Đề tài: Tìm hiểu nhà nước và pháp luật chủ nô

Chia sẻ: hcong91

Nhà n c là 1 hi n t ng l ch s xã h i, ướ ệ ượ ị ử ộ nhà nước xuất hiện khi xã hội phát triển đến 1 trình độ nhất định tạo cơ sở và điều kiện khách quan cho sự xuất hiện và tồn tại và tồn tại, phát triển của nhà nước. Nhà nước ko phải là một hiện tượng vĩnh cửu và bất biến mà nó sẽ tiêu vong khi các cơ sở và điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó ko còn nữa.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài: Tìm hiểu nhà nước và pháp luật chủ nô

Luận văn
Đề tài: Tìm hiểu nhà nước và pháp luật
chủ nô
LỜI MỞ ĐẦU.................................................... 3
PHẦN I: NÀ NƯỚC CHỦ NÔ.......................... 3
I.1.1. Các học thuyết phi mác xít ....................... 3
a. thuyết thần quyền........................................... 3
b. thuyêt khế ước xã hội..................................... 3
I.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin........ 3
a. Nội dung cơ bản;............................................ 3
b. Nguồn gốc của nhà nước ............................... 4
Theo quan điểm ................................................. 5
I.2.1. Các thuộc tính của bản chất nhà nước:..... 6
a. tính giai cấp.................................................... 6
I.2.2. Dặc trưng của nhà nước............................ 7
I.2.3. Chức năng và bộ máy nhà nước ............... 7
a. chức năng của nhà nước:................................ 7
b. bộ máy nhà nước............................................ 8
II.4. Bộ máy của nhà nước chủ nô ................... 15
PHẦN II: PHÁP LUẬT CHỦ NÔ.................. 18
II.3.1. Luật Hammurab .................................... 24
II.3.2 Luật Manu .............................................. 33
II.3.3. luật Luật 12 bảng La mã........................ 35
KẾT LUẬN ..................................................... 44
LỜI MỞ ĐẦU

PHẦN I: NÀ NƯỚC CHỦ NÔ
I. Lý luận về nhà nước
I.1. Nguồn gốc của nhà nước
I.1.1. Các học thuyết phi mác xít
a. thuyết thần quyền
- Nhà nước có đc từ lực lượng siêu nhiên bên ngoài
xã hội tạo ra. Lực lượng siêu nhiên có thể là trời
chúa, thần , thánh.
- học thuyết này tồn tại chủ yếu trong nhà nước chủ
nô và phong kiến.
-học thuyết này ko mang tính dân chủ và tiến bộ.
VD: vua là thiên tử, cai quản nhà nước bằng thiên
mệnh => vai trò nhà nước là cai trị.
b. thuyêt khế ước xã hội.
- Thuyết khế ước xã hội ra đời trong thời kỳ cách
mạng tư sản nhằm chống lại thuyết thần quyền.
- Thuyết khế ước xã hội cho rằng nhà nước xuất
hiện là từ một hợp đồng xã hội và hợp đồng này
thể hiện ý chí chung của của nhân dân cần lập
thành 1 tổ chức nhà nước thực hiện chức năng quản
lý nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo đảm lợi ích
chung của xã hội.
- Học thuyết này mang tính dân chủ và tiến bộ hơn
so vói thuyết thần quyền.
I.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin.
a. Nội dung cơ bản;
- Nhà nước là 1 hiện tượng lịch sử xã hội, nhà nước
xuất hiện khi xã hội phát triển đến 1 trình độ nhất
định tạo cơ sở và điều kiện khách quan cho sự xuất
hiện và tồn tại và tồn tại, phát triển của nhà nước.
Nhà nước ko phải là một hiện tượng vĩnh cửu và
bất biến mà nó sẽ tiêu vong khi các cơ sở và điều
kiện khách quan cho sự tồn tại của nó ko còn nữa.
- Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những
mâu thuẫn giai cấp ko .

b. Nguồn gốc của nhà nước
* Chế độ cộng sản nguyên thủy và quyền lực trong
xã hội này:
- Đây là tổ chức đầu tiên trên cơ sở con người tiến
hóa từ động vật bậc cao thành người thong qua lao
động và ngôn ngữ => nghiên cứu trên 2 phương
diện cơ sở kinh tế và tổ chức xã hội nguyên thủy.
+ Cơ sở kinh tế: nền kinh tế tự nhiên nguyên thủy
thấp kém, chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất ,
chưa có yếu tố phân công lao động, nguyên tắc
phân phối sản phẩm tương ứng chưa có.
+ tổ chức xã hội nguyên thủy: thể hiện tàn dư của
lối sống quần cư, hoang dã, mông muội, quan hệ
giữa các thành viên bền vững, bình đẳng mọi mặt,
đã tồn tại quyền lực và hệ thống quản lý, chưa
mang tính giai cấp. =>tổ chức thị tộc ra đời là 1
bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại , nó
đặt nền móng cho việc hình thành hình thái kinh tế
xã hội đầu tiên trong lịch sử hình thái kinh tế xã
hội cộng sản nguyên thủy.
Tuy có quyền lực và hệ thống quản lý nhưng
quyền lực xã hội đc tổ chức và thực hiện trên cơ sở
những nguyên tắc dân chủ thực sự, q/lực xuất phát
từ xã hội và phục vụ lợi ích của cả cộng đồng.
Do nhu cầu của xã hội cần có 1 trật tự trong đó các
thành viên của xã hội phải tuân theo một chuẩn
mựcchung thống nhất, phù hợp với những điều
kiện của xã hội và lợi ích của tập thể, các tập quán
đã xuất hiện 1 cách tự phát dần đc xã hội chấp
nhận và trỏ thành quy tắc sử xự chung mang tính
đạo đức và xã hội
*Sự tan dã của chế độ cộng sản nguyên thủy và sư
ra đời của nhà nước
Theo quan điểm
rạn nứt thứ 2




I.2. Bản chất của nhà nước
I.2.1. Các thuộc tính của bản chất nhà nước:
a. tính giai cấp.
b.tính xã hội




I.2.2. Dặc trưng của nhà nước




I.2.3. Chức năng và bộ máy nhà nước
a. chức năng của nhà nước:
b. bộ máy nhà nước
II. Nhà nước chủ nô
Trong lịch sử loài người, con người đã trải qua 5 hình
thái kinh tế - xã hội, trong đó, hình thái kinh tế - xã
hội đầu tiên (cộng sản nguyên thủy) là hình thái duy
nhất chưa có sự xuất hiện giai cấp. 4 hình thức còn lại
đều là những hình thái KT-XH có giai cấp, ứng với 4
kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước
phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước XHCN.
Nhà nước chiếm hữu nô lệ (nhà nước chủ nô) là hình
thức nhà nước đầu tiên trong lịch sử loài người.
II.1. Sự ra đời của nhà nước chủ nô
II.1.1.Cơ sở kinh tế.
Nhà nước chủ nô ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế
độ cộng sản nguyên thủy (sự tan rã của chế độ thị tộc,
bộ lạc ...), nó gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu
& sự phân chia XH thành các giai cấp đối kháng (vì ở
chế độ cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp). Các
nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên xuất hiện khoảng
4000 - 5000 năm trước công nguyên ở châu Á & bắc
Phi (Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập ...)
Nhà nước chủ nô được coi là tổ chức quyền lực chính
trị của giai cấp chủ nô trong XH.

Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô chính là quan hệ
sản xuất được đặc trưng bởi chế độ chiếm hữu tư
nhân của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất & nô
lệ. Trong chế độ này, chủ nô là người sở hữu toàn bộ
đất đai, tư liệu sản xuất & cả người sản xuất là nô lệ.
Do vậy, chủ nô có toàn quyền bóc lột nô lệ. Nô lệ
phải hòan toàn phục tùng chủ nô, và trở thành "những
công cụ biết nói."
II.1.2. Cơ sở xã hội
Gắn liền với cơ sở kinh tế nói trên là một xã hội bất
bình đẳng. Điều này được thể hiện thông qua kết cấu
giai cấp của nó: giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ là 2
giai cấp chính. Giai cấp chủ nô chiếm số ít trong XH,
nhưng lại nắm giữ toàn bộ đất đai, cũng như tư liệu
sản xuất. Trong khi đó giai cấp nô lệ chiếm số đông,
nhưng phải hoàn toàn phục vụ giai cấp chủ nô. Một
XH bất bình đẳng giữa chủ nô & nô lệ như trên dẫn
tới mâu thuẫn chính trong XH là mâu thuẩn giữa chủ
nô & nô lệ.
Ngoài 2 giai cấp nói trên, trong XH chiếm hữu nô lệ
còn tồn tại tầng lớp thợ thủ công, dân tự do, những
người lệ thuộc vào nhà vua về kinh tế... Những người
này tuy ko phải là nô lệ, nhưng họ cũng gần như phải
lệ thuộc hoàn toàn vào chủ nô về kinh tế & chính trị.
Kết cấu giai cấp nói trên đã làm cho XH chiếm hữu
nô lệ gần như nằm trong tay giai cấp chủ nô, phục vụ
cho giai cấp chủ nô.

II.2.Bản chất nhà nước.
Bản chất của nhà nước nói chung, bản chất nhà nước
chủ nô nói riêng, được thể hiện thông qua 2 đặc tính:
tính xã hội & tính giai cấp.
-Tính giai cấp của nhà nước chiếm hữu nô lệ thể hiện
ở chỗ: nhà nước chủ nô là một bộ máy:
+đem lại cho giai cấp chủ nô quyền lực & khả năng
cai trị tất cả nô lệ
+cho phép giai cấp chủ nô cưỡng bức & đàn áp nô lệ
Lênin nhấn mạnh: "... Nhà nước chiếm hữu nô lệ bao
giờ cũng là 1 bộ máy đem lại cho chủ nô quyền lực &
khả năng cai trị tất cả những người nô lệ ... là một bộ
máy để duy trì những người nô lệ trong địa vị phụ
thuộc & và cho phép 1 bộ phận này của XH (giai cấp
chủ nô) cưỡng bức và đàn áp bộ phận kia (giai cấp nô
lệ).

-Tính xã hội của nhà nước chiếm hữu nô lệ được thể
hiện như sau:
+nhà nước chủ nô sinh ra để quản lý XH, thay thế
cho chế độ cộng sản nguyên thủy ko còn khả năng cai
quản XH được nữa.
+nhà nước chủ nô tiến hành một số hoạt động vì sự
tồn tại & phát triển chung của toàn XH: tổ chức quản
lý KT ở quy mô lớn, quản lý đất đai, khai hoang ...
làm cho đất nước phát triển, nâng cao đời sống nhân
dân.
-Xét ở 1 khía cạnh nào đó thì sự ra đời của nhà nước
chủ nô cũng là 1 bước tiến về phía trước của nhân
loại. Nó đã tạo điều kiện cho XH phát triển, đưa lại
những lợi ích to lớn cho nhân loại (có sự phân công
lao động). Chế độ này cũng là 1 bước tiến ngay cả
với những người nô lệ, bởi vì những nô lệ tù binh bị
bắt trong chiến tranh "...giờ đây cũng ít nhất giữ được
sinh mạng của họ chứ ko bị người ta giết chết như
trước kia hoặc trước đó nữa, thậm chí còn bị người ta
đem đi thui & ăn thịt."

II.3.Chức năng của nhà nước.
-Khái niệm: chức năng (của nhà nước nói riêng) là
những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước
nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà
nước.
II.4. Bộ máy của nhà nước chủ nô
II.5.Hình thức nhà nước.
PHẦN II: PHÁP LUẬT CHỦ NÔ
II.1. Những vấn đề lý luận chung về pháp luật
II.2 Pháp luật chủ nô.
II.3. Giới thiệu khái quát các luật: Hammurabi,
Manu, Luật 12 bảng La mã...
II.3.1. Luật Hammurab
Nền kinh tế của Lưỡng Hà phát triển chủ yếu là kinh
tế nông nghiệp. Tuy vậy, kinh tế hàng hoá phát triển,
dẫn đến nhu cầu cần phải có qui định để giải quyết
các tranh chấp trong quan hệ dân sự. Người Lưỡng
Hà phát hiện chữ viết (văn tự) từ rất sớm (giữa thiên
niên kỷ thứ 4 trước CN). Tiền lệ pháp, tập quán pháp
đã được sử dụng rất rộng rãi trước khi Bộ luật này ra
đời.
Về mặt nguồn gốc, Bộ luật Hammurabi được xây
dựng trên cơ sở pháp điển hoá nhiều văn bản trước đó
và trên cơ sở kế thừa luật lệ của người Xu-me, người
Amôrít. Bộ luật Hammurabi được phát hiện năm
1901 của đoàn khảo cổ người Pháp, khắc trên đá
bazan cao 2,25 m và dựng tại quảng trường thành phố
cho nhân dân đọc mà thi hành. Bộ luật Hammurabi là
Bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời kỳ cổ đại, gồm 282
điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần:
Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận[1]. Đây là
một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật
hình, bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh
nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu điều chỉnh
những quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích của giai
cấp thống trị. Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố
rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống
trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Ở
phần kết luận Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả
những ai xem thường và định huỷ bỏ đạo luật. Tác
giả bộ luật đã ý thức sâu sắc kết hợp thần quyền,
vương quyền, và pháp quyền, khiến bộ luật trở nên
được “thiêng hoá” nhằm đạt được mục đích cai trị
dân chúng.
Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của Bộ
luật được hiện rõ ngay từ mục đích của Bộ luật, thể
hiện ở phần mở đầu của Bộ luật: “Vì hạnh phúc của
loài người, thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho
trẫm – Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh
và ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian
ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh
không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như
thần Samát sai xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp
muôn dân.”
Về kĩ thuật lập pháp, tuy không phân chia thành các
ngành luật nhưng bộ luật cũng được chia thành nhóm
các điều khoản có nội dung khác nhau. Phạm vi điều
chỉnh của bộ luật là những quan hệ xã hội rộng, bao
quát lên toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội như
hôn nhân gia đình, ruộng đất, thừa kế tài sản, hợp
đồng dân sự, hình sự, tố tụng ...
Về mức độ điều chỉnh: Mức độ điều chỉnh pháp luật
phụ thuộc vào tính chất của các loại quan hệ xã hội
cần được điều chỉnh bằng pháp luật, các yếu tố chủ
quan của nhà làm luật. Thông thường người ta phân
biệt thành hai mức độ điều chỉnh pháp luật: cụ thể –
chi tiết và khái quát hoá cao. Bộ luật về cơ bản áp
dụng mức độ điều chỉnh cụ thể, chi tiết.
Về mặt hình thức pháp lý, đây là một bộ luật tổng
hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các
qui phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều
có chế tài. Phần nội dung, bộ luật tập trung điều
chỉnh bốn lĩnh vực chủ yếu đó là dân sự, hình sự, hôn
nhân gia đình và tố tụng, tuy vậy không có sự tách rời
giữa các lĩnh vực. Các qui phạm của Bộ luật
Hammurabi cũng giống như các bộ luật khác ở
Phương Đông thời kỳ cổ đại là mang tính hàm hỗn,
các điều luật đều kèm theo chế tài.
a. Về dân sự:
Những điểm tiến bộ, đặc sắc nhất của Bộ luật này
chính là các qui định về dân sự. Bộ luật đã đặc biệt
chú ý điều chỉnh quan hệ hợp đồng, vì đây là quan hệ
phổ biến ở xã hội Lưỡng Hà cổ đại, có nhiều qui định
không những tiến bộ về nội dung, mà còn chặt chẽ về
kĩ thuật lập pháp.
Về chế định hợp đồng, Luật qui định ba điều kiện bắt
buộc đối với hợp đồng mua bán:
Thứ nhất, người bán phải là chủ thực sự,
Thứ hai, tài sản phải có giá trị sử dụng,
Thứ ba, phải có người làm chứng.
Bộ luật cũng qui định các điều khoản lĩnh canh ruộng
đất. Đối với ruộng, người lĩnh canh nhận mỗi mùa từ
1/3 - 1/2 số sản phẩm thu hoạch. Đối với vườn được
nhận 2/3 số sản phẩm thu hoạch.
Điểm tiến bộ hơn nữa là luật đã qui định mức lãi suất
đối với hợp đồng vay nợ. Cụ thể luật qui định mức lãi
suất đối với tiền là 1/5, vay thóc là 1/3.
Về chế định thừa kế tài sản, Luật Hammurabi phân
làm hai loại thừa kế: thừa kế theo pháp luật và thừa
kế theo di chúc.
Thừa kế theo pháp luật: Nếu người cho thừa kế
không để lại di chúc thì tài sản được chuyển đến cho
những người có quyền đối với tài sản đó theo luật
định. Thời gian đầu tài sản tập trung ở dòng họ và
dần dần được chuyển về gia đình có quyền thừa kế và
thành tài sản chung của gia đình. Đó là cách thừa kế
theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc: Bộ luật đã hạn chế quyền tự do
của người viết di chúc như qui định người cha không
được tước quyền thừa kế của con trai nếu người con
mới phạm lỗi lần đầu và lỗi không nghiêm trọng. Con
trai, con gái đều được hưởng quyền thừa kế ngang
nhau.

b. Về lĩnh vực hôn nhân và gia đình:
Theo xu hướng củng cố địa vị của người chồng,
người cha nên trách nhiệm và nghĩa vụ thuộc về
người vợ và con cái. Nếu không có con, người chồng
có quyền ly dị, bán vợ hoặc lấy vợ lẽ. Nếu bắt được
vợ ngoại tình thì chồng có quyền trói vợ và nhân tình
của vợ ném xuống sông cho chết. Ngược lại nếu vợ
bắt được chồng ngoại tình, chỉ có quyền ly dị mà
thôi.
Điểm tiến bộ là đã có qui định kết hôn phải có giấy
tờ, ở mức độ nào đó có qui định bảo vệ người phụ nữ
(người vợ có quyền ly hôn khi người chồng đi khỏi
nhà không có lý do, chồng có quan hệ ngoại tình hay
vu cáo vợ ngoại tình). Có một qui định rất nhân đạo
nếu đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ là: ”Người chồng
không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh phong
hủi.”

c. Về hình sự:
Lĩnh vực Hình sự là lĩnh vực thể hiện rõ nhất tính
giai cấp và sự bất bình đẳng. Một nguyên tắc xuyên
suốt và thể hiện rõ trong Bộ luật là nguyên tắc bảo vệ
quyền lợi, địa vị của người chồng, người cha trong
gia đình. Thí dụ, nếu không có con, người chồng có
quyền ly dị hoặc bán vợ hoặc lấy vợ lẽ; nếu bắt được
vợ ngoại tình thì chồng có quyền trói vợ và nhân tình
của vợ ném xuống sông cho chết. Ngược lại nếu vợ
bắt được chồng ngoại tình, chỉ có quyền ly dị mà
thôi. Điều 129 qui định : "Nếu vợ của dân tự do ngủ
với người đàn ông khác mà bị bắt, thì phải trói cả hai
người này lại và ném xuống sông"
Tàn dư của xã hội nguyên thuỷ rất rõ là nguyên tắc
trả thù ngang bằng, thậm chí còn cho phép trừng trị
cả những người không liên quan đến tội phạm.
Nguyên tắc này chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra trên
thực tế để áp dụng trách nhiệm pháp lí, chứ không xét
trên phương diện mức độ lỗi và chủ thể thực hiện
hành vi vi phạm. Thí dụ, Điều 38 qui định: " Nếu thợ
xây nhà mà xây không đảm bảo, nhà đổ, chủ nhà chết
thì người thợ xây bị giết." hoặc Điều 39: "Nếu nhà
đổ, con của người chủ nhà chết thì con của người thợ
xây cũng phải chết theo".
Bằng phương pháp thống kê, tác giả thấy trong Luật
Hammurabi có nhắc tới 32 trường hợp xử tử hình.
Thường là các hình phạt rất khắc nghiệt như dìm,
đóng đinh, chém v.v…Tính chất tương xứng trong
trách nhiệm pháp lý nhấn mạnh nhiều đến tính trừng
trị đối nhân hoặc đối vật, mà chưa tính đến tính giáo
dục, hay tạo điều kiện để người vi phạm hoàn lương.
Bên cạnh đó, Bộ luật còn nêu ra trách nhiệm tập thể
của các thành viên công xã đối với nhà nước; qui
định về trừng phạt kẻ giúp nô lệ chạy trốn, trừng phạt
những kẻ xâm phạm quyền sở hữu của nhà vua, chủ
nô; Trừng phạt người quản gia làm thất thoát tài sản
của chủ bị ném cho dã thú xé xác; Lấy cắp gia cầm
hoặc các đồ dùng khác của chủ sẽ bị phạt từ 10 đến
30 lần giá trị thứ lấy cắp. Nếu không nộp được phạt,
kẻ lấy cắp sẽ bị giết.
Điểm tiến bộ trong lĩnh vực hình sự là luật đã manh
nha phân biệt phạm tội vô ý và phạm tội cố ý. Ví dụ
luật ghi trong khi ẩu đả làm chết người, nếu kẻ làm
chết người chứng minh được rằng không cố ý giết
người thì sẽ không bị tử hình, chỉ bị phạt tiền.

d. Về tố tụng:
Tố tụng là thủ tục giải quyết các vụ án. Bộ luật đã có
nhiều qui định về thủ tục bắt giữ, giam cầm, qui định
những nguyên tắc khi xét xử như xét xử phải công
khai, phải coi trọng chứng cứ, phán quyết phải được
thi hành nghiêm minh...
Có hai qui định rất đặc thù về tố tụng của Bộ luật
này:
Thứ nhất, qui định về trách nhiệm của thẩm phán.
”Nếu thẩm phán xử một vụ kiện mà ra phán quyết
bằng văn bản, nếu sau đó phát hiện lỗi trong văn bản
là do lỗi của thẩm phán, thẩm phán sẽ phải trả 12 lần
giá trị tiền phạt mà ông ta đã yêu cầu bồi thường
trong vụ kiện, đồng thời ông ta sẽ bị buộc phải rời
khỏi ghế thẩm phán vĩnh viễn và không bao giờ có
thể trở thành thẩm phán lần nữa”
(Nguyên bản Tiếng Anh để bạn đọc tiện tra cứu: If a
judge try a case, reach a decision, and present his
judgment in writing; if later error shall appear in his
decision, and it be through his own fault, then he
shall pay 12 times the fines set by him in the case,
and he shall be publicly removed from the judge’s
bench, and never again shall be sit there to render
judgement.)
Qui định về trách nhiệm của thẩm phán trong việc xét
xử như qui định trên trong một xã hội thể hiện tính
giai cấp sâu sắc quả thật là một sự tiến bộ. Qua đó
cho thấy, thời kỳ này rất coi trọng công tác xét xử, rất
coi trọng trách nhiệm xét xử công bằng của thẩm
phán. Sử sách đã ca ngợi rằng ở Lưỡng Hà cổ đại,
tinh thần thượng tôn luật pháp và thói quen cầu viện
công lý đã ăn sâu vào tác phong sinh hoạt của người
dân nơi đây.

Thứ hai, về hình thức xét xử
Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ phải
đi đến một dòng sông và nhảy xuống, nếu anh ta
chìm, bị dòng nước cuốn đi, nguyên đơn sẽ sở hữu
nhà của bị đơn. Nhưng ngược lại, nếu dòng sông
chứng minh rằng bị đơn là không có tội, tức là anh ta
còn sống sót, thì nguyên đơn sẽ bị giết chết, và bị đơn
sẽ sở hữu nhà của nguyên đơn”
(Nguyên bản Tiếng Anh để bạn đọc tiện tra cứu: If
anyone bring an accusation against a man, and the
accused go to the river and leap into the river, if he
sink in the river, the accuser shall take possession of
his house. But if the river prove that the accused is
not guilty, and he escape unhurt, then he who had
brought the accusation shall be put to death, while he
who leaped into the river shall take the possession of
the house that had belonged to his accuser)
Có một thực tế là người cổ đại bất lực trước tự nhiên,
bất lực trước việc giải thích các hiện tượng tự nhiên
và xã hội, hơn nữa không phải lúc nào cũng dễ dàng
có được chứng cứ xác thực khi khoa học chưa phát
triển, nên ta thấy cách thức xử lý có vẻ như bất bình
thường kia lại trở nên rất dễ hiểu, dễ hiểu đến mức
bình thường và tự nhiên trong quan niệm, trong cách
hành xử của người dân Lưỡng Hà cổ đại. Họ tin rằng
đấng tối cao đã sáng tạo muôn loài, sáng tạo nên nhà
nước và luật pháp nên họ chấp nhận điều đó, và tin
rằng thần thánh mới là người công minh nhất, thần
thánh mới là người cho họ biết thế nào nào là đúng,
thế nào là sai, thế nào là công bằng hay không công
bằng.
Phần kết luận, Hammurabi khẳng định lại mục đích
của Bộ luật và tuyên bố sẽ trừng phạt bất cứ ai vi
phạm Bộ luật này: “Để cho kẻ mạnh không hà hiếp
kẻ yếu; để cho những người cô quả có thể nương tựa
ở thành Babilon…; để cho sự tuyên án trong nước
tiện việc quyết định; để cho những kẻ thiệt thòi được
trình bày lẽ phải…Nếu kẻ nào thi hành triệt để bộ
luật này thì sẽ được các thần phù hộ, trái lại nếu
người nào không nghiêm chỉnh thi hành hoặc sửa đổi
bộ luật thì sẽ bị thần linh trừng phạt”.
Bộ luật Hammurabi là Bộ luật thành văn cổ nhất trên
thế giới, là một trong những thành tựu có giá trị bậc
nhất của lịch sử văn minh cổ đại. Giá trị của Bộ luật
này cho đến nay vẫn tiếp tục được nhiều nhà khoa
học tập trung nghiên cứu, khai thác và kế thừa. Bộ
luật đã xây dựng rất công phu, điều chỉnh và phản
ánh một cách sinh động các hoạt động kinh tế, chính
trị, văn hoá xã hội của vương quốc Babilon. Bộ luật
không chỉ có giá trị về nghiên cứu pháp lý mà còn là
nguồn cứ liệu lịch sử phong phú, quí giá để nghịên
cứu nền văn hoá Babilon - Lưỡng Hà cổ đại.
Vượt ra khỏi hạn chế về tính giai cấp, có thể thấy
chứa đựng trong nhiều qui phạm của Bộ luật dù ở
dạng thức sơ khai nhất, cổ xưa nhất vẫn hằng chứa
đậm nét những giá trị tiến bộ, nhân văn, đặc biệt là về
kĩ thuật lập pháp trong các qui định từ hôn nhân gia
đình đến thừa kế, và qui định về hợp đồng. Gấp Bộ
luật lại, nhìn vào cuộc sống và suy ngẫm ta thấy
không khỏi ngạc nhiên và trân trọng những giá trị
lịch sử pháp lý của Bộ luật, những qui định ra đời
cách đây gần 4000 năm vẫn chứa đựng nhiều giá trị
đương đại đáng kế thừa, và phát triển./.
II.3.2 Luật Manu
Ấn Độ là vùng rừng núi, đất đai khô cằn, cư dân đa
sắc tộc, là quê hương của nền văn minh sông Ấn,
sông Hằng rực rỡ, nơi Nhà nước ra đời từ rất sớm và
mang đậm bản sắc tôn giáo trong lịch sử. Chính vì
vậy mà luật pháp nhà nước Ấn Độ cổ đại đan xen quy
chế đẳng cấp, giáo lý và tập quán, mọi hành vi xử sự
của con người phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều
thứ luật lệ.

Trong các triều vương quốc cổ đại Ấn Độ, Luật
Manu là luật hoàn chỉnh nhất. Theo truyền thuyết,
luật này được chép lại từ lời răn của Manu - ông tổ
của tộc người Arya. Về thực chất đây là bản trường
ca gồm 12 chương với 2.685 văn thơ do tăng lữ đạo
Braman biên soạn từ thế kỷ II trước Công nguyên
(thời vương quốc Môria). Đây là hình thức luật độc
đáo nhất, điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội quan trọng
lúc bấy giờ; cụ thể:
Về quyền sở hữu, Luật Manu chủ yếu quy định quyền
sở hữu ruộng đất. Hình thức sở hữu ruộng đất lúc bấy
giờ là tập trung vào nhà Vua, Nhà nước và công xã.
Ruộng đất của nông dân do công xã phân chia,
nghiêm cấm tuỳ tiện thay đổi ranh giới hoặc chuyển
dịch quyền tư hữu. Nếu làng xã tranh chấp đất đai
một cách man trá, thì đất đai đó bị nhà vua thu lại
(Điều 9). Bên cạnh ruộng đất, Luật Manu quy định
khá chi tiết về căn cứ làm phát sinh, thay đổi và chấm
dứt quan hệ sở hữu đối với vật: Nếu chủ sở hữu cho
người khác sử dụng đồ vật của mình trong vòng 10
năm không đòi lại thì họ mất quyền sở hữu đó (Điều
147).
Về khế ước, họ chỉ ra khá đầy đủ về tính hợp pháp
của hợp đồng và những căn cứ xác định hợp đồng vô
hiệu (ký với người mắc bệnh tâm thần, say rượu;
người chưa thành niên; ký do cưỡng bức hoặc lừa đảo
v.v). Hợp đồng được chia nhiều loại như: Hợp đồng
mua bán, vay mượn, cầm cố, thuê mướn v.v. trong đó
có kèm theo hình thức thưởng - phạt nhưng phân biệt
đẳng cấp rõ ràng; ví dụ: chủ nợ được thu giữ tài sản
dùng bạo lực hoặc bắt con nợ làm nô lệ.
Về hôn nhân và gia đình: Nguyên tắc chung là phải
kết hôn cùng đẳng cấp. Trừ trường hợp nam giới vì
tình yêu thì có thể lấy vợ ở đẳng cấp dưới làm kề.
Hình thức kết hôn không theo nghi thức thủ tục Nhà
nước mà có thể tổ chức lễ cưới, mua bán vợ, cướp vợ
hoặc hình thức khác theo quy định của lệ làng.
Đối với tài sản thừa kế, vợ chồng có quyền thừa
hưởng di sản thừa kế của nhau. Các con được quyền
thừa kế tài sản của cha mẹ để lại theo nguyên tắc chia
đều. Con gái nếu đi lấy chồng sẽ hưởng 2/3 định suất
để làm của hồi môn.
Về hình sự, Luật Manu tôn trọng chứng cứ và sự thật
khách quan, nhưng giá trị của chứng cứ luôn phụ
thuộc vào đẳng cấp và giới tính. Theo nguyên tắc này
người đẳng cấp cao phạm tội với đẳng cấp thấp bị xử
nhẹ; người đẳng cấp thấp phạm thượng sẽ bị xử nặng.
Phụ nữ thường bị xử nặng hơn nam giới.


II.3.3. luật Luật 12 bảng La mã
1.Sự hình thành

Pháp Luật La Mã được xác lập trên cơ sở tư hữu
trong đó đất đai và nô lệ được coi là các Tư liệu sản
xuất quan trọng bậc nhất trong xã hội mà sản xuất
nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo. Những tư liệu
này cùng với những vật quan trọng khác như nhà ở,
gia súc... được gọi là Res mancipi, còn lại được gọi là
Res nec mancipi. Sự phân biệt này có ý nghĩa về mặt
pháp lí, việc chuyển dịch quyền sở hữu những tài sản
thuộc Res mancipi phải được thực hiện thông qua
nghi thức trọng thể với nhiều biểu tượng nhất định,
phải tuyên bố theo những công thức nhất định với sự
có mặt của những người làm chứng. Tuy nhiên, có
những vật không thuộc quyền sở hữu, và tuy không
phải là cấm lưu thông, vật đó không thuộc ai nhưng
lại thuộc tất cả mọi người (nước sông, không khí...).
Việc phân định thành vật tự do lưu thông, hạn chế
lưu thông căn cứ vào chế độ pháp lí của vật đó tùy
thuộc vào giai đoạn lịch sử nhất định.

Ngoài cách phân loại trên còn căn cứ vào sự thiêng
liêng của vật mà những vật đó nhằm mục đích phục
vụ cho tôn giáo hoặc mục đích công cộng (nhà thờ,
mồ mả...). những tài sản công hoặc tài sản phục vụ
cho những mục đích tôn giáo không thuộc sở hữu tư
nhân và tài sản lưu thông.

2. Nội dung:
Vào thời La Mã, các luật gia không có những khái
niệm đồng nhất về quyền sở hữu mà chỉ nêu ra những
quyền năng cơ bản của chủ sở hữu bao gồm:
_ Quyền sử dụng vật (Ius Utendi): có quyền khai thác
những lợi ích kinh tế từ vật phù hợp với tính năng,
tác dụng của vật đó
_ Quyền thu nhận thành quả và lợi nhuận (Ius
Fuendi): theo nguyên tắc người chủ sở hữu là người
hưởng thành quả và lợi nhuận từ tài sản thuộc sở hữu
của mình
_ Quyền định đoạt vật (Ius Abutendi): gồm định đoạt
số phận thực tế cũng như số phân pháp lí của vật
_ Quyền chiếm hữu vật (Ius Possidendi)
_ Quyền đòi lại vật (Ius Vidicandi)
Một nguyên tắc chung được đặt ra là chủ
sở hữu có toàn quyền với tài sản của mình
và thực hiện mọi hành vi mà pháp luật
không cấm. Điều đó có nghĩa quyền sở
hữu cũng bị hạn chế ở mức độ nào đó. Sự
hạn chế này tùy thuộc từng thời kì lịch sử nhất định,
từng loại tài sản mà khác nhau như: hạn chế với bất
động sản liền kề, không được tùy tiện giết nô lệ...

3.Căn cứ xác lập
a. Căn cứ nguyên sinh: là những căn cứ mà từ đó
quyền sở hữu đối với một vật được xác lập mà không
phụ thuộc vào quyền trước đó đối với tài sản (lần đầu
tiên được xác lập đối với vật-vật không thuộc quyền
sở hữu của ai, chiếm hữu theo thời hiệu, chủ sở hữu
từ bỏ quyền sở hữu...)
- Đối tượng của quyền sở hữu:Vật được phép lưu
thông (tự do lưu thông, hạn chế lưu thông).Bản thân
vật được phép lưu thông phải là sở hữu cá nhân.
- Những vật không thuộc quyền sở hữu của ai.
Luật LaMã tồn tại nguyên tắc: " Vật không thuộc
quyền của ai thì ai là người chiếm giữ tài sản đầu tiên
sẽ là chủ sở hữu đối với tài sản đó, với ý định chiếm
hữu cho mình"
Vd: cá dưới sông, thú trong rừng, vật mà chủ sở hữu
đã từ bỏ quyền sở hữu...
- Vật mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu, vật đánh
rơi, bỏ quên.
Để xác định vật mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu,
vật đánh rơi, bỏ quên phải căn cứ vào điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể. Tuy nhiên theo luật pháp La Mã không
được phép đánh đồng vật bị vứt bỏ với vật bị đánh
mất hoặc bị cất dấu.
- Nếu người nào đó nhặt được mảnh giẻ cũ, quần áo
rách rưới thì có thể xem những thứ nhặt được là đồ
vật bị vứt bỏ.
- Nếu thấy một đồ vật tương đối giá trị thì không
được xem là đồ vật bị vứt bỏ mà chắc là đồ vật bị
đánh rơi.
- Nếu một người tìm thấy một vật có giá trị (tiền, kim
khí, đá quý..) không được coi là vật mà chủ sở hữu đã
từ bỏ nếu người tìm thấy những vật này mà cất giữ,
coi đó là của mình thì theo Luật Lamã họ đồng nghĩa
với người đã trộm cắp tài sản đó. Và họ có nghĩa vụ
tìm và trả lại cho chủ sở hữu và yêu cầu trả những chi
phí mà họ đã bỏ ra.
- Vật bị chôn, giấu.
Vật bị cất giấu vẫn được xem là đồ vật có chủ. Nếu bị
cất giấu quá lâu và không tìm ra chủ thì chúng được
gọi là vật bị chôn cất. Theo luật La Mã thời cổ thì chủ
nhân vị trí vật bị chôn cất (chủ yếu là đất) được xem
là chủ sở hữu đồ vật đó. từ thế kỉ thứ 2 SCN, đồ vật
bị cất giấu là sở hữu của chủ nhân vị trí chôn cất và
của người tìm ra chúng (mỗi bên hưởng một nửa).
- Quyền sở hữu được xác lập theo thời hiệu.
Theo quan niệm của các luật gia Lamã thì một người
chiếm hữu tài sản trong một thời gian nhất định và
thực hiện các quyền như chủ sở hữu mà không có bất
kì tranh chấp nào thì sẽ được công nhận quyền sở
hữu với vật mà họ đã chiếm hữu ngay tình
Bởi:
- Trong thời gian đó người chủ thực sự có đủ thời
gian để tìm lại tài sản của mình nhưng đã không tìm
và suy đoán là họ đã từ bỏ quyền sở hữu.
- Nếu họ không tìm thấy, không phát hiện được tài
sản của mình là do người chiếm hữu ngay tình đang
chiếm hữu thì đã mất quyền khởi kiện để đòi lại. Về
mặt khách quan thì quyền sở hữu đồ vật nói trên
thuộc về người khác. Người thứ 2 này có thể phát
đơn kiện và chứng minh được quyền sở hữu của mình
tại toà xét xử. trong trường hợp này thì người thủ đắc
ngay thẳng phải trả lại đồ vật. Tuy nhiên nếu thời
hiệu kiện đòi quá hạn thì người thủ đắc thiện chí hoàn
toàn có thể là chủ sở hữu đồ vật.
Cần công nhận người chiếm hữu theo thời hiệu là chủ
sở hữu tài sản mà họ đã chiếm hữu để bảo đảm tính
ổn định của lưu thông.
Quy định thời hiệu chiếm hữu để trở thành chủ sở
hữu được quy định khác nhau tuỳ từng thời kỳ lịch
sử.
- Trong Luật XII bảng: thời gian ngắn
+ Đất đai: 2 năm
+ Các vật khác: 1 năm
- Người thủ đắc theo thời hiệu được công nhận là chủ
sở hữu đồ vật nếu chiếm giữ đồ vật theo thời hiệu nói
trên và đồ vật đó không phải do ăn cắp mà có.
- Sau này với sự phát triển của xã hội và tránh sự lạm
dụng của người chiếm hữu theo thời hiệu thì thời
hiệu được kéo dài hơn:
+ Đối với người sống trong 1 tỉnh thời hiệu là 10 năm
+ Với những người khác tỉnh là 20 năm.
+ Với vật bị mất do trộm cắp thì không xác định thời
hiệu.
- Điều kiện để trở thành chủ sở hữu theo thời hiệu
dưới thời Hoàng đế Justinian:
+ Cần thiết phải chiếm giữ đồ vật.
+ Người chiếm hữu phải là người chiếm hữu ngay
tình đang thực tế chiếm hữu vật.
+ Chiếm hữu phải dựa trên cơ sở của pháp luật về
chiếm hữu
+ Thời hiệu chiếm hữu với động sản là 3 năm; bất
động sản là 10-20 năm
+ Vật phải được phép lưu thông và không phải là vật
bị mất trộm.
Đối tượng thủ đắc quyền sở hữu được các luật gia La
Mã tính đến cả những đồ vật tái chế và đồ vật liên
kết.
- Theo các luật gia La Mã thì đồ vật tái chế thuộc
quyền sở hữu của người chế tác ( nếu người chế tác là
chủ sở hữu nguyên liệu, hoặc đã trả tiền nguyên liệu
), hoặc thuộc quyền sở hữu của người có nguyên liệu
(nếu anh ta trả tiền công cho người chế tác ).
- Còn đối với những đồ vật liên kết ( một đồ vật có
các thành phần cấu thành thuộc một số chủ sở hữu )
thì vật đó thuộc quyền sở hữu của những ai có thành
phần cấu thành cơ bản trong đó, hoặc sở hữu vẫn
thuộc về các chủ nhân thành phần đồ vât, tức là xuất
hiện quyền sở hữu chung.

b. Căn cứ phái sinh: là những căn cứ mà từ đó quyền
sở hữu được xác lập đối với vật phụ thuộc vào ý chí
của chủ sở hữu trước đó(chuyển dịch quyền sở hữu
theo ý chí của chủ sở hữu)

4.Chấm dứt quyền sở hữu
Chấm dứt quyền sở hữu: quyền sở hữu được chấm
dứt trong các trường hợp:
o Vật bị tiêu hủy hay do quy định của pháp luật trở
thành vật cấm lưu thông
o Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản
o Chủ sở hữu bị tước bỏ quyền sở hữu(bị tịch thu tài
sản, người khác xác lập quyền sở hữu
theo thời hiệu)

5.Quyền SH chung

Trong sở hữu chung, mỗi một chủ sở hữu đều có một
quyền sở hữu. Cho nên sự chấm đứt quyền sở hữu
của một người sẽ dẫn tới sự gia tăng quyền sở hữu
của a sở hữu đều phải dựa vào sự thống nhất ý kiến.
Mỗi người đều có quyền đòi được chia tài sản chung
vào bất cứ lúc nào cần thiết.

Trong trường hợp không thoả thuận được phân chia
tài sản, quan toà có thể phân chia tài sản thành các
phần và xác định cụ thể từng chủ sở hữu chung có
quyền đối với những phần cụ thể trong khối tài sản
chung đó. Nếu tài sản là vật không chia được thì áp
dụng theo nguyên tắc người nhận tài sản trong số các
chủ sở hữu phải thanh toán giá trị phần còn lại tài sản
cho các đồng chủ sở hữu khác.

Chủ thể của quyền sở hữu có thể là một người hoặc
nhiều người, bởi lẽ mỗi một chủ sở hữu có phần của
mình được phân chia chính xác theo tỷ lệ toán học
đối với vật.

Ví dụ: chủ của 1/2 hay 1/3 vật.

Vật chỉ có thể được định đoạt với sự đồng ý của tất
cả các đồng sở hữu chủ, Luật Lama không phân chia
quyền sở hữu hoặc sở hữu có thời hạn.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
2. LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
3. NGUỒN GỐC NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
4. PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU VỀ BỘ LUẬT
HAMMURABI
(Bài viết của Thạc sỹ Nguyễn Minh Tuấn - Khoa
Luật - Đại Học Quốc Gia - Hà Nội)
5. Webside: http://tailieu.vn
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản