Đề tài: "Tìm hiểu các tổ chức sản xuất trong nông nghiệp: Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu"

Chia sẻ: ngocngoc_01

Các tổ chức kinh tế:Hợp tác xã, doanh nghiệp… là đơn vị cơ sở của nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế quốc dân muốn phát triển được thì từng đơn vị của các tổ chức cơ sở phải phát triển. Đường lối phát triển kinh tế của Đảng cầm quyền, các chính sách kinh tế của Chính Phủ được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức kinh tế. Các đơn vị tổ chức kinh tế là đơn vị cơ sở sáng tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội, các tổ chức này sẽ...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài: "Tìm hiểu các tổ chức sản xuất trong nông nghiệp: Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu"

Đề tài:
"Tìm hiểu các tổ chức sản xuất trong
nông nghiệp: Hợp tác xã dịch vụ nông
nghiệp, doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh xuất khẩu"
MỤC L ỤC

Phần I: MỞ ĐẦU .............................................................................................................................................. 3
Phần II: NỘI DUNG .......................................................................................................................................... 4
1.Hợp tác xã d ịch vụ nông nghiệp .................................................................................................................. 4
1.1. Khái niệm .................................................................................................................................................. 4
1.2. Đặc điểm cơ bản của Hợp tác xã............................................................................................................. 4
1.3. Nguyên tắ c tổ chức và hoạt động của hợp tác xã ................................................................................. 5
1.4. Định hướng phát triển hợp tác xã ở Việt Nam ...................................................................................... 5
2. Doanh nghiệp sản xuấ t kinh doanh xuất khẩu nông nghiệp .................................................................... 9
2.1. Khái niệm .................................................................................................................................................. 9
2.2. Tình hình các doanh nghiệp sản xuấ t kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam .....................................10
Xuất khẩu hạt điều tháng 7/2011 sang đa số các thị trường tăng kim ngạch so với tháng 6....................12
PHẦN III: KẾT LUẬN .......................................................................................................................................14
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................................................15
Phần I: MỞ ĐẦU
Các tổ chức kinh tế :Hợp tác xã, doanh nghiệp… là đơn vị c ơ sở của nền kinh tế quốc
dân. Nề n kinh tế quốc dân muốn phát triển được thì từng đơn vị của các tổ chức cơ sở
phải phát triển . Đường lối phát triển kinh tế của Đảng cầm quyền, các chính sách kinh tế
của Chính Phủ được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức kinh tế . Các đơn vị tổ
chức kinh tế là đơn vị cơ s ở sáng tạ o ra cơ sở vật chất cho xã hội, các tổ chức này sẽ
quyết đ ịnh sự tồn tạ i và phát triển kinh tế xã hộ i của mỗi quốc gia.Các tổ chức kinh tế
được thành lập, có quy mô h ợp lí và quản trị tốt sẽ tạo điều kiện phát huy có hiệu quả
nguồn lực của xã hội, góp phần tăng tích lũy, tăng thu nhập, tăng lợi nhuận và cải thiện
không ngừng đời sống của các thành viên trong các tổ chức kinh tế. Đồng thời các tổ
chức này được tổ chức tốt sẽ đả m bảo cho chính các tổ chức kinh tế đứng vững trước sự
cạnh tranh khốc liệt trong nền kinh tế thị trường và đả m b ảo cho nền kinh tế phát triển
bền vững.

Ở Việt Nam sự tồn tạ i và phát triển của các tổ chức kinh tế cũng là sự phát triể n của
nền kinh tế quốc dân. Đặc biệ t với Việ t Nam là n ền nông nghiệp vẫn giữ một vị trí quan
trọng trong nền kinh tế . Nông nghiệp góp phần duy trì sự phát triển bền vững nền kinh tế
và giữ vai trò vai trò quan trọng đối với chính sách an ninh lương thực quốc gia. Vì vậy
đề tài:” Tìm hiểu các tổ c hức sả n xuất trong nông nghiệp:Hợp tác xã dịch vụ nông
nghiệp, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuấ t khẩ u” giúp chúng ta tìm hiểu rõ hơn
về vai trò, thực trạng của các tổ chức kinh tế này trong nền kinh tế của Việt Nam.
Phần II: NỘI DUNG

1.Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp

1.1. Khái niệm
Hợp tác xã là tổ ch ức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu
lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy đ ịnh của pháp lu ật để phát huy
sức mạnh của tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiệ n
hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp
phần phát triển kinh tế- xã hội của đấ t nước.

1.2. Đặc điểm cơ bản của Hợp tác xã
- Là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động tự nguyện lập ra trên cơ sỏ lợi ích
chung;

- Tư liệ u sản xuất và các vốn khác thuộc sở hữu tập thể do xã viên đóng góp hoặc kêu gọ i
vốn đóng góp từ bên ngoài;

- Chủ n hiệm và ban quản trị h ợp tác xã do Đạ i hội xã viên bầu ra

- Thu nhập của hợp tác xã phân phối theo lao động;

- Vốn c ổ phần chia theo lợi nhuận do Đạ i hội xã viên quyết đ ịnh.

Hợp tác xã vừa là tổ chức kinh tế, vừa có tính chấ t các hội. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế
bởi hợp tác xã là một đơn vị thực hiện hoạ t động sản xuất kinh doanh nhằm phát triển sản
xuất, kinh doanh có hiệu quả, bảo đả m lợi ích cho ngư ời lao động, c ủa tập thể và của xã
hộ i. Hợp tác xã hoạ t động có tính chất xã hội bởi h ợp tác xã là nơi những người lao động
trợ giúp lẫn nhau trong quá trình sản xuất, cũng như trong đời sống vật chấ t tinh thần.

Ngành nghề của hợp tác xã có thể chỉ thuộc một lĩnh vực, song cũng có thể ở nhiều lĩnh
vực khác nhau. Trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác xã thường được gọi là h ợp tác xã
nông nghiệp, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp…Trong lĩnh vực công nghiệp- tiểu thủ
công nghiệp hay xây dựng, hợp tác xã thường được gọi tên theo lĩnh vực kinh doanh hoặc
theo tên riêng. Vd: Hợp tác xã Bát Tràng, Gia Lâm. Hà Nội vừa kinh doanh gốm sứ, vừa
kinh doanh du lịch làng nghề…Từ đó cho thấ y tính chất đa ngành nghề của các hợp tác
xã trong sản xuấ t kinh doanh.
1.3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã
- Tổ chức và hoạt độ ng của hợp tác xã cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau: Tự n guyệ n;
dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ chịu trách nhiệm và cùng có lợi; Hợp tác và phát
triển cộng đồng.

- Tự nguyện: Mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ đ iều kiện theo quy đ ịnh của
luật Hợp tác xã tán thành theo đ iều lệ hợp tác xã đều có quyền gia nhập hợp tác xã.
Ngược lạ i xã viên có quyền ra khỏi h ợp tác xã theo quy định điều lệ h ợp tác xã.

- Dân chủ, bình đẳng và công khai: Xã viên có quyền tham gia, quản lki ,íểm tra, giám
sát hợp tác xã và có quyền ngang nhau trong biểu quyết; Thực hiện công khai phương
hướng sản xuấ t, kinh doanh , tài chính và phân phối và nh ững vấn đề khác trong quy định
điều lệ của h ợp tác xã.

- Tự chủ , tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi:Hợp tác xã tự chủ và tự chịu trách nhiệm về
kế t quả hoạt động sản xuất kinh doanh; Tự quyết đ ịnh về phân phối thu nhập. Sau khi
thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trả i các khoản lỗ của hợp tác xã, lãi sẽ được
trích một phần vào các quỹ của hợp tác xã, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng
góp của xã viên, phần còn lạ i chia cho xã viên theo mức độ sử dụng đ ịch vụ của hợp tác
xã.

- Hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có y thức phát huy tinh thầ n xây dựng
tập thể và hợp tác với nhau trong hợp tác xã, trong cộng đồng xã hội; Hợp tác giữa các
hợp tác xã trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luậ t.

1.4. Định hướng phát triển hợp tác xã ở Việt Nam
Trước đổ i mới, Hợp tác xã được coi là đơn vị c ơ bản trong nông nghiệp, nông thôn.
Đến năm 1980, kinh tế h ợp tác chiếm 98% số hộ ở miền Bắc, 80% miền Trung và khoảng
5% Đồng bằng song Cửu Long. Trong giai đoạn này, hợp tác chủ yếu làm nhiệm vụ sản
xuất nông nghiệp và được tổ chức theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. Tuy nhiên, sang
thập kỷ 8 0, hợp tác xã có nhiều yếu kém, năng suấ t đấ t đai suy giả m, không khuyến khích
các thành viên tham gia sản xuấ t. Do đó từ năm 1988, hợp tác xã được chuyển đổi theo
hướng: giao đất cho các hộ là thành viên tham gia của h ợp tác xã. Kế tiếp là Luậ t hợp tác
xã được xây dựng vào năm 1996, tiếp tục được sửa đổ i vào những năm 2001 và năm
2003. Trọng tâm của định hướng đổi mới hợp tác xã là giúp các hộ, doanh nghiệp hợp tác
lại để sản xuất và kinh doanh có hiệu quả. Coi hợp tác xã là tổ chức kinh tế hơn là các tổ
chức xã hộ i. Hợp tác xã không giới hạn theo không gian mà sự liên kết ngành hàng để
nâng cao hiệu quả sản xuấ t kinh doanh.
Chuyển hình thức sở hữu công cộng thành sở h ữu tập thể. Chức năng nhiệm vụ của h ợp
tác xã tùy theo điều kiện thị trường và kinh tế xã hội c ủa địa phương, không nhấ t thiế t ch ỉ
là dịch vụ. Theo kết quả củ dự án khảo sát thu thập thông tin xây dựng cơ sở dữ liệu về
HTX trên địa bàn toàn quốc cảu Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến hết năm 2008, Việ t Nam
có 14500 HTX và 7478019 xã viên. Sự biến động số lượng h ợp tác xã qua các giai đoạn
ở các vùng và trong cả nước tùy theo tình hình nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hộ i và
nhiệ m vụ c ủa từng thời kỳ.
Hợp tác xã đã chú trọng đa dạng hóa các hoạ t động dịch vụ cho kinh tế hộ và phát triển
một số lo ại hình kinh doanh. Kết quả điều tra năm 2006, trong số các HTX nông nghiệp
đang hoạ t động có 86% làm dịch vụ thủy nông. 53,1% làm dịch vụ bảo vệ th ực vậ t,
50,3% làm dịch vụ đ iện, 48,6% làm dịch vụ bảo vệ đồng ruộng, 40,1% làm dịch vụ cung
ứng vật tư, 34,9% làm dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Doanh thu thuần
từ hoạt động d ịch vụ sản xuất bình quân 1 HTXNN năm 2005 đạ t 481.6 triệu đồng, gấp
2,1 lần so với năm 2000. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều HTX nông nghiệp hoạt
động có lãi. Lợi nhuận thuần từ hoạt động d ịch vụ sản xuất bình quân 1 HTXNN đạ t 41,4
triệu đồng, tăng 39,4% so với năm 2000.

Đa số hợp tác xã nói chung và h ợp tác xã nông nghiệp nói riêng đã trả i qua nhiều bước
thăng trầm. Cho đến hiện tại, hợp tác xã gặp phải những khó khăn chủ yếu như sau:

- Nhận thức về hợp tác xã kiểu mới và luậ t HTX của cán bộ HTX và nông dân chưa thấu
đáo nên việc chuyển đổi HTX còn mang nặng tính hình thức.

- Vốn và cơ sở vậ t chất kỹ thuật của HTX còn yế u kém đã ảnh hưởng đến hoạt động của
HTX.

- Trình độ cán bộ quản lí HTX còn nhiều bấ t cập so với cơ chế quản lí mới, nhất là đối
với cán bộ quản lí c ủa hợp tác xã nông nghiệp.

- Công tác quản lí và giúp đỡ của HTX đối với HTX chưa thực sự thỏa đáng. Nhà nước
đã có nhiều chính sách tạo hành lang pháp lí cho HTX chuyển đổi, xây dựng mới, thực
hiện hoạt động sản xuấ t kinh doanh. Tuy nhiên tren thực tế sự can thiệp c ủa các chính
sách đó tới các cơ sở còn chậm, nhất là các HTX nông nghiệp rấ t ít được hưởng lợi từ các
chính sách đó. Xét trên phạm vi toàn quốc, hoạt động của HTX dang trong tình trạng khó
khăn.Ở mộ t số địa phương của Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nội… thì hoạt động của HTX
nông nghiệp lại rấ t sôi động.

* Mô hình hợp tác xã hiện nay ở Việt Nam chưa phát triển

Nh ững quy đ ịnh pháp luậ t không phù h ợp với thực tiễn
Đa phần các HTX nông nghiệp chuyển đổi hoạt động vẫn mang tính hình thức thụ
động. Một mặt trong nhận thức của cán bộ, lãnh đạo đ ịa phương HTX vẫn được coi như
công cụ, cánh tay nối dài của chính quyền. Thực tế phần lớn các HTX ở miền Bắc Việt
Nam, chính quyền địa phương và người dân địa phương c òn chịu ảnh hưởng nặng nề của
mô hình HTX kiể u cũ.Đa số các HTX trong nông nghiệp có số lượng xã viên lớn.Cụ thể
trung bình một HTX dịch vụ nông nghiệp (DVNN) có trên 1000 xã viên, đặc biệt có
nh ững HTX có tới trên 7000 xã viên, như HTX DVNN Giao Nhân ( Nam Định). Phần
lớn HTX DVNN vẫn được ra đời theo nhu cầu của cơ quan hành chính và được coi như
là một bộ phận của chính quyền địa phương để quản lí các hoạt động đời sống nông thôn
( hoạt đ ộng tưới ,tiêu nước, nạo vét kênh mương…). Do vậy, các HTX vẫn được chính
quyền bao cấp về cơ sở vậ t chất, nhân sự và hoạt động một cách thụ động. Mặ t khác
người nông dân đã quen tâm lí ỷ lại vào HTX để được trợ cấp của Nhà nước, họ không
quan tâm đ ến ngh ĩa vụ của mình, phó mặc cho ban quản trị HTX thường được coi là xã
viên.

Sau thời kỳ đổ i mới, với nền kinh tế th ị trường, Nhà nước đã tập trung đưa ra nhiều
chính sách, văn bản pháp luật điều chỉnh đố i với khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài.

Qu ỹ đất còn hạn chế:

Điển hình chính sách hỗ trợ về đấ t đai đối với HTX để xây dựng trụ sở, cơ sở sả n xuấ t
kinh doanh đã thực hiện sự quan tâm đ ặc biệt của Nhà nước đố i với khu vực này, tuy
nhiên trên thực tế đa số các địa phương trong cả nước không có đủ qu ỹ đất để thực hiện
chính sách này.

Khó khăn trong việc tiế p cận tín dụng:

Tương tự Nhà nước cũng đề ra nhiều chính sách tín dụng ưu đãi thành lập quỹ hỗ trợ đối
với HTX, nhưng trên thực tế tiế p cận những nguồn vốn ưu đãi đó luôn là bài toán khó đố i
với các HTX. Các tổ chức tín dụng luôn quan tâm đến tài sản thế chấp, trong khi có rất ít
HTX có tài sản chung đáng giá để đáp ứng điều kiện vay vốn.

Chính sách về đào tạo không thích hợp:

Trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX cũng vậy, Nhà nước luôn quan tâm,
dành một ngân sách phù hợp cho lĩnh vực này. Tuy nhiên việc triển khai chính sách này
còn mang tính hình thức.

Mộ t cơ chế quả n lí, hỗ trợ không hiệu quả: Hiện nay, bộ máy qu ản lí nhà nước trong lĩnh
vực HTX vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu ở cấp TW và địa phương.
Hiệ n nay ở Việt Nam, từ khi bước vào cơ chế thị trường nhấ t là sau khi gia nhập WTO,
nông dân Việt Nam phải đối mặt với nhiều đối th ủ sản xuất kinh doanh mạ nh cũng như
nh ững đòi hỏi khắt khe về tiêu chuẩn, chất lượng đặt ra của thị trường. Với tình trạng
hoạt động, sản xuất đơn phương độc mã như hiện nay, các hộ tiêu nông ở Việt Nam sẽ
không có đủ sức cạnh tranh với các khu vực doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân,
cũng như sẽ gặp khó khăn trong thương thuyết mua bán, cung cấ p hàng hóa, dịch vụ.
Thực tế cho thấy, việ c liên kết HTX, người nông dân vẫn huy động được nguồn vốn, kỹ
thuậ t, vừa giảm được chi phi đầ u vào, vừa đảm b ảo đầu ra của sản phẩm một cách có lợi
nhất.

Do đó, mô hình HTX có thể được coi là giải pháp tối ưu nhấ t tạo môi trường liên kết,
phát huy th ế mạ nh của người nông dân, đồng thời tạo động lực cho khu vực kinh tế phát
triển.

Trong bố i cảnh chung về tình hình hoạ t động của HTX, để khôi phục hoạ t động của tổ
chức này c ần tập trung vào làm tốt các nội dung sau:

- Tiếp tục phân lo ại, xử lí các tồn đọng của HTX, có thể cho giải thể để thành lập HTX
mới n ếu cần thiết.

- Tuyên truyền giới thiệu các mô hình HTX mới có hiệu quả và tiến hành chia sẻ kinh
nghiệ m.

- Nhà nước cần thực hiện những giải pháp hỗ trợ kinh tế, khuyến khích và tạo thuận lợi
cho kinh tế h ợp tác và HTX phát triển như: Chính sách đấ t đai (giao đất hoặc cho thuê đất
để tạo điều kiện cho HTX mở rộng sản xuất kinh doanh…), chính sách tín dụng, chính
sách xóa nợ cũ, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng c ho HTX…

- Nâng cao năng lực quản lí và trình độ chuyên môn cho cán bộ cơ sở và cán bộ HTX

- Tăng cường vai trò quản lí c ủa nhà nước đối với HTX thông qua: ban hành các chính
sách tạo hành lang pháp lí để HTX hoạt động, chính quyền các cấp cần sự hỗ trợ giúp đỡ
theo hướng lấy HTX làm cầu nối giữa Nhà nước với hộ dân, làm đạ i lí cung ứng vậ t tư và
thu gom sản phẩ m, làm cơ sở chuyển giao những cái mới tới người dân…

- Không ngừng bổ sung và hoàn thiện lu ật Hợp tác xã và điều lệ hợp tác xã cho phù h ợp
với tình hình mới.
2. Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu nông nghiệp

2.1. Khái niệm
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao d ịch ổn định, được đăng
kí kinh doanh theo quy đ ịnh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh.
- Mục đích của doanh nghiệp:
Mục đích của doanh nghiệp là thể h iện khuynh hướng tồn tại và phát triển, doanh
nghiệp có 3 mục đích cơ bản:
- Mục đích kinh tế: Thu lợi nhuận, đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh.
- Mục đích xã hội: cung cấp hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội và bảo vệ môi
trường bền vững.Đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động
công ích cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp, công ty
khác trong sự phát triển kinh tế xã hội nói chung.
- Mục đích thỏa mãn các n hu cầu cụ thể và đa dạng của mọi người tham gia hoạ t động
trong doanh nghiệp.
Phân theo lĩnh vực hoạt động, ngành sản xuấ t, kinh doanh người ta chia doanh nghiệp
thành:
+ Doanh nghiệp nông nghiệp là những doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực
nông nghiệp, hướng vào việc sản xuất ra những sản phẩ m là cây, con.
Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuấ t khẩu là các doanh nghiệp sản xuấ t hàng hóa và
bán ra hàng hóa ra khỏi cửa khẩu, khỏi thị trường nộ i địa. Tuy nhiên xu ất khẩu được hiểu
là giao dịch của hai hay nhiều thương nhân mà có quốc tịch khác nhau, có sự chuyển dịch
đồng tiền từ nước này qua nước khác, hàng hóa không nhất thiết phải qua biên giới.
Xuất khẩu tại chỗ: Hàng hóa sản xuất tại Việ t Nam bán cho thương nhân nư ớc ngoài
nhưng giao hàng cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ đ ịnh của thương nhân
nước ngoài.
Xuất qua biên giới: Hàng hóa sản xuấ t trong nước nhưng giao hàng cho các doanh
nghiệp khác ngoài bên giới.
Xuấ t vào khu chế xuất: Xu ất vào khu công nghiệp đặc biệ t chỉ dành cho việc sản xuất,
chế biến những sản phẩm để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc dành cho các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực d ịch vụ liên quan đế n hoạt động xuất – nhập khẩu tại khu vực
đó với các ưu đãi về các mức thuế xuấ t – nhập khẩu hay các ưu đãi về giá cẩ thuê mướn
mặt bằng sản xuất, thuế thu nhập cũng như cắ t giảm tối thiểu các thủ tục hành chính.
2.2. Tình hình các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm đã mang về
cho đất nước 42,33 tỷ USD, tăng 30,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu
của khu vực kinh tế trong nước đạt 19,38 tỷ USD, tăng 12,9% và xuất khẩu có vốn đầu tư
nước ngoài là 42,95 tỷ USD, tăng 31,1%. Tăng trưởng xuất khẩu như vậy đã gấp 3 lần so
với chỉ tiêu kế hoạch được Quốc hội thông qua (10%) hồi đầu năm.
*Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng mạnh
Tình hình xuất khẩu mặt hàng nông nghiệp giữa năm 2011: Tình hình xuất khẩu mặt
hàng nông nghiệp có xu hướng tăng. Tình hình sản xuất nông nghiệp vẫn đang tiếp tục
tăng trưởng mạnh từ cuối năm đến nay, để duy trì tốc độ tăng trưởng cần kiểm soát một
loại d ịch bệnh dễ bùng phát ở cây trồng và vật nuôi giai đoạn n ày.
Nhu cầu và giá cả các mặt hàng nông, lâm, thủy sản trên thị trường thế giới tiếp tục xu
hướng tăng, có lợi cho xuất khẩu của Việt Nam. Đến hết tháng 7, giá trị xuất khẩu nông,
lâm và thủy sản tăng thêm 2 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu lên 13,95 tỷ USD
tăng 33,4% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, các mặt hàng nông sản chính thức ước
đạt xấp xỉ 8,1 USD, tăng 44,6%; thủy sản ước đạt 3,1 tỷ USD, tăng 24,8%, lâm sản đạt
2,2 tỷ USD tăng gần 13%. Thặng dư thương mại toàn ngành đạt xấp xỉ 5 tỷ USD, góp
phần giảm nhập siêu cho cả nước.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản 7 tháng đầu năm đạt 1563 ngàn tấn, tăng 5,2%. Giá thủy
sản tăng cap cũng khuyến khích ngư dân đánh bắt, nhiều tàu thuyền bám biển kéo dài
khiến tổng sản lượng khai thác biển đạt 1380 ngàn tấn.
Điều quan trọng, để duy trì tốc độ tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp từ nay đến
cuối năm là phải kiểm soát tốt dịch bệnh ngăn chặn rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá
trên lúa hè thu, thu đông ở vùng ĐBSCL và Đông Nam Bộ. Kiểm soát chặt chẽ các loại
dịch cúm gia cầm, tai xanh, lở mồm long móng không để bệnh bùng phát gây thiệt hại
đến sản xuất.
Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng c ủa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
nông nghiệp như sau:
Xuất khẩu nông, lâm và thủy sản đạt 13,9 tỷ USD

Xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 8,1 tỷ USD, tăng 44,6%; thuỷ sản ước
đạt 3,1 tỷ USD, tăng 24,7% và lâm sản khoảng 2,2 tỷ USD, tăng gần 13%.Theo báo cáo
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu các
mặt hàng nông, lâm và thu ỷ sản nước ta đạt 13,9 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm
ngoái, chủ yếu nhờ giá cao.
Xuất khẩu của một số mặt hàng cụ thể nh ư sau:
Gạo
Trong 7 tháng đầu năm, cả nước đã xuất khẩu 4,7 triệu tấn gạo, đạt 2,3 tỷ USD, tăng
9,7% về lượng và 10,8% về giá trị so với cùng kỳ n ăm ngoái. Tăng trưởng về lượng cao
hơn giá trị bởi giá gạo năm nay thấp hơn. Triển vọng xuất khẩu gạo những tháng còn lại
khá lạc quan vì chúng ta có thêm các khách hàng mới. Hiệp hội Lương thực Việt Nam dự
kiến trong quý 3 sẽ xuất 1,9 triệu tấn; quý 4 xuất 1,2 triệu tấn, nh ư vậy cộng với lượng
gạo trên 4 triệu tấn đã xuất trong 6 tháng đầu năm, thì cả năm 2011 sẽ xuất trên 7 triệu
tấn – mức kỷ lục mới.
Indonesia tiếp tục duy trì là bạn hàng lớn nhất của Việ t Nam từ đầu năm đến nay. Các
thị trường khác như Malaysia và Cuba cũng tăng lần lượt 99,6% và 137,7% về giá trị so
với cùng kỳ năm trước. Riêng Philippine, xuấ t khẩu sang thị trường này ch ỉ bằng một nửa
cùng kỳ năm ngoái nhưng đây vẫ n là khách hàng lớn thứ hai của Việt Nam.
Tổng công ty Lương thực miền Nam – VINAFOOD II – là một doanh nghiệp nhà
nước, VINAFOOD II là doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu gạo,
nơi sản xuất phần lớn các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam, đặc biệt tập trung ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long, nơi sản xuất ra phần lớn lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Theo Bộ NN-PTNT, tình hình sản xuât nông nghiệp vẫn đang tiếp tục tăng trưởng mạnh
từ nay tới cuối năm, tình h ình xuất khẩu các gạo cũng tăng.
Cà phê
Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê nư ớc ta đạt khoảng 2 tỷ USD, khối lượng
930 nghìn tấn, tăng 24% về lượng và 92,6% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá cà
phê xuất khẩu tiếp tục tăng, trong khi n guồn cung trong nước giảm nên giá cà phê trong
nước cũng tăng theo. Giá xuất khẩu bình quân trong 7 tháng đầu năm là 2.150 USD/tấn,
tăng khoảng 55% so với cùng kỳ năm ngoái. Khối lượng xuống tàu trong 6 tháng qua đạt
878 nghìn tấn, tăng 29,1% so với cùng kỳ năm trước. Với lượng và kim ngạch xuất khẩu
liên tục tăng qua các tháng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã liên tục điều
ch ỉnh tăng dự báo kết quả xuất khẩu của cả năm. Theo dự báo mới nhất của Bộ, xuất
khẩu cà phê năm nay s ẽ khoảng 1,3 triệu tấn, kim ngạch gần 3 tỷ USD
Từ trước đến nay chủ yếu Việt Nam xuất khẩu cà phê hạt nên những trường hợp các
doanh nghiệp trong ngành cà phê mạnh tay đầu tư xây d ựng các nhà máy chế biến được
khuyến khích rất nhiều. Cụ thể, vào tháng 9/2010, Công ty Trung Nguyên tiến hành mua
lại một nhà máy chế biến cà phê của Công ty Vinamilk với công suất 1.500 tấn cà phê
hòa tan và 2.600 tấn cà phê rang xay mỗi năm, thêm vào số lượng 4 nhà máy chế biến
Trung Nguyên hiện có. Gần đây nhất, vào giữa tháng 12/2010, Công ty Vinacafe Biên
Hòa, đã đầu tư 500 tỷ đồng xây dựng nhà máy ch ế biến có công suất chế biến 3.200 tấn
cà phê hòa tan nguyên chất/năm. Lĩnh vực chế biến cà phê cũng ghi nhận sự góp mặt của
nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến xây dựng nhà máy chế biến, tập trung gần các vùng
nguyên liệu như Công ty TNHH Olam đầu tư xây dựng nhà máy chế biến cà phê công
suất 4.000 tấn tại Long An. .. Công ty Cổ phần Mê Trang.
Cao su
Khối lượng cao su xuất khẩu 7 tháng qua đạt 349 ngh ìn tấn, trị giá 1,5 tỷ USD, tăng
6,6% về lượng và 68,9% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá cao su xuất khẩu bình
quân 7 tháng ước đạt 4.297 USD/tấn. Mặc dù tiêu th ụ cao su thế giới không tăng mạnh
như năm ngoái nhưng Bộ Nông nghiệp dự báo giá sẽ duy trì mức cao cho đến tận cuối
năm.
Chè
Xuất khẩu chè trong 7 tháng đầu năm mang về cho đất nước 98 triệu USD, với 65 nghìn
tấn, giảm 7,1% về lượng và 2,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu sang
các thị trường lớn hầu hết giảm, chỉ trừ hai thị trường tăng đó là Trung Quốc 18% và
Indonesia 40,5%. Tuy lư ợng xuất đi giảm nh ưng giá chè bán ra nư ớc ngoài vẫn cao hơn
khoảng 4,7% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 1.507 USD/tấn.Có các doanh nghiệp bán chè
ở Thái Nguyên, Sơn La, Mộc Châu..
Hạt điều
Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu hạt điều đạt 84 ngh ìn tấn, khối lượng 656 triệu USD,
giảm 16,5% về lượng nhưng tăng 21,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Khối lượng
xuất khẩu giảm ở hầu hết các thị trường lớn, ngoại trừ Trung Quốc tăng 19,4%, Đài Loan
tăng 28,7%.
Giá xuất khẩu trung b ình 7 tháng đạt 7.809 USD/tấn, tăng gần 50% so với cùng kỳ năm
ngoái.
Theo thống kê của Tổng Cục Hải quan, tháng 7/2011 cả nước xuất khẩu 19.178 tấn hạt
điều, thu về 168,95 triệu USD (tăng 25,1% về lượng và tăng 33,33% về kim ngạch so với
tháng trước đó); đưa tổng lượng hạt tiêu cả 7 tháng lên 88.113 tấn, trị giá 694,56 triệu
USD, chiếm 1,32% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước (giảm 12,7% về
lượng nhưng tăng 28,27% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái và đạt 44,1% kế hoạch
xuất khẩu năm 2011).
Xuấ t khẩu hạt điều tháng 7/2011 sang đa số các thị trường tăng kim ngạch so với tháng
6
Xuất khẩu hạt điều sang Hoa Kỳ - thị trường lớn nhất của hạt điều Việt Nam sau khi sụt
giảm liên tiếp 2 tháng đầu năm, th ì từ tháng 3 đến nay, kim ngạch luôn tăng trưởng
dương, tháng 7 tiếp tục tăng 20,72% so với tháng 6, đạt 49,89 triệu USD; đ ưa kim ngạch
xuất khẩu sang thị trường này 7 tháng lên 216,08 triệu USD, chiếm 31,1% tổng kim
ngạch, tăng 17,34% so với cùng kỳ.
Thị trường lớn thứ 2 là Trung Quốc trong tháng 7 tăng trở lại 8,79%, đạt 23,19 triệu
USD (sau khi bị sụt giảm gần 18% ở tháng trước đó); tổng cộng 7 tháng xuất khẩu sang
thị trường này đạt 133,42 triệu USD, chiếm 19,21%, tăng 85,57% so với cùng kỳ.
Th ị trường lớn thứ 3 là Hà Lan đạt kim ngạch 104,59 triệu USD trong 7 tháng đầu
năm, chiếm 15,06%, tăng 27,35% so với cùng k ỳ; trong đó riêng tháng 7 đạt 29,33 triệu
USD, tăng trên 43% so với tháng trước đó.
T rong tháng 7, xuất khẩu hạt điều sang phần lớn các thị trường đều tăng trưởng dương
về kim ngạch so với tháng 6, trong đó thị trường được đặc biệt chú ý về mức tăng trưởng
là thị trường Singapore tăng cực mạnh tới 2.523% về kim ngạch so với tháng trước; tiếp
đến một số thị trường cũng tăng trưởng mạnh trên 100% về kim ngạch như: Ucraina tăng
355,4%; Pakistan (+278,4%); U.A.E (+160,4%); Đức (+149%); Hồng Kông (+141%);
Tây Ban Nha (+113 ,6%); Hy Lạp (+109%); Ấn Độ (+107,4%). Tuy nhiên xuất khẩu
giảm mạnh ở thị trường Đài Loan, Philippines và Na Uy với mức giảm lần lượt là:
65,5%; 55,6% và 45,1%.
Tính chung cả 7 tháng đầu năm, th ì đa số các thị trường xuất khẩu hạt điều cũng đều
tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ; trong đó tăng mạnh ở các thị trường Bỉ
(+360,7%); Singapore (+198,4%); U.A.E (+90,4%) và Trung Quốc (+85,6%).
Hạt tiêu
Khối lượng tiêu xuất khẩu 7 tháng đầu năm đạt 85 ngh ìn tấn, thu về 465 triệu USD,
lượng không đổi nhưng giá trị tăng tới 70,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Các thị trường
đều gặp thuận lợi, trong đó sang Mỹ tăng 17,4% về lượng và gấp hơn 2 lần về giá trị. Giá
tiêu xuất khẩu b ình quân 7 tháng tăng hơn 70%, đạt 5.470 USD/tấn.
Lâm sản và đồ gỗ
Xuất khẩu nhóm mặt hàng này mang về cho đất nước 2,2 tỷ USD trong 7 tháng đầu
năm, tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 2,1 tỷ
USD, tăng gần 14%; sản phẩm mây tre, cói thảm ước khoảng 116 triệu USD, giảm nhẹ so
với cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc và Nhật Bản tiếp tục là các thị trường xuất khẩu lớn và tăng trưởng mạnh
trong thời gian qua.
Thuỷ sản
Xuất khẩu nhóm mặt hàng này trong 7 tháng đầu năm ước đạt 3,1 tỷ USD, tăng 24,8%
so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu sang các thị trường lớn đều tăng cả về lượng và giá
trị, điển hình như Mỹ tăng 48,8%, Trung Quốc 60,5%, Canada 66,2% về giá trị.
Top các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản 7 tháng đầu năm:
Minh Phú (MPC) đứng đầu về xuất khẩu tôm, Vĩnh Hoàn (VHC) đứng đầu về xuất
khẩu cá tra, trong khi công ty CP Gò Đàng (AGD) giữ vị trí số 1 về nhuyễn thể 2 mảnh
vỏ.Tập đoàn Minh Phú (MPC) là doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn nhất nước ta 7
tháng đầu năm, chiếm 5,36% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành, bỏ xa Vĩnh
Hoàn chỉ với 2,53%. Minh Phú cũng là nhà xuất khẩu tôm lớn nhất nước, chiếm 14,36%
tỷ trọng toàn ngành, trong khi vị trí thứ hai là Quốc Việt chỉ chiếm 4,09%. Công ty Vĩnh
Hoàn đứng đầu về xuất khẩu cá tra với tỷ trọng gần 8,2%, CTCP Hùng Vương đứmg vị
trí thứ hai với hơn 7%.
Công ty Cổ phần Gò Đàng (Godaco) là nhà xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ lớn nhất
nước, với thị phần 11,54%, tiếp đến là Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến
Tre với thị phần 10,42%.
PHẦN III: KẾT LUẬN
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra lương thực, thực phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu
trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài. Với lợi thế là một n ước nông nghiệp, những
mặt hàng được các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất xuất khẩu ra nước ngoài là: Gạo, cà
phê, hạt điều, hạt tiêu, lâm sản và đồ gỗ, thủy sản.Các tổ chức kinh tế mà chúng ta tìm
hiểu ở trên: Hợp tác xã d ịch vụ nông nghiệp, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu
nông nghiệp. Các tổ chức này tuy được tổ chức dưới các loại h ình khác nhau nhưng đều
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tái sản xuất và tiêu dùng, các hoạt động liên
quan đến mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Nhà nước cần có nhiều chính sách hơn để giúp đỡ các tổ chức này để phát triển: như
chương trình tín d ụng hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, nông nghiệp phát triển…để xúc tiến
thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình Kinh tế ngành sản xuất. TS.Dương Văn Hiểu- TS. Đinh Văn Đãn - Ths.
Nguyễn Thị Minh Thu. NXB Tài chính năm 2010
Báo kinh tế Việt Nam: www.vneconomy.vn.

Thời báo kinh tế Sài Gòn: www.thesaigontimes.vn
Trang thông tin điện tử Bộ công th ương Việt Nam: www.moit.gov.vn
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản