Đề tài "Tìm hiểu và hoàn thiện hệ thống quản lý công nợ"

Chia sẻ: Nguyễn Thị Ngọc Bích | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:54

0
245
lượt xem
100
download

Đề tài "Tìm hiểu và hoàn thiện hệ thống quản lý công nợ"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong phần này, tôi sẽ lược sơ qua tổng quan về bài báo cáo của tôi. Chúng bao gồm nền tảng của đề tài, thực tiễn cũng như những hạn chế mà đề tài của tôi gặp phải. Cuối cùng trong phần mở đầu sẽ là dàn bài tổng thể của báo cáo tôi đưa ra. Hiện nay, khi mà Việt Nam đang dần chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường bao gồm ba loại hình hoạt động chính là sản xuất, thương mại và dịch vụ....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài "Tìm hiểu và hoàn thiện hệ thống quản lý công nợ"

  1. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Đề tài : "Tìm hiểu và hoàn thiện hệ thống quản lý công nợ" SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 1
  2. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân MỤC LỤC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG NỢ. 1.1 Kế toán nợ phải thu khách hàng: 1.1.1. Khái niệm: 1.1.2. Nguyên nhân phát sinh tín dụng hay mua bán trả sau: 1.1.3.Một số vấn đề chung liên quan đến những khoản phải thu: 1.1.3.4. Tài khoản sử dụng: 1.2. Kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi: 1.2.1. Khái niệm: 1.2.2. Một số vấn đề liên quan đế nợ phải thu khó đòi: 1.2.3. Hai cách thông dụng thường được dùng để ghi nhận cho những tài khoản không thu được: 1.2.4.Nguyên tắc hạch toán: 1.2.5.Tài khoản sử dụng: 1.3. Quản lý Công nợ: 1.3.1 Quyết định điều kiện để xem xét công nợ: 1.3.2 Quá trình thu nợ: CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU SƠ NÉT VỀ CTY TNHH TM-DV KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TTNN. Phần này sẽ giới thiệu về công ty mà tôi thực tập thời gian qua. 1. Sơ nét về công ty TTNN: 2.Quá trình hình thành và phát triển: SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 2
  3. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân LỜI MỞ ĐẦU Trong phần này, tôi sẽ lược sơ qua tổng quan về bài báo cáo của tôi. Chúng bao gồm nền tảng của đề tài, thực tiễn cũng như những hạn chế mà đề tài của tôi gặp phải. Cuối cùng trong phần mở đầu sẽ là dàn bài tổng thể của báo cáo tôi đưa ra. Lý do chọn đề tài Hiện nay, khi mà Việt Nam đang dần chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường bao gồm ba loại hình hoạt động chính là sản xuất, thương mại và dịch vụ. Trong đó, mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những đặc trưng riêng. Những doanh nghiệp sản xuất thì cung cấp các sản phẩm do chính họ sản xuất ra như Cty TNHH Tân Hiệp Phát, Cty Coca Cola Việt Nam…, các doanh nghiệp thương mại cung cấp các sản phẩm được mua từ các doanh nghiệp khác như Cty TNHH Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN, Cty Cổ phần Thế Giới Di Động… còn các doanh nghiệp dịch vụ cung cấp các sản phẩm dịch vụ đáp ứng tùy theo nhu cầu của khách hàng như Cty Chuyển phát nhanh AT Express hay như các công ty chứng khoán nóng bỏng vào những năm 2007... Nền kinh tế Việt Nam cũng đang nằm trong hệ thống của toàn cầu nên cũng bị ảnh hưởng bởi xu hướng khủng hoảng toàn cầu hiện nay. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang gặp phải một số khó khăn, nhất là về tài chính hiện nay. Một xu hướng tất yếu đối với các doanh nghiệp Việt Nam là bắt đầu bán hàng hóa và dịch vụ cho nợ trả sau (trong kinh doanh gọi là “gối đầu”. Và hiện giờ với áp lực cạnh tranh nhiều như vậy, sự chọn lựa giữa nhà cung cấp mua hàng nợ và phải trả ngay bằng tiền mặt cũng là một tiêu chí với các doanh nghiệp hiện nay. Thực tế hiện nay là phần các khoản phải thu là một trong ba loại tài sản lớn trong báo cáo cân đối kế toán của doanh nghiệp. Trong khảo sát của Fortune 500 (500 công ty lớn nhất thế giới) vào năm 2004 cho thấy các khoản phải thu là một trong ba tài sản lớn nhất chiếm đến 75% trong số 100 công ty được phỏng vấn. Việc cân bằng các khoản phải thu và phải chi trong doanh nghiệp là vấn đề cần phải được quan tâm trên hết. Lưu thông tiền tệ trong một doanh nghiệp tương tự như “dòng máu” của doanh nghiệp. Nên nếu dòng tiền đó bị trì trệ hay ngừng hẳn dễ khiến cho các doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, nhất là ở các doanh nghiệp vừa vả nhỏ cũng là điều dễ hiểu. Tại Việt Nam các doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng các hệ thống công nợ khác nhau. Do tính chất đa dạng về nội dung đối tượng phải thu cũng như những rủi ro có thể xảy ra nên cần phải quản lý và kiểm soát chặt chẽ tình hình nợ phải thu từ lúc phát sinh các giao dịch có thể phát sinh các SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 3
  4. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân khoản phải thu, phải có những biện pháp thu hồi nợ nhanh chóng và phải lập dự phòng cho những khoản có thể không thu hồi được. Và càng ngạc nhiên hơn là ban lãnh đạo của các công ty thuộc dạng SME (small medium enterprise – doanh nghiệp vừa và nhỏ) ít khi nào nhận được sự quan tâm đúng mức của các trưởng phòng ban bên được về quản lý công nợ, chỉ khi nó đã xãy ra rồi. Như mọi người đều biết, lĩnh vực thương mại là một loại hình kém phức tạp hơn sản xuất nhưng lại phức tạp hơn dịch vụ thuần túy. Trong thời gian thực tập tại Cty TNHH Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN, tôi đã được tiếp xúc với công tác kế toán tại đây, đặc biệt là kế toán về quản lý nợ phải thu khách hàng. Hệ thống công nợ bao gồm tất cả các quá trình, nghiệp vụ có liên quan đến nợ phải thu khách hàng. Sau khi tìm hiểu sơ bộ, tôi nhận thấy giải pháp hiện thời chỉ có thể là tổ chức lại các dữ liệu trong hệ thống theo hệ thống nhất, chính xác và có thể chia sẻ và đưa ra giải pháp dựa trên những lý thuyết quản lý công nợ vào thực tại. Từ những nhận xét trên, tôi đã đi vào nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu và hoàn thiện hệ thống quản lý công nợ”. Nền tảng của đề tài trên: Một điều mà chắc không ai có thể chối cãi là tạo doanh thu chính là điều quan trọng nhất với bất kỳ công ty nào sau đó là quản lý chi phí ra sao mà thôi. Nhiều doanh nghiệp cũng đã bỏ hàng tỷ đồng chi phí để nâng cao doanh thu của công ty lên như chi phí tiếp thị, chi phi nghiên cứu. Nhưng doanh thu thì phải chuyển qua tiền mặt vì đó mới chính là dòng máu của doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó, mỗi đồng doanh thu khi chuyển qua khoản phải thu cần được quản lý và thu hồi cẩn thận. Mục tiêu của đề tài: Vì trực tiếp làm bộ phận công nợ của công ty TTNN, nên trong quá trình làm việc, tôi có những ý kiến đề xuất dựa trên những lý thuyết về quản lý công nợ được trình bày trong đề tài này. Với một hệ thống công nợ phù hợp, rủi ro phá sản vì công nợ sẽ được giảm rất nhiều điều này khiến các doanh nghiệp yên tâm làm việc và nâng cao môi trường kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau. Mặc khác, khi giảm được rủi ro phá sản của doanh nghiệp sẽ giúp môi trường đầu tư (thị trường chứng khoán và thị trường vốn) tốt hơn giúp có thể thu hút các nguồn lực về tài chính cũng như nhân lực chảy về Việt Nam. SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 4
  5. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Đối với doanh nghiệp nói riêng, một khi quản lý tốt công nợ sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng tính thanh khoản cho doanh nghiệp mình (tăng tính hiệu quả cho dòng tiền mặt ra vào), đồng thời doanh nghiệp có thể tăng mua bán trên công nợ để có thể quay vòng vốn hiệu quả hơn. Giảm được những khoản nợ xấu không những giúp doanh nghiệp bảo đảm tính thanh khoản cho doanh nghiệp của mình mà còn tránh đi những trường hợp phá sản mặc dù công ty vẫn có lợi nhuận trên báo cáo kinh doanh. Một sự thật hiển nhiên là nếu giảm được công nợ thì công ty sẽ cắt giảm được rất nhiều những khoản chi phí quản lý khác như chi phí thu hồi công nợ, dự phòng công nợ và chi phí cơ hội thay vì để công nợ thì để tiền cho những việc đầu tư khác. Những hạn chế của đề tài: Bởi thời gian: Do tính chất thực tập của sinh viên, nên thời gian tiếp xúc nhiều với công việc một cách thành thạo là chưa cao cho nên đề tài chỉ được đưa ra sau những nghiên cứu trong 2 tháng thực tập tại đây. Đồng thời, đây là một doanh nghiệp tư nhân nên việc công bố rộng rãi những số liệu quá khứ là một điều trở ngại. Chính vì điều đó, tôi chỉ có thể có được báo cáo 2 năm để phân tích và đưa ra kiến nghị cho hiện tại và những năm tới. Bởi chính bản thân đề tài: Do TTNN là công ty chuyên về thương mại nên tôi chỉ tiếp xúc được nhiều với loại hình kinh doanh này cộng thêm những kinh nghiệm về lĩnh vực sản xuất của gia đình nên không thể bao quát hết được tất cả các loại hình doanh nghiệp hiện tại. Và đề tài chọn lại chỉ tập trung vào doanh nghiệp thương mại mà thôi. Phương pháp nghiên cứu: Các số liệu được thu thập tại Phòng kế toán HC của công ty: - Bảng cân đối kế toán, Bảng kết quả hoạt động kinh doanh. - Tài liệu về nhiệm vụ chung kế toán. - Các chính sách quản lý công nợ. Phương pháp phân tích: - Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp thống kê, tổng hợp, đánh giá, phân tích số liệu các năm và các tháng trong năm. Năm được chọn phân tích là năm 2008. - Đồng thời sử dụng các kiến thức học được tại trường và thu thập qua việc đọc sách, báo, diễn đàn doanh nghiệp. Ngoài ra còn tham khảo một số ý kiến của các anh chị trong nghề. SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 5
  6. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Bố cục đề tài Đề tài bao gồm 4 chương với những khái quát như sau: - Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống quản lý công nợ. Trong chương này, tôi sẽ trình bày những lý thuyết cũng như cách thức thực hiện nghiên cứu đề tài. Ngoài ra, những phần giải thích những từ ngữ chính trong đề tài cũng sẽ được trình bày cẩn thận để giúp quý thầy cô cũng như người đọc đề tài này hiểu rõ hơn - Chương 2: Giới thiệu về công ty TNHH TM-DV Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN. Trong chương này chủ yếu giới thiệu về công ty tôi hiện đang thực tập. - Chương 3: Tình hình tổ chức hệ thống quản lý công nợ tại Cty TNHH TM-DV Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN. Thực tại của công ty hiện giờ sẽ được phân tích cũng như đề xuất tạm thời sẽ được miêu tả trong phần này - Chương 4: Nhận xét và đưa ra biện pháp. Những đề xuất được đưa ra cùng những ý kiến của chính những thành viên đã làm trong công ty cũng như lãnh đạo công ty đưa ra để có thể cải tiến chính hệ thống của công ty. Và phần kết thúc sẽ là kết luận về trường hợp của TTNN và đề xuất ý kiến chung cho doanh nghiệp SME đang hoạt động thương mại. SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 6
  7. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG NỢ. Mục tiêu của chương 1 sẽ giới thiệu về tổng quan bài báo cáo của tôi cũng như phương pháp tôi thực hiện bài báo cáo này. Đầu tiên tôi sẽ trình bày về những khái niệm cũng như các lý giải từng khoản mục mà tôi áp dụng do kiến thức học từ trường đại học cũng như học các khóa ngắn hạn cộng thêm kinh nghiệm từ quá trình thực tập. Tất nhiên trong quá trình thực hiện bài báo cáo, tôi có đọc qua các bài báo cũng như hỏi thêm về các kế toán và kiểm toán viên để thực hiện bài báo cáo này 1.1 Kế toán nợ phải thu khách hàng: 1.1.1. Khái niệm: Thuật ngữ “khoản phải thu” mô tả một phần vốn lưu động kinh doanh của doanh nghiệp bị các cá nhân và đơn vị doanh nghiệp khác chiếm dụng.Các khoản phải thu này được kỳ vọng sẽ được thu lại bằng tiền mặt. Các khoản phải thu này thường được phân chia ra nhiều khoản được mô tả chi tiết trong bảng cân đối kế toán. Khoản phải thu được chia thành hai khoản là dài hạn và ngắn hạn. Trong khoản phải thu ngắn hạn sẽ bao gồm phải thu khác hàng (TK131), trả trước cho người bán (TK132), phải thu nội bộ ngắn hạn (TK133), Các khoản phải thu ngắn hạn khác (TK135) và Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi (TK139). Trong phần dài hạn thì cũng chi tiết như phần ngắn hạn nhưng chủ yếu là các phần phải thu dài hạn khách hàng (TK211), Vốn kinh doanh ở các đơn vị trực thuộc (TK212), Phải thu nội bộ dài hạn (TK213), Phải thu dài hạn khác (TK218) và phần dự phòng phải thu dài hạn khó đòi (TK219). Nhưng trong khuôn khổ của bài báo cáo cũng như quy mô của công ty tôi đang thực tập, tôi sẽ gói gọn các phần trên thành phần chủ yếu là các khoản phải thu từ kinh doanh chính là TK131 mà thôi. Định nghĩa sơ qua về 2 phần trong các khoản phải thu từ kinh doanh. Khoản phải thu là các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp đối với khách hàng về giá trị hàng hóa sản phẩm đã bán hay các dịch vụ đã cung cấp chưa thu tiền. Hầu hết các khoản này sẽ được thu hồi trong từ 10 – 30 ngày tùy thuộc theo đàm phán của ban điều hành và khách hàng. Đây là phần quan trọng nhất trong công ty bên cạnh chiến lược kinh doanh của công ty. Thông phiếu phải thu (note receivable) là những chứng tứ tín dụng được đưa ra như là một ghi nhận về công nợ của công ty. Thông phiếu này thường xuất phát từ các khoản phải thu quá hạn chưa được trả sẽ chuyển thành thông phiếu này để gia hạn thêm thời gian trả nợ lên SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 7
  8. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân từ 60 – 90 ngày hoặc dài hơn và buộc bên nợ có thể phải trả lãi vay phát sinh (nếu quy định cụ thể trong hợp đồng). Cả hai gom lại sẽ trở thành khoản phải thu từ hoạt động kinh doanh. Nợ phải thu được hình thành khi công ty cho khách hàng mua nợ sản phẩm, dịch vụ. Đây là những sản phẩm dịch vụ mà bạn đã cung cấp cho khách hàng và đang chờ thanh toán trong tương lai. 1 Các khoản phải thu là tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng do các cá nhân hay doanh nghiệp khác chiếm dụng trong quá trình phát sinh giao dịch kinh tế, và phải trả lại cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải có trách nhiệm với các khoản phải thu này. Hay nói cách khác, khoản phải thu là tài sản thuộc quyền của doanh nghiệp nhưng còn đang nằm trong lĩnh vực thanh toán. Ví dụ như khoản phải thu khách hàng, khoản phải thu nội bộ, khoản thuế GTGT được khấu trừ, tiền trả trước cho người bán, khoản bồi thường, khoản tài sản thiếu chờ xử lý… 2 1.1.2. Nguyên nhân phát sinh tín dụng hay mua bán trả sau: Một thực tế là hầu hết tất cả công ty đều chọn việc mua bán và thanh toán bằng tiền mặt khi giao hàng bởi vì như vậy sẽ giúp công ty một mặt có được tiền mặt để duy trì hoạt động kinh doanh cũng như đơn giản hóa các thủ tục kế toán chỉ cần ghi thẳng vào sổ khi giao hàng và tiền về. Nhưng trong môi trường kinh doanh như chiến trường hiện giờ đã khiến việc mua trả sau này trở thành một công cụ hấp dẫn khuyến dụ khách hàng cũng như tạo thuận lợi cho khách hàng khi dòng tiền về chưa đáp ứng kịp thời. Ở đây cần có cách tiếp cận rộng hơn về lợi ích của các bên trong mua bán. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho khách hàng mà chính là bản thân của công ty. Càng hấp dẫn trong chính sách mua trả sau, càng thu hút nhiều khách hàng, và càng nhiều khách hàng đang có thì công ty sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn và có thị phần rộng hơn. Mua bán trả sau đã xuất hiện từ lâu trong môi trường kinh doanh khốc liệt hiện thời và đương nhiên nó trở thành một tiêu chuẩn khi chọn lựa nhà cung cấp sản phẩm cho công ty. 1.1.3.Một số vấn đề chung liên quan đến những khoản phải thu: 1.1.3.1. Nội dung: 1 Nguyên lý kế toán 2 Kế toán Mỹ - TS. Phan Đức Trung SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 8
  9. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Kế toán nợ phải thu là nghiệp vụ thống kê các tồn nợ giữa công ty và các đối tác có liên quan thực hiện giao dịch với nhau, dựa vào nghiệp vụ này mà công ty biết được khi nào có thể thu hồi nợ của đối tác và khả năng chi trả nợ tồn của công ty với các đối tác liên quan. 3 1.1.3.2. Nguyên tắc hạch toán: Kế toán phải thu khách hàng phải theo dõi chi tiết theo từng khách hàng, theo từng nội dung phải thu phát sinh để đáp ứng nhu cầu thong tin về đối tượng phải thu, nội dung phải thu, tình hình thanh toán và khả năng thu nợ. Mỗi giao dịch kinh doanh đều phải ghi lại chứng từ rỏ ràng được ghi lại bằng biên bản hay hợp đồng để chứng minh hoạt động của doanh nghiệp khi báo cáo với các tổ chức nhà nước như Cục thuế và báo cáo tài chính đến các chủ sỡ hữu của công ty (cổ đông nếu như công ty đã cổ phần hóa). Một quy trình đơn giản dành cho bán hàng thu tiền bao gồm 2 phát sinh: (phần chi tiết sẽ được đề cập sau)  Phần đầu tiên dành cho ghi nhận bán hàng: o Khoản phải thu sẽ được ghi bên Nợ (Debit) o Bên doanh thu bán hàng và dịch vụ sẽ ghi bên Có (Credit)  Nghiệp vụ thứ hai là phần ghi nhận Chi phí vốn hàng bán o Chi phí vốn hàng bán sẽ ghi bên Nợ o Hàng tồn kho sẽ bị giảm bên Có 1.1.3.3. Chứng từ kế toán: Hợp đồng, hóa đơn và các chứng từ có liên quan. Trong quá trình làm việc cũng như gặp gỡ các kiểm toán viên của các tổ chức kiểm toán nước ngoài như KPMG, PWC, Delloitte và E&Y đều cho thấy sự quan trong trong việc lưu giữ các chứng từ liên quan để bảo đảm tính trung thực của báo cáo cũng như giao dịch trong công ty. Thực tế cho thấy rằng nếu một hóa đơn hay biên lai bị thất lạc sẽ là vấn đề của các phòng ban và có khi sẽ dẫn đến thiệt hại to lớn cho công ty. Đặc biệt như công ty TTNN đã từng trải qua một trận cháy ở kho và quá trình làm lại các hóa đơn là một việc làm khó khăn và tốn nhiều thời gian cũng như tiền bạc để làm lại các chứng từ đó. 1.1.3.4. Tài khoản sử dụng: 3 Nguyên lý kế toán SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 9
  10. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Tuy nhiên trong quá trình hoạt động không phải lúc nào cũng được ghi nhận đơn giản như thế mà phát sinh ra những giao dịch khác. Chính vì điều này tôi xin trình bày sơ qua về quá trình ghi nhận TK131. Kế toán tổng hợp phải thu của khách hàng sử dụng TK 131 “Phải thu khách hàng”. Tài khoản này được dùng để phản ánh số tiền phải thu, đã thu, còn phải thu hoặc số tiền khách hàng ứng trước cho doanh nghiệp. 1.1.3.5. Kết cấu TK 131: Bên nợ: Số tiền phải thu của khách hàng. Bên có: Số tiền đã thu của khách hàng, số tiền giảm trừ cho khách hàng do chiết khấu, giảm giá và hàng bán bị trả lại, số tiền ứng trước cho doanh nghiệp. Dư nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng hoặc chênh lệch số tiền còn phải thu lớn hơn số tiền khách hàng ứng trước. Hoặc Dư có: Số tiền khách hàng hiện đang ứng trước hoặc chênh lệch số tiền khách hàng ứng trước lớn hơn số tiền còn phải thu. 1.1.3.6.Phương pháp hạch toán: a. Khi bán hàng, cung cấp dịch vụ và các khoản thu liên quan đến hoạt động tài chính, thu nhập khác nhưng chưa thu tiền của khách hàng, kế toán sẽ ghi: Nợ TK 131 Có TK 511 “ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” Hoặc Có TK 711 “Thu nhập khác” Hoặc Có TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính” Có TK 333 “Thuế GTGT đầu ra” Trường hợp thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc DN nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, kế toán sẽ ghi: Nợ TK 131 Có TK 511, 515, 711 SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 10
  11. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân b. Các khoản chiết khấu, giảm giá và hàng bán bị trà lại được giảm nợ cho khách hàng, kế toán sẽ ghi: - Khoản chiết khấu thanh toán: Nợ TK 635 “Chi phí tài chính” Có TK 131 - Khoản chiết khấu thương mại: Nợ TK 5211 “Chiết khấu thương mại” Có TK 131 - Khoản giảm giá theo hàng bán: Nợ TK 5213 “Giảm giá hàng bán” Có TK131 - Hàng bán bị trả lại: o Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: Nợ TK 5212 => Giá chưa có thuế Nợ TK 3331 => Thuế GTGT Có TK 131 o Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu: Nợ TK 5212 Có TK 131 c. Khi nhận tiền do khách hàng thanh toán, kế toán ghi: Nợ 111, 112 Hoặc Nợ TK 311, 315 => chuyển trả nợ vay Hoặc Nợ TK 331 => chuyển trả cho người bán Có TK 131 d. Khi nhận tiền do khách hàng ứng trước tiền mua hàng, kế toán ghi: Nợ TK 111, 112 Có Tk 131 Sau đó khi giao hàng cho khách hàng và ghi nhận doanh thu, kế toán ghi: Nợ TK 131 Có TK 511 (515, 711) => Giá chưa có thuế SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 11
  12. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Có TK 3331 => Thuế GTGT đầu ra Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTTT theo phương pháp trực tiếp hoặc chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, kế toán sẽ ghi: Nợ TK 131 Có TK 511 (515, 711) Khoản chênh lệch giữa số tiền khách hàng trả thanh toán và số tiền khách hàng đã ứng trước được theo dõi và xử lý trên TK 131. e. Khi thanh toán bù trừ giữa khoản phải thu và phải trả cho cùng 1 đối tượng (vừa mua hàng, vừa bán hàng), kế toán sẽ ghi: Nợ TK 331 Có TK 131 Ví dụ mô tả Để mô tả rõ hơn phần này, tôi đưa ra một ví dụ đã từng gặp ở công ty để có thể làm rõ về khái niệm hơn: Trong tháng 4, Tân Cảng mua 20 máy bộ theo hợp đồng mua bán với giá 4tr9 chưa VAT 5% và được hưởng chiết khấu trên giá là 1% dựa trên hợp đồng mua bán và biên bản nghiệm thu khách hàng. Nếu khách hàng thanh toán trước 7 ngày theo thời hạn hợp đồng sẽ được chiết khấu thanh toán 1% trên tổng giá trị mặt hàng sau thuế. Khi nhận hóa đơn khách hàng sẽ thanh toán bằng chuyển khoản hết 100% trị giá đơn hàng. Hóa đơn bán hàng GTGT được viết như sau: Máy bộ đơn giá bán là 4,900,000 đ *20 máy=98,000,000 đ Chiết khấu thương mại là 1%: 980,000 đ Cộng tiền hàng: 97,020,000 đ Thuế VAT 10%*50%: 4,851,000 đ Tổng giá trị: 101,871,000 đ Nghiệp vụ được hạch toán như sau: Khách hàng được chiết khấu thanh toán ghi nhận vào nợ vào tài khoản 5211 chiết khấu thương mại và ghi có vào tài khoản 131: Nợ 5211: 980,000 đ Có 131: 980,000 đ SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 12
  13. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Khách hàng mua hàng chưa thanh toán được ghi nhận nợ vào tài khoản 131 phải thu khách hàng và ghi có vào tài khoản 511 doanh thu bán hàng và ghi có vào 3331 thuế GTGT đầu ra: Nợ 131: 101,871,000 đ Có 511: 97,020,000 đ Có 3331: 4,851,000 đ Sau khi kiểm tra dựa trên biên bản nghiệm thu, khách hàng đã trả lại 1 bộ do hàng bị lỗi nên được ghi nhận nợ vào tài khoản 5212 hàng bán bị trả lại, ghi nhận nợ vào tài khoản 3331 thuế GTGT và ghi nhận có vào tài khoản 131 phải thu khách hàng: Nợ 5212: 4,851,000 đ Nợ 3331: 242,550 Có 131: 5,093,550 đ Khách hàng thanh toán bằng chuyển khoản vào ngày thứ 5 nên được cty chiết khấu thanh toán 1% ghi nhận nợ tài khoản 112 tiền gửi ngân hàng đồng thời ghi nhận nợ tài khoản 635 chi phí tài chính và ghi nhận có 131 phải thu khách hàng: Nợ 112: 95,809,675.5 đ Nợ 635: 967,774.5 đ Có 131: 96,777,450 đ SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 13
  14. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân 1.1.3.7. Sơ đồ kế toán tổng hợp phải thu khách hàng: Hình 1.1 Sơ đồ kế toán tổng hợp phải thu khách hàng Nguồn: webketoan.com 1.2. Kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi: Chúng ta thấy rằng khi mà công ty ghi nhận khoản phải thu thì một câu hỏi sẽ được đặt ra là những phần đó sẽ được ghi nhận vào bảng cân đối kế toán như thế nào đây? Bởi vì các khoản phải thu thường là những tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao có thể chuyển đổi ra tiền mặt một cách dễ dàng trong khoảng thời gian từ 30 – 60 ngày. Chính vì vậy, các khoản phải thu từ khách hàng thường xuất hiện trong phần tài sản ngắn hạn bảng cân đối kế toán của công ty. Nhưng chính phần quyết định bao nhiêu trong báo cáo mới là phần quan trọng vì trong phần các khoản phải thu có xuất hiện nợ khó đòi. 1.2.1. Khái niệm: SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 14
  15. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Nợ phải thu khó đòi là các khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán từ 2 năm trở lên , kể từ ngày đến hạn thu nợ được ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ, doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được nợ. Trường hợp đặc biệt, tuy thời gian quá hạn chưa tới 2 năm trở lên, kể từ ngày đến hạn thu nợ được ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ, doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được nợ. Dự phòng nợ phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu, có thể không đòi được nợ do đơn vị nợ hoặc người nợ không có khả năng thanh toán trong năm kế hoạch. 4 Tuy nhiên ta thấy việc định nghĩa không cho ta nhiều điểm thấy được sự quan trọng như trong báo cáo tài chính của công ty. Mỗi khách hàng trước khi muốn được mua “chịu” đều phải thỏa mãn được những điều kiện tín dụng của bên cung cấp. Mặc dù vậy, một vài khoản phải thu vẫn khó đòi. Điều dễ dàng thấy nhất trong tình hình kinh tế khủng hoảng này là cho dù một doanh nghiệp đạt chuẩn nợ của công ty cũng có thể phá sản bất cứ lúc nào nếu đưa ra một chiến lược sai hoàn toàn. Hoặc một khách hàng cá nhân mua hàng quen thuộc của công ty bị mất việc còn phải trả chi phí ăn ở của anh ta nữa cũng là mục tiêu của nợ khó đòi. 1.2.2. Một số vấn đề liên quan đế nợ phải thu khó đòi: 1.2. 2.1. Nội dung: Việc gia tăng các khoản nợ khó đòi thường phụ thuộc vào mức độ rủi ro mà các nhà quản trị sẵn sang chấp nhận. Chẳng hạn, nhiều công ty nhỏ sẽ có mức chấp nhận rủi rủi ro thấp hơn so với các công ty có tầm cỡ như Abbot chẳng hạn. Việc gia tăng các khoản nợ khó đòi tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Ví dụ như công ty TTNN chịu khoản nợ khó đòi tương đương khoản 10% doanh thu. Căn cứ để được ghi nhận là một khoản nợ phải thu khó đòi là:  Nợ phải thu quá hạn thanh toán ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ, bản cam kế hợp đồng hoặc cam kết nợ, doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được.  Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng khách nợ đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể, mất tích hay bỏ trốn. 4 Thông tư 107/2001/TT-BTC SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 15
  16. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Vào cuối niên độ, trước khi lập báo cáo tài chính, nếu doanh nghiệp có những bằng chứng và căn cứ xác định có những khoản khó đòi hoặc không thể thu hồi được thì được lập dự phòng. Khoản lập dự phòng được xác định riêng cho từng khoản nợ phải thu và sau đó tổng hợp thành số cần phải dự phòng. Nếu cuối niên độ trước đã lập dự phòng rồi thì cuối niên độ này sau khi đã xác định được số cần lập dự phòng thì yêu cầu lập dự phòng được thực hiện như sau:  Số cần lập > Số dư khoản lập dự phòng của niên độ trước. Doanh nghiệp cần phải dự phòng bổ sung khoản chênh lệch.  Số cần lập < Số dư khoản lập dự phòng của niên độ trước. Doanh nghiệp cần phải hoàn nhập khoản chênh lệch. 1.2.2.2. Hai cách thông dụng thường được dùng để ghi nhận cho những tài khoản không thu được: 1.2.2.2.1.Phương pháp thanh lý (wirte-off) cho những tài khoản không thu được: Khi mà có một tài khoản nào được công ty quyết định là đã không thu được, khoản lỗ đó sẽ được tính cho tài khoản chi phí nợ xấu. Và sẽ được ghi như sau: Chi phí nợ xấu tăng bên Nợ Khoản phải thu giảm bên Có Bằng cách này, chi phí nợ xấu sẽ chỉ ghi nhận những thiệt hại thật sự từ các khoản thu không thu được. Và đương nhiên là khoản phải thu sẽ được ghi số gộp sau khi giảm xuống. Nếu nhìn từ khía cạnh phân tích quản lý tài chính công ty, ta thấy được nó sẽ giảm những tiện ích khi lập nên bảng báo cáo cân đối kế toán và bảng kết quả hoạt động kinh doanh mặc dù cách làm này thường được xem là đơn giản nhất. Thêm vào đó ta cũng ghi nhận rằng cách ghi này khiến ta nhận thức sai lệch về thời điểm khoản nợ khó đòi xuất hiện, thường sẽ khác rất nhiều so với thời điểm lập bảng báo cáo tài chính mà doanh thu cho khoản nợ đó xuất hiện và dẫn đến là chi phí này với doanh thu chẳng ăn nhập gì với nhau sẽ khiến cho các cổ đông gặp vấn đề xác định nợ xấu vì họ thường thiếu thông tin (đặc biệt đối với công ty cổ phần và đã lên sàn). Chính vì lẽ đó, cách ghi thanh lý trực tiếp này sau này không được công nhận khi lập nên báo cáo tài chính cho chủ sỡ hữu. 1.2.2.2.2.Phương pháp dự phòng các khoản không thu được: Phương pháp trích dự phòng này chủ yếu sẽ ước lượng những khoản không có khả năng thu được tại thời điểm cuối kỳ báo cáo. Đây là phương pháp hữu ích để sữa khuyết điểm của SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 16
  17. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân phương pháp trên. Hiện nay được hầu hết các công ty sử dụng bởi vì nó bảo đảm được tính kết hợp giữa chi phí và doanh thu trong kỳ cộng thêm là khoản phải thu sẽ được phản ánh bằng con số ước lượng thu được bằng tiền mặt. Và chính vì không bao gồm các khoản không thu được cho nên con số khoản phải thu sẽ giảm bằng đúng với dự phòng mà chúng ta đã ước lượng sẽ được thể hiện rõ trong báo cáo kiểm toán. 1.2.2.3.Nguyên tắc hạch toán: Kế toán nợ khó đòi chịu sự chi phối của nguyên tắc kết hợp tương ứng giữa chi phí và doanh thu – chi phí nợ xấu cần thiết phải ước tính vào chi phí trong niên độ phát sinh chi phí bán chịu. Chi phí nợ xấu xxx Dự phòng nợ khó đòi xxx 1.2.2.4.Tài khoản sử dụng: Kế toán dự phòng khoản thu khó đòi sử dụng tài khoản 1592 “dự phòng khoản phải thu khó đòi”. Kết cấu của tài khoản này như sau: Bên nợ: Số được hoàn nhận dự phòng phải thu khó đòi. Bên có: Số dự phòng phải thu khó đòi được lập tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp. Dư có: Khoản dự phòng phải thu khó đòi hiện có. Ngoài ra kế toán còn sử dụng tài khoản ngoài bảng là TK 004 “Nợ khi đã xử lý”. Kết cấu tài khoản này như sau: Bên nợ: Nợ khó đòi đã được xử lý phát sinh trong kỳ. Bên có: Nợ khó đòi đã được xử lý được thu lại được và được xóa bỏ trong kỳ. 1.2.2.5.Sơ đồ kế toán dự phòng phải thu khó đòi: SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 17
  18. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Hình 1.2 Sơ đồ kế toán dự phòng phải thu khó đòi Nguồn: webketoan Phương pháp dự phòng này thường được sữ dụng trong bảng báo cáo tài chính phục vụ cho cổ đông khi mà chi phí nợ xấu ngày nay đang là vấn đề nghiêm trọng khi kinh tế suy thoái và đối tác “không thể trả nợ” (chứ không phải là không muốn trả nợ). Như quá trình ở trên đã trình bày rõ thì cách ghi này có 3 yếu tố chính cần lưu ý:  Các khoản phải thu khó đòi chúng ta cần phải ước lượng. Và cách ước lượng này được xem như là một chi phí do đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận cuối cùng của công ty. Cho nên khi lập bảng ước lượng cần phải chú ý vì có thể công ty lập dự phòng cao sẽ khiến lợi nhuận cuối kỳ thấp dẫn đến công ty sẽ không hấp dẫn dưới mắt các nhà đầu tư (đối với các công ty cổ phần). Ngược lại, một dự phòng ước lượng thấp sẽ giúp lợi nhuận cao nhưng lại đưa thêm rủi ro đối với các khoản phải thu khó đòi khác.  Khoản dự phòng sẽ nằm bên Nợ trong tài khoản chi phí nợ xấu và bên Có bên tài khoản Dự phòng cho các khoản nợ xấu (một tài khoản đối ứng lại). SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 18
  19. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân  Cuối cùng khi đã xác định thanh lý khoản nào trong nọ xấu đó, thì khoản nợ xấu khó đòi thật sự sẽ được ghi vào bên Nợ của Dự phòng nợ khó đòi và phần Có bên Các khoản phải thu. Để làm rõ hơn phần này, ta sẽ đưa ra một ví dụ sau. Giả sử như TTNN bán hàng chịu là 4 tỉ VND trong năm 2008. Với khoản này thì vào báo cáo kế toán cuối kỳ công ty thấy rằng 300 triệu vẫn chưa thu được. Cuối cùng, kế toán trưởng quyết định trình lên Ban giám đốc là sẽ có khoảng 100 triệu trong tổng số doanh số bán chịu này sẽ không thu được. Như vậy sau khi bán giám đốc đồng ý, kế toán sẽ ghi nhận khoản ước lượng 100 triệu này như sau:  Chi phí nợ xấu là 100 triệu VND bên Nợ  Dự phòng nợ khó đòi sẽ tăng lên 100 triệu VND bên Có Chúng ta thấy rằng dự phòng này chỉ đưa ra nhằm nói lên con số ước tính cho khoản mà khách hàng có thể không trả được trong tương lai. Cách này được dùng để tránh phải trừ trực tiếp vào khoản Khoản phải thu vì chẳng ai biết khách hàng nào chính xác sẽ không trả nợ và lấp được những khoản trống mà phương pháp thanh lý để lại mặc dù về cơ bản thì hai phương pháp cùng làm giảm khoản phải thu. Trong cách dự phòng này thì không công ty nào hi vọng mình sẽ có nợ xấu nhưng khi đã xuất hiện thì chúng ta phải làm những thao tác kế toán như khi nào thì ghi là nợ xấu và ghi nhận như thế nào khi khách hàng mà chúng ta liệt kê vào nợ xấu có thể vượt qua cơn khủng hoảng để thanh toán nợ lại cho chúng ta (trường hợp trên không phải lúc nào cũng xãy ra). 1.2.3.Thanh lý phần công nợ khi xác định được khách hàng nào không thể trả nợ: Trong quá trình đòi nợ, công ty thường dùng các phương pháp khác nhau như lập biên bản nhắc nợ, gọi điện đến lãnh đạo đối tác và cuối cùng là đưa ra tòa án kinh tế. Trong phần sau, tôi sẽ đề cập nhiều hơn về vấn đề này, bây giờ thì ta tiếp tục sau khi các biện pháp đó không còn hữu dụng nữa. Lúc đó công ty buộc phải thanh lý tài khoản đó. Cho rõ hơn, tôi đưa ra một ví dụ như sau: Kế toán trưởng công ty TTNN nhận được quyết định của Ban giám đốc về quyết định thanh lý khoản nợ 200 triệu của công ty AAA. Thì nghiệp vụ kế toán sẽ ghi nhận như sau  Phần Dự phòng nợ khó đòi sẽ giảm 200 triệu bên Nợ  Khoản phải thu phải giảm 200 triệu bên Có. SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 19
  20. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Cô Trương Thị Thúy Vân Ta thấy rằng với biện pháp này thì không xuất hiện chi phí nợ xấu khi buộc phải thanh lý mà chỉ làm giảm cả hai bên Dự phòng nợ khó đòi và phần Khoản phải thu mà thôi. Chính vì vậy, chỉ có bảng cân đối kế toán bị ảnh hưởng (mặc dù con số chung vẫn không thay đổi) chứ không ảnh hưởng gì đến bảng kết quả hoạt động kinh doanh. 1.2.3.Thanh lý phần công nợ khi xác định được khách hàng nào không thể trả nợ: May mắn thay, trong quá trình hoạt động vẫn có những công ty vượt qua khó khăn và thanh toán nợ cho chúng ta khi họ đã bị ghi là nợ xấu. Khi đó, nghiệp vụ kế toán sẽ ghi hai khoản liên quan như sau: phục hồi lại tài khoản cho khách hàng và làm động tác kế toán ngược lại như với phần thanh lý. 1.2.3.2.Những điều cơ bản dành cho phương pháp trích lập dự phòng: Sau khi đã nói sơ qua những khoản như trên, thì tôi xin được đề cập đến những điều cơ bản của việc trích lập dự phòng này. Theo lý thuyết của các cách quản lý hiện đại của phương Tây, có hai cách thường được sữ dụng dựa vào hai con số xác định: phần trăm của doanh số và phần trăm của khoản phải thu. Trong báo cáo tài chính thì cả hai đều được chấp nhận và điều quan trọng nằm trong tay Ban giám đốc xem cách nào là phù hợp (giống như phần trích lập dự phòng cho đầu tư tài chính ngắn hạn là đề tài nóng hổi trong các cuộc họp đại hội cổ đông của các công ty lên sàn vừa qua mà REE là một ví dụ). Vấn đề nằm ở chổ là Ban giám đốc sẽ chọn xem ảnh hưởng này dựa trên báo cáo thu nhập hay bảng cân đối kế toán. 1.2.3.2.1.Tính nợ khó đòi theo phần trăm của doanh thu (revenue hoặc sales): Theo cách tính nợ khó đòi theo phần trăm của doanh thu, nghiệp vụ kế toán sẽ tính toán dựa trên phần trăm của doanh thu mua chịu mà công ty (loại phần mua bán trả tiền ngay ra). Hầu như phần trăm bao nhiêu sẽ dựa vào các dữ liệu quá khứ cũng như chính sách ước lượng cho tương lai. Nó có thể dựa theo doanh số bán chịu gộp hay ròng cũng được trong năm kinh doanh hiện tại. Bởi vì kinh tế thế giới có những biến động bất ngờ mà chúng ta không thể dự báo được cho nữa năm (một phần vì các công ty không có đầy đủ thông tin cũng như chuyên nghiệp như các quỹ đầu tư để dự báo chuyện này) nên có thể công ty vẫn đưa ra dự báo tương lai để điều chỉnh lại phần trăm mà con số quá khứ cho ra. SV Nguyễn Thị Ngọc Bích – Lớp 06CQT2 Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản