Đề tài “Thuế quan(Thuế NK) Việt nam trong quá trình hội nhập AFTA”

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:75

3
372
lượt xem
246
download

Đề tài “Thuế quan(Thuế NK) Việt nam trong quá trình hội nhập AFTA”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài “thuế quan(thuế nk) việt nam trong quá trình hội nhập afta”', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài “Thuế quan(Thuế NK) Việt nam trong quá trình hội nhập AFTA”

  1. LUẬN VĂN “Thuế quan(Thuế NK) Việt nam trong quá trình hội nhập AFTA” 1
  2. MỤC LỤC MỤC LỤC ................................................................................................................ 1 LỜI MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3 CHƯƠNG I: AFTA VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CẢI CÁCH THUẾ QUAN TRONG KHUÔN KHỔ AFTA .................................................................... 5 I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN ................ 5 1. Từ hiệp định ưu đãi thương mại ASEAN (PTA) đến CEPT - sự hình thành AFTA. .................................................................................................................................. 5 2. Các mục tiêu cơ bản của AFTA ............................................................................ 8 II. VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH THUẾ QUAN TRONG KHUÔN KHỔ AFTA. ...................................................................................................................... 9 1. Vai trò của cải cách thuế quan............................................................................... 9 2. Nội dung cải cách thuế quan trong quá trình thực hiện AFTA............................. 10 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIA NHẬP AFTA CỦA VIỆT NAM .................... 16 I.QUAN HỆ TM HOÁ VIỆT NAM – ASEAN: ...................................................... 16 1.Tình hình chung ASEAN ..................................................................................... 16 II. NỘI DUNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH THUẾ QUAN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN AFTA Ở VIỆT NAM. .......................................................... 18 1. Hệ thống thuế Việt Nam trước khi thực hiện AFTA ........................................... 18 2. Cải cách thuế nội địa ở Việt Nam........................................................................ 18 3. Nội dung cải cách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam........................................ 21 CHƯƠNG III: XU HƯỚNG CẢI CÁCH THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM ........... 29 I.THUẬN LỢI KHÓ KHĂN KHI VIỆT NAM GIA NHẬP AFTA ........................ 29 1.XU HƯỚNG CẢI CÁCH: ................................................................................... 32 2. Những biện pháp hướng tới nhằm thúc đẩy thực hiện CEPT/ AFTA .................. 33 III. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT: ................................................................................... 38 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 56 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................. 57 2
  3. LỜI MỞ ĐẦU Trong điều kiện ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới và đang cuốn hút toàn thể nhân loại hoà vào dòng chảy của nó. Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những thời cơ thuận lợi cho các quốc gia đang phát triển, nhưng cũng đặt mỗi nước phải đối mặt với không ít khó khăn, trong đó vấn đề xoá bỏ hàng rào thuế quan nhằm thực hiện tự do hoá thương mại toàn cầu đang là một thách thức to lớn. Việc cắt giảm thuế quan không chỉ ảnh hưởng đến tính hệ thống của chính sách thuế nói chung mà điều quan trọng hơn, tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự thay đổi của chính sách kinh tế xã hội của đất nước. Ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các Đông Nam Á (ASEAN) và cam kết bắt đầu thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực (CEPT) do khối Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996, hoàn thành vào năm 2006. Tham gia AFTA và hoạt động trong ASEAN, Việt Nam đồng thời là thành viên sáng lập Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), đã gia nhập diễn dàn kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ký kết Hiệp định Thương mại Hoa kỳ tại Washington có hiệu lực kể từ ngày 13/7/2000 và đang đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việt Nam hội nhập các tổ chức kinh tế quốc tế trong một bối cảnh mới, trước những thách thức mới.Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế phát triển còn ở mức thấp, đang trong quá trình chuyển đổi. Hội nhập mang lại sự tăng trưởng, phát triển, nhưng phải đối đầu với những vấn đề phát sinh do hội nhập, cạnh tranh, thậm chí do khủng hoảng kinh tế - tài chính gây ra đối với nền kinh tế của đất nước. Ảnh hưởng của sự hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là quan trọng, nhưng nói chung thì nó không thâu tóm được những ảnh hưởng đối với từng ngành, đặc biệt đối với ngoại thương. Toàn cầu hoá với quy mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, không ngừng. Nó không đơn thuần là xu hướng, mà là xu hướng hối thúc các nước hội nhập mạnh hơn cả về kinh tế, sản xuất, buôn bán, công nghệ, bảo vệ môi trường… Các lực lượng kinh tế, chính trị và công nghệ mạnh nắm chắc hầu hết các nền kinh tế quan trọng của thế giới đang gia tăng thúc giục sự hội nhập toàn cầu của các nền kinh tế. Một nền kinh tế toàn cầu, cũng đòi hỏi trật tự chính trị thế giới ứng với nó. Kinh tế toàn cầu về mặt lô gíc biện chứng sẽ làm cho nhiều quyết định quốc gia về chính sách sản xuất, tài chính, thương mại, đầu tư, viện trợ Nhà nước vv... được đặt trong sự thoả thuận quốc tế, trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế. Quốc tế còn bàn và quyết định cả những vấn đề về trốn thuế, chiếm đoạt bản quyền, tội phạm xuyên biên giới, rửa tiền, tham nhũng. WTO khởi xướng một vòng đàm phán toàn cầu mới, vòng đàm phán thiên niên kỷ bắt đầu với Hội nhập Bộ trưởng của các nước thành viên WTO họp vào tháng 11/1999. Mục đích đàm phán là mở rộng thị trường một cách đáng kể trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, hàng nông nghiệp, minh bạch trong mua sắm của chính phủ, đẩy nhanh tự do hoá thuế quan. 3
  4. Ngay cả trong APEC, nhiều vấn đề về kinh tế - thương mại quốc tế như các vấn đề về nông nghiệp, dịch vụ, thuế quan hàng công nghiệp, thương mại điện tử, thuận lợi hoá thương mại, đã được Hội nghị Cấp cao ở Newzealand đẩy nhanh hơn về tự do hoá và chuyển sang để đàm phán trong khuôn khổ WTO. Khi vòng đàn phán thiên niên kỷ mới bắt đầu, khả năng gia nhập WTO của một nước sẽ khó khăn hơn; các quy định của WTO về kinh tế - thương mại quốc tế sẽ càng chặt chẽ hơn, luật chơi mới cho thương mại thế giới trong thế kỷ 21 sẽ càng nghiêm khắc hơn. Toàn cầu hoá dẫn đến siêu cạnh tranh trong thương mại. Việc hạ thấp các hàng rào bảo hộ đẩy các nền kinh tế vào cạnh tranh toàn cầu. Trong bối cảnh này, việc cải cách thuế quan ở Việt Nam theo những quy định chặt chẽ và cụ thể của Hiệp định CEPT đòi hỏi phải cân nhắc tính toán kỹ lưỡng để thực hiện AFTA một cách có lợi và phù hợp nhất. Do vậy, nghiên cứu đề tài “Thuế quan(Thuế NK) Việt nam trong quá trình hội nhập AFTA” nhằm khái quát hoá những thay đổi về thuế nội địa và tiến hành thực hiện giảm thuế nhập khẩu theo chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn không chỉ đối với việc Việt Nam tham gia ASEAN, mà đối với việc nước ta tham gia APEC, gia nhập WTO. Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong khoá luận này gồm duy vật biện chứng, so sánh, tổng hợp và phân tích, kết luận những kết quả thống kê với sự vận dụng lý luận. Khoá luận tốt nghiệp cũng vận dụng các quan điểm, đường lối phát triển chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước để khái quát, hệ thống và khẳng định các kết quả nghiên cứu. Bố cục khoá luận tốt nghiệp Nội dung chính của khoá luận tốt nghiệp được chia làm 3 chương: Chương I: AFTA và những quy định chung về cải cách thuế quan trong khuôn khổ AFTA Chương II. Thực trạng gia nhập AFTA của Việt nam Chương III. Xu hướng cải cách thuế quan của Việt nam Ngoài ra, còn có Lời nói đầu và kết luận. Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy giáo TS. Nguyễn Hữu Khải, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ em. Em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa kinh tế ngoại thương và những người đã ủng hộ, nhiệt tình góp ý kiến để em hoàn thành luận văn này. 4
  5. CHƯƠNG I: AFTA VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CẢI CÁCH THUẾ QUAN TRONG KHUÔN KHỔ AFTA I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN 1. Từ hiệp định ưu đãi thương mại ASEAN (PTA) đến CEPT - sự hình thành AFTA. Ngay từ thời kỳ đầu, các nước ASEAN đã thấy được tầm quan trọng to lớn, vì thế đã chú trọng xây dựng, tăng cường liên kết kinh tế nói chung, thương mại nói riêng giữa các nước trong khối. Hiệp định ưu đãi thương mại là văn kiện quan trọng đầu tiên của ASEAN nhằm tiến tới tự do hoá buôn bán khu vực. Hiệp định này không đặt ra những mục tiêu đặc biệt như các hiệp định ưu đãi buôn bán khác của các nước đang phát triển, mà cố gắng thiết lập một cơ chế giúp hoạt động thương mại trong phạm vi ASEAN được tự do hoá từng bước, phù hợp với khả năng của thành viên. Ban đầu, các nước thực hiện ưu đãi với từng sản phẩm được lựa chọn theo phương pháp lập bảng ma trận và phương pháp tự nguyện. Theo Hiệp định, tổng số 71 mặt hàng được ưu đãi, trong đó 21 mặt hàng được hưởng quy chế của PTA theo phương pháp ma trận và 50 mặt hàng theo phương pháp tự nguyện. Sau năm 1980 các nước ASEAN hướng vào tự do hoá thương mại hơn nữa, chuyển từ phương pháp tự nguyện và lựa chọn từng sản phẩm sang ưu đãi toàn bộ với mọi thành viên, hiệu quả hơn. Mức giảm 20% thuế cho tất cả các thành viên được thông qua đối với 6000 sản phẩm với giá trị dưới 500.000 USD. Mức giới hạn này tăng dần từ 500.000USD lên 1 triệu, sau đó là dưới 10 triệu. Năm 1984 người ta chấp nhận giảm 20 - 25% thuế đối với tất cả các sản phẩm có giá trị buôn bán vượt 10 triệu USD. Tới tháng 6 -1986, có tất cả 12647 sản phẩm của nước ASEAN được hưởng ưu đãi theo PTA. Một nửa số nước này giảm thuế 20 - 25% các hàng khác nhau. Giới hạn ưu đãi thuế trung bình đối với từng quốc gia khác nhau. Ví dụ: Singapore có chế độ tự do hoá thương mại rộng rãi nên ngay từ trước khi thực hiện PTA, nhiều mặt hàng nhập khẩu đã không bị đánh thuế. Hầu như 95% mặt hàng nằm trong Danh mục ưu đãi của Singapore đã có thuế suất ở mức 0%, khiến cho tỷ lệ miễn giảm trung bình là 2,3% Mặc dù vậy, cho tới trước Hội nghị Cấp cao Manila, quá trình thực hiện PTA tiến triển hết sức chậm chạp. Vẫn còn rất nhiều mặt hàng nằm ngoài danh sách PTA. Nguyên nhân đầu tiên là thái độ thiếu tin cậy lẫn nhau giữa các nước trong quá trình thực hiện PTA. Sau khi cam kết cắt giảm thuế, các nước ASEAN tìm cách khai thác những biện pháp khác tạo ra hàng rào phi thuế quan nằm bảo vệ những quyền biện pháp kháo tạo ra hàng rào phi thuế quan nằm bảo vệ những quyền lợi của mình, cản trở quan hệ buôn bán giữa các nước thành viên. Do vậy, tỷ trọng các mặt hàng được hưởng quy chế PTA rất thấp. Năm 1987, trong số 1278 mặt hàng đưa vào danh sách PTA chỉ có 322 mặt hàng hàng (2,6%) thực sự được bảo đảm bằng ưu đãi về thuế. Tương ứng với số lượng mặt hàng này là 19% tổng giá trị buôn bán nội bộ ASEAN. Hơn nữa, những mặt hàng có giá trị buôn bán nội bộ ASEAN. Hơn nữa, những mặt 5
  6. hàng có giá trị buôn bán lớn chiếm một tỷ lệ cao trong danh sách những mặt hàng bị hạn chế (ở Malaysia tỷ lệ này là 60 - 80%) Mặc dù quan hệ buôn bán nội bộ ASEAN tăng nhanh xét về tỷ trọng của nó trong tổng số thương mại thời kỳ đầu những năm 80, nhưng điều đó không phải là kết quả thực hiện PTA. Buôn bán trong nội bộ ASEAN tăng chủ yếu là do tăng buôn bán dầu lửa. Dầu lửa chiếm tới 50% giá trị buôn bán giữa các nước này, nên dầu là yếu tố chính trong tăng buôn bán khu vực. Còn trên thực tế, tác động của PTA ở đây rất hạn chế. Tỷ lệ buôn bán dựa trên PTA chiếm 5% tổng giá trị ngoại thương. Đó là nguyên nhân thứ nhất. Nguyên nhân thứ hai là việc cắt giảm thuế chưa đạt tới mức độ cần thiết để tạo ra những kích thích mạnh mẽ việc buôn bán. Các nước dường như chỉ ưu đãi các mặt hàng với vai trò ít quan trọng trong buôn bán quốc tế và khu vực. Ví dụ, Thái Lan dành sự ưu đãi lớn cho việc nhập khẩu gỗ, mặt hàng mà nước này không hề nhập. Cũng như vậy, các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh lớn cũng không được ưu đãi. Trong khi đó, việc giảm thuế chỉ hướng vào các ngành khá nhỏ. Nhận thấy quan hệ hợp tác kinh tế bắt đầu rơi vào trạng kém khả quan, bó hẹp trong những mục tiêu ngắn hạn, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ ba năm 1989 tại Manila đã nhấn mạnh tới một số vấn đề gây cấn cản trở việc thực hiện PTA. Tại hội nghị này, các vấn đề về việc hoàn thiện PTA đã được thảo luận. Các nước thành viên cam kết thực hiện cắt giảm số lượng mặt hàng nằm trong danh mục hạn chế chỉ còn lại 10% và giá trị của chúng không vượt quá 50% tổng giá trị buôn bán trong khu vực. Thủ tục đưa các mặt hàng mới vào danh sách được ưu đãi của PTA cũng thay đổi từ việc xem xét hàng năm sang chương trình 5 năm (từ 1988 đến 1992). Sau một thời gian thực hiện chương trình này, đã có một số tiến bộ. Số mặt hàng ưu đãi tăng, mức tăng thay đổi theo từng nước. Tuy nhiên, không phải cả các nước đều thực hiện đầy đủ và cho đến thời điểm đó, sự đóng góp của PTA đối với buôn bán trong khu vực, xét về giá trị tuyệt đối cũng như tỷ trọng vẫn còn ít. Mắc tăng nhapạ khẩu và xuất khẩu giữa các nước còn thấp. Ví dụ tỷ trọng xuất khẩu của Indonesia tới các thành viên theo PTA chỉ tăng từ 1,4% năm 1986 lên 3,5% năm 1989. Trong khi đó tỷ trọng nhập khẩu còn thấp hơn, từ 1,2% lên 1,6%. Tuy nhiên nhịp độ tăng trưởng này cũng vào loại khá so với mức tăng trưởng chung của toàn thế giới. Nhìn chung, tuy có một số tiến bộ nhưng tốc độ tự do hoá thương mại thực hện trong khuôn khổ PTA vẫn còn rất chậm và hạn chế. Những biện pháp mở rộng buôn bán thực chất chỉ là những biện pháp nhằm những mục tiêu ngắn hạn. Do vậy, các nước thành viên ASEAN thấy cần thiết phải có một cơ chế hợp tác mang tính thể chế, thống nhất tiêu chí phối hợp hành động, tăng mức ưu đãi, đơn giản hoá các thủ tục, nhắm tới những mục tiêu xa hơn. Nhất là sau chiến tranh lạnh, sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của hàng loạt các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Âu, các quốc gia ASEAN ngày càng có nhều đối thủ cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài và cạnh tranh thương mại. Các nền kinh tế ASEAN đứng trước những thách thức mới do sự xuất hiện của những tổ chức hợp tác khu vực hơn hẳn về quy mô, tiềm năng và trình độ phát triển như EU, NAFTA. 6
  7. Trước sức ép của chủ nghĩa khu vực và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, ngày càng có nhiều dấu hiệu làm mất đi các lợi thế cạnh tranh của các nước ASEAN, buộc các nước ASEAN phải có sự thống nhất phối hợp hành động, nỗ lực tìm những biện pháp thúc đẩy nhanh chóng buôn bán nội bộ và tự do hoá quan hệ thương mại. Hàng loạt cuộc gặp gỡ giữa các quan chức chính phủ ASEAN đã diễn ra nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trên. Ngày 28/1/1992, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 diễn ra tại Singapore, các nước thành viên ASEAN đã chính thức ký kết các văn kiện thành lập AFTA. Một trong những văn kiện quan trọng nhất đối với việc thành lập AFTA là Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung dành cho AFTA (CEPT). Trên nguyên tắc, Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã được thông qua tháng 10 - 1991 thay thế choi PTA. Theo hiệp định CEPT , các nước ASEAN thoả thuận giảm thuế quan trong thương mại nội bộ ASEAN xuốn còn từ 0% đến 5%, loại bỏ các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan, đồng thời tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hải quan. Chương trình thực hiện CEPT ban đầu được dự kiến kéo dài trong vòng 15 năm, bắt đầu từ 1/3/1993, hoàn thành vào 1/1/2008. Tuy nhiên, với những kết quả khả quan theo hướng đẩy mạnh tự do hoá thương mại của các vòng đàm phán U rugoay, trước những bước tiến nhanh của Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và kế hoạch tự do hoá thương mại đầy tham vọng nhưng cũng rất khả thi của Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 26 họp tại Thái Lan (tháng 9/1994), các nước ASEAN đã thống nhất về nguyên tắc sẽ hoàn thành thực hiện AFTA sớm hơn, kết thúc vào năm 2003. Quyết đinh này đã được chính thức hoá tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần IV họp vào tháng 9/1995 tại Bangkok. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN chính thức lần thứ VI họp tại Hà Nội tháng 12/1998, các nước ASEAN đã thống nhất đẩy nhanh hơn nữa tiến trình thực hiện AFTA. Tổng thư ký hiệp hội các nước Đông Nam Á Rodoflo Severino đề nghị ASEAN nên đẩy nhanh thời hạn chót đề ra đến hết năm 2010 phải xoá bỏ mọi hàng rào thuế quan nhằm đương đầu với sự cạnh tranh ngày càng tăng vào đầu tư. Phát biểu tại diễn đàn thông tin tại Manila, Ông Severino cho biết nếu đợi đến năm 2010 ASEAN mới dỡ bỏ mọi hàng rào thuế quan trong khi các nước đưa ra thời hạn chót mới vì cho rằng thời hạn này sẽ do các nước thành viên ASEAN đề ra. Năm 1993, ASEAN đã đề ra một kế hoạch giảm thuế quan để thành lập khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA), kế hoặch AFTA đã đạt một bước lớn hồi tháng 1/2002 khi 6 nước thành viên cũ ASEAN và cũng là 6 nước ký AFTA đầu tiên là Brunây, Inđonêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo và Thái Lan đã giảm thuế quan ở mỗi nước xuống từ 0-5%. Sáu nước này chiếm hơn 96% kim ngạch thương mại trong khu vực. Mục tiêu giảm thuế xuống từ 0-5% đã được các nước ASEAN đẩy nhanh gấp đôi, một phần là để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã đẩy khu vực này rơi vào suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định lấy năm 2010 là năm huỷ bỏ hoàn toàn thuế đối với buôn bán của các nước thành viên cũ trong ASEAN. Trong khi thời hạn chót đối với các nước thàh 7
  8. viên mới là vào năm 2015. Mức thuế trung bình đối với hàng hoá buôn bán trong khu vực ASEAN ước tính vào khoảng 3,5%, giảm so với 12,76% khi AFTA được khởi xướng năm 1993. Theo hiệp định tự do thương mại ASEAN, những hàng hoá buôn bán giữa các nước thành viên ASEAN được miễn thuế nếu những mặt hàng này có tỉ lệ nội địa ít nhất 40%. Ông Severino cho biết các nước thành viên ASEAN nên đề ra thời hạn chính xác hơn để các nước này giảm thuế xuống 0% với tốc độ nhanh hơn. Ông cho biết ngoài thời hạn chót là năm 2010-2015 để các nước thành viên cũ và mới trong ASEAN bãi bỏ hoàn toàn thuế, một tiêu chuẩn khác để thực hiện kế hoạch AFTA là vào năm 2003 giảm xuống 0% thuế đối với các mặt hàng hiện bị đánh thuế tới 60%. Ông cho rằng ASEAN sẽ phải tăng cường nỗ lực hội nhập khu vực do các khu vực khác nên nỗ lực bãi bỏ hàng rào phi thuế quan đối với buôn bán trong khu vực , trong đó có các quy định kiểm dịch y tế và phân phối độc quyền . Kim ngạch thương mại trong khu vực Châu á, đạt hơn 700 tỉ USSD. Các nhà lãnh đạo ASEAN đang có kế hoạch thành lập một khu vực tự do thương mại Đông á lớn bao gồm ASEAN, Trung Quốc, Nhật bản và Hàn Quốc, trở thành một thị trường gồm hơn 2 tỉ người. Bằng cách tạo dựng nền tảng thuế quan chung trong khuôn khổ AFTA, các quốc gia thành viên ASEAN sẽ có thể tạo ra được sự tương hợp, phát huy được lợi thế so sánh của mình trong quá trình tổ chức sản xuất và phân công lao động khu vực. 2. Các mục tiêu cơ bản của AFTA AFTA được thiết lập nhằm vào các mục tiêu cơ bản sau đây: Tự do hoá thương mại nội bộ ASEAN Đây là mục tiêu đầu tiên, được thực hiện bằng cách loại bỏ hàng rào thuế quan và phí thuế quan, nhờ đó sẽ mang lại cho các quốc gia ASEAN một thị trường rộng hơn, thị phần thương mại lớn hơn. Có thể thấy rằng công nghiệp hoá đã làm tăng nhanh chóng quy mô buôn bán giữa các nền kinh tế ASEAN. Người ta tính rằng, vào đầu những năm 90, phần xuất khẩu nội bộ ASEAN trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm nước này đã đạt khoảng 20%. Khuynh hướng liên kết thương mại khu vực ngày càng trở nên mạnh mẽ. Hơn nữa, do đặc tính hướng ngoại của nền kinh tế ASEAN, các nền kinh tế này sẽ thuận lợi hơn trong việc tiến tới tự do hoá. Điều này mặc dù không thể giúp các quốc gia thành viên ASEAN đạt được những thoả thuận thương mại lớn cho thị trường khu vực như EU, AFTA, song chí ít nó cũng hỗ trợ cho các quốc gia này đẩy nhanh tăng trưởng, thay đổi cơ cấu, bổ sung lẫn nhau theo hướng trở thành một đối tác cạnh tranh có ưu thế so với các thị trường khu vực khác. Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Đây là mục tiêu trọng tâm của AFTA. AFTA sẽ tạo dựng một thị trường thống nhất trong ASEAN, cho phép thúc đẩy quá trình hợp lý hoá, chuyên môn hoá sản xuất trong nội bộ khu vực, phát huy và khai thác các thế mạnh của nền kinh tế thành viên. Thực hiện mục tiêu này nằm giải quyết ba vấn đề: - Phân công lao động quốc tế trong toàn bộ nền kinh tế ASEAN nói chung, trong từng ngành sản xuất nói riêng, thúc đẩy các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào ASEAN. Thông qua AFTA, các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các quy chế ưu đãi đầu tư ở tất cả các thành viên. 8
  9. - Tăng đầu tư trực tiếp vào các nước ASEAN. Đó là nhờ kết quả mậu dịch giữa các nước thành viên tăng lên theo AFTA và do đó kích thích các công ty Nhật , Mỹ, EU và NICs đầu tư trực tiếp nhiều hơn nữa để giữ thị trường này thay vì trước đây họ thường cung ứng từ các cơ sở sản xuất ngoài ASEAN. - Tăng sự lớn mạnh của chính thị trường nội địa khu vực nhờ sự tăng lên của sức mua thị trường khu vực ASEAN. Với định hướng phát triển ra ngoài khu vực trên cơ sở liên kết thị trường bên trong AFTA, ASEAN hoàn toàn có thể kỳ vọng ở khả năng đẩy mạnh thế thương lượng cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là phát triển trong xu thế tự do hoá thương mại toàn cầu. AFTA là nấc thang quan trọng đầu tiên trên đường tiến tới thực hiện sự hợp tác toàn diện về kinh tế giữa các nước ASEAN. Trước những biến động của bối cảnh quốc tế, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực vừa qua, AFTA buộc phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện và có thể sẽ không dừng lại ở một khu vực mậu dịch hay liên minh thuế quan, mà trong tương lai nó sẽ có thể được tiếp tục phát triển thành một liên minh tiền tệ, một liên minh kinh tế. II. VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH THUẾ QUAN TRONG KHUÔN KHỔ AFTA. 1. Vai trò của cải cách thuế quan. Để thấy được vai trò của cải cách thuế quan, trước hết xét tác động của việc duy trì hệ thống thuế quan có thuế xuất cao đối với các hoạt động kinh tế. Thuế quan với thuế suất cao làm tăng đáng kể giá hàng nhập khẩu, tạo điều kiện cho các nhà sản xuất nội địa tăng giá hàng của mình bằng mức giá sau thuế cua hàng nhập khẩu cùng chủng loại. Giá hàng hoá trong nước tăng, người tiêu dùng chịu thiệt. Đồng thời, dẫn tới tình trạng sử dụng không hiệu quả các nguồn lực kinh tế, do các ngành được bảo hộ sẽ có khả năng chi trả cao hơn lao động, đất và vốn so với các ngành không được hay được bảo hộ ở mức thấp hơn. Điều này không chỉ làm tăng giá các nguồn tài nguyên khan hiếm mà việc phân bổ chúng cũng không chính xác vì những dòng tài nguyên này sẽ chảy sang các lĩnh vực kém hiệu quả hơn của nền kinh tế. Như vậy, thuế quan cao tác động tới toàn bộ nền kinh tế, tới giá các mặt hàng chịu thuế và phổ biến hơn là giá các yếu tố sản xuất. Ngoài gia các nhà sản xuất cà cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho xuất khẩu sẽ phải chịu tác động mạnh bởi vì thuế cao sẽ làm tăng chi phí tiêu thụ hàng hoá, trong khi đó giá xuất khẩu đựoc định bằng mức cạnh tranh quốc tế, như vậy lợi nhuận sẽ giảm. Nói cách khác, thuế quan cao có tác động hạn chế xuất khẩu. Để hạn chế tác động tiêu cực của chế độ bảo hộ bằng hàng rào thuế quan cao, các quốc gia đã tiến hành cải cách thuế quan và áp dụng hệ thống thuế quan “thấp và đồng nhất”. Đây là một hệ thống thuế mà khoảng cách giữa mức thuế suất cao nhất và thấp nhất có xu hướng thu hẹp và thuế xuất trung bình giảm dần xuống tưới mức hợp lý. Cải cách thuế quan theo hướng này đã được áp dụng trong suốt những năm 80 tại Châu Mỹ - La Tinh, Châu Á, Châu Phi và gần đây là ở Đông Âu. 9
  10. Vòng đàm phán Urugoay và cá thoả thuận thương mại khu vực như CEPT/AFTA đã tạo thêm động lực cho quá trình cải cách này. Cải cách thuế quan theo cơ chế “ thấp và đồng nhất” đem lại nhiều lợi ích khách nhau: - Tăng cường buôn bán và hợp tác kinh tế quốc tế. - Khuyến khích các nước tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế. - Xoá bỏ chinh xác bảo hộ các ngành kinh tế kém hiệu quả. - Ngoài ra thuế quan thấp còn hạn chế tình trạng nhập khẩu bất hợp pháp trốn thuế. Thực vậy, nếu thuế suất cao, các thương gia có thể trốn thuế bằng cách buôn lậu hay những phương thức bất hợp pháp khác nhau như khai gian, khai giảm ( gian lận thương mại). Nếu thuế suất giảm, lượng hàng nhập khẩu hợp pháp có thể tăng vì mắc độ rủi do cao trong buôn lậu lớn hơn việc nhập khẩu hợp pháp. Đồng thời qua giảm thuế, chúng ta có thể hạn chế các hoạt động thương mại bất hơp pháp mà không cần thực hiện qua các hoạt động kiểm tra, giám sát hàng hoá, chứng từ và các quy định hành chính khác; do đó giảm bớt được tình trạng nhũng nhiễu, gây lãng phí thời gian và tiền của các thương gia cũng như các nhà chức trách. Tóm lại, việc cắt giảm thuế quan hiện nay trong nền kinh tế thế giới có vai trò hết sức quan trọng, góp phần khắc phục những hạn chế của hàng rào thuế quan cao và tăng cường các tác động tích cực của hệ thống thế quan ‘ thấp và đông nhất”. 2. Nội dung cải cách thuế quan trong quá trình thực hiện AFTA. Cơ chế chủ yếu thực hiện AFTA là tham gia Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). Phần này sẽ tập trung nghiên cứu nội dung cải cách thuế quan theo CEPT. 2.1. Những quy định chung của CEPT về cải cách thuế quan Mục tiêu của Hiệp định CEPT ban đầu (CEPT - 1992) chỉ là giảm toàn bộ thuế suất nộ bộ thương mại ASEAN xuống mức từ 0 - 5 % vào tháng 1 năm 2008. Các sản phẩm được chia thành 3 nhóm: giảm nhanh, giảm thông thường và nhóm loại trừ tạm thời. Trong số 44095 mặt hàng được trình cho ban thư ký ASEAN vào tháng 12 năm 1993, có 14855 mặt hàng thuộc nhóm giảm nhanh, 25918 mặt hàng thuộc nhóm giảm thông thường và 3322 mặt hàng thuộc nhóm còn lại. Các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến không được đưa vào Hiệp định CEPT -1992. Tháng 12 năm 1995, Hiệp định CEPT đã có những sửa đổi lớn bao gồm: - Xây dựng lại danh mục các hàng hoá loại trừ tạm thời. - Mở rộng phạm vi hàng hoá tham gia CEPT, gồm cả các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến. - Thành lập nhóm các mặt hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm. Các mặt hàng này được áp dụng một cơ chế tự do hoá riêng. - Rút ngắn thời gian hoàn thành AFTA trước 5 năm, tức là kết thúc vào năm 2003. Đến tháng 12 năm 1995, có khoảng 89% toàn bộ các sản phẩm xuất nhập khẩu thuộc Danh mục giảm thuế nhanh và giảm thông thường 7,1% thuộc Danh mục loại trừ tạm thời và 2,9% là các sản phẩm nông nghệp chưa chế biến ( gồm cả các loại sản phẩm nhạy cảm). 1% còn lại thuộc Danh mục loại trừ hoàn toàn, không tham gia CEPT. Dự tính đến năm 2003 sẽ có 99% các sản phẩm xuất nhập khẩu được đưa vào CEPT. 10
  11. Như vậy, những quy định về cải cách thuế quan trong Hiệp định CEPT sửa đổi sẽ được áp dụng đối với mọi sản phẩm công nghiệp chế biến, kể cả các hàng hoá cơ bản và các sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến. Tuy nhiên, trong khung hiệp định đó, CEPT được nhấn mạnh cho các mặt hàng công nghiệp chế biến. Các sản phẩm công nghiệp chế biến là đối tượng chủ yếu được thụ hưởng các ưu đãi của chương trình giảm thuế quan. Nội dung cắt giảm thuế quan cho các sản phẩm thuộc từng Danh mục của CEPT được quy định như sau: - Danh mục các sản phẩm giảm thuế ngay: Danh mục này bao gồm những sản phẩm được cắt giảm thuế quan với lịch trình giảm nhanh và giảm bình thường. Lịch trình giảm thuế nhanh (còn gọi là kế hoạch giảm thuế tăng tốc) sẽ được áp dụng cho 15 nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến của ASEAN như: xi măng, hoá chất, phân bón, chất dẻo hàng điện tử, hàng dệt, dầu thực vật, sản phẩm da, sản phẩm cao su, giấy, đồ gốm và thuỷ tinh, đồ dùng bằng gỗ và song mây, dược phẩm khoảng 3200 mặt hàng, chiếm tới 34% tổng số Danh mục giảm thuế của toàn ASEAN. Lịch trình giảm thuế nhanh được phân định thành hai nấc: một là, các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống còn 0 - 5% vào 1/1/2000 và các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống còn 0 - 5% và 1/1/1998. Lịch trình giảm thuế bình thường: sẽ được áp dụng đối với các sản phẩm công nghiệp còn lại. Đối với những sản phẩm có mức thuế hiện hành trên 20% sẽ được thực hiện theo hai bước.Bước một, thuế từ mức hiện hành giảm xuống mức 20% vào năm 1998. Bước hai, giảm từ mức thuế 20% xuống mức cuối cùng 0 - 5% kết thúc vào ngày 1/1/2003. Đối với mức thuế hiện hành 20% hoặc thấp hơn sẽ được giảm xuống mức cuối cùng 0 - 5% trong vòng 7 năm, tức là kết thúc vào năm 2000. Các danh mục giảm thuế theo kênh thông thường hiện chiếm tỷ lệ là 55%, lớn nhất trong tổng số các Danh mục hàng hoá tham gia CEPT. Như vậy, Danh mục giảm thuế ngay chiếm một tỷ lệ lớn, khoảng 89% tổng số Danh mục giảm thuế của Chương trình thực hiện CEPT. Do đó, các lịch trình giảm thuế nhanh và giảm thuế bình thường nếu được thực hện, về căn bản, gần như đã hoàn thành tỷ suất tự do hoá thương mại nội bộ ASEAN. Điều đáng lưu ý ở đây là sau một số năm thực hiện CEPT, các nước thành viên ASEAN đã đề xuất về một lịch trình giảm thuế linh hoạt, nghĩa là không nhất thiết phải tuân thủ theo hai kênh đồng tuyến với các quy trình rạch ròi cho các thuế suất cần cắt giảm qua từng thời kỳ. Mà tuỳ theo đặc điểm cơ cấu thuế của từng nước, có thể xây dựng lịch trình cắt giảm thích hợp, miễn sao giảm nhanh thuế suất còn 0 - 5% trước năm 2003, sớm hơn càng tốt. Năm 1999, Hội đồng AFTA đã chấp nhận đề xuất đó như một sáng kiến nhằm đáp ứng các yêu cầu về việc tạo dựng một khu vực tự do hoá thương mại ASEAN trước thời hạn. Ngày 8/3/1999 Hội đồng AFTA quyết định các nước ASEAN cũ sẽ hoàn thành cắt giảm thuế quan xuống mức cơ sở 0% vào 2001. Tính tới tháng 4/1999, 73% tổng số các mặt hàng chịu thuế của ASEAN đã đựoc giảm thuế suát xuống còn từ 0 - 5%. Tính trung bình thuế suất ASEAN là 4,5% và năm 2000 giảm xuống mức 3,7%. 11
  12. - Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa tham gia giảm thuế (danh mục loại trừ tạm thời). Xuất phát từ hoàn cảnh của từng quốc gia thành viên và để tạo điều kiện thuận lợi cho các nước naỳ có thời gian ổn định trong một số lĩnh vực cụ thể như : Tiếp tục các chương trình đầu tư đã được đưa ra trước khi tham gia kế hoạch CEPT hoặc có thời gian để hỗ trợ cho sự ổn dịnh thương mại, hoặc để chuyển hướng sản xuất đối với một số sản phẩm tương đối trọng yếu. Hiệp định CEPT đã được phép các nước ASEAN được đưa ra một số sản phẩm tạm thời chưa thực hiện tiến trình giảm thuế theo kế hoạch CEPT. Các sản phẩm trong Danh mục này sẽ không được hưởng ưu đãi. Sau 5 năm, hàng hoá loại trừ tạm thời phải được chuyển sang Danh mục giảm thuế theo hai kênh đồng tuyến đã quy định. Do đó, kể từ 1/1/1996 đến 1/1/2000, danh mục loại trừ tạm thời sẽ phải chuyển sang Danh mục giảm thuế theo CEPT bình quân 20% mỗi năm ( Danh mục này chỉ chiếm khoảng 7,1% tổng số các danh mục tham gia giảm thuế. - Danh mục sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biển. Các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến được phân định thành 3 nhóm: Nhóm giảm thuế, nhóm loại trừ hoàn toàn và một nhóm đặc biệt khác là nhóm các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm. Chương trình cắt giảm thuế của từng nhóm được quy định như sau: - Sản phẩm nông sản chưa chế biến trong Danh mục cắt giảm thuế ngay được đưa vào chương trình cắt giảm thuế nhanh hoặc chương trình cắt giảm bình thường vào 1/1/1996 và sẽ được giảm thuế xuống còn 0 - 5% vào 1/1/2003. - Các sản phẩm trong Danh mục loại trừ tạm thời của hàng nông sản chưa chế biến sẽ được chuyển sang Danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm, từ 1/1/1998 đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%. - Các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm được phân định vào hai Danh mục tuỳ theo mức độ nhạy cảm là Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm và Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế cảm cao. đến nay, theo đề xuất của các quốc gia thành viên, những mặt hàng thuộc Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm sẽ bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế xuống còn 0 - 5% từ 1/1/2001 và kết thúc lịch trình giảm thuế vào ngày 1/1/2010. Trong khi đó, các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến nhạy cảm cao sẽ bắt đầu từ 1/1/2003 và kết thúc vào 2010. - Danh mục loại trừ hoàn toàn. Theo kế hoạch CEPT, tất cả các sản phẩm công nghiệp chế tạo và các sản phẩm nông nghiệp chế biến đáp ứng yêu cầu nội dung của sản phẩm có ít nhất 40% xuất xứ từ bất kỳ nước thành viên ASEAN nào đều nằm trong Danh mục sản phẩm trong kế hoạch CEPT vào một cách tự động được đưa vào kế hoạch giảm thuế CEPT. Tuy nhiên, một nước thành viên cũng có thể loại trừ một số sản phẩm không tham gia Hiệp định CEPT và xếp vào Danh mục loại trừ hoàn toàn. Các sản phẩm là những sản phẩm được xem là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức cộng đồng, sức khoẻ, sự sống của con người và động thực vật, ảnh hưởng đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, các di tích lịch sử hay khảo cộ. Theo Chương trình CEPT, việc cắt giảm thuế cũng như xoá bỏ các biện pháp phi 12
  13. thuế quan đối với những mặt hàng này sẽ không được xem xét đến. Quy định này giống điều XX của hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Để đơn giản hoá, tháng 9/1996 ASEAN trao quyền cho các nước tự thiết lập lịch trình giảm thuế của mình cho đến naưm 2003. ASEAN ước tích rằng, khi thực hiện AFTA từng nước sẽ có thuế suất ưu đãi trung bình có hiệu lực chung ( thuế suất CEPT) vào năm 2003 như bảng sau: Bảng 1: Thuế suất CEPT trung bình của từng nước Nước Năm 1996 Năm 2003 Brunei 1.57 0.84 Indonesia 9.05 3.72 Malaysia 4.62 1.97 Philippines 9.22 3.72 Singapore 0.00 0.00 Thái Lan 14.41 4.63 Việt Nam 12.7 9.3 ASEAN 5.68 2.25 Nguồn: Ban thư ký ASEAN Các ưu đãi khi thực hiện CEPT của các quốc gia ASEAN được trao đổi trên nguyên tắc có đi có lại. Muốn được hưởng chế độ ưu đãi CEPT khi xuất khẩu một hàng hoá trong khối, một sản phẩm cần có các điều kiện sau: - Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN, tức là phải có hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN (hàm lượng nội địa) ít nhất 40%) - Sản phẩm đó phải nằm trong Danh mục cắt giảm của cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu và phải có mức thuế quan nhập khẩu bằng hoặc thấp hơn 20%. - Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được hội đồng AFTA thông qua. Các điều kiện này được đưa ra nhằm đản bảo sự bình đẳng hợp lý về cơ hội tiếp cận thương mại giữa các nhà sản xuất đang cạnh tranh trong các quốc gia ASEAn. Chúng cũng góp phần khuyến khích các nước thành viên trong đưa các sản phẩm vào Danh Mục giảm thuế và giảm thuế xuống dưới 20%. Các sản phẩm thuộc danh mục giảm thuế theo CEPT và các sản phẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan của các nước thành viên khác sẽ được ghi rõ trong tài liệu hướng dẫn trao đổi nhượng bộ theo CEPT (CCEM) xuất bản hàng năm của mỗi nước thành viên. 2.2. Danh mục các sản phẩm thuế theo CEPT của các quốc gia thuộc ASEAN 6. Danh mục các sản phảm giảm thuế ngay. Cho đến năm 2003 tất cả các quốc gia ASEAn 6 đều có thuế suất CEPT trung bình từ 0 - 5%. Thực hiện, vào năm 2000 sẽ có khoảng 87% mặt hàng chịu thuế trong Danh mục giảm thuế ngay có thuế suất từ 0,5% và toàn bộ các quốc gia ASEAN6, ngoại trừ Thái lan, sẽ có tỷ lệ thuế suất trung bình trong khoảng 0 , 5%. 5 nhóm mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thương mại giữa các quốc gia ASEAN: - Máy móc, các thiết bị điện tử (HS 84 - 85) - Khoáng sản (HS 25 - 27) - Các sản phẩm sắt thép (HS 72 - 83) - Dệt may (HS 50 - 63) 13
  14. - Hoá chất (HS 28 - 38). Các mặt hàng trên đều có tỷ lệ thuế suất CEPT trung bình từ 0 - 5 % vào năm 2000. Chỉ có 5 mặt hàng không có thuế suất nằm trong khoảng 0 - 5% vào năm 2000 là: - Lương thực (HS 16 / 24) - Gỗ (HS 44 - 64) - Giầy dép (HS 63 - 67) - Vũ khí (HS 93) - Các sản phẩm chế biến hỗn hợp (HS 94 - 96) Xét về tỷ lệ % các sản phẩm tham gia CEPT, các nước ASEAN 6 đều có tỷ lệ của các sản phẩm thuộc Danh mục giảm thuế ngay chiếm khá cao, từ 85,7% (Philippine) tới 98,4% ( Thái Lan). Thái Lan quy định 8996 mặt hằng chịu thuế thuộc Danh mục giảm thuế ngay, cao nhất trong các thành viên ASEAN6 và có mức thuế CEPT trung bình ban đầu (năm 1993) cao nhất là 14,41%. Tiếp đó là Philippine, thuế suất CEPT trung bình của Philipine theo lịch trình sẽ giảm từ mức 9.22% trong năm 1966 xuống còn 3.72% vào năm 2003. Singaopore và Brunei có mức thuế suất trung bình của nhóm các mặt hàng trong Danh mục giảm thuế ngay là thấp nhất, tiếp sau đó là Malaysia. Danh mục loại trừ tạm thời: Ban đầu một số nước ASEAN 6 phải chịu sức ép mạnh từ một số tập đoàn kinh doanh lớn. Họ cản trở việc tham gia AFTA của các nước này bằng cách yêu cầu mở rộng. Danh mục các mặt hàng loại trừ tạm thời. Tuy nhiên, cuối cùng các quốc gia này cũng đã nhận được sự ủng hộ của các tập đoàn đối với mục tiêu tự do hoá thương mại của AFTA. Đặc biệt, Indonesia đã giảm mạnh số lượng nhóm mặt hàng trong Danh mục loại trừ tạm thời của mình từ 1652 nhóm xuống còn 752 nhóm mặt hàng ( từ tỷ lệ 14% xuống còn 10.4% tổng số các nhóm mặt hàng chịu thuée).Thái Lan giảm Danh mục loại trừ tạm thời của mình từ 147 xuống còn 111 nhóm mặt hàng (từ tỷ lệ 2% xuống còn 1,2% xuống còn 1,2% tổng số nhóm mặt hàng chịu thuế). Cho đến năm 1999, các quốc gia ASEAN 6 đều đang trong tiến trình chuyển lần thứ 3 các mặt hàng thuộc Danh mục loại trừ tạm thời ( các mặt hàng đã chế biến) sang Danh mục giảm thuế ngay. Trừ Thái Lan, các quốc gia ASEAN 6 đều đã đệ trình các nhóm mặt hàng chuyển lần 2 cùng với lịch trình giảm thuế yêu cầu lên ban thứ ký ASEAN. Tuy nhiên, tỷ lệ các mặt hàng chuyển lần hai của một số nước vẫn nhỏ hơn 20% tổng số các mặt hàng trong danh mục loại trừ tạm thời do phải thực hiện việc điều hoà thống nhất Danh mục biểu thuế quan của các nước ASEAN. Các quốcgia ASEAN cũng đã đệ trình tên các mặt hàng nông sản chưa chế biến thuộc Danh mục loại trừ tạm thời chuyển sang Danh mục giảm thuế ngay lân thứ nhất. - Danh mục các mặt hàng nhạy cảm: Philippine và Indonesia yêu cầu một số mặt hàng nhất định như gạo và đường phải được hưởng một chế độ đặc biệt vì vai trò qua ntrọng mang tính chất chiến lược và kinh tế xã hội của chúng. Đặc biệt, với Indonesia, gạo là mặt hàng nhạy cảm cao nhất vì ngành sản xuất gạo của Indonesia rất lớn nhưng lại không có hiệu quả tương đối so với các nước trong khu vực và chưa sẵn sàng để tham gia cạnh tranh quốc té. ASEAN đã có những bước tiến lớn trong việc giải quyết khó khăn của vấn đề này thông qua việc chia các mặt hàng nhạy cảm tình hai nhóm: Nhóm mặt hàng các hàng nhạy cảm và nhóm các mặt hàng 14
  15. nhạy cảm cao. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề chưa giải quyết: thuế suất khởi điểm và thuế suất cuối cùng cho các mặt hàng thuộc nhóm nhạy cảm cao liên quan đến vấn đề loại bỏ các hạn chế định lượng và các rào cản phi thuế quan khác, và sẽ cần phải làm gì đối với các mặt hàng này trước năm 2001 và 2003. 15
  16. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIA NHẬP AFTA CỦA VIỆT NAM I.QUAN HỆ TM HOÁ VIỆT NAM – ASEAN: 1.Tình hình chung ASEAN Tổng thư ký ASEAN, Rodolfo C. Severino nhận xét: nhờ cải cách sâu sắc trong nội bộ để hội nhập, Đông Nam Á đã được củng cố vững chắc với viễn cảnh tăng trưởng ổn định. Giờ đây Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang là một thị trường rộng mở đối với Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Ngày nay, điều mà chúng ta nhìn thấy ở ASEAN là một khu vực an toàn và ổn định. Điểm nổi bật của nền kinh tế là sự hội nhập trong khu vực với một viễn cảnh tăng trưởng ổn định do trong khu vực này đang diễn ra sự cải cách và hội nhập một cách sâu sắc. Một nhà đầu tư nào đó mong muốn có một tài năng trong lĩnh vực kỹ thuật cao, tính hiệu quả trong các loại hình dịch vụ, nhiều loại vật liệu thô hay giá nhân công rẻ có thể tìm thấy ở một hay nhiều quốc gia khác trong ASEAN. Có sự đầu tư thì toàn bộ Đông Nam Á là thị trường, bởi vì thị trường đó ngày càng hội nhập. Đó là lý do tại sao khi nói thị trường ASEAN cũng là nói đến nền kinh tế ASEAN. Khu vực thương mại tự do ASEAN (còn gọi là AFTA) về cơ bản đã trở thành hiện thực với hơn 85% loại thuế nhập khẩu trong hệ thống AFTA đã nằm trong danh mục loại thuế nhập khẩu tối thiểu. Số lượng hàng hoá nằm trong danh mục tối thiểu này chiếm hơn 90% số hàng hoá được giao dịch trong các nước ASEAN. Vào đầu năm 2002, phần lớn hàng hoá buôn bán trong ASEAN sẽ chịu thuế nhập khẩu 5% hoặc được miễn thuế hoàn toàn. Cũng vào năm 2002 thuế nhập khẩu trung bình áp dụng cho các mặt hàng buôn bán thuộc AFTA sẽ giảm từ 4,43% hiện tại xuống còn ít hơn 4%. 6 nước đối tác đầu tiên của hiệp hội AFTA dự định bỏ hết các loại thuế nhập khẩu trong mậu dịch với nhau vaò năm 2010. Việc bỏ hẳn hàng rào thuế quan đang được tháo gỡ dần dần Sự hội nhập của nền kinh tế ASEAN đang tạo ra một thị trường với nửa tỉ dân gần bằng nửa số dân của Trung Quốc và tổng sản phẩm nội bộ tương đồng với tổng sản phẩm của Trung Quốc. Điều đó là một yếu tố quan trọng cho sự quyết định đầu tư vào ASEAN. Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam Đánh gía hoạt động kinh tế , hợp tác quốc tế trong 10 năm qua (1992-2001) Việt Nam đã có được những bước tiến cơ bản: Về hợp tác quốc tế: Thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, mở rộng quan hệ thương mại với hơn 155 nước, thu hút đầu tư trực tiếp các tập đoàn và Công ty thuộc 70 nước và vùng lãnh thổ, tranh thủ viện trợ phát triển của 45 nước và định chế tài chính quốc tế. Ngày 25/7/1995 gia nhập ASEAN, tham gia AFTA; 3/1996 là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM); 11/1998 trở thành thành viên APEC, 13/7/2000 ký kết Hiệp định Thương mại với Hoa kỳ – Hiệp định có hiệu lực 10/12/2001, 12/1994 cho đến nay đang tiếp tục đàm phán gia nhập WTO; Thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, cam kết với các nước và các tổ chức kinh tế khu vực và 16
  17. quốc tế xoá bỏ từng bước các hàng rào thuế quan và phi thuế quan , phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam và pháp luật kinh tế quốc tế là mở rộng các cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường quốc tế, tạo lập môi trường pháp lý ổn định để phát triển kinh tế, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Về tình hình phát triển kinh tế: Từ ổn định về thị trường, Việt Nam ta sẽ có điều kiện thuận lợi để xây dựng những kế hoạch đầu tư, sản xuất, giải quyết việc làm, phát triển kinh tế. Hoạt động xuất nhập khẩu đạt được mục tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng (kim ngạch xuất nhập khẩu thời kỳ 1991 -1995 tăng gấp 2-2,5 lần so với 5 năm trước;năm 2000 kim ngạch xuất khẩu đạt 14,45% tỷ USD, tăng 6 lần so với năm 1990 – 2,4 tỷ USD. Nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 18,4% /năm, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 2,6 lần). Cơ cấu xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến (tăng từ 8% năm 1991 lêm 40% vào năm 2000). Nhập khẩu đã góp phần phục vụ sản xuất và đổi mới công nghệ (tư liệu sản xuất hiện nay chiếm khoảng 95% kim ngạch nhập khẩu trong đó máy móc thiết bị 26-27%, nguyên nhiên vật liệu khoảng 60% , khoảng 4% còn lại là hàng tiêu dùng), thúc đẩy nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hoá. Tình trạng nhập siêu đã giảm cả về giá trị tuyệt đối lẫn tương đối. Chủ trương đa dạng hoá thị trường và đa phương hoá quan hệ kinh tế được thực hiện tương đối thành công. Có được những thành tựu trên là do công cuộc đổi mới thúc đẩy, lực lượng sản xuất phát triển , cơ cấu sản xuất được chuyển dịch dần tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu và cải thiện cơ cấu xuất nhập khẩu.Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại. Cụ thể là quy mô xuất khẩu còn nhỏ so với các nước trong khu vực . Cơ cấu hàng hoá còn lạc hậu, tỷ trọng hàng thô, hàng sơ chế và hàng gia công còn cao. Khả năng cạnh tranh hàng hoá còn thấp. Nhập khẩu chưa thay đổi được một cách cơ bản tình trạng lạc hậu về công nghệ ở một số ngành . Tình trạng nhập lậu vẫn khá nghiêm trọng. Những tồn tại trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân khách quan, chủ quan nhưng chủ yếu là do trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp , cơ cấu chuyển dịch chậm. Do vậy, cải cách thuế quan, tự do hoá thương mại là tất yếu và đã từng bước phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của nước ta càng sớm càng tốt để tranh thủ các cơ hội kinh doanh, tham gia vào quá trình hình thành luật kinh tế, thương mại quốc tế có lợi cho mình. Nếu tham gia muộn sẽ phải chấp nhận nhiều quy định đã rồi, các nghĩa vụ phải thực hiện sẽ lớn hơn và thời gian chuyển tiếp cũng ngắn hơn và Việt nam phải vượt qua nhiều thách thức hơn. Thực hiện chủ trương trên, từ 1/1/1996 Việt Nam bắt đầu thi hành nghĩa vụ theo thành viên AFTA, thực hiện cải cách thuế quan theo CEPT, mở đầu có tính chất đột phá trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng tự do hoá thương mại của Việt Nam: Tạo thị trường láng giềng ổn định, tăng sự hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, tạo vị thế quốc tế mới, thúc đẩy thêm quan hệ của nước ta với các nước khác, kể cả các nước lớn. Các nước ASEAN đánh giá việc Việt Nam thực hiện cải cách thuế quan theo CEPT/AFTA có ý nghĩa rất quan trọng, mở đầu cho một giai đoạn mới đưa ASEAN nhanh chóng trở thành tổ chức kinh tế chung . Sự thật về AFTA chứng minh rằng 17
  18. các nước ASEAN đều đã mở cửa nền kinh tế, tiến tới mức độ tự do hoá thương mại trên nền tảng như nhau của chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung. Tuy nhiên, tham gia khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, nhìn chung có thể nói xuất phát điểm của Việt Nam tham gia AFTA có mặt không thực sự thuận lợi: quan hệ thương mại Việt Nam với các nước quốc gia ASEAN còn lỏng lẻo và mất cân đối lớn, trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn quá thấp trong khi hầu hết các nước ASEAN có nền kinh tế phát triển, điều đó cũng chính là thách thức đối với Việt nam khi gia nhập AFTA. II. NỘI DUNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH THUẾ QUAN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN AFTA Ở VIỆT NAM. Hệ thống thuế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi và có nhiều cải cách, đặc biệt bắt đầu thực hiện AFTA. 1. Hệ thống thuế Việt Nam trước khi thực hiện AFTA Từ năm 1995, khi Việt Nam gia nhập ASEAN cam kết thực hiện chương trình CEPT.AFTA, Nhà nước đặc biệt quan tâm điều chỉnh thuế nội địa, ban hành và sửa đổi các sắc thuế nhằm hỗ trợ cải cách thuế xuất nhập khẩu theo cam kết thực hiện CEPT/AFTA. Các đặc điểm chủ yếu của hệ thống thuế Việt Nam trước khi thực hiện AFTA Hệ thống thuế Việt Nam có 4 nét nổi bật sau: - Các loại thế doanh thu và thuế lợi tức còn quá phức tạp, có nhiều chế độ miễn, giảm thuế và quá nhiều mức thuế. - Thuế tu từ các doanh nghiệp Nhà nước chiếm một tỷ trọng lớn. - Tính hệ thống giữa các chính sách thuế chưa chặt chẽ, vừa không bao quát hết được các nguồn thu, thậm chí thất thu nghiêm trọng, chưa bảo đảm thuế là nguồn thu chủ yếu, vừa có những điểm bất hợp lý, trùng lặp, thuế đánh trên thuế nhưng doanh thu. - Nhiều vấn đề còn chưa được công khai trong công tác hành chính và thu thuế. Điều này cộng với tính quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại đôi chút của các cấp và các cơ quan khác dẫn tới thuế có tính chất “khoản đóng góp mang tính thương lượng”. Chứ không mang tính khách quan. Do đó, cần cải cách những mặt hạn chế của hệ thống thuế Việt Nam, Tránh đánh giá thuế trùng lặp, giảm khả năng trốn thuế, lậu thế nằm thực hiện CEPT/AFTA.. Sau đó dần dần hoàn thiện, làm hài hoà hệ thống thuế nước ta với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia khác. 2. Cải cách thuế nội địa ở Việt Nam Để phù hợp với cách đánh thuế của các nước trên thế giới và các nước ASEAN, Chính phủ Việt Nam đang thực hiện cải cách thuế quan và đã vạch ra một chương trình bao gồm những thay đổi về thuế sẽ được thực hiện trong 5 năm 1999 đến 2004 và những năm tiếp theo. Một trong những thay đổi này là việc cải cách thuế nội địa: 18
  19. thay thuế doanh thu bằng thuế GTGT và thực hiện luật thuế thu nhập thay thuế lợi tức từ 1/1/1999. Cùng với quyết định sửa đổi luật thuế TTĐB lần 3 ngày 20/5/1998 (có hiệu lực từ 1/1/1999) nhằm tách thuế TTĐB ra khỏi thuế nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu theo cam kết thực hiện chương trình CEPT, điều này đã tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia AFTA mà không bị thiệt thòi về kinh tế trong quan hệ buôn bán với các nước cùng tham gia ký kết hiệp định CEPT/AFTA. .2.1. Thay thế thuế doanh thu bằng GTGT Theo luật số 02/1997/QH9, được Quốc hội khoá IX, thông qua trong kỳ họp thứ 11, thuế GTGT sẽ được thực hiện bắt đầu từ 1/1/1999 thay thế thuế doanh thu. Đặc điểm của thuế GTGT. - Thuế GTGT đánh vào từng khâu sản xuất kinh doanh. Thuế suất đánh vào các khâu đều bằng nhau và chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm. Thuế tính ở khâu sau được khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước nhưng phải căn cứ vào chứng từ hoá đơn hợp lệ. Sở dĩ phải thay thế thuế Doanh thu bằng thuế GTGT do: - Thuế Doanh thu tính trên doanh thu đã có thuế doanh thu, còn thuế GTGT tính trên gia bán hàng hoá dịch vụ chưa có GTGT. Như vậy, thuế GTGT khắc phục được nhược điểm thu trùng lắp của thuế Doanh thu. - Đối với hàng sản xuất để xuất khẩu không những không phải nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hay hoàn toàn GTGT đầu vào nên tạo điều kiện hạ giá bán, nâng khả năng cạnh tranh trong trên thị trường quốc tế, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu mở rộng lưu thông hàng hoá. Đây là một yếu tố rất cần thiết khi chúng ta tham gia AFTA. - Tham gia AFTA, thực hiện cắt giảm thuế quan theo chương trình CEPT tất yếu sẽ kéo theo việc giảm thu ngân sách. Một trong những biện pháp nhằm khắc phục khó khăn này là hạn chế tối đa hiện tượng trốn thuế, lậu thuế. Do thuế GTGT được thu tập trung ngay từ khâu đầu và việc thu thuế ở khâu csau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế được tình trạng thất thu thuế. Mặt khác, trong thực tiễn kinh doanh, sổ sách chứng từ kinh doanh thường không rõ ràng, nên chủ kinh doanh dễ trốn thuế, lậu thuế. Với thuế GTGT, việc tính thuế ở đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp, lậu thuế. Với thuế GTGT, việc tính thuế ở đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ, bảo đảm không trốn thuế, lậu thuế. 2.2.Thay thuế lợi tức bằng thuế thu nhập doanh nghiệp Đặc điểm thuế thu nhập DN: - Đối tượng thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và thu nhạp khác kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài. Đây là một loại thuế trực thu, phụ thuộc và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Thuế suất thuế TNDN áp dụng chung đối với cơ sở kinh doanh trong nước và tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là 32%. Cơ sở sản xuất, xây dựng, vận tải áp dụng thuế suất mới cao hơn mức thuế suất cũ theo luật thuế lợi tức (25%), nếu có khó khăn sẽ được áp dụng 19
  20. thuế suất 25% trong thời hạn 3 năm kể từ năm 1999. Thuế suất thuế TNDN áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài và bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh được quy định trong luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. - Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có quy định chế độ miễn, giảm thuế cho các cơ sở kinh doanh trong nước mới thành lập hoặc di chuyển đến các vùng khó khăn, các cơ sở kinh doanh mở rộng quy mô sản xuất,. Sử dụng nhiều nữ nhân công và trong một số trường hợp các cơ sở kinh doanh có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh tế kinh doanh cũng được hưởng chế độ miễn dịch giảm thuế TNDN. Thuế thu nhập từ doanh nghiệp thay thế cho thuế lợi tức từ1/1/1999 nhằm: - Bao quát và điều tiết được tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của cơ sở kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường theo định hướng HXCN của Việt Nam. - Thông qua việc ưu đãi về thuế suất, về miễn thuế, giảm thuế, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, tạo điều kiện cho các cơ sở yếu kém vươn lên, khuyến khích các tổ chức cá nhân trong nước tiến kiệm để dành vốn cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh , nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong nước trên trước quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi chúng ta thực hiện AFTA, tham gia tự do hoá thương mại khu vực và thế giới. Hệ thống hoá những quy định ưu đãi về thuế trong các luật khác và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, bảo đảm sự rõ ràng, thống nhất trong việc thực hiện các chế độ ưu đãi về thuế. 2.3. Cải cách thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) Đặc điểm: - Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu, được cấu thành và giá cả hàng hoá và người mua là người chịu thuế. - Thuế TTĐB thường có thuế suất cao nhằm điều tiết thu nhập của những nhường tiêu dùng các loại hàng hoá, dịch vụ cao cấp. - Thuế TTĐB chỉ thu một lần ở khâu sản xuất hay nhập khẩu đối với hàng hoá thuộc diện chịu thuế TTĐB. - Các hàng hoá thuộc diện chịu thuế TTĐB khi xuất khẩu thì không phải nộp thuế TTĐB. Về sửa đổi của thuế TTĐB. Luật thuế TTĐB được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990, sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất ngày 5/5/1993, lần hai ngày 28/10/1995, lần ba ngày 20/5/1998. Những thay đổi chính của luật thuế TTĐB. - Áp dụng thuế suất thuế TTĐB đối với ô tô nội địa ngang bằng ô tô nhập khẩu, phù hợp với yêu cầu của chế độ đãi ngộ quốc gia đối với hàng hoá nhập khẩu được ký kết giữa các nước tham gia AFTA. Tuy nhiên vẫn có sự phân biệt thuế suất đánh giá vào thuốc lá nhập khẩu và thuốc lá được sản xuất từ nguồn nguyên liệu trong nước. - Sửa đổi thứ hai của luật TTĐB chủ yếu để hạn chế tiêu dùng các loại hàng hoá, dịch vụ cao cấp ở Việt Nam. Đó là việc mở rộng phạm vi các mặt hàng và dịch vụ chịu thuế TTĐB. Hàng hoá: 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản