Đề tài: "Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới (WB)"

Chia sẻ: tuilatra

Chúng ta đang sống trong một thế giới với mức thu nhập hằng năm của cả thế giới là 31 nghìn tỉ dollar và ở một số nước trung bình một người có thu nhập hơn $40,000 một năm. Nhưng trong lúc đó, 2.8 tỷ người, tức là hơn một nửa dân số của các quốc gia đang phát triển, lại có thu nhập chưa tới 1 dollar 1 ngày. Do đó, mỗi ngày có khoảng 33,000 trẻ em bị tử vong tại các nước đang phát triển. Tại các quốc gia này mỗi phút có hơn một phụ nữ bị qua đời trong lúc...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài: "Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới (WB)"

Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng




Luận văn
Đề tài: "Tìm hiểu chung về ngân hàng thế
giới (WB)"




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 3
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Mục lục
I. Quá trình hình thành: ...................................................................................................6
II. Sự phát triển:................................................................................................................7
III. Tôn chỉ hoạt động: ..................................................................................................... 10
Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế được thành lập tháng 12 năm 1945, khai trương
doanh nghiệp vào tháng 6 năm 1946. Tôn chỉ của Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế
là: 10
I. Cơ cấu của Ngân hàng Thế giới_WB:......................................................................... 11
II. Tổ chức của WB: ........................................................................................................ 12
II.1. Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế(International Bank for Reconstruction
Development – IBRD): ..................................................................................................12
II.2. Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation – IFC):..................15
II.3. Hiệp hội phát triển quốc tế:..................................................................................16
II.4. Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư Quốc tế (International Centrefor
Settlementò Investment Disputes – ICSID):...................................................................17
II.5. Tổ chức Bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency -
MIGA ):.........................................................................................................................18
I. Nhiệm vụ và chức năng của Ngân hàng thế giới WB: ................................................. 19
I.1. Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế(International Bank for Reconstruction
Development – IBRD): ..................................................................................................19
I.2. Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation – IFC):..................20
I.3. Hiệp hội phát triển quốc tế(International Development Association – IDA): .......21
I.4. Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư Quốc tế (International Centre for
Settlement of Investment Disputes – ICSID):.................................................................21
I.5. Tổ chức Bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency -
MIGA ):.........................................................................................................................21
II. Hoạt động của WB: .................................................................................................... 22
I. Sự cải tổ của Ngân hàng thế giới WB: ........................................................................ 27
I.1. Tăng vốn hoạt động và vốn đăng ký: ...................................................................27
I.2. Tăng quyền biểu quyết cho các nền kinh tế đang phát triển: ................................ 28
I.3. Tăng hỗ trợ cho các nước nghèo:.........................................................................29
II. Việt Nam và Ngân hàng thế giới – WB: ...................................................................... 29
II.1. Việt Nam gia nhập WB: ......................................................................................29
II.2. Các hoạt động chủ yếu của WB tại Việt Nam:.....................................................30
II.2.1. Quan hệ VN - WB giai đoạn 1978-1993 : ....................................................30
II.2.2. Quan hệ VN-WB giai đoạn 1993 đến nay: ....................................................30
II.3. Các tổ chức thành viên của WB tại Việt Nam:.....................................................31
II.3.1. Thông tin chính về các dự án IFC tại Việt Nam:...........................................31
II.3.1.1. Tài chính:.............................................................................................. 31
II.3.1.2. Doanh nghiệp vừa và nhỏ: ....................................................................32
II.3.1.3. Giáo dục: .............................................................................................. 32
II.3.1.4. Chương trình Phát triển Dự án Mê Kông (MPDF):............................... 32
II.3.2. Tổ chức bảo lãnh đa phương (MIGA)...........................................................34
II.3.3. Các hoạt động của IDA:...............................................................................35
II.4. Kết luận:..............................................................................................................38
II.4.1. Tình hình hợp tác: ........................................................................................38


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 4
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

II.4.2. Kiến nghị phương hướng hợp tác Việt Nam - WB trong thời gian tới: ..........40




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 5
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng


Lêi më ®Çu
Chúng ta đang sống trong một thế giới với mức thu nhập hằng năm của cả thế giới là
31 nghìn tỉ dollar và ở một số nước trung bình một người có thu nhập hơn $40,000 một
năm. Nhưng trong lúc đó, 2.8 tỷ người, tức là hơn một nửa dân số của các quốc gia đang
phát triển, lại có thu nhập chưa tới 1 dollar 1 ngày.
Do đó, mỗi ngày có khoảng 33,000 trẻ em bị tử vong tại các nước đang phát triển.
Tại các quốc gia này mỗi phút có hơn một phụ nữ bị qua đời trong lúc sinh con. Cảnh nghèo
khó khiến cho hơn 100 triệu trẻ em - phần lớn là các em gái, không được đến trường. Trong
khi dân số tiếp tục tăng nhanh, ước tính khoảng 3 tỷ người trong vòng 50 năm tới thì thách
thức giảm đói nghèo là rất to lớn. Để giúp nâng cao mức sống ở các nước đang phát triển
bằng cách chuyển các nguồn tài trợ từ các nước công nghiệp phát triển thì nhân hàng thế
giới_WB được thành lập!




CHƯƠNG I:
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THẾ
GIỚI_WB:

I. Quá trình hình thành:
Năm 1929-1933 nổ ra khủng hoảng kinh tế ở phương Tây. Cuộc khủng hoảng này
làm cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa càng xấu đi, thất nghiệp tăng lên, xuất hiện những
mâu thuẫn trong nội bộ các nước phát triển. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nền kinh


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 6
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

tế thế giới phát triển rất không đều, mâu thuẫn giữa các nước phát triển ngày càng sâu sắc.
Những nước này thi hành chính sách bành trướng ra nước ngoài cả về chính trị, kinh tế và
quân sự. Trước tình hình ấy, một số nước đưa ra chủ trương thành triển ngày càng gay gắt,
phát xít Đức nhảy lên vũ đài và Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ. Trong thời kỳ Thế chiến
thứ 2, nền kinh tế Mỹ phát triển rất nhanh, Mỹ trở thành nước mạnh nhất thế giới. Sau chiến
tranh thế giới thứ 2, Mỹ bắt đầu lập ra tổ chức tài chính quốc tế.
Tháng 11 năm 1943, Mỹ đưa ra ý kiến thành lập Ngân hàng tái thiết và phát triển của
Liên hợp quốc. Dụng ý của kiến nghị này là để nhiều nước phát triển gánh vác nguồn vốn
cho nhu cầu khôi phục và xây dựng kinh tế sau chiến tranh. Mỹ đầu tư vào các nước thông
qua Ngân hàng tái thiết và phát triển thì có thể được Liên hợp quốc bảo trợ.
Tháng 4 năm 1944, họ đã ra tuyên bố chung về Quỹ tiền tệ quốc tế, đề ra tôn chỉ và
chính sách thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế. Tuyên ngôn này lấy kiến nghị của Mỹ về “ Quỹ
bình ổn quốc tế làm cơ sở”. Tháng 7 năm 1944, Liên hiệp quốc triệu tập hội nghị tài chính
tiền tệ tại Bretton Woods thuộc tiểu bang New Hampshire của Hoa Kỳ. Hội nghị này đã ký
hiệp định Bretton Woods, quyết định thành lập quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng tái thiết và
phát triển quốc tế (IBRD) sau này trở thành “ngân hàng thế giới”. Khi bắt đầu hoạt động
vào năm 1945 thì pháp nhân này có 36 thành viên. Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều là thành viên của tổ chức này.

II. Sự phát triển:
Sau khi được định hình vào năm 1944, hai năm sau vào tháng 6-1946, Ngân hàng
Thế giới chính thức bước vào hoạt động với đơn xin vay vốn đầu tiên của Chile, Tiệp Khắc,
Đan Mạch, Pháp, Luxemburg và Ba Lan. Năm 1947 khoản vay đầu tiên trị giá 250 triệu
USD được cung cấp cho nước Pháp. Tuy mới được thành lập nhưng hoạt động của ngân
hàng đã mang lại nhiều thành tựu góp phần giải quyết nhiều khó khăn của các quốc gia
thành viên như Pháp sau khi nhận được khoản vay, Chính phủ và nhân dân Pháp đã sử dụng
có hiệu quả khoản vay này để phục hồi và phát triển kinh tế để giờ đây, nước Pháp vững
vàng ở vị trí cao trong nhóm các nhà cung cấp viện trợ phát triển (ODA – Official
Development Assistance) hàng đầu thế giới.
Hoa Kỳ và các quốc gia phát triển có ý định thông qua các tổ chức quốc tế như Ngân
hàng Tái Thiết và Phát Triển Quốc tế cho các quốc gia đang phát triển vay nợ để phát triển



SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 7
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

kinh tế nhưng Ngân hàng Tái Thiết và Phát Triển chỉ cho chính phủ các quốc gia thành viên
vay. Điều này có nghĩa muốn cho các doanh nghiệp của các quốc gia này vay nợ thì cần
phải thành lập một tổ chức quốc tế khác. Năm 1951, hội đồng tư vấn phát triển quốc tế đưa
ra đề nghị thành lập Công ty Tài chính quốc tế (International Finance Corporation – IFC)
trực thuộc Ngân hàng Tái Thiết và Phát Triển Quốc tế. Và đến tháng 7 năm 1956, Công ty
Tài Chính Quốc tế chính thức thành lập.
Năm 1958, tại Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Hội đồng quản trị Ngân hàng Tái
Thiết và Phát Triển Quốc Tế, Hoa Kỳ đã đưa ra đề nghị thành lập Hiệp Hội Phát Triển
Quốc Tế. Hiệp Hội Phát Triển Quốc Tế (International Development Association – IDA) sẽ
đảm nhận việc cho vay tín dụng phát triển đối với các quốc gia đang phát triển có thu nhập
thấp. Do một mình Ngân Hàng Tái Thiết và Phát Triển không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn
của một số quốc gia thành viên IBRD nên đề nghị thành lập Hiệp Hội Phát Triển Quốc Tế
của Hoa Kỳ được chấp nhận. Tháng 9 năm 1960, Hiệp Hội Phát Triển Quốc tế được thành
lập và tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2000, IDA đã có 161 thành viên. Ngày nay khi nhắc
tới Ngân hàng Thế giới người ta thường đề cập tới hai định chế: Ngân hàng tái thiết và phát
triển Quốc tế (IBRD – International Bank for Reconstruction and Development) và Hiệp hội
phát triển Quốc tế (IDA – International Dovelopment Association). Ngân hàng tái thiết và
phát triển Quốc tế cung cấp vốn vay và hỗ trợ cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ các
nước có thu nhập trung bình và nước nghèo có khả năng trả nợ. Hiệp hội phát triển Quốc tế
chủ yếu tập trung hỗ trợ cho hơn 80 nước nghèo nhất thế giới với dân số khoảng 2,5 tỷ
người. Ngân hàng Thế Giới( WB ) hiện có hơn 184 quốc gia thành viên với khoảng 10.020
nhân viên, trong đó khoảng 7.000 nhân viên làm việc tại trụ Sở chính tại thủ đô Washington
D.C của Mỹ, còn lại làm việc tại các văn phòng đại diện các nước trên khắp thế giới. Đội
ngũ nhân viên của Ngân Hàng Thế Giới đến từ hơn 160 nước bao gồm các chuyên gia kinh
tế, nghiên cứu chính sách, giảng viên, nhà khoa học trong các lĩnh vực môi trường, chuyên
gia y tế, tài chính, khảo cổ học cùng các kĩ sư, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác. Với 5
tổ chức, định chế, vừa thực hiện độc lập vừa kết hợp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho
Ngân hàng. Khách hàng hầu hết hài lòng với sự thay đổi trong các cấp dịch vụ của WB,
trong sự tham gia của Ngân hàng vào hiệu quả hoạt động của khách hàng cũng như trong
chuyển giao và chất lượng. Hơn bao giờ hết, WB đang giữ vai trò quan trọng trên trường
quốc tế. Ngân hàng đã gắn bó chặt chẽ với các đối tác và khách hàng trong các trường hợp


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 8
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

khẩn cấp, từ việc tái thiết sau xung đột Bosnia đến hỗ trợ hậu khủng hoảng Đông Á, từ cứu
trợ sau thảm hoạ Trung Mỹ, động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ tới Kosovo và Đông Timor. Cùng với
186 nước thành viên hiện nay và nhiều tổ chức khác, WB đang thực hiện mục tiêu phát triển
của thiên niên kỷ mới (Millennium Development Goals) cho đến năm 2015 bao gồm các
vấn đề giáo dục, sức khoẻ và vệ sinh.
Bên cạnh sự phát triển về quy mô, Ngân hàng đã không ngừng mở rộng vai trò và
nhiệm vụ của mình: hỗ trợ tái thiết nhanh chóng trở thành một hoạt động ngoài lề, và giờ
đây Ngân hàng chỉ tập trung hướng vào một số quốc gia vừa thoát khỏi xung đột (như
Afghanistan, Irak, v.v...); trong chiều ngược lại, hỗ trợ phát triển trở nên chiếm ưu thế đến
mức ngày nay, ảnh hưởng của Ngân hàng trong việc hoạch định và thực hiện chính sách
phát triển đã vượt xa số tiền khá khiêm tốn mà nó đóng góp trong luồng vốn quốc tế dành
cho hỗ trợ phát triển. Có được ảnh hưởng này là do Ngân hàng Thế giới đồng thời can thiệp
vào nhiều lĩnh vực và vì ba nhiệm vụ của tổ chức này, phần nào đó mâu thuẫn với nhau,
cùng tồn tại trong định chế này.

- Trước hết, Ngân hàng, như chính tên gọi của nó cho thấy, là một định chế tài chính.
Nếu là ngân hàng thông thường, hoạt động chính của nó là vay ở các thị trường tài chính và
cho các chính phủ, các doanh nghiệp của các nước đang phát triển vay. Vả lại, hầu hết các
Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đều xuất thân từ giới ngân hàng. Trong khuôn khổ của các
hoạt động hướng đến khu vực kinh tế tư nhân lẫn khu vực nhà nước, Ngân hàng phải tìm
kiếm lợi nhuận và quan tâm đến khả năng sinh lời của các dự án mà nó tài trợ.

- Đây cũng là một ngân hàng phát triển, nó hỗ trợ các quốc gia về mặt tài chính để
phục vụ các chính sách phát triển của các nước này. Như vậy, thông qua hoạt động cho vay,
Ngân hàng Thế giới cũng phải góp phần hỗ trợ sự phát triển của các quốc gia, và các khoản
vay của ngân hàng, khác với những ngân hàng bình thường, không chỉ nhắm đến mục tiêu
duy nhất là hiệu suất tài chính; điều này càng hiển nhiên hơn nữa trong trường hợp các
khoản vay ưu đãi hoặc viện trợ không hoàn lại của IDA, chủ yếu đến từ các nguồn viện trợ
của các nước giàu.

- Cuối cùng, với tư cách là Ngân hàng tri thức, Ngân hàng Thế giới cung cấp các
kiến thức phục vụ cho hai chức năng nói trên và cho cộng đồng phát triển nói chung. Hoạt


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 9
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

động thứ ba này của Ngân hàng Thế giới ngày càng có tầm quan trọng, đến mức ngày nay
Ngân hàng Thế giới thực sự nắm giữ vai trò lãnh đạo trong kinh tế học phát triển. Ngân
hàng Thế giới tự xem mình có vai trò chủ yếu để đóng góp vào việc “hỗ trợ kỹ thuật” cho
các nước đang phát triển nhờ vào những kinh nghiệm tích lũy được về các chính sách kinh
tế và bằng các kết quả nghiên cứu của mình.

III. Tôn chỉ hoạt động:

Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế được thành lập tháng 12 năm 1945, khai
trương doanh nghiệp vào tháng 6 năm 1946. Tôn chỉ của Ngân hàng tái thiết và phát triển
quốc tế là:
 Thông qua đầu tư giúp đỡ các nước hội viên của ngân hàng khôi phục sản xuất và
xây dựng kinh tế trong nước gồm cả phục hồi kinh tế do chiến tranh tàn phá, và khuyền
khích các nước đang phát triển gia tăng các công trình sản xuất, khai thác tài nguyên.
 Bằng phương thức bảo trợ hoặc tham gia cho vay tư nhân và đầu tư tư nhân, thúc
đẩy đầu tư tư nhân của nước ngoài, hoặc cung cấp vốn của ngân hàng cho sản xuất và vốn
ngân hàng huy động để bổ sung phần thiếu hụt của đầu tư tư nhân.
 Bằng phương thức khuyến khích đầu tư quốc tế và phát triển tài nguyên của các
nước hội viên để thúc đẩy mậu dịch quốc tế tăng trưởng đồng đều, lâu dài, Cân đối thu chi
quốc tế, giúp các nước hội viên nâng cao hiệu quả sản xuất, mức sống của nhân dân và cải
thiện điều kiện lao động.
 Dùng khoản vay của chính ngân hàng hoặc bảo trợ cho vay và dàn xếp với các
chủ cho vay quốc tế khác để các dự án xây dựng bức thiết được ưu tiên thực thi.
 Khi thực hiện nghiệp vụ đầu tư quốc tế có chiếu cố thích đáng đến tình hình công
thương nghiệp trong nước của các nước hội viên, đặc biệt là những năm sau chiến tranh,
cần tâp trung khôi phục sự phát triển kinh tế.


CHƯƠNG II
TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI _WB




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 10
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

I. Cơ cấu của Ngân hàng Thế giới_WB:
Cơ cấu hiện hành của Nhóm Ngân hàng Thế giới gồm có Hội đồng Thống đốc, Ban
Giám đốc Điều hành, Chủ tịch, 5 Tổng giám đốc và các cán bộ của WB.
Hội đồng Thống đốc: là cơ quan quyết định cao nhất tại WB. Mỗi nước hội viên cử
một đại diện của nước mình làm thành viên của Hội đồng Thống đốc.
Uỷ ban Phát triển: được thành lập vào năm 1974, có trách nhiệm tư vấn cho cả 2 Hội
đồng Thống đốc của IMF và WB về các vấn đề liên quan đến cung cấp vốn cho các nước
đang phát triển.
Ban Giám đốc Điều hành: gồm 24 Giám đốc điều hành (trong đó có 5 GĐĐH được
bổ nhiệm từ năm nước hội viên có số cổ phần lớn nhất là Mỹ, Nhật, Đức, Pháp và Anh); và
19 GĐĐH được bầu chọn. Nhiệm kỳ của GĐĐH là 2 năm. Ban GĐĐH chịu trách nhiệm
điều hành mọi công việc hàng ngày của WB, thực hiện nhiệm vụ theo các chức năng và
quyền hạn được giao phó theo Điều lệ và/hoặc được Hội đồng Thống đốc giao. Việt Nam
thuộc Nhóm Đông Nam á gồm 11 nước là Brunây, Fiji, Inđônêxia, Lào, Malaysia, Myanma,
Nêpan, Singapore, Thái lan, Tông ga và Việt Nam.
Các Tổng giám đốc: Như một thông lệ, các tổng giám đốc của WB đều do đương
kim tổng thống Hoa Kỳ chỉ định (điều này ngược với các giám đốc của Quỹ Tiền tệ quốc tế
(IMF) luôn là người châu Âu), lần lượt là: Eugene Meyer (tháng 6 đến tháng 12 năm 1946);
John J. McCloy (4-1947–6-1949); Eugene R. Black (1949–1963); George D. Woods (1-
1963–3-1968); Robert S. McNamara (4-1968–6-1981); Alden W. Clausen (7-1981–6-
1986); Barber B. Conable (7- 1986–8-1991); Lewis T. Preston (9-1991–5-1995); James
Wolfensohn (5-1995–6- 2005); Paul Wolfowitz (6-2005-6-2007); Robert Zoellick (6-2007-
hiện tại).
Chủ tịch: do Ban GĐĐH lựa chọn với nhiệm kỳ 5 năm; Chủ tịch tham gia vào các
cuộc họp của Hội đồng Thống đốc và Uỷ ban Phát triển. Ngoài ra, Chủ tịch còn phụ trách
về nhân sự của IBRD và IDA, chủ trì các buổi họp của Ban GĐĐH và duy trì mối liên hệ
với chính phủ các nước hội viên, các GĐĐH, với các cơ quan thông tin và các tổ chức khác.
Giúp việc cho Chủ tịch có 5 Tổng giám đốc. Hiện nay, Chủ tịch Nhóm WB là ông James D.
Wolfensohn, người Mỹ, giữ cương vị này từ tháng 6/1995.
Cán bộ của Nhóm WB: có khoảng 10.000 cán bộ từ nhiều quốc gia khác nhau làm
việc tại trụ sở chính tại Washington D.C. và 3000 cán bộ làm việc tại trên 100 văn phòng


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 11
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

đại diện đặt tại các nước hội viên. Dưới Tổng giám đốc có 25 Phó Chủ tịch phụ trách các
khu vực và các mảng nghiệp vụ.
Các Nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới: Nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng
Thế giới (tên gọi đầy đủ của chức vụ này là "Phó tổng giám đốc phụ trách phát triển và kinh
tế học, nhà kinh tế trưởng") là cấp bậc quản lý cao nhất về chuyên môn trong Ngân hàng
Thế giới. Người giữ chức vụ này là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất tới kinh tế
thế giới, và thường là những học giả kinh tế xuất chúng. Chức vụ này bắt đầu có từ năm
1982. Gồm các vị: Anne Krueger - giai đoạn 1982-1986; Stanley Fischer - 1988-1990;
Lawrence Summers - 1991-1993; Joseph E. Stiglitz - 1997–2000; Nicholas Stern - 2000–
2003; Francois Bourguignon – 2003 đến nay.

II. Tổ chức của WB:
Nhóm Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh là World Bank Group, thường được gọi tắt là
Ngân hàng thế giới và viết tắt là WB) bao gồm nhiều 5 tổ chức tài chính thành viên chính:

II.1. Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế(International Bank for
Reconstruction Development – IBRD):
Ngân hàng Tái Thiết và Phát Triển Quốc tế được thành lập tháng 12 năm 1945. Hiệp
định của ngân hàng Tái Thiết và Phát Triển Quốc Tế bao gồm 11 chương qui định những
vấn đề như tôn chỉ của Ngân Hàng, về các quốc gia thành viên và góp vốn, tổ chức và quản
lý của ngân hàng, các qui định về bảo đảm cho vay, kinh doanh nghiệp vụ, việc rút lui của
các quốc gia thành viên, vấn đề tạm đình chỉ tư cách quốc gia thành viên, quyền miễn trừ và
đặc quyền, các biện pháp sửa đổi hiệp định, giải thích hiệp định… Tính đến năm 2007, ngân
hàng Tái Thiết và Phát Triển quốc tế có 185 thành viên.
Số vốn pháp định ban đầu của IBRD là 10 tỷ USD chia làm 100.000 cổ phần, mỗi cổ
phần trị giá 100.000 USD. Mĩ là quốc gia góp nhiều vốn nhất. Tính đến năm 2007, số vốn
đóng góp đã lên tới 12.8 US$. Vốn của Ngân hàng do các quốc gia thành viên dóng góp và
vay trên thị trường tiền tệ bằng cách phát hành trái phiếu (Obligations hay Debentures). Mỗi
thành viên phải đóng góp phàn vốn của mình theo phương thức sau:
 Đóng ngay 2% bằng vàng hoặc dollar Mỹ
 Đóng ngay 18% bằng đồng tiền quốc gia mình



SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 12
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng


 80% số vốn còn lại sẽ được quốc gia thành viên đóng dần đến khi Ngân hàng cần
đến để sử dụng vào viêc bảo lãnh hay trả nợ vaycuar Ngân hàng. Số vốn này có thể đóng
bằng vàng, bằng dollar Mỹ hoặc một đơn vị tiền tệ nào đó tùy theo nhu cầu của ngân hàng
vào thời điểm đó.
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế:
Hội đồng quản trị: Toàn bộ quyền năng của Ngân hàng được trao cho Hội đồng
quản trị. Mỗi quốc gia thành viên của IBRD được cử một Chánh ủy viên quản trị và một
Phó ủy viên quản trị.
Các Chánh, Phó ủy viên này hợp thành Hội đồng quản trị và thường được từ ngành
tài chính và ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên của ngân hàng với nhiệm kỳ
năm năm. Các ủy viên này có thể dược bổ nhiệm lại khi kết thúc nhiệm kỳ, nhưng phải do
mỗi quốc gia tự quyết định. Hội đồng quản trị phải cử một Chánh ủy viên quản trị làm Chủ
tịch Hội đồng Quản trị.
Hội đồng quản trị tuy là cơ quan quyền lực cao nhất của Ngân hàng Tái Thiết và
Phát Triển Quốc tế nhưng trên thực tế ngoài một số nhiệm vụ và quyền hanjdo Hội đồng
quản trị trực tiếp năm giữ: Phê chuẩn việc kết nạp thành viên mới, tăng giảm cổ phần của
ngân hàng, đình chỉ tư cách thành viên, giải quyết tranh chấp nảy sinh do các Giám đốc điều
hành giải thích khác nhau về Hiêp định của Ngân hàng, phê chuẩn Hiệp định chính thức ký
kết với các tổ chức quốc tế khác, quyết định phân phối thu nhập ròng của ngân hàng, phê
chuẩn việc sửa đổi Hiệp định của ngân hàng. Các quyền hạn khác của Hội đồng quản trị
được ủy nhiệm cho Hội đồng giám đốc điều hành.
Hội đồng Quản trị họp một năm một lần, các phiên họp của Hội đồng Quản trị thông
thường được tiến hành chung với Hội đồng Quản trị của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế. Ngoài hội
nghị hằng năm, Hội đồng Quản trị hoặc Hội đồng Giám đốc điều hành có thể mở thêm Hội
nghị đặc biệt.
Hội đồng Giám đốc điều hành: Hội đồng giám đốc điều hành đóng vai trò là cơ quan
phụ trách tổ chức nghiệp vụ hàng ngày của IBRD, thực hiện chức năng, quyền hạn do Hội
đồng quản trị giao. Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế có 24 Giám đốc điều hành
trong đó 5 Giám đốc điều hành do các quốc gia thành viên có số vốn góp nhiều nhất chỉ
định, 19 Giám đốc điều hành còn lại được bầu chọn 2 năm một lần tại các Hội nghị Ngân
hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế. Hội đồng Giám đốc điều hành phụ trách việc xử lý các


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 13
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

nghiệp vụ ngân hàng, vì vậy cơ quan này phải thực hiện mọi quyền hạn mà Hội đồng Quản
trị Ngân hàng Thế giới giao. Các giám đốc điều hành do các quốc gia đề cử ra và cứ 2 năm
được cử hoặc bầu lại một lần. Mỗi giám đốc điều hành phải cử ra một Phó giám đốc điều
hành. Khi Giám đốc điều hành vắng mặt Phó giám đốc điều hành sẽ thay mặt thực hiện. Hội
nghị của Hội đồng Giám đốc điều hành phải bảo đảm số Giám đốc điều hành đại diện cho
quá nửa tổng số phiếu biểu quyết tham dự mới coi là hợp lệ.
Chủ tịch Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế:
Chủ tịch Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế là người đứng đầu bộ máy làm
việc của Ngân hàng. Chủ tịch phụ trách lãnh đạo công việc hàng ngày của Ngân hàng, tiếp
nhận, miễn nhiệm các chức vụ cao cấp và viên chức trong IBRD. Chủ tịch Ngân hàng có
một phó chủ tịch giúp việc.
Theo qui định trong hiệp định về Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế, Ủy viên
quản trị, Phó Ủy viên quản trị, Giám đốc và phó Giám đốc điều hành không được kim vai
trò Chủ tịch ngân hàng.
Bộ máy và các nhân viên giúp việc của Ngân hàng Tái thiêt và Phát triển Quốc
tế: Ngoài văn phòng chính đặt tại Washington, Ngân hàng Tái thiêt và Phát triển Quốc tế
còn có hệ thống các văn phòng, cơ quan biệt phái hoặc đại diện thường trú tại các quốc gia
thành viên như: văn phong tại Paris (Pháp), London (Anh), NewYork (Mỹ) và ở trụ sở Liên
Hợp Quốc ở NewYork. Trong các văn phòng nói trên thì văn phòng ở Paris là lớn nhất.
Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế còn có văn phòng đại diện tại các khu vực như:
Đông Phi (Nairoobi – Kenia), Tây Phi (Abitgiang thuộc Cotdivoa)… Ngoài ra, IBRD còn
cử các đoàn đại diện không thường trú tại các quốc gia Bangladet, Ấn Độ, Indonêsia,
Pakistan, Arập Saudi và đại diện thường trú tại thủ đô 20 quốc gia khác, ví dụ: Bogota
(Colombia), Kinsaxa (Daia), Aidibeba (Etiopia), Catmandu (Nepan)…
Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế còn có Hội đồng cố vấn, Hội đồng tín
dụng, Hội đồng khu vực và văn phòng khu vực. Thành viên của Hội đồng cố vấn do Hội
đồng quản trị lựa chọn và phải là những người đại diện cho lợi ích của các ngành ngân
hàng: thương mại, nông nhiệp và đại diện cho giới lao động của tất cả các quốc gia.




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 14
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

II.2. Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation –
IFC):
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, hệ thống thực
dân tan vỡ, các quốc gia thuộc địa, nữa thuộc địa liên tiếp tuyên bố giành được độc lập. Tuy
nhiên, những quốc gia mới độc lập này lại ở vào hoàn cảnh hết sức khó khăn: thiếu vốn,
công nghệ lạc hậu, thiếu kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý kinh tế… Mỹ và các quốc
gia phát triển có ý định thông qua các tổ chúc quốc tế như Ngân hàng Tái thiết và Phát triển
Quốc tế cho các quốc gia này vay nợ để phát triển kinh tế nhưng IBRD lại chỉ cho chính
phủ các nước thành viên vay, điều này đã cản trở việc vay nợ của các doanh nghiệp của các
quốc gia trên. Năm 1951, Hội đồng tư vấn phát triển quốc tế đưa ra đề nghị thành lập Công
ty tài chính quốc tế trực thuộc Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế. Công ty tài chính
chính quốc tế có chức năng là đầu tư vào các doanh nghiệp, công ty tư nhân tại các quốc gia
đang phát triển. Tháng 7 năm 1956, Công ty tài chính quốc tế đã chính thức được thành lập.
Sau đó, vào năm 1957 tổ chức này đã trở thành một tổ chức chuyên môn của Liên Hợp
Quốc. Đến năm 2007 Công ty tài chính quốc tế đã có 176 thành viên, số vốn 8.2 tỷ US$.
Tổ chức: Công ty tài chính quốc tế có cơ cấu tổ chức gần tương tự với Ngân hàng
Tái thiết và Phát triển quốc tế bao gồm Hội đồng quản trị là cơ quan quyền lực cao nhất,
Hội đồng giám đốc phụ trách công việc hàng ngày, Văn phòng công ty bao gồm Tổng giám
đốc, 5 phó Tổng giám đốc và cán bộ, nhân viên phụ trách xử lý công việc nghiệp vụ hàng
ngày. Mặc dù có sự liên kết với IBRD nhưng Công ty tài chính quốc tế là một pháp nhân
độc lập, nguồn vốn của công ty hoàn toàn độc lập với Ngân hàng Tái thiết và Phát triển
quốc tế. Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2000, các dự án cam kết của Công ty tài chính Quốc
tế đã lên đến con số 47.3 tỷ USD trên 135 quốc gia.
Hàng năm, Hội đồng quản trị họp một lần. Hội nghị của Hội đồng quản trị phải có
quá nửa số ủy viên Hội đồng quản trị tham dự và không dưới hai phần ba thành viên biểu
quyết mới ó giá trị pháp lý.
Hội đồng Giám đốc phải thực thi mọi quyền lực được giao theo Hiệp định về Công
ty tài chính quốc tế hoặc do Hội đồng quản trị ủy nhiệm. Hội đồng Giám đốc được Hội
đồng quản trị Công ty tài chính quốc tế giao cho nhiều quyền hạn trừ mottj số quyền như:
tiếp nhận thành viên mới, tăng giảm cổ phần, iệc tạm thời đình chỉ tư cách thành viên, ra
phán quyết đối với việc có ý kiến khác nhau trong Hội đồng Giám đốc về việc giải thích


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 15
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Hiệp định của Công ty Tài chính quốc tế, quyết định sửa đổi điều lệ Công ty tài chính quốc
tế…
Chức vụ Chủ tịch Công ty Tài chính quốc tế do Chủ tịch Ngân hàng Tái thiết và Phát
triển quốc tế kiêm nhiệm và không có quyền biểu quyết. Tuy nhiên, trong trường hợp khi
biểu quyết về hai loại ý kiến mà có số phiếu biểu quyết bằng nhau thì Chủ tịch có quyền
biểu quyết. Ngoài ra, trong Công ty Tài chính quốc tế còn có nhiều bộ phận khác là các
Ban, các Vụ chuyên môn: Ban Thông tin, Ban Thư ký, Ban Soạn thảo kế hoạch, Ban Kiểm
toán nội bộ, Ban nhân sự, Vụ Kế hoạch, Vụ Đầu tư Châu Á, Vụ Đầu tư Châu Âu và Trung
Đông, Vụ Thị trường vốn…

II.3. Hiệp hội phát triển quốc tế:
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ trở thành quốc gia giàu mạnh nhất thế giới. Tuy
nhiên, sau cuộc chiến tranh Triều Tiên vào đầu những năm 50 đã làm cho chi tiêu quân sự
của Hoa Kỳ tăng vọt, tình hình kinh tế có xu hướng xấu đi. Trong tình hình đó Hoa Kỳ
không thể cho các quốc gia đang phát triển vay nhiều hơn nữa. Năm 1958, tại Quỹ Tiền Tệ
Quốc tế và Hội đồng Quản trị Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế, Hoa Kỳ đã đưa ra
đề nghị thành lập Hiệp hội Phát triển Quốc tế. Hiệp hội Phát triển quốc tế đảm nhận việc
cho vay tín dụng phát triển đối với các quốc gia phát triển có thu nhập thấp do Ngân hàng
Tái thiêt và Phát triển Quốc tế không thể đáp ứng được nhu cầu vay vốn của một số quốc
gia thành viên , nên đề nghị của Mỹ về thành lập Hiệp hội phát triển Quốc tế đã được IBRD
thông qua. Tháng 9 năm 1960, Hiệp hội Phát triển Quốc tế chính thức được thành lập. Tính
đến năm 2007 IDA đã có 166 thành viên, tổng số vốn cam kết đạt được 11.9 tỷ US$.
Tổ chức: Về thực chất, Hiệp hội Phát triển Quốc tế không phải là tổ chức độc lập mà
là tổ chức do Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế phụ trách quản lý. Hội đồng quản
trị, Hội đồng Giám đốc điều hành và cơ quan làm việc của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển
Quốc tế cũng đồng thời là Hội đồng quản trị, Hội đồng Giám đốc điều hành và cơ quan làm
việc của Hiệp hội Phát triển Quốc tế. Công việc hàng ngày của IDA do các cán bộ, nhân
viên của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế giải quyết. Hiệp hội Phát triển Quốc tế
không được vay vốn của IBRD.
Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội Phát triển quốc tế bao gồm Hội đồng Quản trị, Hội đồng
giám đốc điều hành, Chủ tịch và phó Chủ tịch.



SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 16
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Hội đồng quản trị là cơ quan quyền lực cao nhất, Hội đồng giám đốc điều hành là cơ
quan điều hành công việc hàng ngày của Hiệp hội. Chủ tịch, phó Chủ tịch và các nhân viên
tạo thành cơ quan làm việc, phụ trách việc xử lý công tác nghiệp vụ hàng ngày.

II.4. Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư Quốc tế (International
Centrefor Settlementò Investment Disputes – ICSID):
Trung tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư được thành lập năm 1965 trên cơ
sở Công ước quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các nước với kiều dân của các
nước khác (Công ước này được ký ngày 18 tháng 3 năm 1965 tại Washington do Ngân hàng
thế giới bảo trợ và có hiệu lực từ ngày 14 tháng 10 năm 1966, được gọi tắt là Công ước
Washington). Trụ sở chính của Trung tâm Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế đặt tại trụ sở
chính của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế - Washington.
Cơ cấu tổ chức: Trung tâm Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế có Hội đồng quản
trị, Ban thư ký, Tiểu ban trọng tài và Tiểu ban hòa giải.
Hội đồng quản trị bao gồm các thành viên đại diện cho tất cả các quốc gia ký kết
Công ước Washington. Một ủy viên dự khuyết có thể hành động với tư cách là đại diện nếu
ủy viên chính thức vắng mặt hoặc bận trong cuộc họp. Hội đồng có nhiệm vụ thông qua
những qui tắc của Trung tâm, đồng thời có trách nhiệm về ngân sách hoạt động của toàn
Trung tâm. Hội đồng quản trị tiến hành họp thường kỳ hàng năm do Hội đồng quyết định
hoặc do Chủ tịch triệu tập, hoặc do Tổng Thư ký triệu tập theo yêu cầu của ít nhất 5 thành
viên của hội đồng. Mỗi thành viên của hội đồng có một phiếu bầu.
Ban Thư ký: gồm một Tổng Thư ký và một hoặc nhiều phó Tổng thư ký do Hội đồng
quản trị bầu ra với nhiệm kỳ 6 năm và có thể được bầu lại, và một Tiểu ban Quản trị gồm
các thành viên hoạt động như những thư ký giúp việc cho Tổng Thư ký. Ban thư ký giữ một
danh sách các hòa giải viên và một danh sách các trọng tài viên. Trong trường hợp Tổng thư
ký bận hoặc vắng mặt chức danh này còn khuyết thì phó Tổng thư ký đảm nhận chức năng
của tổng thư ký. Nếu có nhiều phó Tổng thư ký thì Hội đồng quản trị sẽ qui định trình tự
những người sẽ nắm chức vụ tổng thư ký.
Tiểu ban trọng tài: gồm các đại diện được chỉ định từ các quốc gia thành viên. Các
thành viên của Tiểu ban trọng tài do Hội đồng quản trị lựa chọn.




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 17
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Tiểu ban hòa giải: gồm các thành viên do Hội đồng quản trị lựa chọn theo cách thức
tương tự như chọn các trọng tài viên. Thành viên của Tiểu ban trọng tài và Tiểu ban hòa
giải là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật quốc tế hoặc là các nhà hoạt động pháp luật
có tên tuổi.

II.5. Tổ chức Bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment
Guarantee Agency - MIGA ):


Ban Giám Đốc




Ban Quản Trị




Chủ Tịch WB
Thanh Tra viên


Phó chủ tịch và
khu vực công ty


Phó chủ tịch điều hành
Giám đốc điều hành Giám đốc Hội đồng
đánh giá độc lập




Hội đồng tư vấn Hội đồng nghiệp Hội đồng tài chính Hội đồng kinh tế &
pháp vụ vụ & quản lý rủi ro chính sách



Sơ đồ cơ cấu tổ chức của MIGA

Bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA – Multilateral Investment Guarantee Agency)
được thành lập năm 1988 với hơn 160 thành viên có chức năng khuyến khích doanh nghiệp




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 18
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

tư nhân trên thế giới đầu tư vào các nước đang phát triển dưới hình thức bảo lãnh những rủi
ro như phá vỡ hợp đồng, chiến tranh hay tiền tệ không có khả năng chuyển đổi.
CHƯƠNG III
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI – WB

I. Nhiệm vụ và chức năng của Ngân hàng thế giới WB:
Nhiệm vụ của Ngân hàng thế giới WB (World Bank) được ghi rõ trên nhiều tài liệu
của Ngân hàng: chống đói nghèo và cải thiện mức sống cho người dân ở các nước đang phát
triển. WB cung cấp các khoản cho vay, các dịch vụ cố vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và
chia sẻ kiến thức cho các nước có thu nhập quốc dân trung bình và dưới mức trung bình.
WB thúc đẩy tăng trưởng nhằm tạo việc làm và giúp người nghèo có được các cơ hội việc
làm ấy.
Tổng thu nhập của thế giới là hơn 31 ngàn tỷ USD mỗi năm, trong đó có những nước
thu nhập bình quân đầu người đạt tới 40 ngàn USD. Thế nhưng 2,8 tỷ dân số thế giới, với
hơn một nửa thuộc các nước đang phát triển, đang sống với mức thu nhập dưới 700USD.
Gần một nửa trong số họ, 1,2 tỷ người, chỉ kiếm được chưa đầy 1USD mỗi ngày.
Và công việc của WB là làm cầu nối cho trên hố sâu ngăn cách giàu nghèo này,
hướng các nguồn lực từ các nước giàu vào sự phát triển của các nước nghèo. WB hỗ trợ các
nỗ lực của chính phủ các nước phát triển trong việc xây dựng trường học và trung tâm y tế,
cung cấp điện nước, phòng chống bệnh tật và bảo vệ môi trường. Năm 2003, WB đã cung
cấp 18,5 tỷ USD và hoạt động trên hơn 100 nước đang phát triển, hỗ trợ các nước này trên
cả phương diện tài chính và kỹ thuật để giảm đói nghèo.
Chức năng của WB được phân công cho các tổ chức thành viên thực hiện:

I.1. Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế(International Bank for
Reconstruction Development – IBRD):
IBRD cung cấp các khoản cho vay đối với các chính phủ và doanh nghiệp nhà nước
cùng với sự bảo đảm của chính phủ (hoặc bảo đảm tối cao - sovereign guarantee). Nguồn
tiền cho vay được lấy từ các khoản nợ đã được trả và thông qua việc phát hành trái phiếu
trên thị trường vốn thế giới. IBRD là một trong những tổ chức cho vay được xếp hạng cao
nhất trên thị trường quốc tế và vì vậy có khả năng cho vay với mức lãi suất tương đối thấp.
Ngân hàng cho các nước vay với lãi suất rất hấp dẫn bằng cách thêm một mức lề (khoảng

SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 19
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

1%) vào chi phí cho vay để trang trải các chi phí hành chính. Những quốc gia vay tiền của
IBRD có thời hạn hoàn trả nợ lâu hơn so với vay tiền của ngân hàng thương mại - 15 tới 20
năm trong thời gian ưu đãi 3 tới 5 năm trước khi bắt đầu hoàn trả tiền vốn vay.Chính phủ
các nước đang phát triển có thể vay tiền cho các chương trình nhất định, bao gồm các hoạt
động giảm nghèo, cung cấp các dịch vụ xã hội, bảo vệ môi trường, và khuyến khích phát
triển kinh tế để cải thiện mức sống. Trong năm tài khoá 2002, IBRD đã cho vay tổng cộng
$11.5 tỷ để trợ giúp 96 dự án tại 40 quốc gia.
Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế ra đời nhằm mục đích:
Thông qua đầu tư giúp đỡ các quốc gia thành viên của Ngân hàng trong việc khôi
phục sản xuất và xây dựng kinh tế trong nước bao gồm cả khôi phục nền kinh tế do chiến
tranh tàn phá, khuyến khích các quốc gia đang phát triển gia tăng các công trình sản xuất,
khai thác tài nguyên.
Thông qua phương thức bảo trợ hoặc tham gia cho vay tư nhân và đầu tư tư nhân để
thúc đẩy đầu tư tư nhân của nước ngoài hoặc cung cấp vốn của ngân hàng cho hoạt động
sản xuất và vốn ngân hàng huy động để bổ sung phần thiếu hụt của đầu tư tư nhân.
Thông qua phương thức khuyến khích đầu tư quốc tế và phát triển tài nguyên của các
quốc gia thành viên để thúc đẩy quan hệ buôn bán quốc tế tăng trưởng đồng đều, lâu dài,
cân đối các khoản thu chi quốc tế, trợ giúp các quốc gia thành viên nâng cao hiệu quả sản
xuất, nâng cao mức sống của người dân và cải thiện các điều kiện lao động.
Sử dụng các khoản cho vay của chính ngân hàng hoặc bảo trợ cho vay đồng thời dàn
xếp với các chủ cho vay quốc tế khác để ưu tiên thực hiện các dự án cấp thiết.
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ đầu tư quốc tế có quan tâm thích đáng đến tình
hình công thương nghiệp nội địa của các quốc gia thành viên.

I.2. Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation –
IFC):
Công ty tài chính quốc tế, với 176 thành viên, thúc đẩy đầu tư bền vững vào khu vực
tư nhân ở các phát triển với mục đích giảm đói nghèo và tăng chất lượng cuộc sống người
dân thông qua việc cung cấp tài chính cho các dự án thuộc khu vực tư nhân, hỗ trợ các công
ty tư nhân lưu chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế và cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ
trợ kỹ thuật cho các chính phủ và doanh nghiệp.



SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 20
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Công ty Tài chính quốc tế liên kết với các nhà đầu tư tư nhân ở các nước, giúp các xí
nghiệp tư nhân nào có thể có những đóng góp cho sự phát triển của các quốc gia thành viên
bằng nguồn vốn đầu tư của Công ty.
IFC tìm cách phối hợp các hoạt động như tìm cơ hội đầu tư, tìm các nhà đầu tư tư
nhân, tìm các nhà quản lý có trình độ kỹ thuật cao và có kinh nghiệm quản lý để nâng cao
hiệu quả hoạt động. Công ty tiến hành giúp đỡ về kĩ thuật cho các dự án đầu tư cụ thể và
các xí nghiệp nhưng không hỗ trợ về khía cạch quản lý.
Công ty tài chính khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư trong và
ngoài nước đầu tư có tính chất sản xuất vào các nước thành viên.
Công ty tiến hành tư vấn đầu tư nước ngoài nhằm hỗ trợ các chính phủ thành viên
xem xet và điều chỉnh những chính sách, quy định và chiến lược khuyến khích đầu tư có
ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

I.3. Hiệp hội phát triển quốc tế(International Development Association –
IDA):
IDA có nhiệm vụ giúp đỡ các nước nghèo nhất thông qua các khoản cho vay với lãi
suất ưu đãi và các chương trình tài trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện điều kiện
sống. Các khoản cho vay dài hạn không lấy lãi của IDA dành cho các chương trình xây
dựng chính sách, định chế, hạ tầng cơ sở và nguồn nhân lực cần thiết cho phát triển bền
vững trên cơ sở tôn trọng môi trường và công bằng xã hội.

I.4. Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư Quốc tế (International
Centre for Settlement of Investment Disputes – ICSID):
ICSID thực hiện hoà giải và trọng tài giữa các nước thành viên và các nhà đầu tư
thuộc các nước thành viên khác. Việc sử dụng các phương tiện của ICSID là hoàn toàn tự
nguyện. Tuy nhiên, một khi đã đồng ý giải quyết với ICSID, không bên nào được đơn
phương từ chối phán quyết của ICSID.

I.5. Tổ chức Bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment
Guarantee Agency - MIGA ):
Nhiệm vụ của MIGA là xúc tiến đầu tư nước ngoài trực tiếp FDI vào các nước đang
phát triển nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và cải thiện cuộc sống người


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 21
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

dân. Với tư cách một nhà bảo hiểm quốc tế cho các nhà đầu tư tư nhân và nhà tư vấn cho
các nước về đầu tư nước ngoài, MIGA tham gia xúc tiến các dự án với tác động phát triển
bền vững lớn nhất bảo đảm các tiêu chí kinh tế, môi trường và xã hội.

II. Hoạt động của WB:
Trên thực tế, Ngân hàng Thế giới là một trong các nguồn Hỗ trợ phát triển lớn nhất
thế giới. Mỗi năm, Ngân hàng thế giới cho chính phủ các nước đang phát triển vay khoảng
20 tỷ USD để hộ trợ cho hơn 220 dự án. Bên cạnh việc cho vay vốn, Ngân hàng Thế giưói
còn cung cấp hỗ trợ phát triển và tư vấn chính sách cho các chính phủ. Các lĩnh vực thường
sử dụng vốn vay từ ngân hàng Thế giới là: Cung cấp nước sạnh; xây dựng trường học và
đào tạo giáo viên; tăng năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp; xây dựng và bảo
dưỡng đường xá, đường sắt và các cảng; Quản lý rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác;
giảm tình trạng ô nhiễm không khí và các vấn đề môi trường; Mở rộng mạng lưới viễn
thông; xây dựng và phân phối năng lượng; mở rộng mạng lưới y tế đặc biệt cho phụ nữ và
trẻ em; Hiện đại hoá cơ cấu chính quyền. Ngân hàng thế giới mang một sứ mệnh lớn là đấu
tranh chống đói nghèo trên toàn thế giới thông qua hình thức là cung cấp vốn và kiến thức
chuyên môn cho chính phủ các nước đang phát triển. Khách hàng của Ngân hàng Thế giới
là các quốc gia.
Những hoạt động chính: WB thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và xã hội ở các nước
đang phát triển thông qua trợ giúp kĩ thuật, cho vay vốn dự án đối với các chính phủ. WB
huy động vốn từ những thị trường tài chính quốc tế và sử dụng chúng trong các dự án phát
triển ở các nước đang phát triển. Tất cả các khoản vay của WB đều phải hoàn trả với lãi suất
cao hơn lãi suất thị trường.
WB có năm thể thức cho vay chủ yếu: 1) Vay vốn đầu tư: dựa trên những dự án của
chính phủ các nước tiếp nhận. Khoản vốn này có lãi suất cao hơn lãi suất thị trường với thời
hạn 15 - 20 năm; thời gian ân hạn tới 5 năm. 2) Vay vốn điều chỉnh: trợ giúp chương trình
cải cách kinh tế của các nước tiếp nhận nhằm khôi phục tăng trưởng kinh tế và cán cân
thanh toán của nước đi vay. Kể từ khi có suy thoái kinh tế toàn cầu những năm 1980, WB
mở rộng phạm vi hoạt động cho vay tới những khoản vay điều chỉnh ngành và cơ cấu. 3)
Đồng tài trợ: WB phối hợp với khu vực tư nhân, tổ chức song phương hoặc đa phương, và
các tổ chức chính phủ tài trợ cho một số chương trình của mình. 4) Quỹ tín thác: được đóng



SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 22
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

góp từ những quốc gia tài trợ, tổ chức đa phương, các tổ chức phi chính phủ, quỹ và tổ chức
tư nhân khác tập trung vào những dự án trợ giúp kĩ thuật ở các nước đang phát triển. Hiện
nay, IBRD có trên 850 quỹ tín thác. 5) Trợ giúp kĩ thuật: cung cấp nguồn lực và chuyên gia
cho các nước đang phát triển để xây dựng những thể chế cần thiết cho quá trình phát triển.
Những chương trình này tập trung vào phát triển khu vực tư nhân, bảo vệ môi trường và xoá
đói giảm nghèo. Trợ giúp kĩ thuật chiếm khoảng 10% các khoản cho vay. Chỉ cho vay đối
với các nước thành viên; nếu là tư nhân vay thì phải được nhà nước bảo lãnh, vv. Mục đích
cho vay không chỉ nhằm thăng bằng cán cân thanh toán và phát triển kinh tế, mà còn nhằm
thúc đẩy hợp tác quốc tế về tiền tệ. Việc xây dựng hệ thống thanh toán nhiều bên, tạo sự ổn
định của ngân hàng căn cứ vào số cổ phần của mỗi nước thành viên. Lợi dụng đa số phiếu,
các nước phương Tây thường lái các hoạt động của tổ chức này theo hướng có lợi cho họ cả
về kinh tế và chính trị.
Theo dòng lịch sử, sau khi được định hình vào năm 1944, hai năm sau vào tháng 6-
1946, Ngân hàng Thế giới chính thức bước vào hoạt động với đơn xin vay vốn đầu tiên của
Chile, Tiệp Khắc, Đan Mạch, Pháp, Luxemburg và Ba Lan. Năm 1947 khoản vay đầu tiên
trị giá 250 triệu USD được cung cấp cho nước Pháp. Chính phủ và nhân dân Pháp đã sử
dụng có hiệu quả khoản vay này để phục hồi và phát triển kinh tế để giờ đây, nước Pháp
vững vàng ở vị trí cao trong nhóm các nhà cung cấp viện trợ phát triển (ODA – Official
Development Assistance) hàng đầu thế giới. Đến năm 1979, cam kết mới của Ngân hàng
thế giới lần đầu tiên đã vượt mức 10 tỷ USD và đến năm 2004, Ngân hàng thế giới kỷ niệm
lần thứ 60 ngày thành lập với mức tài trợ đạt khoảng 20 tỷ USD. Sự phát triển của tình hình
thực tế đã tạo tiền đề cho những cách thức mới. Cần lưu ý rằng mặc dù phần lớn của ngân
hàng thế giới được phân phối dưới dạng vay nợ chính phủ nhưng một số vốn nhỏ vẫn luôn
được dành cho các tổ chức thanh niên và cá nhân thông qua chương trình tài trợ quy mô nhỏ
và thị trường phát triển. Chương trình tài trợ vốn quy mô nhỏ được thành lập năm 1983 là
một trong số ít chương trình của Ngân hàng Thế giới trực tiếp cấp vốn cho các tổ chức xã
hội. Chương trình do văn phòng đại diện của Ngân hàng tại các nước điều hành nhằm hỗ trợ
hoạt động của các tổ chức xã hội đang nỗ lực thu hút sự tham gia của người nghèo và người
sống bên lề xã hội. Bằng cách thu hút sự tham gia của những người thường bị xã hội bỏ
quên và thông qua việc nâng cao năng lực tác động lên các quyết định chính sách, chương
trình tài trợ vốn quy mô nhỏ giúp tạo điều kiện để các tổ chức xã hội trở thành chủ sở hữu


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 23
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

những sáng kiến phát triển. Sự hỗ trợ được cấp mỗi năm một lần, thường từ 3.000 USD đến
7.000 USD, mức cao nhất là 15.000 USD.
Trong thập kỷ 80, WB đã phải chịu áp lực từ nhiều phía. Vào đầu thập kỷ, Ngân
hàng phải đối mặt với các vấn đề kinh tế vĩ mô và gia hạn nợ. Đến cuối thập kỷ, các vấn đề
xã hội và môi trường nổi lên cùng với sự chỉ trích mạnh mẽ từ phía xã hội cho rằng WB đã
không kiểm soát tốt các chính sách của chính mình trong một số dự án quan trọng.
Để đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động của Ngân hàng, báo cáo Wapenhans đã
được thực hiện và dẫn tới cuộc cải cách ngay sau đó với việc thành lập Ban giám sát
(Inspection Panel) nhằm điều tra các chỉ trích đối với WB. Tuy nhiên, chỉ trích vẫn tăng lên,
cực điểm là năm 1994 tại Hội nghị thuờng niên ở Madrid, Tây Ban Nha.
Từ đó, WB đã có nhiều tiến triển vượt bậc. 5 tổ chức, định chế, vừa thực hiện độc lập
vừa kết hợp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho Ngân hàng. Báo cáo cho thấy khách
hàng hầu hết hài lòng với sự thay đổi trong các cấp dịch vụ của WB, trong sự tham gia của
Ngân hàng vào hiệu quả hoạt động của khách hàng cũng như trong chuyển giao và chất
lượng.
Hơn bao giờ hết, WB đang giữ vai trò quan trọng trên trường quốc tế. Ngân hàng đã
gắn bó chặt chẽ với các đối tác và khách hàng trong các trường hợp khẩn cấp, từ việc tái
thiết sau xung đột Bosnia đến hỗ trợ hậu khủng hoảng Đông Á, từ cứu trợ sau thảm hoạ
Trung Mỹ, động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ tới Kosovo và Đông Timor. Vùng với 189 nước thành
viên hiện nay và nhiều tổ chức khác, WB đang thực hiện mục tiêu phát triển của thiên niên
kỷ mới (Millennium Development Goals) cho đến năm 2015 bao gồm các vấn đề giáo dục,
sức khoẻ và vệ sinh.




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 24
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Ngân hàng Thế giới
quan tâm tới nhiều chủ đề phát
triển của các quốc gia như:
Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, ngăn ngừa xung đột và tái
thiết, giảm nợ, nghiên cứu kinh
tế và dữ liệu kinh tế, giáo dục,
năng lượng và khai khoáng,
môi trường, ngành tài chính, giới, toàn cầu hoá, quản trị điều hành và khu vực nhà nước, Y
tế, dinh dưỡng, dân số, Công nghệ thông tin và truyền thông, cơ sở hạ tầng, lao động và bảo
trợ xã hội, luật pháp và tư pháp, nghèo đói, phát triển khu vực tư nhân, phát triển xã hội,
phát triển bền vững, thương mại, giao thông vận tải, phát triển đô thị, nước sạch. Trong lĩnh
vực phát triển đô thị, Ngân hàng Thế giới tập trung nâng cao chất lượng sống cho dân
nghèo cũng như thúc đẩy công bằng, xây dựng chiến lược phát triển đô thị, quản lý đất đai,
quản lý bất động sản, phát triển kinh tế địa phương, tài chính đô thị, nâng cấp cộng đồng
thành thị, quản lý rác thải đô thị…Trong lĩnh vực nước sạnh, Ngân hàng Thế giới tập trung
vào hai lĩnh vực: Quản lý nguồn nước và cung cấp nước sạnh và vệ sinh. Những vấn đề cụ
thể về lĩnh vực này bao gồm quản lý các vùng biển và duyên hải, đập ngăn nước và hồ chứa
nước, nước ngầm, tưới tiêu, quản lý các lưu vực sông và dòng chảy, quản lý nước liên quốc
gia, nước sạch và môi trường, kinh tế nước…Chúng ta đều biết rằng nước là một trong các
mục tiêu phát triển thiên niên kỷ: phấn đấu đến năm 2015 giảm một nửa tỉ lệ người không
được tiếp cận nước sạnh uống được. Vào năm 2003, nhóm Ngân hàng thế giới tham gia vào
diễn đàn thế giới về nước tại Kyôtô (Nhật Bản) khẳng định rằng nước là một động lực chủ
chốt thúc đẩy xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng. Cũng thời gian này, nhóm Ngân hàng thế
giới tiếp cận thị trường tài chính thành thị với một dự án nước sạch tại Mêhicô.
Trong mục tiêu xóa đói giảm nghèo, WB thực hiện rất nhiều hoạt động hỗ trợ như
gây quỹ hỗ trợ nông nghiệp trị giá 1,5tỷ USD. Quỹ này có sự đóng góp từ các nước Mỹ,
Canda và Tây Ban Nha, Uỷ ban châu Âu cũng hứa sẽ đóng góp cho quỹ.
Ông Zoellick – chủ tịch ngân hàng thế giới cho biết, tình trạng mất mùa tại Ấn Độ và
Philippines kết hợp với tình trạng đầu cơ tăng cao tại các thị trường đang làm tăng nguy cơ
đẩy giá lương thực lên cao như đã xảy ra hồi năm 2008.


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 25
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Theo thống kê của LHQ, hơn một tỷ người hiện
đang sống trong đói nghèo do giá lương thực vẫn ở mức
cao hồi năm ngoái, và do các quốc gia vấp phải suy thoái
kinh tế toàn cầu.
Các nước giàu nhất đã cam kết chi 20 tỷ USD trong
3 năm để giúp nông dân nghèo ở các quốc gia đang phát

triển tăng sản xuất lương thực. Tuy nhiên các nhà
Chống đói nghèolà mục tiêu
của WB ngoại giao và các nhóm viện trợ ước tính chỉ khoảng 3
tỷ USD được chi mới. Ông Zoellick nói vấn đề cốt yếu là các nước phải giữ đúng cam kết,
đồng thời ông nói thêm rằng một số khoản hỗ trợ có thể được chia trực tiếp hoặc thông qua
các cơ quan trung gian khác. Nhật Bản và Ngân hàng thế giới (WB) ngày 2/2/2009 đã chính
thức thống nhất về việc thành lập một quỹ chung trị giá 3 tỷ USD nhằm tái cấp vốn cho
ngân hàng của các quốc gia nghèo, để hỗ trợ hoạt động cấp vốn đầu tư và thúc đẩy những
nền kinh tế, vốn đã và đang bị ảnh hưởng nặng nề do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
đang lan rộng…
Mới đây, tại cuộc họp thường niên của Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế
giới (WB) diễn ra ở Singapore, WB cùng Ngân hàng Tái thiết và phát triển châu Âu
(EBRD), Ngân hàng Phát triển châu Phi (AfDB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và
Ngân hàng Phát triển liên Mỹ (IADB) đã bắt tay đấu tranh cho một thế giới trong sạch hơn.
WB đồng thời cũng công khai hệ thống chống tham nhũng mới mang tên Tăng cường sự
tham gia của WB vào quản trị và chống tham nhũng. Theo đó, WB sẽ tiến hành kiểm toán
lại toàn bộ khoản vay để xác định xem có khoản nào bị tham nhũng, sau đó thu hồi tiền và
cấm các bên vi phạm tiếp tục tham gia các dự án do WB tài trợ.
Gần đây, WB công bố danh sách hơn 330 công ty không đủ tư cách tham gia các dự
án như vậy vì đã vi phạm điều khoản về gian lận và tham nhũng của WB. Theo số liệu của
WB, mỗi năm thế giới mất hơn 1.000 tỉ USD cho các vụ hối lộ, chưa kể tiền biển thủ công
quĩ và ăn cắp tài sản công.
Ở những nơi tham nhũng “gây ra trở ngại chính cho việc giảm nghèo” nhưng chính
phủ cam kết giải quyết vấn đề, WB sẽ xem quản trị là nội dung cải cách chính và sẽ sử dụng
“các kế hoạch hành động và đội ngũ chống tham nhũng” cũng như “các cố vấn về quản trị”.



SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 26
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Với những nước tham nhũng lan tràn mà chính phủ sở tại không có cam kết gì, WB cho biết
họ sẽ chuyển sang “viện trợ hạn chế nghiêm ngặt” hoặc thậm chí là cắt bỏ hoàn toàn các
khoản viện trợ. Tuy vậy WB cũng thừa nhận chưa có đủ nhân lực, kỹ năng và động lực cần
thiết trong quản trị để tạo ra những thay đổi hiệu quả trong các hoạt động của ngân hàng.
Ông Wolfowitz giải thích: “Tham nhũng có hai mặt. Mỗi giao dịch tham nhũng đều có
người đưa hối lộ và người nhận hối lộ, và thông thường người nhận hối lộ đến từ các nước
phát triển. Các nước phát triển phải làm nhiều hơn để xử lý điều đó và họ cũng phải giải
quyết thực tế là các khoản thu từ những vụ tham nhũng qui mô lớn thường được giấu ở
ngân hàng các nước phát triển”.Tham nhũng trở thành một vấn đề nổi cộm trong chương
trình phát triển của WB khi định chế tài chính lớn nhất thế giới này vừa tuyên bố ngừng tài
trợ các dự án ở Indonesia và Campuchia. Cuối tháng 6-2006, WB hủy ba khoản vay về cơ
sở hạ tầng cho Indonesia, ngừng giải ngân 1,5 triệu USD và yêu cầu hoàn trả 4,6 triệu USD
đã được giải ngân. Cùng tháng, 43 hợp đồng trị giá 11,9 triệu USD cũng bị hủy ở
Campuchia sau khi phát hiện các khoản viện trợ bị sử dụng sai mục đích.
CHƯƠNG IV:
NGÂN HÀNG THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

I. Sự cải tổ của Ngân hàng thế giới WB:
Hội nghị mùa Xuân của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB)
họp tại Washington ngày 25/4/2010 đã nhất trí tăng quỹ viện trợ toàn cầu, tăng vốn hoạt
động của WB thêm 5,1 tỉ đô la Mỹ và tăng quyền biểu quyết của các nước đang phát triển
trong việc điều hành ngân hàng. Đồng thời tán thành cải cách cơ cấu bỏ phiếu trong WB,
cho phép các nền kinh tế đang nổi có tiếng nói lớn hơn trong các quyết định của thể chế tài
chính hàng đầu thế giới này.
WB hiện là định chế tài chính đa phương lớn nhất thế giới, có mục tiêu tài trợ để xóa
đói giảm nghèo trên toàn cầu. Theo kế hoạch cải tổ vừa thông qua, Trung Quốc sẽ thay vị
trí của Đức trở thành cổ đông lớn thứ ba của WB sau Mỹ và Nhật Bản. Các nước Brazil, Ấn
Độ, Indonesia và Việt Nam sẽ được tăng quyền biểu quyết trong tổ chức này.

I.1. Tăng vốn hoạt động và vốn đăng ký:
Từ khi cuộc khủng hoảng toàn cầu bắt đầu vào tháng 7-2008 đến nay, WB đã cam
kết cho vay 105 tỉ đô la Mỹ, vì thế việc tăng vốn là hết sức cần thiết để ngân hàng này duy

SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 27
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

trì các chương trình tín dụng. “Từ cuộc họp thường niên năm ngoái, chúng tôi đã thấy rằng,
nếu không tăng thêm nguồn vốn, chúng tôi sẽ không có khả năng tiếp tục cho vay với mức
độ cao như hiện nay”, Chủ tịch WB Robert B. Zoellick, nói trong một cuộc phỏng vấn hôm
thứ Sáu tuần trước.
Các nền kinh tế đang phát triển ủng hộ việc tăng vốn nhiều hơn cho WB và các
ngân hàng phát triển khác, nhưng các nước giàu thì rất miễn cưỡng do đang phải khắc
phục hậu quả của suy thoái kinh tế. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy F. Geithner nói rằng
ông sẽ cố gắng thuyết phục Quốc hội Mỹ ủng hộ việc tăng phần đóng góp của Mỹ vào WB
thêm 117 triệu đô la Mỹ mỗi năm, tức 586 triệu đô la Mỹ trong 5 năm tới.
Tại hội nghị thường niên của WB cuối tuần qua, các nước thành viên đã nhất trí đóng
góp thêm 5,1 tỉ đô la Mỹ vào vốn lưu động (paid-in capital) mà WB có thể sử dụng cho các
hoạt động hàng ngày, nâng tổng số vốn lưu động của ngân hàng này lên 40 tỉ đô la Mỹ.
Các thành viên của WB hôm Chủ nhật cũng tán thành việc tăng vốn đăng
ký(subscribed capital) của ngân hàng thêm 86,2 tỉ đô la Mỹ, lên 276,1 tỉ đô la Mỹ, không kể
26 tỉ đô la Mỹ dự trữ. Tuy nhiên, ngoài số tiền 5,1 tỉ đô la tăng thêm vốn lưu động, phần lớn
khoản tăng vốn đăng ký chỉ là “vốn huy động được” (callable capital) – nghĩa là tiền vẫn
được giữ tại các nước thành viên nhưng WB có thể huy động ngay khi cần thiết. Như vậy,
trong 276,1 tỉ đô la vốn đăng ký của WB, chỉ có 40 tỉ đô la có thể được chi ngay, số còn lại
là “vốn huy động được”.

I.2. Tăng quyền biểu quyết cho các nền kinh tế đang phát triển:
Trong số 5,1 tỉ đô la này, các nước đang phát triển đóng góp 1,6 tỉ đô la Mỹ, tương
ứng với việc nâng tỷ lệ quyền biểu quyết của họ từ 44,06% lên 47,19%; tăng thêm 3,13%.
Trước đó, năm 2008 WB đã điều chỉnh tăng tỷ lệ quyền biểu quyết của các nước đang phát
triển thêm 1,46%; và như vậy đến nay quyền biểu quyết của các nước đang phát triển đã
tăng thêm 4,59%. Ba nước có tỷ lệ quyền biểu quyết cao nhất - nghĩa là có tiếng nói quan
trọng nhất - tại WB hiện nay là Mỹ với 15,85%, Nhật Bản 6,34% và Trung Quốc 4,42%.
Tuy nhiên, việc gia tăng quyền biểu quyết đi cùng với sự gia tăng đóng góp và trách nhiệm.
“Khi các nước đang phát triển có thêm cổ phần, họ cũng phải đóng góp nhiều hơn. Thực
chất đây là việc chia sẻ trách nhiệm”, ông Zoellick nói.




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 28
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

I.3. Tăng hỗ trợ cho các nước nghèo:
Cả 186 nước thành viên WB đều tán thành chương trình cải cách, kêu gọi gia tăng
tính công khai, minh bạch thông tin và cải thiện việc quản lý rủi ro cũng như các kết quả đo
lường về kinh tế.
Trong Báo cáo Giám sát Toàn cầu (Global Monitoring Report) công bố hôm thứ Sáu,
WB cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm chậm lại tiến trình xóa đói giảm nghèo ở các
nền kinh tế đang phát triển. Do khủng hoảng, vào năm 2015 sẽ có hơn 53 triệu người vẫn
còn sống dưới mức nghèo khổ mà lẽ ra số người này đã thoát nghèo nếu không bị khủng
hoảng. Dù sao, số người sống dưới mức nghèo khổ - tức là có thu nhập ít hơn 1,25 đô la Mỹ
hay 25.000 đồng Việt Nam mỗi ngày – sẽ chỉ còn 920 triệu người vào năm 2015, giảm một
nửa so với 1,8 tỉ người năm 1990.
Kế hoạch cải tổ của WB cũng sẽ tăng gấp đôi sự quan tâm tới việc giúp đỡ các nước
nghèo, nhất là khu vực châu Phi hạ-Sahara; tăng đầu tư vào nông nghiệp và cơ sở hạ tầng,
cổ xúy “hành động tập thể” trên toàn cầu đối phó với biến đổi khí hậu, thúc đẩy thương mại
và các ưu tiên khác, chống tham nhũng và chuẩn bị đối phó với các cuộc khủng hoảng.
Theo kế hoạch, một bước cải cách nữa sẽ được WB xem xét vào năm 2015.
Trong tuyên bố sau cuộc họp, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Gathner nhấn mạnh:
"Cơ cấu bỏ phiếu mới đã thừa nhận vai trò ngày càng lớn của các nước đang phát triển và
các nền kinh tế mới nổi đối với kinh tế toàn cầu, đồng thời giúp bảo vệ quyền lợi của những
thành viên nhỏ và nghèo nhất trong WB". Theo ông, quyết định nói trên của WB cũng là sự
thừa nhận rằng đã đến lúc cần loại bỏ các khái niệm hay thuật ngữ như "Thế giới thứ ba.

II. Việt Nam và Ngân hàng thế giới – WB:

II.1. Việt Nam gia nhập WB:
Ngày 18/8/1956, chính quyền Sài gòn Nam Việt Nam gia nhập WB. Ngày
21/9/1976, nước CHXHCN Việt Nam tiếp quản tư cách hội viên tại WB của Chính quyền
Sài gòn cũ.
Cổ phần của Việt Nam tại:
+ IBRD là 968 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 1218, chiếm 0,08%
+ IDA là 14.778 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 19.203, chiếm 0,14%
+ IFC là 446 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 696, chiếm 0,03%


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 29
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

+ MIGA là 388 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 565, chiếm 0,29%

II.2. Các hoạt động chủ yếu của WB tại Việt Nam:

II.2.1. Quan hệ VN - WB giai đoạn 1978-1993 :
Năm 1978, WB đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 60 triệu USD để
thực hiện dự án Thuỷ lợi Dầu Tiếng. Tháng 1/1985, IMF và WB đình chỉ quyền vay vốn
của Việt nam do Việt nam mắc nợ quá hạn.

II.2.2. Quan hệ VN-WB giai đoạn 1993 đến nay:
Sau một thời gian bị gián đoạn, đến tháng 10/1993, với nỗ lực to lớn và quyết tâm
thực hiện cải cách của Chính phủ Việt Nam cùng với sự vận động dàn xếp tài chính thiện
chí của các nhà tài trợ thuộc Câu lạc bộ Paris, quan hệ tín dụng giữa WB và Việt Nam đã
chính thức được nối lại.
Văn phòng Đại diện của WB tại Việt Nam: Ngày 14/09/1994, WB chính thức mở
Văn phòng tại Hà nội. Từ năm 1993 đến nay, WB đã bổ nhiệm 03 cán bộ giữ chức vụ
Giám đốc Văn phòng WB tại Việt nam : ông Bradley Babson (1993-1997), ông Andrew
Steer (1997-2002) và hiện nay là ông Klaus Rohland. Theo đề nghị của NHNN, Thủ tướng
Chính phủ đã báo cáo Chủ tịch nước xét tặng Huân chương Hữu nghị cho ông Andrew D.
Steer vì đã có nhiều đóng góp tích cực để mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác giữa VN và
WB trong nhiệm kỳ công tác của mình. Ngày 19/8/2002, Chủ tịch nước đã ra quyết định số
550/2002/QĐ/CTN về việc tặng thưởng Huân chương Hữu nghị cho ông Andrew Steer
nhân dịp Ông kết thúc nhiệm kỳ tại Việt nam.
Trong số các tổ chức cho vay thuộc nhóm WB, hỗ trợ tài chính dưới hình thức cho
vay ưu đãi và hỗ trợ kỹ thuật của IDA cho Việt nam chiếm vai trò chủ đạo trong mối quan
hệ giữa Việt nam với nhóm WB (thời hạn vay 40 năm, phí dịch vụ 0,75%/năm, phí cam kết
0 - 0,5%/năm, không lãi suất, 10 nam ân hạn). Ngoài ra, IFC cũng cho vay các dự án thuộc
khu vực tư nhân của Việt Nam với lãi suất thị trường. MIGA đã ký kết một số hiệp định
bảo lãnh cho các dự án đầu tư vào Việt nam.
Tài trợ của WB đối với Việt Nam
Tính đến tháng 31/12/2003, WB đã cam kết tài trợ 41 dự án và chương trình cho
Việt Nam với tổng số vốn cam kết đạt hơn 4,38 tỷ USD (kể cả dự án Thuỷ lợi Dầu tiếng


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 30
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

vay vốn WB tháng 8/1978 và khoản bảo lãnh dự án điện BOT Phú Mỹ 2-2). Tổng số vốn
giải ngân tính đến tháng 31/12/2003 đạt hơn 2,18 tỷ USD, chiếm khoảng 50% tổng số vốn
cam kết. Các dự án mà WB tài trợ cho Việt Nam tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực ưu tiên
cao của Nhà nước như: nông nghiệp, thuỷ lợi, năng lượng, cơ sở hạ tầng đô thị và nông
thôn, giao thông, y tế, giáo dục, tài chính ngân hàng. Các dự án này đã đóng góp tích cực và
có hiệu quả vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển các dịch vụ xã hội, tăng
cường thể chế và phát triển nguồn nhân lực, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và xoá
đói giảm nghèo. Hiện nay, Việt nam là nước vay IDA lớn nhất
Ngoài việc cho vay các dự án và chương trình, WB cũng cung cấp các khoản Hỗ trợ
Kỹ thuật (HTKT) cho Việt Nam, kể cả các khoản HTKT uỷ thác của các nước. Tổng số
HTKT của WB tính đến tháng 31/12/2003 là hơn 135 khoản với trị giá khoảng 322 triệu
USD; trong đó bao gồm 19 khoản đồng tài trợ trị giá 210,6 triệu USD.

II.3. Các tổ chức thành viên của WB tại Việt Nam:
Nhóm Ngân hàng Thế giới cung cấp tín dụng cho Việt Nam thông qua Hiệp hội Phát
triển Quốc tế IDA. Là một nước có thu nhập thấp, Việt Nam được hưởng những khoản vay
không tính lãi với thời gian ân hạn là mười năm, thời gian trả nợ trong vòng bốn mươi năm
và chi phí hành chính dưới một phần trăm.
Ngoài ra, Nhóm Ngân hàng Thế giới còn tài trợ cho Việt Nam thông qua tổ chức hỗ
trợ cho doanh nghiệp tư nhân của mình là Công ty Tài chính Quốc tế IFC. Công ty Tài
chính Quốc tế IFC trợ giúp phát triển khu vực tư nhân của Việt Nam thông qua tài chính
của dự án, bằng việc huy động vốn trên các thị trường tài chính quốc tế, và thông qua các
hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp và Chính phủ.

II.3.1. Thông tin chính về các dự án IFC tại Việt Nam:

II.3.1.1. Tài chính:
Vào năm tài chính 1997 IFC giúp thành lập Công ty Cho Thuê Quốc Tế Việt Nam
(Vietnam International Leasing Company Limited (VILC), công ty thuê tài chính đầu tiên
tại Việt Nam.
VILC đóng vai trò là quan trọng trong, cung cấp nguồn tài chính trung hạn cho các
SMEs tại Việt Nam. Từ khi thành lập, VILC đã cung cấp 35 triệu USD vốn thuê mua tài


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 31
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

chính cho gần 250 công ty. Nguồn vốn của công ty đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
trong nước mua sắm nhiều tài sản cố định bao gồm máy móc, thiết bị văn phòng và cho nhà
máy.
VILC phát triển từ chương trình hỗ trợ của IFC vào năm 1991: IFC tư vấn cho chính
phủ Việt Nam về thuê mua và xây dựng khuông khổ pháp lý phù hợp cho việc cấp phép,
quản lý và thực hiện hoạt động cho thuê tài chính..

II.3.1.2. Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
IFC cung cấp khoản vay trị giá 300,000 USD cho công ty Vinh Phat (Vinh Phat),
môt cơ sở sản xuất và xuất khẩu sản phẩm may mặc trong nước. Khoản đầu tư này tạo điều
kiện cho Vĩnh Phát mỏ rộng sản xuất và trang thiết bị và mua dây chuyền thiết bị mới. Dự
án giúp công ty tăng kinh ngạch xuất khẩu và tạo công ăn việc làm.

II.3.1.3. Giáo dục:
Vào năm tài chính 2001 IFC phê duyệt khoản vay trị giá 7.25 triệu USD để thành lập
Trường Đại Học Tổng Hợp RMIT (RMIT).
Đóng tại Thành Phố Hồ Chính Minh, RMIT là trường đại học nước ngoài đầu tiên tại
Việt Nam. Do thiếu trường đại học và trung cấp, chỉ có 1 trong 6 sinh viên cón thể vào học
tại các trường đại học tại Việt Nam.
Dự án sẽ tạo điều kiện hàng nghìn học sinh có thể có được giáo dục đại học hiện đại
chất lượng cao mà không phải đi ra nước ngoài. Trường đại học sẽ cung cấp các chương
trình đào tạo có bằng, dạy ngoại ngữ và đào tạo chuyên môn xây dựng theo nhu cầu thị
trường.
Và ngày 3 tháng 8 năm 2009 - Ngân hàng Thế giới gần đây đã thông qua khoản tín
dụng trị giá 50 triệu đô la cho Chương trình Chính sách Phát triển Giáo dục Đại học của
Việt Nam và 127 triệu đô la cho Chương trình Bảo đảm Chất lượng Giáo dục Trường học.

II.3.1.4. Chương trình Phát triển Dự án Mê Kông (MPDF):

Chương trình Phát triển Dự án Mê Kông (MPDF) là chương trình do nhiều bên tài
trợ được điều hành bởi Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), bộ phận kinh tế tư nhân thuộc Tập
đoàn Ngân hàng Thế giới.



SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 32
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Các nhà tài trợ khác của MPDF bao gồm: Ngân hàng Phát triển Châu A, Canada,
Ôxtrêlia, IFC, Na Uy, Nhật Bản, Phần Lan, Thuỵ
Sỹ, Thuỵ Điển, và Vương quốc Anh. Sứ mện của
MPDF là thúc đẩy sự hình thành và phát triển
của các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa
(DNNVV) sở tại ở Việt nam, Căm pu chia và
Lào.
Với văn phòng tại Hà Nội, Tp. Hồ Chí
Minh, Phnôm Pênh, và Viên Chăn, MPDF thưc hiện ba hoạt động chính sau:
Dịch vụ Hỗ trợ Tư vấn Doanh nghiệp
MPDF cung cấp hỗ trợ tư vấn doanh nghiệp cho các DNNVV có mong muốn cải tiến
hoạc mở rộng hoạt động hiện có, hoặc cần giúp đỡ thiết lập hoạt động mới. Với mức độ
phát triển và nhu cầu của doanh nghiệp thay đổi, MPDF có thể cung cấp các dịch vụ khác
nhau như:
 Đánh giá hoạt động doanh nghiệp: dịch vụ này được tiến hành nhằm xác định vấn
đề và khuyến cáo các biện pháp giải quyết
 Kết nối doanh nghiệp với các nhà tư vấn và các nhà cung cấp dịch vụ doanh
nghiệp sở tại
 Phát triển các dự án đầu tư và thu xếp nguồn tài chính
Chương trình Phát triển Doanh nghiệp
MPDF cung cấp trợ giúp để tăng cường năng lực của các cơ quan sở tại có cung cấp
dịch vụ thiết yếu cho DNNVV :
 Đào tạo quản lý và học tập linh hoạt
 Trung tâm Đào tạo Ngân hàng
 Phát triển các hiệp hội doanh nghiệp
 Xúc tiến xuất khẩu
Môi trường Hỗ trợ Doanh nghiệp
MPDF hợp tác với các đối tác tiến hành nghiên cứu và đối thoại về chính sách nhằm
cải thiện môi trường kinh doanh cho DNNVV:
 Các nghiên cứu, điều tra về khu vực tư nhân
 Xêmina, hội thảo về các vấn đề phát triển DNNVV


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 33
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

 Đem đến Việt Nam các kinh nghiệm quốc tế




II.3.2. Tổ chức bảo lãnh đa phương (MIGA)
Tổ chức bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA) hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực có
sự tham gia và có vai trò lớn của khu vực tư nhân trong ngành điện và các lĩnh vực truyền
tải, và hỗ trợ phát triển cho khả năng thúc đẩy đầu tư. Tính đến ngày 28 tháng 02 năm 2003,
tổng hỗ trợ của MIGA cho Việt Nam là 10 triệu đô la Mỹ. Số tiền này bao gồm cả một dự
án viễn thông được bảo lãnh vào năm 2001. MIGA hiện cũng đang xem xét hỗ trợ cho một
dự án năng lượng ( lên đến khoảng 100 triệu đô la Mỹ).
Chương trình Việt Nam - MIGA, năm tài chính 1999-2002:
1999 2000 2001 2002
Công cụ đầu tư %
Khoản cho vay 0 100 100 30
Góp vốn 14
Những khoản đóng
góp tương đương với 56
vốn
Các công cụ khác
Tổng cộng 0 100 100 100
Các tín dụng bảo lãnh
36,000 36,000 20,000 20,000
MIGA (USD)



SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 34
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

II.3.3. Các hoạt động của IDA:
Kể từ năm 1993, khi Ngân hàng Thế giới quay trở lại Việt Nam, Hiệp hội Phát triển
Quốc tế đã cấp khoảng 6 tỉ đô la Mỹ tín dụng ưu đãi không lãi suất và viện trợ không hoàn
lại cho Việt Nam để hỗ trợ Việt Nam phát triển và xóa đói nghèo.
Quỹ IDA đã được sử dụng vào nhiều mục đích, trong đó có việc xây dựng đường sá
và các cơ sở hạ tầng quan trọng khác, nối hàng triệu người ở nông thôn với lưới điện quốc
gia, cải thiện chất lượng giáo dục, nâng cao năng suất nông nghiệp, và cung cấp các dịch vụ
cơ bản như cấp nước cho khoảng 3 triệu người ở khu vực thành thị
Ngày 22/6/2007, Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho biết, Hiệp hội Phát
triển quốc tế IDA vừa phê duyệt khoản tín dụng 309 triệu USD hỗ trợ Việt Nam phát triển
cơ sở hạ tầng và xã hội. Khoản tín dụng này sẽ được đầu tư vào 4 dự án gồm Quỹ đầu tư
phát triển TPHCM; Giao thông và chống ngập ở ĐBSCL; hỗ trợ Chương trình xóa đói giảm
nghèo và Dự án Giáo dục đại học (lần thứ 2).
Ngân hàng Thế giới cung cấp 100 triệu USD để hỗ trợ thực hiện Giai đoạn II của
Chương trình điện khí hóa nông thôn và trợ giúp việc thực hiện pha II của Chương trình
135, giúp hơn 2.000 xã nghèo trong 47 trên tổng số 63 tỉnh, thành của Việt Nam. Nguồn hỗ
trợ này giúp Chính phủ và cộng đồng trong nỗ lực giảm thiểu nghèo đói cho các cộng đồng
dân tộc thiểu số và xa xôi hẻo lánh bằng cách tăng khả năng tiếp cận đến cơ sở hạ tầng và
dịch vụ xã hội cho họ. Pha II đã tài trợ để nâng cấp hàng nghìn km đường, trường học nông
thôn, cung cấp nước sạch, cây con giống, và hỗ trợ nội trú để khuyến khích học sinh tiểu
học đến trường.
Nguồn tín dụng do Hiệp hội Phát triển Quốc tế chuyên cho vay ưu đãi sẽ bổ sung
trực tiếp cho ngân sách quốc gia của Việt Nam….
Hoạt động khác của WB:
Ngày 30/10/2008 tại Washington DC, Ban Giám đốc Điều hành của Ngân hàng Thế
giới đã phê duyệt khoản tín dụng trị giá gần 60 triệu USD nhằm hỗ trợ thực hiện dự án Hiện
đại hóa ngành Tài chính và Hệ thống Quản lý Thông tin Tài chính Việt Nam. Khoản tín
dụng này từ nguồn Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA), là nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân
hàng Thế giới cho các nước có thu nhập thấp.
Tín dụng này nhằm hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Trung tâm Thông tin Tín
dụng, và Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cải cách và hiện đại hóa ngành tài chính, qua


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 35
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

việc cải thiện hoạt động của các tổ chức này phù hợp với tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Dự
án nhằm hỗ trợ tài chính và kỹ thuật để tăng cường hoạt động chức năng, nâng cao năng
lực, và cải tiến quy trình hoạt động. Một phần lớn trong khoản tín dụng 60 triệu USD sẽ
được dùng để xây dựng một cơ sở công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại và tập trung
để hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đóng vai trò một ngân hàng trung ương hiện đại.
Dự án nhằm hỗ trợ thực hiện thành công mục tiêu chiến lược của Chính phủ Việt
Nam là xây dựng một ngành tài chính ổn định và lành mạnh; Dự án này rất quan trọng trong
việc đảm bảo tăng trưởng bền vững của Việt Nam và tiếp tục xóa đói giảm nghèo, đặc biệt
vào thời điểm khó khăn trên thị trường tài chính quốc tế. Ngoài ra, WB cam kết tài trợ ODA
trung bình 1 tỷ USD/năm cho Việt Nam.

Và vào ngày 30-12-2009 tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng
Thế giới (WB) đã ký kết thỏa thuận tín dụng cho khoản vay lớn nhất của WB cho Việt Nam
từ trước đến nay và cũng là khoản vay đầu tiên từ Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế
(IBRD. Lễ ký kết đánh dấu một bước tiến của Việt Nam tới mục tiêu trở thành quốc gia có
thu nhập trung bình vào năm 2010 (IBRD là một cơ quan cho vay lãi suất thấp của Ngân
hàng Thế giới nhằm giảm nghèo ở các nước có thu nhập trung bình hoặc các quốc gia
nghèo nhưng có uy tín tín dụng). Cho tới nay, tất cả các khoản hỗ trợ của Ngân hàng Thế
giới cho Việt Nam đều từ nguồn tín dụng ưu đãi không lãi suất cho các nước nghèo nhất thế
giới (IDA).

Đây là khoản vay chính sách phát triển với tổng giá trị là 500 triệu USD để hỗ trợ
chương trình cải cách đầu tư công tại Việt Nam, với Thời gian ân hạn: 10 năm,Thời hạn
vay: 25 năm, Phí quản lý : 0,25% tổng số tiền vay, Lãi suất: LIBOR (6 tháng) theo đơn vị
tiền vay cộng biên độ vay dao động (0,17%).

Đánh giá chung về:

Quan hệ VN - WB: Kể từ khi nối lại quan hệ với tín dụng với Việt Nam đến nay,
WB đã có những đóng góp và hỗ trợ tích cực vào công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế,
đặc biệt là công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt nam. Quan hệ giữa Việt Nam và WB ngày
càng được củng cố và phát triển. Điều này được thể hiện thông qua các chuyến thăm và làm
việc chính thức tại Việt Nam của Chủ tịch WB - Ngài James D. Wolfensohn năm 1996 và


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 36
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

2000 và các chuyến thăm của các Tổng Giám đốc, các Phó Chủ tịch. Phía WB đã đánh giá
cao những kết quả đạt được và nỗ lực to lớn của Chính phủ Việt Nam trong công cuộc cải
cách kinh tế, xoá đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội
Quan hệ với IFC: Kể từ năm 1993, IFC đã thông qua 30 dự án với tổng số vốn đầu tư
là 605 triệu USD dưới hình thức tài trợ trực tiếp và hợp vốn, hỗ trợ cho các dự án có tổng
số vốn đầu tư khoảng 1,6 tỷ USD. Hoạt động của IFC chủ yếu đầu tư vào khu vực ngoài
quốc doanh của nền kinh tế như sản xuất xi măng, thép, khách sạn, may mặc, chế biến nông
sản... Ngoài ra, IFC còn thành lập Chương trình Phát triển Dự án Mê kông (MPDF). Trong
thời gian vừa qua, MPDF đã hỗ trợ tiếp cận tài chính cho 72 dự án của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ (SME) trị giá 50 triệu USD và thực hiện 15 khoản HTKT. MPDF đã tích cực
giúp đánh giá môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp tư nhân ở Việt nam, trong lĩnh
vực đào tạo cho các ngân hàng và các nhà quản lý trong nước, và xây dựng năng lực cho tư
vấn trong nước.
Quan hệ với MIGA: Với mục tiêu hoạt động của mình, MIGA đã phát hành 7 Hiệp
định bảo lãnh ở Việt nam với tổng trị giá 451 triệu USD trong lĩnh vực xây dựng khách sạn,
chế biến xuất khẩu cà phê, xây dựng nhà máy sản xuất kính và dự án điện BOT Phú Mỹ 3.
Vai trò của WB đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và xu hướng ODA của WB
cho Việt Nam: Kể từ khi nối lại quan hệ tín dụng với WB vào 10/1993, WB cung cấp 3 loại
dịch vụ chủ yếu là: (1) thiết kế và tài trợ cho các dự án phát triển; (2) hỗ trợ kỹ thuật (TA),
tư vấn về chính sách và các báo cáo phân tích; và (3) điều phối viện trợ.
(1) Tài trợ của WB cho Việt nam thường tập trung vào các dự án trong các lĩnh vực
phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển thể chế và nguồn nhân lực ... nay hướng trọng tâm vào
xoá đói giảm nghèo, các khoản vay chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế và các khoản
vay chương trình theo ngành trong thời gian tới. Điều này cho thấy Việt nam đã dần dần
nâng cao năng lực tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA trong thời gian qua
Chương trình Tín dụng Điều chỉnh Cơ cấu (SAC I) và Chương trình Tín dụng Hỗ trợ
Giảm nghèo (PRSC ) I và II tập trung vào 5 lĩnh vực cải cách trọng tâm của nền kinh tế bao
gồm : (i) cải cách ngân hàng; (ii) cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước; (iii) cải cách chi
tiêu công; (iv) tự do hoá thương mại; và phát triển khu vực tư nhân. Ngoài ra, chương trình
PRSC II còn được mở rộng sang một số lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, bảo vệ môi
trường. Việt nam sẽ chuẩn bị tiếp nhận các PRSC trong những năm tiếp theo.


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 37
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

(2) Hỗ trợ kĩ thuật vàTư vấn về chính sách và các báo cáo phân tích
Các của Hỗ trợ kĩ thuật WB tập trung vào các lĩnh vực như: hỗ trợ chuẩn bị các dự
án do WB tài trợ tín dụng, phát triển thể chế nhằm xây dựng và nâng cao năng lực quản lý
điều hành của một số ngành và cơ quan liên quan đến dự án, xây dựng và phát triển chính
sách nhằm nâng cao khuôn khổ chính sách, pháp lý cho các dự án hạ tầng cơ sở thuộc
ngành điện, vệ sinh môi trường, cấp thoát nước, tài chính, ngân hàng v.v. và đã phát huy
được hiệu quả trong quá trình thực hiện
Ngoài ra, hàng năm WB còn cử các đoàn vào Việt nam phối hợp với các bộ ngành
soạn thảo và phát hành các báo cáo kinh tế, báo cáo ngành, xây dựng Chiến lược Hỗ trợ
Quốc gia (CAS) cho Việt nam
(3) Điều phối viện trợ: hàng năm Hội nghị tư vấn giữa các nhà tài cho Việt nam (CG)
- do WB làm đồng chủ tọa - được tổ chức nhằm vận động các nhà tài trợ cung cấp hỗ trợ tài
chính, kỹ thuật và điều phối viện trợ giữa các nhà tài trợ . Nhờ đó, vốn viện trợ được sử
dụng hiệu quả hơn phục vụ cho công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam. WB đã tái khẳng
định cam kết tiếp tục hỗ trợ ODA trung bình 1 tỷ USD/năm cho Việt Nam.

II.4. Kết luận:

II.4.1. Tình hình hợp tác:

Nhờ những thành tựu phát triển và cải cách, Việt Nam đang từng bước trở thành
nước nhận vốn vay/viện trợ lớn nhất của WB. Nguồn vốn IDA cho Việt Nam kể từ 1993 tới
nay liên tục tăng, trong 2 năm tới IDA cho Việt Nam dự kiến sẽ tăng mạnh, năm 2007
khoảng 849,4 triệu USD, 2008 có thể đạt 1.068 triệu USD tuỳ thuộc vào tình hình tiếp nhận
và thực hiện nguồn vốn IDA của phía Việt Nam. Vừa qua Chủ tịch WB đã chính thức tuyên
bố Việt Nam đủ điều kiện tiếp nhận nguồn IBRD, điều này khẳng định sự hợp tác ngày
càng tăng cường giữa WB và Việt Nam.

Hiện nay có 36 dự án vốn vay IDA với tổng trị giá 3.850,6 triệu $ đang được thực
hiện. Các dự án của WB chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: năng lượng (25%), nông
nghiệp (23%), nâng cấp đô thị (15%), giao thông (14%), quản lý kinh tế (8%), giáo dục
(7%), y tế (6%), Công nghệ thông tin (2%)...




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 38
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

Về tiến độ giải ngân, mặc dù một số dự án đã có những cải thiện nhưng nhìn chung
tỷ lệ giải ngân còn thấp so với với khu vực. Tính trong tổng số hơn 6 tỷ USD tổng cam kết
tài trợ của WB từ trước tới nay, Việt Nam hiện mới chỉ giải ngân được hơn 3 tỷ USD.

Về hiệu quả thực hiện, theo đánh giá của WB, các dự án thực hiện nhìn chung có
hiệu quả. Năm 2004 Việt Nam được đánh giá là 1/3 nước đứng đầu về hiệu quả thực hiện
dự án, đặc biệt khi xét tới những tác động đem lại của dự án tới giảm nghèo, cải cách chính
sách và thể chế. Sự hỗ trợ của WB cho Việt Nam đã mang lại những hiệu quả rất tích cực,
một số dự án sử dụng vốn vay IDA sau khi hoàn thành đã bắt đầu phát huy hiệu quả như dự
án Phục hồi và phát triển ngành điện, dự án phục hồi Quốc lộ 1 đoạn Hà Nội – Vinh và TP.
HCM- Cần Thơ, Hiện đại hoá hệ thống thanh toán Ngân hàng, Chương trình tín dụng giảm
nghèo (PRSC),...

Về hoạt động hỗ trợ của WB trong giai đoạn 2007 – 2010, Chiến lược hỗ trợ quốc
gia (CAS) đã được chuyển thành Chiến lược đối tác quốc gia giai đoạn 2007-2011 (CPS
2007-2011) thể hiện sự hướng tới một tầm cao mới trong quan hệ hợp tác giữa WB và Việt
Nam. Nội dung của Chiến lược nhìn chung gắn kết chặt chẽ với Kế hoạch phát triển Kinh tế
– xã hội 2006-2010 với mục tiêu hỗ trợ Chính phủ thực hiện thành công các mục tiêu phát
triển của mình, đưa Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình vào năm 2010.

Hoạt động hỗ trợ của WB cho Việt Nam trong những năm gần đây đang ngày càng
tiến tới sự hài hoà và đơn giản hoá thủ tục với Việt Nam. Như đã đề cập ở trên, Chiến lược
của WB phản ánh sự phù hợp và gắn kết với Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm
2006-2010 của Việt Nam (SEDP 2006-2010).

WB đã cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập Nhóm quan hệ đối tác về hài hoà quy trình,
thủ tục ODA và nâng cao hiệu quả viện trợ (PGAE). Thông qua các cuộc họp định kỳ hàng
tháng và hàng loạt hoạt động triển khai, PGAE đã đề xuất những cách tiếp cận mới trong
hài hoà thủ tục, tạo ra sự đồng thuận trong việc nâng cao hiệu quả viện trợ, hoàn thiện
khung khổ pháp lý về ODA.

WB cùng các nhà tài trợ cũng đã hỗ trợ Chính phủ hoàn thiện các văn bản pháp quy
về ODA như Luật đấu thầu, Nghị định mới về đền bù, di dân, tái định cư và giải phóng mặt
bằng; Nghị định Nghi dinh 131/2006/ND-CP ngày 09/11/06; Quy chế về tổ chức và hoạt
động của các Ban quản lý Chương trình, dự án ODA.


SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 39
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng

II.4.2. Kiến nghị phương hướng hợp tác Việt Nam - WB trong thời gian tới:

Xác định cơ cấu cho vay hiệu quả, tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng quy mô lớn; hỗ
trợ Việt Nam khắc phục những thách thức sau gia nhập WTO và hội nhập Kinh tế quốc tế,
quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư, …
để thực hiện thành công các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2006-2010;

- Đề nghị WB, song song với việc cho vay IBRD, tiếp tục duy trì việc cung cấp vốn
IDA cho Việt Nam trong thời gian tới. Văn phòng đại diện WB tại Việt Nam phối hợp với
Bộ KH&ĐT cùng các cơ quan liên quan tổ chức giới thiệu, làm rõ các nội dung cơ bản của
nguồn vốn này và giới thiệu kinh nghiệm của các nước đi trước trong việc tiếp nhận nguồn
IBRD nói trên;

- Đề nghị WB tiếp tục ủng hộ phương thức quốc gia điều hành, tăng cường vai trò
làm chủ của nước tiếp nhận viện trợ, ủng hộ việc phân cấp mạnh mẽ ngay từ khâu chuẩn bị
dự án;

- Tiếp tục đơn giản hoá thủ tục và hài hoà thủ tục giữa Việt Nam và WB theo hướng
Việt Nam đang từng bước hội nhập khu vực và quốc tế.




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 40
Đề tài: Tìm hiểu chung về ngân hàng thế giới(WB) GVHD:PGS.TS Lâm Chí Dũng



Phô lôc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các liên kết kinh tế thương mại quốc tế - Nguyễn Vũ Hoàng
2. Kinh tế đối ngoại Việt Nam – Đại học Quốc gia TP HCM
3. Quan hệ Kinh tế quốc tế - Võ Thanh Thu
4. www.worldbank.org.vn
5. vi.wikipedia.org
6. www.vnecon.com




SVTH: Nguyễn Thị Hồng Trà Lớp: 34K07.1 Trang 41

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản