Đề tài: Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hoá của người Chăm

Chia sẻ: labauxanh

Người Chăm là một trong 54 dân tộc ở nước ta, thuộc hệ ngôn ngữ Mã lai-Nam Đảo (Austronesien). Từ thế kỷ II, sau khi đánh đổ ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, người Chăm đã lập nên vương quốc riêng của mình, trải dài từ đèo Ngang đến Nam Trung Bộ.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài: Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hoá của người Chăm

 

  1. Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hoá của người Chăm (Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên trường đại học văn hoá TP. HCM) LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành đề tài này nhóm chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả cá cơ quan, quí cấp, các tổ chức, các tập thể đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ. Về phía các cơ quan, quí cấp, tổ chức, tập thể xin cảm ơn:Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Thuận, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm tại Ninh Thuận, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Ninh Thuận, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Tp.Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học xã hội Tp.Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Quốc gia Tp.Hồ ChÍ Minh, Thư viện Trường Đại học Văn hóa Tp.Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Văn Hiến, Thư viện Trường Đại học Sài Gòn, Thư viện Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Tp.Hồ Chí Minh, Khoa Quản Lý Văn hóa-Nghệ thuật, Khoa Văn hóa học, Khoa Di sản văn hóa, Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số (Đại học Văn hóa Tp.Hồ Chí Minh), Câu lạc bộ Nghiên cứu khoa học, Tập thể lớp Đại học Quản Lý Văn hóa 3B Về phía cá nhân xin cảm ơn: Lời đầu tiên xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Lê Hoàng Quân đã tận tình hướng dẫn nhóm chúng tôi làm để tài. Ngoài ra xin cảm ơn các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học như GS Phạm Đức Dương, GS Phan Đăng Nhật, TS Phan Quốc Anh, TS Phú Văn Hẳn, TS Thành Phần, Th.Sĩ Trương Văn Món- Sakaya, Nhà thơ Inrasara và các giảng viên như TS Đậu Thị Ánh Tuyết, TS Nguyễn Văn Hiệu, TS Nguyễn Văn Thắng, Th.Sĩ Nguyễn Ngọc Thơ, Th.Sĩ Lưu Hoàng Chương, Th.Sĩ Lâm Nhân, Th.Sĩ Hứa Sa Ni, các sinh viên như Nguyễn Hồ Phong, Đặng Thị Phương Uyên, Nguyễn Thị Trà Giang lớp Đại học Quản Lý Văn hóa 1 Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn. M ỤC L ỤC
  2. Trang Lời cảm ơn 1 Mục lục 2 Phần mở đầu 4 1. Tính cấp thiết của đề tài 4 2. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu. 5 3. Lịch sử vấn đề 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10 6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 11 7. Bố cục đề tài 11 Chương1.Tổng quan về Ninh Thuận 12 1.1. Điều kiện tự nhiên 12 1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 12 1.3. Văn hóa truyền thống của nguoi Chăm ở Ninh Thuận. 15 1.3.1. Lịch sử hình thành người Chăm 15 1.3.2. Đôi nét về người Chăm ở Ninh Thuận 17 1.3.3. Văn hóa truyền thống người Chăm tại Ninh Thuận 19 Chương 2. Những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người Chăm ở Ninh Thuận 25 2.1. Khái quát chung về tin ngưỡng phồn thực. 26 2.1.1. Các khái niệm cơ bản 26 2.1.2. Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng phồn thực 30 2.1.3. Những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa Việt Nam 35 2.2. Tín ngưỡng phồn thực với Bàlamôn giáo. 39
  3. 2.2.1. Sơ lược về Bàlamôn giáo 39 2.2.2. Tín ngưỡng phồn thực với Bàlamôn giáo 42 2.3. Những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người Chăm ở Ninh Thuận 45 2.3.1. Biểu hiện dưới hình thức thờ các biểu tượng 45 2.3.2. Thờ nữ thần phồn thực 47 2.3.3. Biểu hiện qua lễ hội 51 2.3.4. Biểu hiện qua kiến trúc, điêu khắc 58 2.4.5. Biểu hiện qua nghi lễ vòng đời 61 Chương 3. Tín ngưỡng phồn thực với sự giao lưu văn hóa 66 3.1. So sánh với tín ngưỡng phồn thực của các dân tộc khác. 66 3.2. Tín ngưỡng phồn thực với giao lưu văn hóa. 69 3.3. Những giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá trong tín ngưỡng phồn thực 70 Phần kết luận 79 Tài liệu tham khảo 81 Ảnh minh họa 89 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Người Chăm là một trong 54 dân tộc ở nước ta, thuộc hệ ngôn ngữ Mã lai-Nam Đảo (Austronesien). Từ thế kỷ II, sau khi đánh đổ ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, người Chăm đã lập nên vương quốc riêng của mình, trải dài từ đèo Ngang đến Nam Trung Bộ. Trải qua hàng ngàn năm, họ đã sáng tạo được một nền văn hóa rực rỡ, độc đáo, trên cơ sở của nền văn hóa bản địa kết hợp với văn hóa khu vực và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ. Đó chinh là văn hóa Chămpa, một trong những nền văn hóa cổ, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt
  4. Nam. Ngày nay, người Chăm sống chủ yếu tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và rải rác ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Tây Ninh, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Tp.Hồ Chí Minh. Tín ngưỡng phồn thực một nét văn hoá độc đáo của các dân tộc nông nghiệp. Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực gắn liền với nền văn minh nông trồng lúa nước. Người Chăm cũng có tín ngưỡng phồn thực nhưng đặc điểm lịch sử-xã hội của người Chăm có những mối liên hệ mật thiết với văn hóa Ấn Độ. Vì vậy, tín ngưỡng phồn thực Chăm là biểu hiện đặc sắc của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa văn hóa bản địa Chăm với văn hóa khu vực và văn hóa Ấn Độ. Người Chăm ở Ninh Thuận một bộ phận của người Chăm ở vùng Duyên hải miền Trung đặc biệt người Chăm Bàlamôn tín ngưỡng phồn thực khá nổi bật. Trong đời sống văn hóa của người Chăm nơi đây rất ít người nghiên cứu về tín ngưỡng phồn thực của họ nên chúng tôi chọn “Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người Chăm ở Ninh Thuận” làm đề tài nghiên cứu. Việc nghiên cứu “Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người Chăm Ninh Thuận” sẽ giúp ta có cái nhìn rõ ràng hơn, sâu hơn về tín ngưỡng dân gian để từ đó rút ra những giá trị văn hóa tốt đẹp, góp phần làm phong phú nền văn hóa nước nhà. 2. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu - Bảo tồn, giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá trong tín ngưỡng phồn thực của người Chăm. - Góp phần tìm hiểu văn hóa Chăm và văn hóa Việt Nam trong cơ tầng văn hóa Đông Nam Á. - Tăng thêm nguồn tài liệu cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hoá. 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài của nhóm chúng tôi tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau: - Đi sâu vào tìm hiểu tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa Chăm. - Phân tích những yếu tố tích cực và tiêu cực đến tín ngưỡng phồn thực và công
  5. việc bảo tồn, giữ gìn, phát huy loại hình tín ngưỡng này. - Đi tìm mối liên hệ giữa tín ngưỡng phồn thực của người Chăm với các dân tộc khác. 3. Lịch sử vấn đề Văn hoá Chăm từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như Ngô Văn Doanh, Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên, Phan An, Phan Xuân Biên, Phan Quốc Anh, Phú Văn Hẳn, Thành Phần, Trương Văn Món- Sakaya,….Và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hoá xã hội Chăm ra đời. Về người Chăm ở Ninh Thuận đặc biệt vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tín ngưỡng phồn thực Chăm vẫn còn mang tính chất khiêm tốn. Chúng tôi xin đưa ra một số công trình, một số bài viết đã đuợc xuất bản và công bố trên các tạp chí. Các công trình đã đuợc xuất bản GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm với công trình: “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”, Nxb Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh (1996/2004) và “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, Nxb Giáo dục (1999). Đây là hai công trình chứa đựng đầy tâm huyết của tác giả về văn hoá của Việt Nam trong đó có tín ngưỡng và tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam nói chung. GS.TS.Ngô Đức Thịnh với công trình: “Tín ngưỡng, văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội (2001). Đây là công trình nghiên cứu sâu về các hình thức tín ngưỡng dân gian trong đó có viết về tín ngưỡng phồn thực. PGS.TS.Ngô Văn Doanh với công trình “Văn hoá cổ Chămpa”, Nxb Văn hoá dân tộc (2002); PGS.TS Phan An, Phan Xuân Biên, Phan Văn Dốp với công trình “Văn hoá Chăm”, Nxb Khoa học xã hội (1991) và “Người Chăm ở Thuận Hải”, Sở Văn hoá-Thông tin Thuận Hải (1989); PGS.TS. Lê Ngọc Canh và Th.s Tô Đông Hải “Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm” (1995), TS. Phan Lạc Tuyên “Nông nghiệp cổ truyền của đồng bào Chăm Thuận Hải”; NSND Đặng Hùng “Bước đầu tìm hiểu múa cung đình Chăm”, Trung tâm Văn hoá dân tộc Tp.HCM (1998); Nhà nghiên cứu Inrasara với các công trình “Văn học Chăm-Khái luận- Văn tuyển”, Nxb Văn hoá dân tộc (1994), “Các vấn đề văn hoá xã hội Chăm”,
  6. Nxb Văn hoá dân tộc (1999); Th.s Trương Văn Món “Lễ hội của người Chăm”. Đó là những công trình nghiên cứu có chiều sâu về văn hoá xã hội, nghệ thuật của người Chăm vùng Ninh Thuận và Bình Thuận. Tác giả Phan Quốc Anh với công trình “ Những nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahêir ở Ninh Thuân” do Nxb Văn hóa dân tộc,(2006). Công trình này chỉ nhắc đến biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong nghi lễ tang ma, hôn nhân, sinh để chứ không nghiên cứu sâu. Tập thể tác giả gồm PGS.TS.Phan An, Phan Xuân Biên, Phan Văn Dốp trong công trình “Người Chăm ở Thuận Hải” và công trình “Văn hóa Chăm” do Nxb Văn hoá dân tộc và Sở Văn hoá-Thông tin Thuận Hải xuất bản cũng có nhắc đến tín nguỡng dân gian của người Chăm trong đó có tín ngưỡng phồn thực nhưng chỉ nêu lên một số biểu hiện mà thôi. Tác giả Văn Món-Sakaya trong công trình “Lễ hội của người Chăm” doNxb Văn hoá dân tộclà công trình nghiên rất sâu về các lễ hội của người Chăm ở Ninh Thuận trong đó có lễ hội Rija Nưgar. Trong phần viết về lễ hội này tác giả mô tả biểu hịện của tín ngưỡng phồn thực rất rõ. PGS.TS.Ngô Văn Doanh trong công trình “Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm” doNxb Văn hoá dân tộc xuất bảncũng có nhắc đến biểu hiện phồn thực trong các điệu múa trong lúc hành lễ. Các bài viết trên các tạp chí Tác giả Nguyễn Văn Hậu trong bài viết “Biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội nông nghiệp cổ truyền ở Việt Nam và Đông Nam Á” đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 9, 1999 đã nêu lên một số biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực nhưng chỉ trong lễ hội và mang tính khái quát ở Việt Nam và Đông Nam Á chứ chưa đi sâu về hình thức tín ngưỡng này. Bài viết “Tín ngưỡng phồn thực Việt Nam trong dòng chảy văn hóa Đông Nam Á qua các lễ hội nông nghiệp” của tác giả Vũ Anh Tú đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 9 năm 2008. Trong bài viết này tác giả đã cho thấy được nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng phồn thực gắn liền với nông nghiệp đồng thời
  7. nhấn mạnh vị trí, vai trò của hình thức tín ngưỡng này trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa Đông Nam Á nói chung. Bài viết “Tín ngưỡng phồn thực trong dấu ấn mỹ thuật-dấu ấn một bình diện văn hóa Việt Nam” của tác giả Đỗ Lai Thúy là bài viết mô tả các biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong mỹ thuật cụ thể trong trạnh vẽ và trong các bức tượng. Qua đó tác giả đã phần nào cho thấy được những giá trị văn hóa của nó trong văn hóa Việt Nam và xem nó như một bình diện của văn hóa Việt. Tạp chí Di sản đăng trên tờ Vietnam Association of Ethnology vào ngày 20 tháng 2 năm 2006 trong bài viết “Ngày tết ở Việt Nam và Đông Nam Á( Số1/14/2006) có nói về tính phồn thực của người Lào, người Thái dùng nước làm biểu tượng cho sự sống và là nguồn lực khơi nguồn cho sự sinh sôi nảy nở. Bài viết đã mô tả rất kĩ những động tác dùng nước để thể hiện ước vọng phồn thực và thể hiện qua các lễ hội, qua tượng thờ Linga và Yoni, qua hành động giao phối của các nghi lễ nông nghiệp,… Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật với bài viết “Tín ngưỡng phồn thực qua trò diễn hội làng Châu thổ Bắc Bộ” số 12(258)/2005 của tác giả Đỗ Lai Thúy đã nêu lên biểu hiện của tính phồn thực qua trò chơi dân gian ở làng Danh Hựu xã Cố Tiết (Tam Nông, Phú Thọ) và người dân Sơn Đồng (Quốc Oai, Hà Tây). Bài viết cho ta thấy được rằng tín ngưỡng phồn thực được thể hiện ở khắp nơi và ăn sâu vào tiềm thức của các cư dân nông nghiệp. Tác giả Nguyễn Văn Linh với công trình: “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa truyền thống Chăm ở Ninh Thuận”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Văn hóa tại chức khóa 6 trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tháng 5/2005. Tác giả đã nghiên cứu về quả trình hình thành và phát triển của loại hình múa Chăm truyền thống qua các lễ hội. Trong lễ hội Rija Nưgar đã đề cập đến điệu múa phồn thực một cách khái quát nhất. Bài viết “Tín ngưỡng phồn thực” được trích trong “Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội Chăm” của nhà nghiên cứu Văn Món-Sakaya đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5 năm 2007. Trong bài viết này tác giả đã cho thấy những biểu hiện
  8. của tín ngưỡng phồn thực Chăm trong các lễ hội truyền thống, trang phục, đền tháp. Mỗi lĩnh vưc có mỗi biểu hiện riêng nhưng tác giả tập trung đi sâu vào lễ hội Rija Nưgar. Qua đó cho thấy được tác giả đã phần nào nhắc đến biểu hiện của tín ngưỡng này trong đời sống vật chất và tinh thần nhưng còn hạn chế. Tác giả Nguyễn Thị Nhung với bài viết “Tín ngưỡng phồn thực của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận” đăng trên Diễn đàn văn hoá học vào ngày 31 tháng 3 năm 2008. Tác giả đã lập đề cương sơ bộ nghiên cứu về tín ngưỡng phồn thực của người Chăm dưới góc độ văn hoá học, nghiên cứu những biểu hiện của nó trong đời sống gia đình, nông nghiệp, lễ hội. Đề cương đã phần nào khái quát những biểu hiện chung của hình thức tín ngưỡng này trong đời sống của người Chăm Trước tình hình đó việc nghiên cứu tín ngưỡng phồn thực là việc làm cần thiết và đề tài “Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người Chăm ở Ninh Thuận” vẫn còn điểm trống trong lịch sử nghiên cứu. Nhìn chung thì các công trình, các bài viết ấy đã phần nào cho thấy được những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống thường ngày của người Chăm nói riêng và người Việt nói chung. Từ công trình, bài viết đó đã tạo cơ sở, nền tảng vững chắc nhất để chúng tôi có cái nhìn khái quát hơn về nó, từ đó bắt tay vào nghiên cứu trong đời sống văn hóa người Chăm một cách tốt hơn. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng phồn thực của người Chăm theo đạo Balamon 4.2 Phạm vi nghiên cứu + Thời gian nghiên + Các làng Chăm tại tỉnh Ninh Thuận 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Tín ngưỡng dân gian là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân gian là nơi bảo lưu rất nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc như phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ
  9. hội…Do đó nghiên cứu “Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người Chăm” chính là góp phần vào việc đi sâu, tìm hiểu văn hóa Chăm trong việc nghiên cứu về văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á. Đảng và Nhà Nước ta đã xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của văn hóa trong tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Điều đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết Trung ương Đảng số 05 khóa VIII: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong khi đó: Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu “Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa của người Chăm” không chỉ nghiên cứu về văn hóa mà còn xem xét, đánh giá nó trong tình hình phát triển kinh tế, xã hội và sự giao lưu, hội nhập với văn hoá khu vực và quốc tế. Đồng thời, ta có thể hiểu được những giá trị của nó dưới góc độ là di sản văn hóa phi vật thể Chăm. 6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6.1. Phương pháp luận Ở đây chúng tôi chọn phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp luận cho đề tài. Ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu dựa theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng. 6.2. Phương pháp nghiên cứu Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp: - Phương pháp xã hội học văn hóa: đây là phương pháp thường dùng trong việc nghiên cứu các hiện tượng văn hóa dưới góc độ xã hội học. Nó thường vạch ra vai trò và mức độ ảnh hưởng của văn hóa đối với mỗi địa phương mỗi cộng đồng. Ở đây trong phương pháp này chúng tôi sử dụng dưới hai hình thức: + Về mặt định tính: sử dụng các phương pháp như quan sát, tham dự; phương pháp điền dã, nghiên cứu thực tế; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học. + Về mặt định lượng: sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, lập bảng hỏi, thu
  10. thập số liệu trên sách, báo, internet.. - Phương pháp liên ngành: đây là phương pháp kết hợp nhiều chuyên ngành khác nhau để nghiên cứu như dân tộc học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, .. vì các hiện tượng văn hóa luôn đa dạng , phong phú và bao trùm lên tất cả các mặt của đời sống xã hội. 7. Bố cục đề tài Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo đề tài có kết cấu 3 chương. Chương 1 : Tổng quan về Ninh Thuận. Chương 2 : Những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người Chăm ở Ninh Thuận. Chuơng 3: Tín ngưỡng phồn thực với sự giao lưu văn hóa. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NINH THUẬN 1.1.Điều kiện tự nhiên 1.1.1.Vị trí địa lý Ninh Thuận là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ có tọa độ địa lý 11018‘14’’ đến 120 09’15’’ vĩ độ Bắc, 1080 09’08’’ đến 1090 14’25’’ kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 1385 km. Phía Bắc giáp với Khánh Hòa, giáp với Bình Thuận ở phía Nam, Lâm Đồng ở phía Tây, phía Đông giáp với biển Đông. Hiện nay, tỉnh Ninh Thuận gồm có các đơn vị hành chính sau: thành phố Phan Rang- Tháp Chàm và các huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước. Tỉnh có diện tích tự nhiên là 3.360.1 km chiếm 1,045% tổng diện tích của cả nước, có các đường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 1A, quốc lộ 27, đường sắt thống nhất Bắc Nam.[1] 1.1.2.Địa hình Ninh Thuận có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bởi vì đây chính là vùng đất cuối của dãy Trường Sơn với nhiều dãy núi đâm ra biển. Lãnh thổ của tỉnh được bao bọc bởi ba mặt núi. Phía Bắc và phía Nam là hai dãy núi chạy sát ra biển, phía Tây là vùng núi cao giáp với tỉnh Lâm Đồng. Giữa tỉnh và
  11. ven biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh vùng “Viễn tây” của Việt Nam. Ngoài ra tỉnh còn có ba dạng địa hình chính đó là: núi, đồi gò bán sơn địa và vùng đồng bằng ven biển. Trong đó, vùng núi chiếm 63,2% diện tích toàn tỉnh chủ yếu núi thấp, cao trung bình từ 200m đến 1000m so với mặt nước biển. Vùng đồng bằng chiếm 22,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh là địa hình bằng phẳng có độ cao dưới 20 m. Hơn nữa, nơi đây còn có nhiều sông suối lớn như sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông Lu, sông Quau nhưng sông Cái là lớn nhất, hệ thống sông Cái có chiều dài 246m. Bên cạnh đó còn có một số sông khác như sông Trâu, sông Quan Thư, sông Bà Râu với tổng chiều dài 184m. Nhiều nhà địa lý học xem Ninh Thuận như “vùng sa thảo độc nhất vùng Đông Nam Á Châu”.[2]Nhin chung trên đại thể, địa thế tỉnh Ninh Thuận giống như một cái chảo, ba phía bắc, tây, nam và một nửa phía Đông bị núi non bao quanh chỉ còn độ một nửa phía đông từ sông Hán đến Ninh Chữ thông ra biển, ở giữa đồng bằng khá rộng. Cao độ giữa đồng bằng và núi bao quanh sai biệt nhau từ 500 m đến 1000 m [60; tr. 62]. 1.1.3.Khí hậu Tỉnh Ninh Thuận có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng khô nóng, gió nhiều bốc hơi mạnh từ 600mm đến 1287mm/năm. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 700-800 mm (Riêng ở Phan Rang luôn tăng dần theo độ cao lên đến 11000m ở vùng núi). Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau với nhiệt độ trung bình hàng năm 270c. 1.2. Điều kiện kinh tế xã hội Về dân số và nguồn lao động: theo điều tra dân số năm 2005 dân số của tỉnh Ninh Thuận là 565.000 người, dự báo đến năm 2010 có khoảng 614.000 người trong đó
  12. dân số đô thị chiếm 34,2%. Mật độ dân số trung bình 166 người/km2 phân bố không đồng đều tập trung chủ yếu ở đồng bằng ven biển gồm ba tộc người chính: Kinh chiếm 78%, Chăm chiếm 12%, Ragiai chiếm 9% còn lại là các tộc người khác. Với số lượng dân số như vậy nên Ninh Thuận có một nguồn lao động dồi dào đảm bảo đáp ứng thị trường lao động trong tỉnh. Về giáo dục đào tạo, y tế: ngày nay hệ thống giáo dục phổ thông và nội trú đã hình thành ở tất cả các huyện, thị xã. Các trường đào tạo gồm có Trường Cao đẳng Sư phạm, Trường Chính trị, Trung tâm Đại học Thủy Lợi, Trường dạy nghề và các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp ở các huyện. Các trung tâm này có nhiệm vụ nâng cao trình độ chuyên môn và dạy nghề cho người lao động. Y tế đến nay đã có bệnh viện đa khoa 800 giường, bệnh viện khu vực với các trang thiết bị hiện đại. Tất cả các huyện, phường, xã đều có trung tâm y tế. Vì vậy mà đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Với lợi thế có bờ biển dài 105 km, có nhiều vùng biển sâu, với nhiều granit ở ngoài biển, tạo nên những vũng vịnh, cồn là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế thủy sản, công nghiệp muối và làm nơi neo đậu tàu thuyền. Hàng năm đều có rất nhiều dự án lớn đầu tư về cơ sở hạ tầng góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Đặc biệt đầu tư phát triển công nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp lớn, các cụm công nghiệp. Để thực hiện các dự án trên chính quyền tỉnh Ninh Thuận đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho hai dự án Du Long và Phước Nam, dự án đầu tư khu liên hợp thép Cà Ná. Hơn nữa, chính quyền tỉnh thực hiện mở rộng qui mô đô thị như thành phố Phan Rang-Tháp Chàm với hướng mở rộng không gian đô thị thành phố về phía Tây Bắc và Đông Bắc với qui mô dân số khoảng 200.000 người. Tỉnh còn chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông nhất là giao thông ven biển. Nhìn chung đây là dự án trọng điểm được lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận quan tâm để khai thác các tiểm năng và lợi thế để phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Ngoài ra Ninh Thuận còn có tiềm năng du lịch rất lớn góp phần vào việc phát triển kinh tế. Vì có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân
  13. văn nên thu hút rất nhiều khách du lịch trong và nước. Bờ biển Ninh Thuận có nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng, tắm được quanh năm như Bình Tiên, Ninh Chữ, Cà Ná và nhiều sông suối phục vụ du lịch như Suối Vàng, thác Tiên, nhiều tháp Chàm như Pô Kluang Giarai, tháp Pô Rame (Ninh Phước) cho phép xây dựng du lịch thành một ngành kinh tế quan trọng. Trong đó bãi biển Bình Tiên được đánh giá một trong bãi biển đẹp nhất nước với cảnh thiên nhiên hùng vĩ gắn với vườn quốc gia Núi Chúa đang được đầu tư xây dựng thành khu du lịch tầm cỡ của cả nước và Đông Nam Á. Nơi đây còn lưu giữ, bảo tồn nhiều công trình văn hóa kiến trúc cổ Chămpa gắn liền với các lễ hội văn hóa tộc người Chăm. Chính sự đa dạng về địa hình đã tạo ra nhiều vùng sinh thái có những thắng cảnh độc đáo như đèo Ngoạn Mục, vịnh Vĩnh Hy, suối nước nóng ,...thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch biển, du lịch văn hóa kết hợp với sinh thái nghỉ dưỡng. 1.3. Văn hóa truyền thống của người Chăm ở Ninh Thuận 1.3.1. Lịch sử hình thành của người Chăm Theo các công trình nghiên cứu về dân tộc học và khảo cổ học người Chăm là tộc người thuộc ngữ hệ Mã lai-Nam Đảo (Maylayo-Polinesien) sinh sống ở Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên (Chăm, Raglai, Churu, GiaRai, Êđê). [3;tr.58]. Họ còn có các tên gọi khác như Chàm, Chiêm Thành, Hroi, Hồi. Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng họ là những người di trú từ các hải đảo Đông Nam Á đến, hoặc người di cư từ các quần đảo Nam Trung Quốc xuống vùng đất liền Đông Dương rồi từ đó di cư ra hải đảo Đông Nam Á [6; tr.9]. Sau khi các nhà khảo cổ học tìm thấy các di chỉ của văn hóa Sa Huỳnh đầu thế kỷ 20 cho rằng : quồc gia của người Chăm vào thế kỷ thứ II sau công nguyên là sự tiếp nối của nhà nước Sa Huỳnh ra đời vào cuối giai đoạn Sa Huỳnh hậu kỳ. Từ đó có thể suy ra rằng văn hóa Chămpa là sự tiếp nối văn hóa Sa Huỳnh [44; tr.184]. Khi nghiên cứu về nguồn gốc của cư dân Nam Đảo tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng: chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là những người Chăm cổ. Chính những người ở các thế kỷ trước công nguyên tiếp thu văn hóa Ấn Độ hay nói chính xác hơn là bản địa văn hóa Ấn Độ để trở thành người Chăm hiện đại [66; tr.74]. Trong “Văn hóa cổ Chămpa”, Ngô
  14. Văn Doanh nói rõ hơn : vào cuối thế kỷ II, tại vùng trung tâm của nền văn hóa kim khí Sa Huỳnh đã ra đời một nhà nước-nhà nước Lâm Ấp hay nhà nước của Khu Liên và khẳng định người Lâm Ấp chính là người Sa Huỳnh [24; tr.51-52]. Tuy nhiên, nhận xét trên chỉ mang tính tương đối chứ chưa thật sự tuyệt đối. Hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất việc nguồn gốc của tộc người Chăm là từ đâu. Đọc lại lịch sử chúng tôi thấy người Chăm đã có một vương quốc từ rất sớm và phát triển mạnh, trải dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận với nhiều tên gọi như Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chămpa, Chiêm Thành. Họ sống bằng nông nghiệp là chính, kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi một cách khá thành thạo. Mô tả về người Chăm, thư tịch cổ Trung Hoa vào thế kỷ VI có viết “mắt sâu, mũi cao, da đen, tóc đen biết làm ruộng hai mùa lúa, trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, nhuộm màu đến nay đã 600 năm” [7; tr. 23]. Trải qua nhiều thế kỷ với bao thăng trầm của lịch sử, ngày nay người Chăm cư trú rải rác ở nhiều nơi như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Tp.Hồ Chí Minh, Phú Yên, Bình Định nhưng tập trung nhiều nhất vẫn ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Họ vẫn còn giữ chế độ mẫu hệ. Trong gia đình chủ nhà bao giờ cũng là người đàn bà cao tuổi, phong tục người Chăm qui định con gái phải theo họ mẹ. Nhà gái sẽ đi cưới chồng cho con, con trai phải ở rể nhà vợ. Thừa kế tài sản chỉ có người con gái út vì phải có trách nhiệm nuôi dưỡng mẹ già. Về tôn giáo, người Chăm theo Ấn Độ giáo (Bàlamôn), Bàni, Islam. Trong đó Bàlamôn được nhà nước Chămpa chọm làm quốc giáo. Về sinh hoạt cộng đồng người Chăm bố trí cư dân theo cấu trúc bàn cờ. Trong đó, mỗi dòng họ, mỗi gia đình thân thuộc hoặc đại gia đình thường ở quây quần bên nhau thành một khoảnh hình vuông hay hình chữ nhật. Trong mỗi làng như vậy các khoảnh đất được ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ. Do đó tính cộng đồng rất cao. 1.3.2. Đôi nét về người Chăm ở Ninh Thuận Tỉnh Ninh Thuận được xem là xứ nóng nhất của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nói riêng và cả nước nói chung. Câu nói truyền miệng của người dân
  15. “Nắng như Rang, gió như Phan, hai tiếng Phan Rang nghe chói chang” ý muốn nói đến vùng đất này. Trong vương quốc Chămpa xưa, Ninh Thuận và Bình Thuận (gọi chung là Thuận Hải) thuộc về châu Panduranga, một trong bốn châu của Chămpa bao gồm Amaravadi ở phía Bắc từ Bình Trị Thiên đến Quảng Nam, Vijaya từ Quảng Ngãi đến Bình Định, Kauthara từ Phú Yên đến Khánh Hoà và Panduranga từ Ninh Thuận đến bắc Bình Thuận. Trong đó, hai châu Amaravadi và Vijaya là vùng đất trù phú đồng thời cũng là kinh đô của Chămpa. Các vương triều Chămpa xưa đều đóng đô tại đây, còn Panduranga chỉ vùng đất dùng để phong vương cho các thái tử và giáp với vương quốc Phù Nam xưa. Sau những cuộc chiến tranh với Đại Việt, người Chăm đã từng bước tiến về phía Nam và dừng lại tại Ninh Thuận và từ đó suy yếu dần. Đã có một thời gian rất dài khoảng 6 thế kỷ đã tồn tại đến năm đời vua tại vùng này. Vì vậy nó đã chiếm một vị trí đặc biệt trong vương quốc Chiêm Thành. Theo cuộc điều tra dân số năm 1969 người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận là 33.600 người, trước năm 1975 là 40.000 người [3;tr.45]. Vào năm 2002 người Chăm ở vùng này có khoảng trên 61.000 người sống tập trung ở 22 làng thuộc 12 xã ở 4 huyện, thị xã, đông nhất vẫn là huyện Ninh Phước trên 48.000 người, huyện Ninh Hải trên 10.000 người, huyện Ninh Sơn khoảng 15.000 người, ở thị xã Phan Rang- Tháp Chàm có 13.000 người [3; tr.46]. Theo tác giả Phan Xuân Biên cho biết tại Ninh Thuận có hơn 50.000 người Chăm phân bố hầu khắp các huyện trong tỉnh. Nhưng tập trung nhiều nhất vẫn ở Phan Rang và Phan Rí (thuộc huyện Ninh Phước). Họ là những cư dân đã định cư lâu đời tại đây sống bằng nghề làm ruộng lúa nước [7;tr.23]. Ở vùng này, người Chăm theo hai tôn giáo chính Bàlamôn và Bàni (Hồi giáo mang tính bản địa). Ngoài ra, còn có một bộ phận theo đạo Islam nhưng không nhiều (chỉ chiếm khoảng 2000 tín đồ) [6; tr.43]. Người Chăm theo đạo Bàlamôn, họ sống xung quanh các đền tháp . Hiện nay ở Ninh Thuận có ba khu đền tháp chính: + Khu vực tháp Pô Kluang Giarai (Phan Rang) gồm có 7 làng Hiếu Lễ, Chắt Thường, Phú Nhuận, Hoài Trung, Phước Đồng và Thành Ý do cả sư Trường Vân
  16. phụ trách. + Khu vực tháp Pô Inư Nưgar (Hữu Đức) gồm có 3 làng Hữu Đức, Như Bình, Bầu Trúc do cả sư Hải Quý phụ trách. + Khu vực tháp Pô Rame (Hậu Sanh) có 6 làng thuộc huyện Ninh Phước gồm Hậu Sanh, Hiếu Thiện, Vụ Bổn, Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, Phước Lập do cả sư Hán Bằng phụ trách. Trong các làng trên có hai làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp và làng gốm Bầu Trúc được xem như hai làng nghề truyền thống cổ nhất Đông Nam Á. Đây là hai nghề chính đã đem lại thu nhập cho người Chăm ở đây. Được sự quan tâm, chỉ đạo và giúp đỡ của Đảng và Nhà nước nên các mặt hàng thủ công thổ cẩm và gốm của họ được sản xuất khá rộng rãi và có mặt trên khắp thị trường tạo điều kiện cho lao động của đồng bào Chăm. Nhìn chung người Chăm tại Ninh Thuận một cộng đồng dân cư đã định cư lâu dài từ xưa đến nay. Hơn nữa, họ là những người còn lại giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc mình tại mảnh đất Nam Trung Bộ. 1.3.3. Văn hoá truyền thống của người Chăm tại Ninh Thuận Văn hoá truyền thống của người Chăm ở Ninh Thuận đặc biệt người Chăm Bàlamôn vừa mang yếu tố bản địa nông nghiệp lúa nước vừa tiếp thu văn hoá ngoại lai. Đó là hệ thống kho tàng văn hóa dân gian phong phú, đa dạng và đặc sắc. Tính bản địa ở đây là chế độ mẫu hệ đã xuyên suốt trong tín ngưỡng dân gian Chăm. Có thể xem đó như một phần của văn hoá Việt Nam trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á. Tín ngưỡng dân gian Chăm vẫn còn giữ được những nét nguyên sơ và có những đặc điểm tương đồng với các dân tộc ở Đông Nam Á. Và các hình thức tín ngưỡng dân gian ấy vừa có yếu tố văn hóa biển, vừa có yếu tố văn hóa nông nghiệp và yếu tố văn hoá núi mang nặng dấu ấn của tín ngưỡng bản địa, có chứa đựng đầy đủ các hình thức tín ngưỡng sơ khai như ma thuật, bùa chú, tô tem giáo, sa man giáo. GS Chu Xuân Diên nhận xét: Các yếu tố núi, đồng bằng, biển đều có mặt trong văn hóa Chăm. Yếu tố đồng bằng thể hiện khá rõ trong các nghi lễ nông nghiệp như các nghi lễ gắn với chu kỳ sinh trưởng của cây lúa, các nghi lễ
  17. có liên quan đến hoạt động thủy lợi như lễ khai mương đắp đập, lễ chặn đầu nguồn nước. Yếu tố núi còn đuợc thể hiện trong các tục thờ cúng tổ tiên dòng Núi là dòng cổ xưa nhất của người Chăm. Yếu tố biển còn được thể hiện trong truyền thống đánh bắt hải sản, trong tục thờ cúng tổ tiên theo dòng biển trong tín ngưỡng thờ cá voi, thờ thần biển trong một số kiến trúc có môtíp hình thuyền [12; tr.305- 306]. Còn yếu tố ngoại lai tiếp thu văn hoá Ấn Độ thông qua Bàlamôn. Chính tôn giáo này khi du nhập vào văn hoá Chăm kết hợp với văn hoá bản địa tạo ra một nền văn hoá riêng, độc đáo với những nét đặc sắc và được xem như “phi Hoa phi Ấn”. Các qui định của giáo lý Bàlamôn hầu như đã chi phối toàn bộ đời sống văn hoá của người Chăm ở Ninh Thụân. Từ các lễ hội dân gian cho đến nghi lễ vòng đời đều thế hiện nghi lễ của tôn giáo. Vì vậy hệ thống thần linh trong văn hoá Chăm rất nhiều được chia thành thần tự nhiên và nhân thần như sau: Về thần tự nhiên: thần trời, thần cha Yang Po, Yang Amư đây là hai vị thần tối cao trong luật tục của người Chăm. Ngoài ra trong tín ngưỡng Chăm gồm thần mặt trời: Po Aditiak, thần lửa: Po Yang patah apu, thần tứ phương : Po Yang Akye, thần bấu trời: Po Ligik, thần biển Po Yang Atow Tathik [3; tr 54]. Kho tàng văn hóa của người Chăm theo Bàlamôn ở Ninh Thuận rất lớn gồm có đền tháp, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, văn học nghệ thuật, điêu khắc, văn tự, luật pháp, luật tục. Tất cả những cái đó đã làm cho văn hóa Chăm có những độc đáo riêng mà không có tộc người nào có được. Ngoài ra người Chăm còn tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Đại Việt, văn hóa Phù Nam và văn hóa của một số tộc người khác. Từ đó cho thấy, văn hóa truyền thống của họ cốt lõi vẫn là nền văn hóa bản địa trên cơ sở tiếp thu văn hóa Ấn và biến đổi nó cho phù hợp. Về kiến trúc biểu tượng chính là đền tháp. Kể từ ngày thành lập vương quốc cho đến nay, người Chăm đã xây dựng rất nhiều đền tháp lớn nhỏ khác nhau và kết thành một quần thể trải dài khắp các tỉnh Duyên hải miền Trung. Tháp Chăm thường được xây dựng theo cụm và được đánh giá đẹp hơn so với tháp của người Khơme. Người Chăm thường gọi tháp của mình là Khalăn.[3] Đặc biệt ở Ninh Thuận và Bình Thuận, những cụm tháp đền thờ thần được kết hợp với lăng mộ thờ
  18. nhân thần mà các đền tháp phía bắc không có: tháp Pô Tầm (Po Dam) ở Phan Rí (Bình thuận) thờ Pô Tầm, tháp Pô Rame (Hậu Sanh) thờ vua Pô Rômê và hoàng hậu và tháp Pô Kluang Giarai thờ vua Pô Kluang Giarai [3;tr.36]. Các đền tháp của người Chăm không chỉ thờ thần mà còn phát triển rộng ra thành thờ cúng tổ tiên. Phía bên trong các cặp linga yoni, bên ngoài tượng thờ vũ nữ (Aprasa) và bò thần Nadin. Nhìn chung đền tháp Chăm đã tiếp thu văn hóa Ân độ nhưng đã có những biến đổi tạo ra những nét riêng. Về âm nhạc và múa Chăm rất phong phú, đa dạng. Tộc người Chăm có rất nhiều điệu múa khác nhau mang yếu tố trình diễn trong các lễ hội. Nhiều nghệ nhân Chăm đã sáng tác ra nhiều điệu múa đặc sắc và gửi niềm tin tín ngưỡng trong đó, đồng thời phản ánh quá trình lao động, sinh hoạt của cộng đồng. Do đó đối với người Chăm múa bao giờ cũng là bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần của họ. Và nó gắn liền với mỗi làng hoặc ở trên tháp. Họ sáng tạo ra những điệu múa ấy với mục đích tưởng nhớ những người có công xây dựng đất nước, vị vua đã được thần thánh hóa. Và múa Chăm được chia thành múa dân gian và múa cung đình. Múa dân gian là những điệu múa được nhân dân Chăm sáng tạo như múa quạt (tamia tadik); múa đội lu (tamia ddewwa buk); múa khăn (tamia tanhiak); múa dao, múa roi và múa đạp lửa (tamia jwak apwei); múa chèo thuyền (theo điệu trống Wah gaiy); múa âm dương (còn gọi múa phồn thực). Còn múa cung đình là những điệu múa được lấy cảm hứng của bức tượng điêu khắc Chămpa xưa đặc biệt múa vũ nữ Aprasa do NSND Đặng Hùng đặt tên. Các điệu múa trên do phụ nữ múa vì các cô gái Chăm từ khi sinh ra đến lúc lớn lên đã được mẹ dạy múa nên trong nghệ thuật múa Chăm người phụ nữ bao giờ cũng múa rất đẹp và luôn đóng vai múa chính. Trong đó, múa quạt được xem như điệu múa truyền thống của người Chăm. Điệu múa này thường được thể hiện trong lễ hội gắn liền với tôn giáo. Một loại hình nghệ thuật không kém phần độc đáo là các nhạc cụ trong lễ hội. Nhạc cụ truyền thống Chăm gồm có đàn Kanhi, Rabap, trống Ghi năng, Basanưng, kèn Sarakan, Hayar, chiêng, Asăng, Tawngrruk[4]. Ngoài ra còn có Mã la do người Raglai biểu diễn. Nhạc cụ biểu diễn không chỉ đơn thuần những nhạc
  19. cụ dùng để biểu diễn mà còn biểu tượng mang ý nghĩa tâm linh. Về lễ hội, người Chăm có rất nhiều lễ hội lớn nhỏ khác nhau mỗi lễ hội mang mỗi sắc thái riêng và gắn với tín ngưỡng tôn giáo. Trong các lễ hội thì lễ hội Katê được xem như lễ hội lớn nhất. Nó chứa đựng rất nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Chăm. Katê còn là nơi thu hút rất nhiều du khách, nhiều nhà khoa học về đây tím hiểu và nghiên cứu. Nó phản ánh mối quan hệ và ước vọng của con người với thiên nhiên, về thần thánh về một cuộc sống tươi đẹp hơn cho dân làng. Các lễ hội khác như Chabul, Rawaưn, Rija Nưgar cũng chứa đựng nhiều yếu tố trình diễn và nhiều đặc điểm riêng biệt, độc đáo. Ngày nay, với chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc của Nhà nước các lễ hội của người Chăm được tổ chức một cách tốt hơn, qui mô hơn, đặc sắc hơn. Đồng thời với những hoa văn sắc xảo cùng với bàn tay điêu luyện của người nghệ nhân đã tạo cho gốm Chăm mang bản sắc riêng so với gốm của các dân tộc khác. Làng gốm lớn nhất của người Chăm ở Ninh Thuận là làng gốm Bầu Trúc, đây là làng Chăm duy nhất có nghề làm gốm và sản xuất nhiều sản phẩm có giá trị. Gốm Chăm cũng là lĩnh vực thể hiện rất nhiều nét đặc sắc của văn hóa Chăm. Tóm lại, văn hóa Chăm phong phú và đa dạng được thể hiện trong nhiều lĩnh vực. Tất cả những nét độc đáo của những giá trị văn hóa đã góp phần tô điểm thêm cho nền văn hóa Chăm trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa cái ngoại sinh với các yếu tố nội sinh, là cơ sở, là bước đi ban đầu hình thành nên sắc thái văn hóa người Chăm ở Ninh Thuận hôm nay. Và đó chính là những nét đặc trưng nhất của văn hóa tộc người trong việc tiếp thu và biến đổi các giá trị văn hóa. Những di sản văn hóa Chăm góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Việt. Tiểu kết Ninh Thuận với địa hình, địa thế đặc thù của một vùng cực nam của Duyên hải Nam Trung bộ đã trở thành một trong những điểm thu hút con người đến với mảnh đất này. Hơn nữa, tiềm năng kinh tế xã hội vốn có cùng với tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn nơi đây trong tương lai sẽ là một trong những điểm đến của du khách phương xa. Một vùng đất đầy nắng gió, cằn cỗi nhưng Ninh Thuận lại sỡ
  20. hữu một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, đó là văn hóa Chăm với hệ thống ca múa nhạc, thơ ca, đền tháp, điêu khắc, phong tục, lễ hội. Do đó văn hóa Chăm đã trở thành điểm đến của những nhà nghiên cứu, nhà khoa học qui tụ về nghiên cứu, bảo tồn, phát huy văn hóa Chăm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời nó cũng góp phần làm phong phú văn hóa dân tộc với những nét đặc sắc, nét độc đáo riêng. Và bây giờ, nó đã trở thành di sản văn hóa cần được giữ gìn và phát triển làm giàu bản sắc văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam. Người Chăm tại vùng đất này nói riêng và người Chăm ở khu vực miền Trung nói chung là tộc người có trình độ văn minh cao. Ngay từ buổi sơ khai, họ đã sang tạo nên cho mình một nền văn hóa riêng, mang bản sắc riêng trong cơ tầng văn hóa Việt Nam với việc giao lưu, tiếp biến văn hóa ngoại lai. Và họ đã để lại cho các thế hệ sau kho tàng văn hóa dân gian rất lớn với nhiều thể loại khác nhau. Đó là kết quả của việc lao động, sáng tạo, kế thừa, tiếp thu trong các giai đọan lịch sử khác nhau của người Chăm. Và những di sản ấy được xem là di sản văn hóa dân tộc không chỉ của riêng người Chăm mà của Việt Nam nói chung. CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NGƯỜI CHĂM Ở NINH THUẬN Trước khi đi sâu vào tìm hiểu về những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực chúng tôi xin lướt qua vài nét về đời sống văn hóa nói chung và đời sống văn hóa của người Chăm nói riêng. Bởi vì khi làm rõ vấn đề đời sống văn hóa sẽ dễ dàng nghiên cứu các biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực để từ đó nhận ra những mặt tích cực và tiêu cực mà đưa những giải pháp, kiến nghị cho phù hợp. Đời sống văn hóa là một thuật ngữ được hiểu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản