấp hành Trung

ương lần thứ 6, Khóa IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Chỉ thị số 30 CT/TW, ngày 18/2/1998

của Bộ Chính trị Về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ
sở, Hà Nội, 1998.
25. Trần Quốc Huy: Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật, Hà Nội, 2005.
26. Lê Xuân Huy: Ý thức pháp luật với quá trình thực hiện dân chủ ở

nông thôn nước ta hiện nay (Qua thực tế một số tỉnh phía Bắc),
Luận văn thạc sĩ Triết học, 2005.
27. Vũ Văn Hiền, Phát huy dân chủ ở xã, phường, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2004.
28. Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hòa, Vũ Văn Phúc, Phát triển làng
nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
29. Hiến pháp Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

30. Huyện ủy Hoài Đức, Báo cáo kết quả thực hiện các mặt công tác

năm 2009, phương hướng, nhiệm vụ 2010, , Số 75 – BC/HU, 2009.
31. Huyện ủy Hoài Đức, Báo cáo đánh giá 10 năm thực hiện Chỉ thị

số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị(khóa VIII) về xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, 2008.
32. Lênin toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1978.




100
33. Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Hoài Đức

1975-2008, Nxb Lao động, Hà Nội, 2009.
34. Lê Quang Minh, Để thực hiện dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng

sản,(11), Hà Nội, 2003.
35. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

1995.
36. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

1995.
37. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

1995.
38. Dương Xuân Ngọc(Chủ biên), Quy chế thực hiên dân chủ ở cấp

xã, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2000.
39. Lê Minh Quân, Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu

phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
40. Nguyễn Huy Quý, Về dân chủ ở cơ sở,Tạp chí Cộng sản,(4) Hà

Nội, 2004.
41. Nguyễn Văn Sáu, Quan hệ giữa thực thi Quy chế dân chủ ở cơ

sở với xây dựng chính quyền cơ sở nông thôn, Lý luận chính trị,
(11), Hà Nội, 2002.
42. Nguyễn Văn Sáu – Hồ Văn Thông(Đồng chủ biên), Thực hiện

Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện
nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
43. Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19, Trấn Sơn Tây, phủ Quốc

Oai, Nxb KHXH, Viện nghiên cứu Hán Nôm.
44. Từ điển Hà Nội địa danh, Bùi Thiết, mục Hoài Đức (phủ),Nxb

Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1993.
45. Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội, 1995.


101
46. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số

điều của Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998, Hà Nội, 2006.
47. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,

phường, thị trấn, Hà Nội, 2007.
48. Dương Trung Ý, Nâng cao sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở

đảng thực hiện hiệu quả dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, (14),
Hà Nội, 2003.




PHỤ LỤC
Để cung cấp dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài: “Thực
hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà
Nội”, tác giả đã thực hiện điều tra xã hội học trên địa bàn 19 xã và 1 thị
trấn trực thuộc huyện Hoài Đức với 2 mẫu điều tra. Số Phiếu phát ra:
700 phiếu(mỗi loại 350 phiếu), thu về 679 phiếu
Kết quả điều tra thể hiện trên các phụ lục kèm theo.
PHỤ LỤC 1
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
(Dành cho cán bộ cấp cơ sở)
Thưa đồng chí!
Để cung cấp dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài: “ Thực hiện
pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội”, chúng
tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của đồng chí thông
qua việc trả lời các câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn sau đây.Với mỗi câu
hỏi, đồng chí có thể khoanh tròn hoặc đánh dấu “x” vào câu trả lời mà


102
đồng chí cho là thích hợp. Đồng chí không phải ghi họ, tên của mình vào
phiếu này. Sự tham gia trả lời của đồng chí là hoàn toàn tự nguyện và
mọi ý kiến sẽ được giữ kín
Xin chân thành cảm ơn đồng chí!




A. NỘI DUNG
Câu 1: Đồng chí đã tham gia các hoạt động nào có liên quan đến Quy
chế dân chủ cơ sở(DCCS) (Nay là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn) sau đây(có thể lựa chọn 1 hoặc nhiều phương án)
1. Được nghe nói 4. Đã trực tiếp tuyên truyền vận
động
2. Được đọc trực tiếp 5. Đã trực tiếp tổ chức thực hiện
3. Đã dành thời gian để nghiên cứu 6. Chưa tham gia hoạt động nào cả
Câu 2: Đồng chí có thể cho biết một số vấn đề sau đây về bản Quy chế
DCCS(được ban hành theo Nghị định dố 79/2003 ngày 7/7/2003 của
CP)? (Đồng chí có thể điền vào ô vuông □)
a. Bản quy chế có bao nhiêu chương? □ chương
b. Bản quy chế qui định bao nhiêu vấn đề cần thông báo để nhân dân
biết?
□ vấn đề



103
c. Có bao nhiêu vấn đề quy định nhân dân được bàn và quyết định trực
tiếp?
□ vấn đề
d. Có bao nhiêu vấn đề nhân dân được bàn, tham gia ý kiến,chính quyền
xã quyết định?□ vấn đề?
e. Có bao nhiêu việc quy định nhân dân được giám sát, kiểm tra? □ việc
f. Quy chế có phần hướng dẫn xây dựng và thực hiện quy ước/ hương
ước tại các cộng đồng dân cư(thôn, làng, bản) không?
1. Có; 2. Không; 3. Không rõ
Câu 3: Đồng chí có thể cho biết một số vấn đề sau đây về Pháp lệnh
thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn.(Pháp lệnh số 34/2007)
(Đồng chí có thể điền số vào ô vuông □)
a. Pháp lệnh có bao nhiêu chương?□ chương
b. Pháp lệnh quy định bao nhiêu vấn đề cần thông qua để dân biết? □
vấn đề
c. Có bao nhiêu vấn đề quy định nhân dân được bàn và quyết định trực
tiếp?
□ vấn đề
d. Có bao nhiêu vấn đề nhân dân được bàn, biểu quyết để cấp có thẩm
quyền quyết định? □ vấn đề
e. Có bao nhiêu vấn đề nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có
thẩm quyền quyết định? □ vấn đề
g. Có bao nhiêu việc quy định nhân dân được giám sát, kiểm tra? □ việc
h. Pháp lệnh có phần hướng dẫn xây dựng và thực hiện quy ước/hương
ước tại các cộng đồng dân cư(thôn, bản,làng) không?
1. Có; 2. Không; 3. Không rõ
Câu 4: Xin đồng chí tự đánh giá về mức độ hiểu biết của mình đối với một số
nội dung lớn của Quy chế dân chủ cơ sở sau đây (Mỗi hàng ngang chỉ đánh
dấu vào 1 ô)


104
Các nội dung lớn Rấ Tố Bình Chư Khó
t t thườn a tốt đánh
tốt g giá
1. Những việc cần thông báo để dân biết
2. Những việc để dân bàn và quyết định trực
tiếp
3.Những việc dân bàn, chính quyền quyết định
4. Những việc dân giám sát, kiểm tra


Câu 5: Đồng chí tìm hiểu Quy chế DCCC bằng những cách nào sau
đây(có thể lựa chọn từ 1 đến nhiều phương án)?
1. Đọc trực tiếp văn bản về quy chế
2. Qua phương tiện thông tin đại chúng( tivi, đài, báo, internet)
3. Hội nghị, tập huấn về Quy chế DCCS
4. Trực tiếp tham gia xây dựng và triển khai Quy chế DCCs
5. Qua sinh hoạt chi bộ
6. Qua nghiên cứu học tập ở nhà trường
7. Cách thức khác
Câu 6: Đồng chí cho biết thái độ của đội ngũ cán bộ ở địa phương với
Quy chế DCCS như thế nào(chỉ lựa chọn duy nhất 1 phương án)?
1. Tất cả đều tích cực hưởng ứng
2. Phần lớn tích cực hưởng ứng
3. Chỉ có một bộ phận tích cực hưởng ứng
4. Chưa được cán bộ tích cực hưởng ứng
5. Khó đánh giá
Câu 7: Theo đồng chí việc thực hiện Quy chế DCCS tại địa phương có
xảy ra những hiện tượng nào sau đây(có thể lựa chọn từ 1 đến nhiều
phương án)?
1. Quy chế DCCS chưa được người dân hưởng ứng tích cực
2. Thực hiện Quy chế DCCS còn mang tính hình thức
3. Có hiện tượng thờ ơ, chưa thông suốt của cán bộ

105
4. Có hiện tượng buông lỏng quản lý của cán bộ
5. Quy chế dân chủ mới chỉ mang tính phong trào
6. Không xảy ra những hiện tượng nêu trên
Câu 8: Quan điểm của đồng chí như thế nào đối với một số ý kiến sau
(có thể lựa chọn từ 1 đến nhiều phương án)?
1. Quy chế DCCS là công cụ đẩy mạnh, phát huy quyền làm chủ của dân
2. Quy chế DCCS là công cụ để người dân gây khó khăn/sức ép với cán
bộ
3. Nên lồng ghép Quy chế DCCS với quy chế làm việc của cơ quan
4. Thực hiện tốt Quy chế DCCS là tiêu chuẩn hoàn thành nhiệm vụ của
cán bộ
5. Quy chế DCCS là công cụ giúp cán bộ hoàn thành nhiệm vụ được giao
7. Việc triển khai Quy chế DCCS làm phức tạp thêm tình hình ở địa
phương
8. Thực hiện tốt Quy chế DCCS là thước đo năng lực và phẩm chất của
cán bộ
9. Thực hiện Quy chế DCCS là giải pháp khắc phục quan liêu tham
nhũng
10. Cần phải đẩy mạnh thực hiện Quy chế DCCS tại địa phương
Câu 9: Theo đồng chí, Quy chế DCCS được xây dựng phù hợp với địa
phưong ở mức độ nào(chỉ lựa chọn duy nhất 1 phương án)?
1. Hoàn toàn phù hợp; 2. Phần lớn phù hợp; 3. Rất ít phù hợp;
4. Chưa phù hợp; 5. Khó đánh giá
Câu 10: Với năng lực hiện có, đồng chí cho biết mức độ đáp ứng trong
việc: nhận thức,tổ chức thực hiện và bổ sung hoàn thiện Quy chế
DCCS? Mỗi hàng ngang chỉ đánh dấu vào một ô


Các nhiệm vụ cụ thể Tốt Khá Trung Yếu Khó
bình trả lời


106
1. Nhận thức Quy chế DCCS
2. Tổ chức thực hiện Quy chế
DCCS ở địa phương
3. Bổ sung hoàn thiện Quy
chế DCCS ở địa phương




Câu 11: Nhận xét của đồng chí về việc thực hiện Quy chế DCCS của
địa phương hiện nay( Mỗi hàng ngang chỉ đánh dấu vào 1 ô)


Các nội dung Rất phù Phù hợp Chưa Khó
hợp phù hợp đánh
giá
1. Nội dung thể hiện của Quy chế
2. Hình thức thể hiện của Quy chế
3. Cách thức tuyên truyền vận động
4. Sự phối kết hợp giữa các bên tham
gia
Câu 12: Nhận xét của đồng chí về thực hiện Quy chế DCCS của địa
phương hiện nay( Mỗi hàng ngang chỉ đánh dấu vào 1 ô)
Các nội dung lớn Tốt Không Kém đi Khó
hơn thay đánh
đổi giá
1. Bầu không khí dân chủ ở địa phương
2. Các quyền làm chủ của nhân dân được



107
thực hiện
3. Lòng tin của nhân dân đối với Đảng, cq

4. Tình hình phát triển KT -XH của đia
phương
5. Công tác xây dựng Đảng của địa phương
6. Công tác xd chính quyền ở địa phương
7. Công tác xây dựng mặt trận và các đoàn
thể
8.Phong cách làm việc của cán bộ
9. Tình hình an ninh trật tự của địa phương
10. Trách nhiệm của người đứng đầu
11 Dân chủ công khai về tài chính
12 Dân chủ công khai về đất đai
13 Công khai về kiểm điểm sai phạm của cán
bộ
Câu 13: Theo đồng chí, việc tổ chức thực hiện Quy chế DCCS của địa
phương đã đạt ở mức độ nào(lựa chọn 1 phương án)
1. Đạt tốt so với yêu cầu
2. Đạt so với yêu cầu
3. Chưa đạt yêu cầu
4. Khó đánh giá
Câu 14: Để tổ chức thực hiện tốt Quy chế DCCS, cần chú ý những vấn
đề gì?(lựa chọn từ 1 đến nhiều phương án)
1. Khâu kiểm tra, giám sát Quy chế
2. Sự quan tâm sâu sắc của cấp uỷ Đảng
3. Sự chỉ đạo nghiêm túc của chính quyền
4. Vai trò tham mưu của Mặt trận Tổ quốc
5. Với sự tham gia nhiệt tình hơn nữa của các đoàn thể
6. Hoạt động của Ban chỉ đạo
7. Sự phối kết hợp của các bên tham gia
8. Nâng cao trình độ dân trí
9. Nâng cao năng lực của cán bộ
10. Sự hưởng ứng tham gia của Nhân dân
11. Truyền thống thực hiện dân chủ của địa phương


108
Câu 15: Những khó khăn khi thực hiện Quy chế DCCS(lựa chọn từ 1 đến
nhiều phương án)
1. Khâu kiểm tra, giám sát Quy chế chưa tốt
2. Cấp uỷ Đảng chưa nhận thức đầy đủ về Quy chế
3. Chính quyền thiếu tập trung chỉ đạo Quy chế
4. Vai trò tham mưu của Mặt trận Tổ quốc hạn chế
5. Các đoàn thể chưa nhiệt tình tham gia
6. Hoạt động chủa Ban chỉ đạo chưa liên tục
7. Sự phối kết hợp chỉ đạo chưa đồng bộ
8. Trình độ dân trí còn thấp
9. Năng lực của cán bộ còn hạn chế
10. Thiếu sự hưởng ứng tích cực của nhân dân
11. Sự lãnh đạo của cấp trên chưa kịp thời
12. Sự phức tạp mất dân chủ kéo dài ở địa phương
13. Nguyên nhân khác(ghi)
Câu 16: Theo đồng chí đội ngũ cán bộ của địa phương đang gặp những
khó khăn gì về năng lực tổ chức thực hiện Quy chế DCCS(có thể lựa
chọn từ 1 đến nhiều phương án)
1. Hạn chế về trình độ học vấn
2. Hạn chế về trình độ chuyên môn
3. Hạn chế về các kỹ năng tác nghiệp
4. Ít được tham gia các khoá bồi dưỡng tập huấn
5. Hạn chế về giao tiếp cập nhật thông tin
6. Phải đảm đương cùng lúc nhiều công việc
7. Thiếu sự quan tâm giúp đỡ của cấp trên
8. Khác(ghi)
Câu 17: Các giải pháp chung nhằm tổ chức thực hiện tốt pháp lệnh thực
hiện DCCS ở cơ sở(có thể lựa chọn 1 đến nhiều phương án)
1. Tăng cường chuyển tải các nội dung về DCCS trên TTĐC của Huyện


109
2. Có sự đầu tư về kinh phí
3. Tăng cường cung cấp tài liệu liên quan
4. Tăng cường tập huấn về Pháp lệnh thực hiện DCCS
5. Tăng cường sự tổng kết đúc rút kinh nghiệm
6. Phải có sự chỉ đạo đồng bộ thống nhất giữa các cấp
7. Nâng cao nhận thức và vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng
8.Tăng cường sự tập trung chỉ đạo thực hiện của các cấp chính quyền
9. Phải tạo ra cơ chế phân công trách nhiệm giữa các thành viên tham gia
10. Bảo đảm mối quan hệ giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp
11 Bảo đảm mối quan hệ giữa dân chủ với kỷ cương,pháp luật
12. Nâng cao dân trí, khuyến khích sự hưởng ứng tích cực của dân
13.Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu
14. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ cơ sở
15. Giải pháp khác(ghi)
Câu 18: Đồng chí đánh giá vai trò và mức độ hoàn thành nhiệm vụ tổ chức thực
hiện Quy chế DCCS của người trưởng thôn/tổ trưởng khu phố (lựa chọn duy
nhất 1 phương án)
Vai trò của trưởng thôn Mức độ hoàn thành nhiệm vụ
1. Rất quan trọng 1. Hoàn thành tốt nhiệm vụ
2. Quan trọng 2. Hoàn thành nhiệm vụ
3. Ít quan trọng 3. Mới hoàn thành một phần nhiệm vụ
4. Không quan trọng 4. Không hoàn thành nhiệm vụ
5. Khó đánh giá 5. Khó đánh giá


Câu 19: Theo đồng chí cần phải làm gì để tăng cường vai trò của trưởng
thôn/tổ chức trong tổ chức xây dựng và thực hiện DCCS (lựa chọn 1 hoặc
nhiều phương án)
1. Phải được tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng
2. Có chế độ chính sách đãi ngộ tốt hơn
3. Tạo điều kiện thuận lợi hơn về cơ chế làm việc


110
4. Cần có sự hợp tác tích cực của người dân
5. Cần có sự quan tâm hơn của cấp uỷ Đảng, chính quyền
6. Phải lựa chọn người có khả năng gánh vác được công việc
7. Khác(ghi)




B. MỘT SỐ THÔNG TIN CÁ NHÂN
Câu 20: Xin đồng chí vui lòng cho biết một số thông tin về bản thân(mỗi
ô chỉ lựa chọn duy nhất 1 phương án)
Giới tính Độ tuổi Học vấn Trình độ lý luận chính
trị
1. Nam 1. Dưới 30 1. Cấp 1 trở xuống 1. Sơ cấp
2. Nữ 2. Từ 31-40 2. Cấp 2 2. Trung cấp
3. Từ 41-50 3. Cấp 3 3. Cử nhân
4. Trên 50 4. Trung cấp 4. Lý luận cao cấp
5. CĐ- ĐH 5. Chưa qua đào tạo
6. Sau đại học
Thâm niên công Chuyên môn đào Nơi công tác Khối công tác
tác ở địa tạ o
phương
1. Dưới 5 năm 1. Luật 1. Xã 1.Khối Đảng
2. Từ 6-10 năm 2. Địa chính 2. Phường 2.Khối chính
3. Từ 11-20 năm 3. Kinh tế quyền
4. Trên 20 năm 4. Y tế 3.Khối đoàn thể
5. Văn phòng
6. Nông nghiệp
7. Khác
8. Chưa có


111
PHỤ LỤC 2
PHIẾU THU THẬP Ý KIẾN CÁ NHÂN
Kính thưa ông/bà!
Để cung cấp dữ liệu thông tin cần thiết cho nghiên cứu đề tài:
“Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức,
Hà Nội”, chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến
của ông/bà có thể khoanh tròn hoặc đánh dấu (x) vào câu trả lời mà ông/
bà cho là thích hợp.Mọi ý kiến của ông/bà sẽ được giữ kín, sự tham gia
của ông/bà vào cuộc trao đổi này là hoàn toàn tự nguyện. Chúng tôi hy
vọng ông/bà sẽ thấy cuộc trao đổi ý kiến này là bổ ích và lý thú.




112
A. PHẦN ĐỊNH DANH
Câu 1: Xin ông/bà cho biết một số thông tin về bản thân(mỗi ô chỉ lựa
chọn duy nhất một phương án)


Giới tính Tuổi Trình độ học vấn Tình trạng hôn nhân
1. Nam 1.Dưới 20 1.Dưới cấp 1 1. Đang có vợ/chồng
2. Nữ 2.Từ 21-30 2.Cấp 2 2. Chưa có vợ/chồng
3.Từ 31-40 3.Cấp 3 3.Goá, ly hôn, ly thân
4. Từ 41-50 4.Trung cấp
5.Từ 51-60 5.CĐ-ĐH trở lên
6.Trên 60
Mức sống Dân tộc Tôn giáo Nghề nghiệp chính
1.Giàu 1.Kinh 1.Phật 1. Nông nghiệp
2.Khá giả 2.Dân tộc khác 2.Thiên chúa 2.Cán bộ về hưu
3.Trung 3.Tôn giáo khác 3.Buôn bán
bình 4.Không theo tôngiáo 4.Dịch vụ
4.Nghèo 5.Tiểu thủ công nghiệp
6.Công nhân
7.Cán bộ viên chức
8. Khác
Nơi sinh sống thuộc Ông/bà tham gia những đoàn thể
1. Xã 1. Hội cựu chiến binh
2. Phường 2. Hội nông dân
3. Hội phụ nữ


113
4. Đoàn thanh niên
5. Hội nghề nghiệp khác
6. Không tham gia




B. PHẦN NỘI DUNG
Câu 2: Xin ông/bà cho biết mức độ tiếp cận của bản thân về Quy chế
DCCS, pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở xã,phường(chọn 1 đến
nhiều phương án)
1.Đã nghe nói đến
2. Đã được đọc trực tiếp
3. Đã được cán bộ phổ biến
4. Đã dành thời gian nghiên cứu
5. Đã tham gia đóng góp ý kiến xây dựng
6. Đã tham gia thực hiện
7. Đã tham gia vận động tuyên truyền
8. Chưa bao giờ nghe nói đến
Câu 3: Đội ngũ cán bộ ở địa phương có vai trò như thế nào đối với sự
hiểu biết và thực hiện Quy chế DCCS của ông/bà(lựa chọn duy nhất 1
phương án)


Hiểu biết về Quy chế Thực hiện Quy chế
1. Rất quan trọng 1. Rất quan trọng
2. Quan trọng 2. Quan trọng
3. Bình thường 3. Bình thường
4. Không quan trọng 4. Không quan trọng
5. Khó đánh giá 5. Khó đánh giá

114
Câu 4a: Trong năm vừa qua ông/bà có đến gặp gỡ chính quyền địa
phương để đề đạt những yêu cầu kiến nghị:
1. Có 2. Không
Câu 4b: Nếu có, xin ông bà nhớ lại và cho biết mức độ hài lòng của bản
thân(lựa chọn duy nhất một phương án)
1. Hoàn toàn hài lòng
2. Hài lòng
3. Chỉ hài lòng một phần
4. Hoàn toàn không hài lòng
5. Khó đánh giá
Câu 5: Theo ông bà, người dân ở địa phương đã được tham gia vào một
số công việc sau
Được Được Được Được Không

Các nội dung công việc biết bàn quyết kiểm được tham
định tra gia
1 Dự án xây dựng công trình công cộng
2 Quyết toán các khoản đóng góp của
dân
3 Thu chi ngân sách của địa phương
4 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
5 Thanh tra, kiểm tra các vụ tiêu cực
6 Chỉ tiêu phát triển KT-XH của địa
phương
7 Khác(ghi cụ thể)


Câu 6: xin ông/ bà cho biết sau khi thực hiện Quy chế DCCS đối với bản
than mình như thế nào(có thể lựa chọn từ 1 đến nhiều phương án)
1 Hiểu rõ được quyền lợi và nghĩa vụ của mình
2 Nâng cao trình độ chính trị
3 Nâng cao trình độ văn hóa
4 Nâng cao trình độ pháp luật


115
5 Củng cố lòng tin vào cấp ủy đảng, chính quyền
6 Lý do khác(ghi)




Câu 7: Xin ông/bà cho biết sau khi thực hiện Quy chế DCCS thì các lĩnh
vực sau đây ở địa phương như thế nào?
Các lĩnh vực Tăng Không Giảm Khó
lên thay đi đánh
đổi giá
1.Cải thiện đời sống của nhân dân
2. Vấn đề đoàn kết trong cán bộ, nhân dân
3. Tình hình tham nhũng, tiêu cực
4. Tính tích cực, tự giác của người dân
5. Tình hình thiếu kiện
6. An ninh trật tự xã hội
7. Tác phong lãnh đạo, làm việc của cán bộ
8. Việc tiếp xúc nhân dân của cán bộ
9. Việc lợi dụng dân chủ để gây rối
10. Năng lực làm việc của cán bộ
11. Quan hệ hàng xóm, khu phố
12. Giải quyết các việc của xóm, khu phố
13. Trách nhiệm của cán bộ đối với công việc
14. Sự tôn trọng, lắng nghe nhân dân của cán
bộ
15. Lòng tin của người dân vào Đảng, chính
quyền
16. Khác(ghi)


Câu 8: Theo ông/bà những yếu tố nào sau đây tác động đến việc xây
dựng và thực hiện Quy chế DCCS tại địa phương(chọn từ 1 đến nhiều
phương án)?
1 Năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở
2 Sự quan tâm chỉ đạo của cấp trên
3 Sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị cơ sở

116
4 Cơ chế phối hợp và phân công trách nhiệm rõ ràng
5 Sự quan tâm ủng hộ của người dân
6 Trình độ dân trí
7 Sự vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với địa phương
8 Yếu tố khác(ghi cụ thể)
Câu 9: Ý kiến của ông/bà về mức độ năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở
trong việc xây dựng và thực hiện Quy chế DCCS tại địa phương( chỉ
được chọn duy nhất một phương án)


Xây dựng quy chế Tổ chức thực hiện Quy chế
1 Có năng lực tốt 1 Có năng lực tốt
2 Năng lực bình thường 2 Năng lực bình thường
3 Năng lực chưa đạt yêu cầu 3 Năng lực chưa đạt yêu cầu
4 Khó đánh giá 4 Khó đánh giá


Câu 10: Để tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ trong việc thực
hiện Quy chế DCCS tại địa phương ông/bà có kiến nghị gì(có thể lựa
chọn từ 1 đến nhiều phương án)
1. Cán bộ phải được cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ
2. Phải có cơ chế chính sách đãi ngộ cán bộ phù hợp
3. Cán bộ phải được tập huấn, bồi dưỡng về Quy chế DCCS
4. Cần tăng cường sức tổng kết, đúc rút kinh nghiệm
5. Cán bộ phải được tham quan học tập các mô hình triển khai tốt
6. Phải có sự quan tâm hơn của cấp trên
7. Nâng cao nhận thức và vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng
8. Tăng cường sự tập trung chỉ đạo thực hiện của các cấp chính
quyền
9. Phải có sự ủng hộ tích cực của người dân
10. Phải thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên, nghiêm túc
11. Nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng cho cán bộ
12. Bảo đảm mối quan hệ giữa dân chủ với kỷ cương và pháp luật

117
13. Khác(ghi)
Câu 11a: Trong cuộc họp thôn/khu phố gần đây nhất ông/bà có tham gia
phát biểu
1. Có 2. Không
Câu 11b: Nếu không, ông bà có thể cho biết lý do(lựa chọn 1 đến nhiều
phương án)
1 Không có ý kiến gì để phát biểu
2 Phát biểu mãi rồi nhưng không thay đổi
3 Có người khác đã phát biểu rồi
4 Không có thời gian để phát biểu
5 Không tự tin khi phát biểu
6 Khác(ghi)
Câu 11c: Nếu có, thì ý kiến của ông/bà đã được đưa đến đâu(có thể lựa
chọn 1 đến nhiều phương án)
1. Cấp ủy đảng địa phương
2. Chính quyền địa phương
3. Đảng ủy cấp trên
4. Chính quyền cấp trên
5. Đoàn thể ở địa phương
6. Đoàn thể cấp trên
7. Không đưa đến đâu cả
8. Không rõ




Câu 12: Ông/bà cho biết vai trò và mức độ hoàn thành nhiệm vụ tổ chức
thực hiện Quy chế DCCS của người trưởng thôn/tổ trưởng khu phố(lựa
chọn duy nhất 1 phương án)


118
Vai trò của trưởng thôn Mức độ hoàn thành nhiệm vụ
1. Rất quan trọng 1. Hoàn thành tốt nhiệm vụ
2. Quan trọng 2. Hoàn thành nhiệm vụ
3. Ít quan trọng 3. Mới hoàn thành một phần nhiệm
4. Không quan trọng vụ
5. Khó đánh giá 4. Không hoàn thành nhiệm vụ
5. Khó đánh giá


Câu 13: Theo ông/bà cần phải làm gid để tăng cường vai trò của trưởng
thôn/tổ trưởng trong tổ chức xây dựng và thực hiện Quy chế DCCS(có
thể lựa chọn 1 đến nhiều phương án)
1. Phải được tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng
2. Có chế độ chính sách đãi ngộ tốt hơn
3. Tạo điều kiện thuận lợi hơn về cơ chế làm việc
4. Người dân cần tích cực hợp tác
5. Cần có sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền
6. Phải lựa chọn người có khả năng gánh vác được công việc
7. Khác(ghi)
Xin cảm ơn ông/ bà!




PHỤ LỤC 3
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC CỦA TÁC
GIẢ THEO PHỤ LỤC 1 VÀ 2



119
I. MỨC ĐỘ NHẬN THỨC VÀ NẮM BẮT VỀ QUY CHẾ DÂN
CHỦ
Biểu 1a: Đối với cán bộ cơ sở
Mức độ tiếp cận
Đọc trực
STT Xã, thị trấn Số tiếp Trực tiếp
Qua hội Qua sinh Cách
người tham gia và
nghị tập hoạt chi thức
được triển khai
huấn bộ khác
hỏi QCDC

1 An Khánh 16 12 4 9 6
2 An Thượng 15 15 4 11 5 2
3 Cát Quế 16 14 13 7 8
4 Di Trạch 18 17 9 8 7 1
5 Dương 18 18 11 6 9 1
Liễu
6 Đắc Sở 17 11 6 7 5
7 Đông La 17 14 8 6 8
8 Đức Giang 16 11 10 8 5 2
9 Đức 18 13 7 5 4
Thượng
10 Kim Chung 15 14 6 9 10 1
11 La Phù 18 11 7 8 9
12 Lại Yên 14 11 7 6 5
13 Minh Khai 16 12 6 7 9 2
14 Song 15 12 8 8 6
Phương
15 Sơn Đồng 16 13 5 7 4 1
16 Tiền Yên 18 11 6 8 7
17 Vân Canh 16 15 7 6 8 1
18 Vân Côn 15 13 5 9 6
19 Yên Sở 15 13 7 8 5
20 Trạm Trôi 18 16 4 9 6
Tổng số 326 261 140 152 132 11



Biểu 1b: Đối với nhân dân


Mức độ tiếp cận quy chế dân chủ

120
Chưa
Đã Được Đã
STT Xã, Thị Đọc Đã bao giờ
nghe cán bộ tham
trấn Số người trực nghiên nghe
nói phổ gia thực
được hỏi tiếp cứu nói
đến biến hiện
đến
1 An Khánh 20 12 5 6 2 4
2 An Thượng 18 8 6 6 1 5
3 Cát Quế 19 7 5 4 1 3
4 Di Trạch 17 9 6 7 2 4 2
5 Dương 16 9 8 5 2 5
Liễu
6 Đắc Sở 16 9 7 6 1 4 1
7 Đông La 17 7 4 4 3 4
8 Đức Giang 19 9 6 5 1 3 3
9 Đức 16 8 5 6 2 1
Thượng
10 Kim Chung 29 9 6 8 1 2 1
11 La Phù 18 7 7 7 3 5
12 Lại Yên 19 9 5 9 3 5
13 Minh Khai 17 6 6 8 2 6
14 Song 17 8 4 5 2 7
Phương
15 Sơn Đồng 16 8 7 7 1 2
16 Tiền Yên 18 8 9 5 3 2 1
17 Vân Canh 19 8 7 4 2 1
18 Vân Côn 18 11 6 5 3 1
19 Yên Sở 16 9 9 4 2 1 1
20 Trạm Trôi 17 12 9 5 4 2
Tổng số 353 173 127 116 41 67 9



II. MỨC ĐỘ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
Bảng 2a: Đánh giá của cán bộ cơ sở về mức độ thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở
Đánh giá mức độ
Đạt tốt so Đạt so với Chưa

STT Xã, Thị trấn Số người với yêu yêu cầu đạt so Khó đánh


121
được hỏi cầu với yêu giá
cầu
1 An Khánh 16 10 6 1 1
2 An Thượng 15 9 7 3
3 Cát Quế 16 8 7
4 Di Trạch 18 11 8
5 Dương Liễu 18 10 7 1
6 Đắc Sở 17 9 9 2 1
7 Đông La 17 7 9
8 Đức Giang 16 8 7 1
9 Đức Thượng 18 8 5 3
10 Kim Chung 15 12 6 2
11 La Phù 18 6 5 4
12 Lại Yên 14 7 7
13 Minh Khai 16 8 4 1 2
14 Song Phương 15 7 5
15 Sơn Đồng 16 5 6 1 1
16 Tiền Yên 18 8 4 2
17 Vân Canh 16 7 7 1 1
18 Vân Côn 15 9 8 1
19 Yên Sở 15 9 5 1 1
20 Trạm Trôi 18 7 8
Tổng số 326 165=51% 130=39% 19=5% 12=5%



Bảng 2b: Mức độ tham gia thực hiện quy chế dân chủ của nhân dân


Số Mức độ
ngườ
i Được Được Không
STT Nội dung công việc Được Đượ
được quyết Kiểm được
biết c bàn
hỏi định tra tham gia


Dự án xây dựng công
1 353 253 88 65 46 31
trình công cộng




122
Quyết toán các khoản
2 353 179 92 41 33 34
đóng góp của dân


Thu chi ngân sách địa
3 353 140 75 41 19 60
phương


Quy hoạch kế hoạch sử
4 353 112 12 5 16 77
dụng đất đai


Thanh tra, kiểm tra các
5 353 107 21 9 7 120
vụ tiêu cực


Chỉ tiêu phát triển KT-
6 353 121 16 40 3 51
XH địa phương




III. BẢNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
Bảng 3a: Đánh giá của cán bộ cơ sở về chuyển biến của địa phương so
với trước khi thực hiện quy chế dân chủ

Số người Tốt Không Kém Khó
STT Nội dung
được hỏi hơn thay đổi đi đánh giá
Bầu không khí dân củ ở
1 326 276 4 46
địa phương
Các quyền làm chủ của
2 326 282 6 38
nhân dân được thực hiện
Lòng tin của nhân dân đối
3 326 296 8 22
với Đảng, chính quyền
4 Tình hình phát triền KT- 326 291 12 23


123
XH của địa phương
Công tác Xây dựng Đảng
5 326 282 11 33
của địa phương
Công tác xây dựng chính
6 326 268 35 3
quyền ở địa phương
Công tác xây dựng mặt
7 326 266 41 3 16
trận và các đoàn thể
Phong cách làm việc của
8 326 241 50 35
cán bộ
Tình hình an ninh trật tự
9 326 280 10 11 25
của địa phương
Trách nhiệm của người
10 326 270 31 25
đứng đầu
Dân chủ công khai về tài
11 326 260 39 7 20
chính
Dân chủ công khai về đất
12 326 252 65 4 5
đai
Công khai về kiểm điểm
13 326 251 67 3 5
sai phạm của cán bộ




Bảng 3b: Đánh giá của nhân dân về kết quả thực hiện quy chế dân chủ


Số người Tăng Không Gảm Khó đánh
STT Nội dung
được hỏi lên thay đổi đi giá
Cải thiện đời sống của
1 353 299 51 4 0
nhân dân
Vấn đề đoàn kết trong cán
2 353 271 33 3 4
bộ, nhân dân
Tình hình tham nhũng, tiêu
3 353 26 51 156 45
cực
Tính tích cực, tự giác của
4 353 189 33 2 27
nhân dân
5 Tình hình khiếu kiện 353 41 22 158 3



124
6 An ninh trật tự xã hội 353 97 112 69 1
Tác phong lãnh đạo, làm
7 353 123 27 1 0
việc của cán bộ
Việc tiếp xúc nhân dân của
8 353 154 59
cán bộ
Việc lợi dụng dân chủ để
9 353 6 154
gây rối
Năng lực làm việc của cán
10 353 165 57 9
bộ
Quan hệ hàng xóm, khu
11 353 197 31
phố
Giải quyết các công việc
12 353 226 34
của xóm, khu phố
Trách nhiệm của cán bộ
13 353 214 36 5
đối với công việc
Sự tôn trọng, lắng nghe
14 353 230 25 5
nhân dân của cán bộ
Lòng tin của người dân vào
15 353 280 44 8
Đảng, chính quyền




125

Top Download Quản Trị Kinh Doanh

Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản