ĐỀ TÀI: " THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN"

Chia sẻ: Vương Quỳnh Liên | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:38

6
828
lượt xem
472
download

ĐỀ TÀI: " THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế,là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước mà thuế GTGT là một trong các loại thuế có tầm quan trọng trong nền kinh tế. Trong hầu như tất cả các loại hàng hóa,dịch vụ của mọi lĩnh vực,ngành nghề của nền kinh tế quốc dân,thuế GTGT đều chiếm một phần trong tồng giá trị của nó. Thuế GTGT giúp hệ thống chính sách thuế,sắc thuế tương đồng với Luật thuế Nhà nước và phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều đó giúp các doanh nghiệp mở rộng quan hệ hợp tác,phù hợp...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐỀ TÀI: " THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN"

  1. BÀI TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN 1
  2. MỤC LỤC Phần I: Tổng quan về thuế và thuế giá trị gia tăng 1.1 Tổng quan về thuế: 1.1.1Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường. 1.1.1.1.Nguồn gốc ra đời của thuế 1.1.1.2.Khái niệm thuế 1.1.1.3.Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 1.1.2. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế 1.2. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng 1.2.1. Khái niêm,vai trò của thuế giá trị gia tăng 1.2.1.1. Khái niệm 1.2.1.2. Đặc điểm 1.2.1.3. Vai trò của thuế giá trị gia tăng 2.2. Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng 2.2.1. Đối tượng chịu thuế,đối tượng không chịu thuế,đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng 2.2.2. Căn cứ tính thuế 2.2.3. Phương pháp tính thuế 2.2.4. Đăng ký,kê khai,nộp thuế và quyết toán thuế 2.2.5. Chế độ hoàn thuế Phần II: Thực trạng công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại công ty cổ phần vận tải Sơn Dương 2.1. Đặc điểm chung về công ty cổ phần vận tải Sơn Dương 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 2.1.2. Tổ chức bộ máy quản lý 2.1.3. Tổ chức công tác kế toán 2
  3. 2.2. Thực trạng công tác kế toán thuế GTGT tại công ty cổ phần vận tải Sơn Dương 2.2.1. Đối tượng chịu thuế GTGT và thuế suất thuế GTGT 2.2.2. Phương pháp tính thuế GTGT 2.2.2.1. Phương pháp tính thuế GTGT đầu vào 2.2.2.2. Phương pháp tính thuế GTGT đầu ra 2.2.2.3. Phương pháp tính thuế GTGT phải nộp 2.3. Kê khai thuế GTGT 2.4. Hoàn thuế GTGT Phần III: Kết luận và kiến nghị 3
  4. LỜI NÓI ĐẦU Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế,là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước mà thuế GTGT là một trong các loại thuế có tầm quan trọng trong nền kinh tế. Trong hầu như tất cả các loại hàng hóa,dịch vụ của mọi lĩnh vực,ngành nghề của nền kinh tế quốc dân,thuế GTGT đều chiếm một phần trong tồng giá trị của nó. Thuế GTGT giúp hệ thống chính sách thuế,sắc thuế tương đồng với Luật thuế Nhà nước và phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều đó giúp các doanh nghiệp mở rộng quan hệ hợp tác,phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế ,thực hiện bảo hộ hợp lý,có chọn lọc,có thời hạn,có điều kiện,tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển và đảm bảo lợi ích Quốc gia. Thuế GTGT đã và đang phát huy tác dụng tích cực trong tất cả mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội;khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh,xuất khẩu đầu tư,thúc đẩy hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp. Hiện nay,để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội thì Luật thuế GTGT,quyết định,thông tư,các chính sách về thuế liên tục được thay thế,sử đổi,bổ sung và dần ổn định. Chính vì liên tục thay đổi nên việc thi hành chính sách thuế GTGT và công tác hạch toán thuế GTGT luôn cần điều chỉnh và không tránh khỏi sai sót. Luật thuế GTGT được ban hành đầu tiên vào tháng 5 năm 1997; sửa đổi,bổ sung năm 2003; và đến năm 2008 đã ban hành luật 13/2008/QH12 Luật thuế GTGT,thông qua ngày 3 tháng 6 năm 2008. Vỉ tầm quan trọng của thuế GTGT và những gì nó đã và đang đạt được cùng với những khó khăn do xu hướng hội nhập của các chính sách,quy định,Luật thuế trong giai đoạn hiện nay nên em muốn nghiên cứu để hiểu rõ hơn về thuế GTGT. Em xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Anh Hoa và cán bộ công ty cổ phần vận tải Sơn Dương nói chung,cũng như các cô trong phòng kế toán nói riêng đã giúp em hoàn thành đề án này. 4
  5. PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ THUẾ GTGT 1.1.Tổng quan về thuế 1.1.1. Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 1.1.1.1. Nguồn gốc ra đời của thuế: Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan,gắn liền với sự ra đời,tồn tại và phát triển của nhà nước. Thuế luôn gắn liền với sự hình thành và tồn tại của hệ thống Nhà nước,đồng thời thuế cũng phát triển cùng với sự phát triển của hệ thống Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường,tùy theo mức độ thị trường hóa các quan hệ kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia,mà các chính phủ vận dụng các lý thuyết vào hệ thống chính sách thuế của mình một cách thích hợp. Việc suy tôn học thuyết này hay học thuyết khác chỉ mang tính lịch sử,không mang tính đối kháng và điều quan trong nhất cho các nhà hoạch định chính sách thuế các quốc gia là tìm ra những ứng dụng hiệu quả nhất,để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của thuế trong cơ chế thị trường mà không quá chú trọng quá vào trường phái lý thuyết nhất định. 1.1.1.2. Khái niệm thuế: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản,không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng. 1.1.1.3. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường: - Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước. - Thuế là công cụ điều hòa thu nhập,thực hiện công bằng xã hội. - Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra,kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh. - Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. 1.1.2. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế: 5
  6. 1, Tên gọi của sắc thuế: Tên luật thuế thường được xác định trên cơ sở tên gọi loại thuế được quy định trong nội dung luật thuế. Tên gọi của một loại thuế được xác định theo đối tượng nộp thuế như thuế công ty; hoặc đối tượng tính thuế như thuế thu nhập,thuế nhà đất,thuế GTGT;hoặc kết hợp cả đối tượng nộp thuế và đối tượng tính thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp,thuế thu nhập cá nhân; hoặc nội dung và tính chất của các hoạt động làm phát sinh các điều kiện pháp lý để áp dụng thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu,thuế môi trường… 2, Đối tượng nộp thuế: Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một loại thuế thường được gọi là đối tượng nộp thuế. Đối tượng nộp thuế thể hiện phạm vi áp dụng của một luật thuế cụ thể. Là đối tượng nộp thuế của một loại thuế nghĩa là người đó,tổ chức đó có nghĩa vụ phải kê khai loại thuế đó để xác định nghĩa vụ nộp thuế của mình,cho dù đối tượng đó sẽ được miễn toàn bộ hoặc cơ sở tính thuế bằng không. Không là đối tượng nộp thuế của một loại thuế,người đó,tổ chức đó không có nghĩa vụ phải kê khai thuế. Do hệ thống chính sách thuế là tập hợp nhiều loại thuế khác nhau đánh trên các cơ sở thuế khác nhau vì vậy việc một người là đối tượng nộp thuế của loại thuế này cũng có thể là đối tượng nộp thuế của loại thuế khác song cơ sở thuế không thể trùng nhau. 3, Đối tượng chịu thuế: Theo các luật thuế hiện hành ở Việt Nam,đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra để tính thuế. Đối tượng chịu thuế thường được xác định là thu nhập,hàng hóa hay tài sản. Mỗi một sắc thuế lại có đối tượng chịu thuế riêng,thông thường tên gọi của một sắc thuế bắt nguồn từ đối tượng chịu thuế của sắc thuế đó. Đối tượng chịu thuế thường được tính trên một đơn vị giá trị hoặc một đơn vị vật lý. Theo nghĩa này,các nước cho rằng đây là đối tượng tính thuế. Đối tượng chịu thuế theo quan điểm của nhiều nước là những người phải lấy từ thu nhập của mình ra để trả thuế cho Nhà nước thông qua hành vi tiêu dùng hoặc hành vi tìm kiếm thu nhập. 4, Cơ sở tính thuế: Đối tượng tính thuế: Là loại hàng hóa,dịch vụ hoặc một yếu tố khác có thể đo lường được như độ ồn,độ ô nhiễm… Mỗi loại thuế lại có một đối tượng tính thuế riêng. 6
  7. Giá tính thuế: Trong nền kinh tế thị trường,hầu hết các khoản thuế đều được thu bằng tiền. Vì vậy để xác định được số thuế phải nộp,hàng hóa,dịch vụ chịu thuế phải được tính thành tiền. Giá tính thuế được quy định để xác định giá trị tính thuế của hàng hóa,dịch vụ. Thông thường giá tính thuế được quy định là giá chưa có loại thuế đó của hàng hóa,dịch vụ. Tuy nhiên tùy theo chất lượng của từng loại thuế mà trong giá tính thuế của loại này có thuế của loại kia,hoặc giá tính thuế là giá bán ra hay giá mua vào hoặc có kèm theo các khoản phụ thu được hưởng hay không. 5, Mức thuế: Thuế suất hay định suất thuế là linh hồn của một loại thuế vì nó thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước,dồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế. Tùy theo quy định của từng loại thuế mà người ta áp dụng các loại thuế suất khác nhau. Trong thực tế có nhiều loại thuế suất nhưng nhìn chung có các loại sau: Thuế suất thống nhất: Là loại thuế suất quy định mức nộp thuế như nhau cho tất cả các đối tượng tính thuế. Loại thuế suất này thường được gặp ở thuế thân,nhưng hiện nay loại thuế này ít được áp dụng. Thuế suất phân biệt: Là loại thuế suất quy định các mức khác nhau cho từng đối tượng nộp thuế và đối tượng tính thuế tùy theo định hướng phát triển kinh tế của mỗi nước. - Thuế suất đơn vị(hay còn gọi là định suất): Là một loại thuế suất được quy định theo đơn vị vật lý của đối tượng tính thuế. Loại thuế này không phụ thuộc vào giá trị của đối tượng chịu thuế. - Thuế suất theo giá trị là loại thuế suất quy định tỷ lệ phần trăm huy động trên một đơn vị giá trị đối tượng tính thuế. Thuế suất theo giá trị các dạng cụ thể sau: + Thuế suất theo tỷ lệ là loại thuế suất áp dụng một tỷ lệ (%) cố định không thay đổi trong mọi trường hợp tăng giảm của cơ sở tính thuế. + Thuế suất lũy tiến là loại thuế mà mức thuế tăng theo mức tăng của cơ sở tính thuế. Thuế suất lũy tiến bao gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và thuế suất lũy tiến từng phần. 7
  8. Thuế suất lũy tiến toàn phần: Biểu thuế suất cũng chia làm nhiều bậc với mỗi mức tăng lên của thuế suất nhưng toàn bộ cơ sở đánh thuế được áp dụng một mức thuế suất chung tương ứng. Thuế suất lũy tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản và nhanh chóng. Tuy vậy nó cũng có nhược điểm là gây ra sự thay đổi có tính chất đột biến về tổng số thuế phải nộp của đối tượng nộp thuế ở những mức thu nhập cận biên giữa hai bậc thuế. Mặc dù giá trị của cơ sở đánh thuế thay đổi không đáng kể nhưng sự thay đổi về số thuế phải nộp rất đáng kể do phải áp dụng các mức thuế khác nhau trên toàn bộ cơ sở đánh thuế. Chính ví vậy,áp dụng thuế suất lũy tiến toàn phần dễ dẫn đến sự phản ứng từ phía các đối tượng nộp thuế và như vậy tất yếu làm giảm vai trò của thuế. Hiện nay thuế suất lũy tiến toàn phần rất ít được áp dụng trên thế giới. + Thuế suất lũy thoái: Là loại thuế suất có tính chất ngược lại với thuế suất lũy tiến,tức là mức thuế suất giảm dần trong khi cơ sở đánh thuế lại tăng dần. Ở một số nước trên thế giới,để khuyến khích các công ty nhỏ và vừa phát triển thành những công ty có quy mô lớn,người ta đã áp dụng thuế suất lũy thoái. Đây là loại thuế suất không được áp dụng phổ biến. 6, Chế độ miễn giảm thuế: Một số loại thuế quy định cho phép người nộp thuế không phải thực hiện nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền thuế,mà không phải nộp cho Nhà nước,gọi là miễn thuế hoặc chỉ phải nộp một phần số tiền thuế đó gọi là giảm thuế. Thông thường,những lý do để người nộp thuế được Nhà nước cho phép miễn thuế,giảm thuế được quy định trong các luật thuế là: Do nguyên nhân khách quan mà người nộp thuế gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc bị giảm sút thu nhập. Thực hiện một số chủ trương chính sách kinh tế của Nhà nước như: khuyến khích xuất khẩu,khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề trọng điểm,địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Tuy nhiên thực hiện việc miễn giảm thuế cũng có tính hai mặt,nó chứa đựng những yếu tố tích cực,tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực,có thể làm méo mó những ý tưởng ban đầu khi thiết lập các loại thuế,không phù hợp với những tiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại. 8
  9. Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế,việc giảm miễn thuế là phương tiện quan trọng để ưu đãi,khuyến khích phát triển sản xuất trong nước khi các rào cản thuế quan bị bãi bỏ. Tuy nhiên việc miễn giảm thuế nếu không đúng thông lệ quốc tế,được các tổ chức kinh tế quốc tế chấp thuận sẽ được xem là một khoản trợ cấp và sẽ bị áp dụng các biện pháp đối kháng hoặc trả đũa. 7, Chế độ trách nhiệm: Chế độ kê khai thuế quy định trong luật thuế thể hiện các quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong việc chấp hành sổ sách kế toán,hóa đơn chứng từ và cung cấp tài liệu,sổ sách kế toán,chứng từ hóa đơn liên quan đến việc tính và thu thuế. Tùy thuộc vào yêu cầu của việc tính thuế đối với từng loại thuế mà luật thuế và các văn bản pháp luật thuế có liên quan quy định nội dung pháp lý về nghĩa vụ kê khai của đối tượng nộp thuế. Chế độ nộp thuế bao gồm các quy định về quyền,nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế thực hiện với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hành vi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế được thể hiện ở việc nộp đủ và đúng thời hạn số thuế phải nộp. Thời hạn nộp thuế quy định trong các luật thuế và các văn bản pháp luật thuế được xác định phù hợp với nội dung,tính chất của từng loại thuế. Chế độ thu thuế là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong luật thuế có các quy định về trách nhiệm,quyền hạn của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện hoạt động thu thuế như cơ quan thuế,cơ quan hải quan,kho bạc Nhà nước. Ngoài ra,trong các luật thuế còn quy định trách nhiệm,quyền hạn của các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp,cơ quan Nhà nước có liên quan trong quá trình thực hiện việc thu thuế hoặc trách nhiệm,quyền hạn của các tổ chức và cá nhân thực hiện ủy nhiệm việc thu thuế. 8, Thời gian thu,thủ tục nộp thuế và các chế tài liên quan: Để đảm bảo cho pháp luật thuế được thực hiện một cách triệt để,tập trung đúng,đủ,kịp thời nguồn thu thuế vào ngân sách Nhà nước,các Luật thuế đều có quy định các biện pháp chế tài của Nhà nước đối với các thể nhân và pháp nhân vi phạm luật thuế,khen thưởng đối với thể nhân,pháp nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thu thuế. Các biện pháp chế tài được áp dụng để đảm bảo sự tuân thủ luật thuế bao gồm các biện pháp cưỡng chế hành chính và cưỡng chế tư pháp. 9
  10. Mỗi luật thuế sẽ quy định cụ thể cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính,giải quyết các khiếu nại,tố cáo trong quá trình áp dụng luật thuế. 1.2.Tổng quan về thuế GTGT: 1.2.1. Khái niệm,đặc điểm và vai trò của thuế GTGT: 1.2.1.1. Khái niệm: Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ. Được gọi là thuế GTGT vì thực chất thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa,dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất,lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế thu được ở mỗi khâu chính bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT do người tiêu dùng cuối cùng chịu,cơ sở sản xuất kinh doanh,nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ là người nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hóa,dịch vụ. 1.2.1.2. Đặc điểm: - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trực tiếp vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ chịu thuế GTGT,là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ,là khoản thu được công thêm vào giá bán của người cung cấp,hay nói cách khác giá cả hàng hóa,dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT. - Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa,dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất,lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao. Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh: + Thứ nhất,thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế,do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào ngân sách nhà nước. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ dơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa,dịch vụ. + Thứ hai,thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh,bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. 10
  11. - Về phạm vi đánh thuế: thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ,không đánh vào phạm vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa,dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa,dịch vụ nhập khẩu. 1.2.1.3. Vai trò của thuế GTGT: Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,do đó thuế GTGT có vai trò rất quan trọng và được thể hiện như sau: - Thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức,cá nhân tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ chịu thuế GTGT. - Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách Nhà nước. Ở Việt Nam,thuế GTGT hiện nay chiếm tỷ trọng khoảng 20-23% trong tổng thu từ thuế,phí và lệ phí. - Khuyến khích các tổ chức,cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh,khuyến khích chuyên môn hóa,hợp tac hóa sản xuất,nâng cao hiệu quả kinh tế,phù hợp với phát triển kinh tế thị trường. - Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa,dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%,doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa,dịch vụ không những không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí,hạ giá thành sản phẩm,tăng khả năng cạnh tranh về hàng hóa,dịch vụ xuất khẩu trên thị trường quốc tế. - Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán;sử dụng hoá đơn,chứng từ và thanh toán qua ngân hàng vì việc tính thuế đầu ra,khấu trừ thuế GTGT đầu vào quy định rõ phải căn cứ trên hoá đơn mua vào,bán ra;hàng hoá xuất khẩu mua bán phải thanh toán qua ngân hàng. 1.2.2. Nội dung cơ bản của thuế GTGT: 1.2.2.1. Đối tượng chịu thuế,đối tượng không chịu thuế,đối tượng nộp thuế GTGT: a, Đối tượng chịu thuế: Đối tượng chịu thuế GTGT là đối tượng tiêu dùng hàng hoá,dịch vụ chịu thuế GTGT,được viết tắt là hàng hoá,dịch vụ chịu thuế. Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá,dịch vụ dùng cho sản xuất,kinh doanh và tiêu dùng ở Việt 11
  12. Nam(bao gồm cả hàng hoá,dịch vụ mua cho tổ chức,cá nhân ở nước ngoài) trừ các đối tượng không chịu thuế theo quy định hiện hành. b, Đối tượng không chịu thuế GTGT: Theo nguyên tắc thuế GTGT thì mọi hàng hóa,dịch vụ tiêu dùng ở Vệt Nam đều thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Tuy nhiên,trong quy định của Luật thuế GTGT ở nước ta cũng như các nước đều có quy định các đối tượng không chịu thuế GTGT. Đối tượng cụ thể các nước quy định có khác nhau,ở nước ta hiện hành quy định có các nhóm hàng hóa không thuộc diện chịu thuế GTGT như sau: * Hàng hóa,dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống cộng đồng,không mang tính chất kinh doanh: - Dịch vụ y tế. - Văn hóa, giáo dục, đào tạo; dạy học,dạy nghề. - Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện. - Hoạt động văn hóa, triển lãm và thể dục, thể thao không nhằm mục đích kinh doanh; biểu diễn nghệ thuật; sản suất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim nhựa, phim video tài liệu. - Phát sóng phát thanh, truyền hình theo chương trình bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước. - Dịch vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên,cây xanh thành phố, chiếu sáng công cộng, dịch vụ tang lễ… * Hàng hóa,dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu xã hội,nhân đạo: - Hàng hóa nhập khẩu trong các trường hợp sau: hàng viện trơn nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan Nhà nước,tổ chức chính trị,tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp,đơn vị vũ trang nhân dân… - Hàng hóa bán cho tổ chức quốc tế,người nước ngoài để viện trợ nhân đạo,viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam. * Hàng hóa,dịch vụ của một số ngành sản xuất còn gặp nhiều khó khăn cần khuyến khích phát triển: - Sản xuất nông nghiệp: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra; sản phẩm là giống vật nuôi,giống cây trồng. 12
  13. - Sản phẩm muối. Các sản phẩm này thực tế hiện nay chủ yếu vẫn là sản xuất theo quy mô nhỏ, hộ gia đình,chưa thực hiện chế độ hóa đơn,chứng từ nên khó xác định thuế và nếu có thu thì chi phí quản lý hành chính thuế của ngành thuế và chi phí tuân thủ của người nộp thuế lớn, gây ra không hiệu quả về mặt xã hội. * Hàng hóa,dịch vụ xác định theo yêu cầu,mục tiêu cụ thể gồm: - Thiết bị, máy móc,phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; máy bay, giàn khoan, tàu thủy thuê của Nước ngoài thuộc loại trong nước chưa sản xuất được dùng cho sản xuất,kinh doanh; thiết bị,máy móc,phụ tùng thay thế,phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò,phát hiện mỏ dầu khí. - Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoán sản chưa qua chế biến do chính phủ quy định như: dầu thô,đá phiến,cát,đất hiếm,đá quý,quặng măng-gan, quặng thiếc,quặng sắt… - Chuyển giao công nghệ, phần mềm máy tính: nhằm khuyến khích phát triển công nghệ phần mềm,là yếu tố quan trọng để tăng năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh,qua đó tác động mạnh đến phát triển nền kinh tế. * Hàng hóa nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt nam: hàng chuyển khẩu, quá cảnh,mượn đường qua Việt Nam;hàng tạm nhập khẩu,tái xuất khẩu; hàng xuất khẩu,tái nhập khẩu… * Hàng hóa mang tính chất phục vụ nhu cầu đặc biệt của Nhà nước hoặc cần bảo mật như: vũ khí,khí tài chuyên dùng phục vụ an ninh quốc phòng,dự trữ quốc gia… * Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập thấp, phần lớn các nước thường áp dụng ngưỡng tính thuế. * Hàng hóa, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm,do đó khó xác định được thuế GTGT: dịch vụ tín dụng,quỹ đầu tư,hoạt động kinh doanh chứng khoán… Hầu hết các nước cũng không thu thuế với nhóm này. 13
  14. * Hàng hóa, dịch vụ khác: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi,bảo hiềm cây trồng và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh… 1.2.2.2. Căn cứ tính thuế: a, Giá tính thuế: * Nguyên tắc cơ bản xác định giá thành thuế GTGT: - Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp. Nguyên tắc chung xác định giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hoá đơn bán hàng của người bán hàng,người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hoá nhập khẩu. + Đối với hàng hoá,dịch vụ do cơ sở sản xuất,kinh doanh bán ra hoặc cung ứng cho đối tượng khác: Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT,bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hoá,dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng,trừ các khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp ngân sách Nhà nước. Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã giảm ghi trên hoá đơn. + Đối với hàng hoá,dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT. Trường hợp hàng hoá nhập khẩu được miễn,giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá hàng hoá nhập khẩu cộng thuế tiêu thụ đặc biệt(nếu có). Thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) được xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn giảm. - Thời điểm để xác định giá tính thuế GTGT là thời điểm cơ sở kinh doanh đã chuyển giao quyền sở hữu,quyền sử dụng hàng hoá,dịch vụ không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. * Giá tính thuế đối với một số trường hợp: Giá tính thuế đối với một số trường hợp được quy định cụ thể như sau: - Đối với sản phẩm,hàng hoá,dịch vụ dùng để trao đổi,biếu,tặng hoặc để trả thay lương: Giá tính thuế GTGT được xác định theo giá tính thuế của sản phẩm,hàng hoá,dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm phát sinh các hoạt động này. 14
  15. - Đối với sản phẩm,hàng hoá,dịch vụ cơ sở kinh doanh xuất để tiêu dùng không phục vụ cho sản xuất,kinh doanh hoặc cho sản xuất,kinh doanh hàng hoá,dịch vụ không chịu thuế GTGT thì phải tính thuế GTGT đầu ra. Giá tính thuế tính theo giá bán của sản phẩm,hàng hoá,dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm phát sinh. - Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp,trả chậm thì giá tính thuế là giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hoá đó (không bao gồm lãi trả góp,trả chậm),không tính theo số tiền trả góp,trả chậm từng kỳ. - Đối với gia công hàng hoá thì giá tính thuế là giá gia công chưa có thuế GTGT,bao gồm tiền công,tiền nhiên liệu,động lực,vật liệu phụ và các chi phí khác để gia công do bên nhận gia công phải chịu. - Đối với dịch vụ hưởng tiền công hoặc tiền hoa hồng thì giá tính thuế GTGT là tiền công,hoa hồng được hưởng chưa có thuế GTGT. - Đối với hàng hoá,dịch vụ có tính đặc thù dùng các chứng từ như tem bưu chính,vé cước vận tải,vé xổ số kiến thiết… ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT. Giá chưa có thuế GTGT được xác định theo công thức: Giá chưa có thuế Giá thanh toán(tiền (1+(%) thuế suất của = : GTGT bán vé bán tem…) hàng hoá,dịch vụ đó. b, Thuế suất: Thuế suất được xác định là “linh hồn” của mỗi luật thuế,thể hiên quan điểm mức động viên của Nhà nước với đối tượng chịu thuế. Việc quy định thuế suất hợp lý có ý nghĩa quan trọng. Luật thuế GTGT của Việt Nam có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999,quy định bốn mức thuế suất (0%,5%,10% và 20%); sau một thời gian áp dụng và để hoàn thiện,Luật đã được điều chỉnh,hiện nay chỉ còn 3 mức thuế suất là 0%,5% và 10%. 1.2.2.3. Phương pháp tính thuế: a, Phương pháp khấu trừ thuế: * Đối tượng áp dụng: Các đơn vị,tổ chức kinh doanh,doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật doanh nghiệp), Luật hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị,tổ chức kinh doanh khác được áp dụng 15
  16. phương pháp khấu trừ theo hướng dẫn của Bộ tài chính,trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT theo quy định. Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua,bán vàng bạc,đá quý,ngoại tệ ( thuộc diện áp dụng phương pháp trực tiếp) thì cơ sở phải hạch toán riêng hoạt động kinh doanh này để tính thuế trực tiếp trên GTGT,do vàng bạc,đá quý,ngoại tệ là các loại hang hóa có giá trị lớn,nhưng chênh lệch mua bán so với giá vốn không lớn và thường các cơ sở kinh doanh mua bán với các đối tượng tiêu dung trực tiếp không đảm bảo được về hóa đơn,chứng từ. * Xác định thuế GTGT phải nộp: Thuế GTGT đầu Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – vào được khấu trừ - Xác định thuế GTGT đầu ra: thuế suất thuế Thuế GTGT Giá tính thuế của hàng = * GTGT của hàng đầu ra hóa,dịch vụ chịu thuế bán ra hóa,dịch vụ đó + Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa,dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa,dịch vụ bán ra. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa,dịch vụ,cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế,thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. + Trường hợp hóa đơn chỉ ghi giá thanh toán,không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hóa,dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hóa đơn,chứng từ. + Cơ sở kinh doanh phải chấp hành chế độ kế toán,hóa đơn,chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán,hóa đơn,chứng từ,nếu hóa đơn ghi sai mức thuế suất thuế GTGT mà cơ sở kinh doanh chưa tự điều chỉnh,cơ quan thuế kiểm tra,phát hiện thì xử lý đối với cơ sở kinh doanh bán hàng,dịch vụ đó như sau: Trường hợp thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn cao hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì phải kê khai,nộp thuế GTGT theo thuế suất đã ghi trên hóa đơn. Trường hợp thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn thấp hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì phải kê 16
  17. khai,nộp thuế GTGT theo thuế suất thuế GTGT quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT. - Xác định thuế GTGT đầu vào: + Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được xác định bằng cách căn cứ vào tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa,dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất,kinh doanh hàng hóa,dịch vụ chịu thuế GTGT,số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ tài chính áp dụng đối với các tổ chức,cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam. Trường hợp hàng hóa,dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào giá đã có thuế và phương pháp tính quy định để xác định giá không có thuế và thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. + Nếu hóa đơn ghi sai mức thuế suất thuế GTGT mà các cơ sở kinh doanh chưa tự điều chỉnh,cơ quan thuế kiểm tra,phát hiện thì xử lý đối với cơ sở kinh doanh mua hàng hóa,dịch vụ như sau: Trường hợp thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn cao hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì khấu trừ thuế đầu vào theo thuế suất quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT. Trường hợp thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn thì thấp hơn thuế suất quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì khấu trừ thuế đầu vào theo thuế suất ghi trên hóa đơn. + Thuế GTGT đầu vào được xác định theo các nguyên tắc cơ bản sau: Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là thuế GTGT của hàng hóa,dịch vụ dùng cho sản xuất,kinh doanh hàng hóa,dịch vụ chịu thuế GTGT. Thuế GTGT của hàng hóa,dịch vụ mua vào dùng đồng thời cho sản xuất,kinh doanh hàng hóa,dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa,dịch vụ dùng cho sản xuất,kinh doanh hàng hóa,dịch vụ chịu thuế GTGT;số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ được tính vào chi phí của hàng hóa,dịch vụ không chịu thuế GTGT. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào được khấu trừ 17
  18. và thuế đầu vào không được khấu trừ làm căn cứ xác định chính xác số thuế GTGT phải nộp vào Ngân sách Nhà nước. Riêng đối với tài sản cố định vừa dùng cho sản xuất,kinh doanh hàng hóa,dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ số thuế GTGT đầu vào. Tài sản cố định chuyên dùng để sản xuất kinh doanh hàng hóa,dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định. Thuế GTGT đầu vào hàng hóa,tài sản cố định mua vào bị tổn thất,bị hỏng do thiên tai,hỏa hoạn,tai nạn bất ngờ,mất trộm nếu xác định được tổ chức,cá nhân có trách nhiệm phải bồi thường thì thuế GTGT đầu vào của số hàng hóa này được tính vào giá trị hàng hóa tổn thất phải bồi thường,không được khấu trừ. Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa,dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó,không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho. Trường hợp thuế GTGT đầu vào của hàng hóa,dịch vụ dùng để đầu tư xây dựng,lắp đặt tạo thành TSCĐ của cơ sở kinh doanh chưa đi vào hoạt động,chưa phát sinh thuế đầu ra hoặc thuế đầu vào của tài sản cố định phát sinh từ 200 triệu đồng trở lên được khấu trừ dần theo quý (3 tháng liên tục không phân biệt theo năm dương lịch). Đối với hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT được chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế,được khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa,dịch vụ mua vào phát sinh kể từ tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; đối với hàng hóa,dịch vụ mua vào trước tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế thì không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Hàng hóa,dịch vụ xuất khẩu được khấu trừ,hoàn thuế GTGT phải có đủ điều kiện sau: -> Có hợp đồng bán hàng hóa,gia công hàng hóa,cung cấp dịch vụ cho tổ chức,cá nhân nước ngoài. -> Có tờ khai hải quan về hàng xuất khẩu có xác nhận của cơ quan hải quan đã xuất khẩu. 18
  19. -> Phải thực hiện thanh toán qua Ngân hàng và các hình thức thanh toán khác theo quy định của Chính phủ đối với những lô hàng xuất khẩu. -> Có hóa đơn GTGT bán hàng hóa,dịch vụ hoặc xuất trả hàng gia công cho nước ngoài,doanh nghiệp chế xuất. + Cơ sở kinh doanh không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hóa đơn GTGT sử dụng không đúng quy định của pháp luật như: Hóa đơn GTGT không ghi thuế GTGT (trừ trường hợp đặc thù được dùng hóa đơn ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT). Không ghi hoặc ghi không đúng tên,địa chỉ,mã số thuế của người bán nên không xác định được người bán. Hóa đơn,chứng từ nộp thuế GTGT giả,hóa đơn bị tẩy xóa,hóa đơn khống (không có hàng hóa,dịch vụ kèm theo). Hóa đơn ghi giá trị không đúng giá trị thực tế của hàng hóa,dịch vụ mua bán,trao đổi… b, Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên GTGT: * Đối tượng áp dụng: - Cá nhân sản xuất,kinh doanh là người Việt Nam: là đối tượng sản xuất kinh doanh nhỏ,chưa đáp ứng được đầy đủ chế độ kế toán,hóa đơn chứng từ. - Tổ chức,cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán,hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế. - Cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc,đá quý,ngoại tệ. * Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT GTGT của hàng Thuế suất thuế GTGT của = * phải nộp hóa,dịch vụ chịu thuế hàng hóa,dịch vụ đó Có 3 cách xác định GTGT của hàng hóa,dịch vụ chịu thuế: - Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua,bán hàng hóa,dịch vụ có hóa đơn,chứng từ,ghi chép sổ sách kế toán: GTGT của hàng Doanh số của hàng Giá vốn của hàng = - hóa,dịch vụ bán ra hóa,dịch vụ bán ra hóa,dịch vụ bán ra Doanh số hàng hóa,dịch vụ bán ra bao gồm cả các khoản phụ chi,phí thu thêm mà người mua đã trả và cơ sở kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu tiền hay chưa thu tiền. 19
  20. Giá vốn hàng hóa,dịch vụ bán ra chính là doanh số vật tư,hàng hóa,dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ bán ra. Trong đó,bao gồm cả các khoản thuế và phí đã trả tính trong giá thanh toán của hàng hóa,dịch vụ mua vào. Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán được doanh số vật tư,hàng hóa,dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất kinh doanh đối với số hàng hóa và dịch vụ bán ra thì giá vốn của hàng hóa,dịch vụ bán ra xác định như sau: Giá vốn hàng Doanh số + Doanh số mua Doanh số tồn = - bán ra tồn đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT không được tính giá trị tài sản mua ngoài,đầu tư,xây dựng làm tài sản cố định vào giá vốn của hàng hóa,dịch vụ để tính GTGT. Khoản giá trị này sẽ được tính vào cơ cấu vốn cố định của doanh nghiệp. - Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hóa đơn,chứng từ bán hàng hóa,dịch vụ,xác định được đúng doanh số bán hàng hóa,dịch vụ theo hóa đơn bán hàng hóa,dịch vụ nhưng không có đủ hóa đơn mua hàng hóa,dịch vụ: GTGT của hàng Tỷ lệ (%) GTGT tính = Doanh số * hóa,dịch vụ trên doanh số - Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hóa đơn mua,bán hàng hóa,dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng hộ ấn định mức doanh số tính thuế: GTGT của hàng Doanh số do cơ Tỷ lệ (%) GTGT = * hóa,dịch vụ quan thuế ấn định tính trên doanh số Việc Luật thuế GTGT quy định phương pháp tính thuế GTGT phải nộp đối với các trường hợp nói trên,xuất phát từ lý do sau đây: + Trong giá bán hàng hóa,dịch vụ của các cơ sở kinh doanh nói trên đã bao gồm thuế GTGT thu hộ khách hàng,do vậy về nguyên tắc cơ sở phải nộp thuế GTGT cho Ngân sách Nhà nước. + Trên thực tế do việc bán hàng không có hóa đơn hoặc có hóa đơn nhưng không đầy đủ nên không thể xác định chính xác số thuế GTGT phải nộp. Để tránh thất thu cho Ngân sách Nhà nước,đảm bảo công bằng giữa các đối 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản