Đề Tài: Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam năm 2011

Chia sẻ: chim_se_nho_031

Trong những năm gâǹ đây, ngành chế biêń gỗ Viêṭ Nam tăng trưởng với tôć độ nhanh, thuôc̣ 1 trong 7 mặt hàng xuât́ khâủ chủ lực của Viêṭ Nam. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, thị trường nội thất năm 2011 sẽ sôi động hơn năm ngoái với nhiều mẫu mã và chủng loại mới. Các nhà sản xuất không chỉ chú trọng vào mẫu mã, màu sắc mà còn áp dụng nhiều sáng tạo, giải pháp để tạo ra các sản phẩm có chức năng sử dụng kết hợp phù hợp với nhiều không gian phòng ở, giúp cho khách hàng tiết...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề Tài: Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam năm 2011

Họ và tên: Bùi Thị Vân Lớp:Kinh tế Ngoại Thương K11A


------------------------------------ -----------------------------------------


Bài Tập Lớn
Môn Kinh Tế Ngoại Thương


Đề Tài: Tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam năm 2011




Mục Lục


Chương I: Tổng Quan Tình Hình Xuất Khẩu Gỗ Việt Nam năm 2011.
1. Tình hình chung.
2. Các yếu tố ảnh hưởng.
3. Cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương.
Chương II: Thực Trạng Xuất Khẩu Gỗ Của Việt Nam năm 2011.
I. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí I năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.
2. Kim ngạch trong quí.
3. Hiệu quả.
II. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí II năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.
2. Kim ngạch trong quí.
3. Hiệu quả.
III. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí III năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.

1
2. Kim ngạch trong quí.
3. Hiệu quả.
IV. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí IV năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.
2. Kim ngạch trong quí.
3. Hiệu quả.
Chương III: Đánh Giá Và Đề Xuất Giải Pháp.
1. Thành tựu.
2. Hạn chế.
3. Tác động của việc ra nhập WTO.
4. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương.




Chương I: Tổng Quan Tình Hình Xuất Khẩu Gỗ Việt Nam năm 2011.


1.Tình hình chung.

Trong những năm gân đây, ngành chế biên gỗ Viêt Nam tăng trưởng với tôc độ
̀ ́ ̣ ́
nhanh, thuôc 1 trong 7 mặt hàng xuât khâu chủ lực của Viêt Nam.
̣ ́ ̉ ̣

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, th ị trường nội th ất năm 2011 s ẽ sôi
động hơn năm ngoái với nhiều mẫu mã và chủng loại mới. Các nhà sản xuất không
chỉ chú trọng vào mẫu mã, màu sắc mà còn áp dụng nhiều sáng tạo, giải pháp để
tạo ra các sản phẩm có chức năng sử dụng kết h ợp phù h ợp với nhi ều không gian
phòng ở, giúp cho khách hàng tiết kiệm được một phần chi phí mà vẫn đ ược sử
dụng sản phẩm chất lượng. Xu hướng mới của nội thất là sản phẩm đa công dụng
với kỹ thuật lắp ráp phù hợp với diện tích nhà ở.



2
Ngoài ra, năm 2011 nhu cầu về gỗ xẻ dự báo sẽ tiếp tục sau khi m ức tăng c ủa năm
ngoái là 18%. Trong những tháng đầu năm nay tổng khối lượng g ỗ tiêu th ụ đã tăng
20% hơn so với năm ngoái.




Sản phâm gỗ xuât khâu của Viêt Nam từ những sản phâm thô (gỗ tròn, gỗ xẻ) đã
̉ ́ ̉ ̣ ̉
phát triên lên môt trình độ gia công cao hơn, áp dụng công nghệ tâm, sây, trang trí bề
̉ ̣ ̉ ́
mặt,… và tạo ra những sản phâm hoàn chỉnh, có giá trị xuât khâu cao.
̉ ́ ̉




Đôi với mặt hàng này, Viêt Nam xuât khâu bôn nhóm chính sau:
́ ̣ ́ ̉ ́

- Nhóm sản phâm đồ môc ngoài trời bao gôm các loại bàn ghế vườn, ghế băng, dù
̉ ̣ ̀
che nắng, ghế xích đu,.. chủ yêu được làm từ gỗ hoặc gỗ kêt hợp với các vât liêu
́ ́ ̣ ̣
khác như sắt, nhôm, nhựa

- Nhóm sản phâm đồ môc trong nhà bao gôm các loại bàn ghê, giường,tủ, giá kê
̉ ̣ ̀ ́
sách, đồ chơi, ván sàn,… làm hoàn toàn từ gỗ hoặc là gỗ kêt hợp với các vât liêu
́ ̣ ̣
khác như da, vải…

- Nhóm đồ mỹ nghệ chủ yêu được làm từ gỗ tự nhiên bao gôm bàn, ghê, tủ,… áp
́ ̀ ́
dụng các công nghệ chạm, khắc, khảm.

- Nhóm sản phâm dăm gỗ như gỗ keo, gỗ bạch đàn,…
̉

Theo số liêu thông kê từ Hải Quan Việt Nam, kim ngạch xuât khâu tháng 11 năm
̣ ́ ́ ̉
2011 đạt 350 triêu USD, đưa kim ngạch xuât khâu 11 tháng năm 2011 đạt 3,5 tỷ
̣ ́ ̉
USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.Trong 38 thị trường có số liệu thống kê,
kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại nhiều thị trường có xu

3
hướng giảm hơn so với cùng kỳ 11 tháng năm 2010. Giảm mạnh phải kể đến các
thị trường như Thái Lan (-48,56%), Hungari(-29,89%), Ucraina(-23,38%).

Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc vẫn tiếp tục là ba thị trường có kim ngạch xuất
khẩu cao tính đến hết tháng 11 năm 2011,song Nga, Ấn Độ là hai quốc gia có tỷ lệ
tăng trưởng cao hơn 100% so với cùng kỳ 11 tháng năm 2010,cụ thể lần lượt là
136,7% và 120,53%.

Để đẩy mạnh xuất khẩu gỗ, doanh nghiệp Việt Nam cần thường xuyên thay đổi
mẫu mã, tìm hiểu nhu cầu thị trường thường xuyên để có thể cập nhật nhu cầu
doanh nghiệp và xuất khẩu đúng cái người tiêu dùng cần.

Đối với thị trường trong nước, năm 2011 là năm khó khăn cho các doanh nghiệp
đạt chỉ tiêu xuất khẩu là 4 tỷ USD do chi phí đầu vào quá cao.

2. Các yếu tố ảnh hưởng.

• Điều kiện tự nhiên và nguồn nguyên liệu gỗ.

• Vị trí địa lý:

Việt Nam có vị trí trí địa lý rất thuận tiện trong lưu thông hàng hóa với các nước
trong khu vực cũng như trên thế giới cả bằng đường bộ, đường hàng không và đ ặc
biệt bằng đường biển. Với bờ biển chạy dài suốt chiều dọc đất nước, có nhiều
hải cảng lớn phân bố ở cả ba miền, như: cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẵng, cảng
Quy Nhơn (Bình Định), cảng Sài Gòn (TP. Hồ Chí Minh)… là đi ều ki ện thu ận cho
xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung, nguyên liệu gỗ và sản phẩm gỗ nói riêng.



• Khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu liệu gỗ.


4
Mặc dù có tiềm năng về nguyên liệu gỗ nhưng hiện tại và khoảng 10 năm ti ếp
theo, Việt Nam vẫn phải tiếp tục nhập khẩu nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến.




• Bối cảnh kinh tế - xã hội.
• Xu thế của thế giới tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước.

- Toàn cầu hóa kinh tế là xu th ế khách quan, hội nh ập kinh t ế là t ất y ếu và m ở
rộng ra hầu hết các lĩnh vực, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng ch ứa đ ựng
nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn thách thức lớn cho các quốc gia.

- Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chung trong khu vực và quốc tế.

Những xu thế phát triển này của thế giới và khu vực sẽ có tác động mạnh mẽ
đến tình hình trong nước. Đây là những cơ hội để tạo ra b ước ti ến m ới trong phát
triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp chế biến gỗ nói riêng.




• Bối cảnh phát triển trong nước những năm qua.

- Sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao, tăng bình quân 15,7%/ năm,
riêng khu vực chế biến lâm sản gần đây đã có s ự kh ởi s ắc, kim ng ạch xu ất
khẩu sản phẩm gỗ tăng nhanh trong vòng 10 năm qua.

- Nhiều chính sách và Đạo luật được ban hành hoặc sửa đổi để phù h ợp h ơn
với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, từng bước tạo ra môi trường pháp lý
đầy đủ, an toàn và thuận lợi hơn cho các hoạt động sản xuất và kinh doanh.

-Hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều tiến triển quan trọng. Tổng kim ng ạch xu ất
khẩu tăng nhanh, trên 16%/năm. Chính sách tự do hoá thương mại đã tạo động
lực khuyến khích các doanh nghiệp trong, ngoài nước tham gia trực ti ếp vào các
5
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, bao gồm cả gỗ và lâm s ản ngoài gỗ.
Việc tham gia và thực hiện các cam kết, công ước quốc tế liên quan đ ến lâm
nghiệp nói chung, thương mại lâm sản nói riêng cũng như tiến trình h ội nh ập
kinh tế quốc tế đầy đủ hơn... đã và đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi nhưng
cũng nảy sinh không ít thách thức cho các doanh nghiệp nông, lâm nghi ệp trong
cạnh tranh trên thị trường thế giới và ngay cả thị trường nội địa.

-Chiến lược phát triển lâm nghiệp đang được triển khai mạnh mẽ, đầy đủ và sâu
rộng hơn trong giai đoạn mới là nền tảng thuận lợi để thực hiện Quy hoạch công
nghiệp chế biến gỗ Việt Nam.

• Nguồn nhân lực và Chất lượng lao động.

-Theo các chuyên gia về nhân lực, nguồn nhân lực ở Việt Nam được đánh giá là
rất dồi dào nhưng lại yếu về chất lượng. Lao động ở Việt Nam được đánh giá là
khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh những kỹ thuật và công nghệ hiện
đại được chuyển giao từ bên ngoài vào, nhưng thiếu tính chuyên nghiệp.

3. Cơ chế quản lí và chính sách ngoại thương.

• Nhà nước có thể tạo cơ chế cho các doanh nghiệp đầu tư trồng r ừng. Chính
phủ đầu tư giải pháp KH-CN để nghiên cứu, tuyển chọn các giống cây cho
năng suất cao, chất lượng tốt, có đặc tính phù hợp với sản xuất công nghiệp,
đáp ứng nhu cầu sử dụng nguyên liệu trong nước và xuất khẩu.
• Các doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp nhằm giảm chi phí sản xuất, hạ giá
thành gồm giảm chi phí điện, nước, xăng dầu, chi phí hành chính, và nh ất là
giảm mức tiêu hao nguyên liệu hơn 1 m3 sản phẩm. Ðẩy mạnh việc thâm
nhập các thị trường theo hiệp định khu vực mậu dịch tự do (FTA) đ ể t ận
dụng các ưu đãi về thuế và mở cửa thị trường. Tìm những cơ hội mới tại các
thị trường đang gặp khó khăn về thiên tai hoặc th ị hiếu của ng ười tiêu dùng

6
thay đổi từ các loại sản phẩm cao cấp xuống loại trung bình. Các DN cũng
nỗ lực giảm chi phí bán hàng (quảng cáo, tiếp thị, bao bì) hiện đang chiếm
tới 10 đến 13% giá thành sản phẩm.
• Để phát triển ổn định,lâu dài và bền vững thì các doanh nghiệp sản xu ất gỗ
nên chú trọng phát triển thị trường ở trong nước. Doanh nghiệp nên liên kết
lại để xây dựng chuỗi phân phối, hoặc hình thành các công ty th ương m ại
lớn có năng lực nắm bắt được thị hiếu, th ị trường, s ức tiêu th ụ r ồi đ ặt hàng
lại các DN sản xuất với số lượng lớn.
• Hướng tới giảm dần nguồn gỗ nhập khẩu.
• Nhà nước cũng cần kiểm soát một cách chặt chẽ các nguồn gỗ.
• Tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu trong nước.
• Cần giảm nhập khẩu và tăng chất lượng gỗ.

Chương II: Thực Trạng Xuất Khẩu Gỗ Của Việt Nam năm 2011.


I. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí I năm 2011.
1. Thị trường chính xuất khẩu.
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc… là những thị trường chính xuất khẩu mặt hàng
này của Việt nam trong quí I/2011.

2. Kim ngạch xuất khẩu.

 Hoa Kỳ là thị trường chính xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam với
kim ngạch trong tháng 3 đạt 109,6 triệu USD, tăng 135,14% so với tháng 2 và tăng
2,7% so với tháng 3/2010, nâng kim ngạch mặt hàng này sang Hoa Kỳ trong quí
I/2011 lên 273,5 triệu USD, chiếm 32,9% trong tổng kim ngạch, giảm 2,06% so với
cùng kỳ năm 2010.



7
 Đứng thứ hai sau Hoa Kỳ là Nhật Bản với kim ngạch đạt trong tháng 3 là 48,8
nghìn USD, tăng 92,98% so với tháng 2 và tăng 48,77% so với tháng 3/2010 nâng
kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này sang Nhật Bản quí I/2011 lên 122,8 triệu USD,
tăng 29,82% so với quí I/2010.

 Và nhìn chung, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 3 đều tăng trưởng về
kim ngạch ở hầu khắp các thị trường, trong đó tăng trưởng mạnh nhất là thị trường
Singapo tăng 628,79% tương đương với 2,5 triệu USD. Tuy nhiên, quí I/2011 sự
tăng trưởng về kim ngạch ở các thị trường lại giảm so với quí I/2010 (chiếm gần
60% trong số các thị trường).

Quí I/2011 Singapo lại đứng vị trí số 1 là thị trường có kim ngạch tăng trưởng cao
nhất (tăng 420,2%) so với cùng kỳ, với 5,1 triệu USD.

3. Kết quả.

Hiện đồ gỗ Việt Nam xuất khẩu sang tới hơn 120 quốc gia, vùng lãnh thổ, thị
trường xuất khẩu gỗ lớn nhất Việt Nam là Mỹ, chiếm khoảng 40%, thị trường
châu Âu khoảng 27%, Nhật Bản khoảng 12-15%.

Tuy nhiên, thời gian gần đây, Mỹ và châu Âu, hai thị trường gỗ lớn nhất thế giới đã
lần lượt đưa ra và áp dụng những bộ luật quốc tế riêng. Lấy lý do tăng cường công
cụ pháp lý quản lý rừng và giải quyết triệt để vấn nạn khai thác gỗ bất hợp pháp
trong thương mại, hai thị trường này đã đề ra đạo luật Lacey và kế hoạch hành
động về tăng cường thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và buôn bán gỗ
(Flegt).

Tinh thần chung của những đạo luật này đòi hỏi doanh nghiệp phải có chuỗi hành
trình truy xét nguồn gốc nguyên liệu gỗ từ khâu khai thác, vận chuyển, chế biến


8
đến xuất khẩu. Hiện, Mỹ đã áp dụng đạo luật Lacey, còn châu Âu cũng sẽ áp dụng
Flegt vào tháng 3/2013.

Sản phẩm gỗ của Việt Nam tuy được xuất khẩu nhiều, song theo Cục Chế biến
thương mại nông- lâm- thủy sản và nghề muối, 80% nguyên liệu phải nhập khẩu,
thị trường trong nước chỉ đáp ứng 20% nhu cầu, chiếm khoảng 1 tỷ USD/năm.

Theo Hiệp hội gỗ Việt Nam, doanh nghiệp sản xuất và chế biến gỗ hàng năm vẫn
phải nhập nguyên liệu từ khoảng 600 nguồn khác nhau của 26 quốc gia, vùng lãnh
thổ, trong đó, có cả các quốc gia được đánh giá rủi ro cao về vi phạm những điều
khoản của Lacey hiện tại và Flegt sau này. Việc kiểm soát nguồn gốc từ 600 đầu
mối này thực sự là bài toán khó.

 Và đây là kết quả xuất khẩu gỗ của Việt Nam trong quí I/2011:

Thống kê thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ quí I/2011

ĐVT: USD

%
tăng
Thị KNXK KNXK % tăng % tăng
giảm
trường T3/2011 3T/2011 giảm so giảm so
so với
với với
cùng
T2/2011 T3/2010
kỳ
Tổng KN 334.026.567 829.610.563 126,99 19,09 11,07
HoaKỳ 109.645.070 273.508.244 135,14 2,78 -2,06
Nhật Bản 48.809.809 122.876.493 92,98 48,77 29,82
Trung 34.236.101 94.526.073 61,30 2,98 25,59
Quốc
Hàn Quốc 24.412.742 49.856.501 273,04 123,07 104,78
9
Anh 20.175.340 49.646.116 164,85 17,28 6,21
Đức 13.300.962 37.203.940 123,50 18,50 -1,38
HàLan 7.657.781 19.856.937 152,45 16,88 1,41
Canada 7.185.114 16.330.540 156,51 3,11 -5,36
Oxtrâylia 6.835.042 16.909.245 172,96 44,90 17,17
Bỉ 5.465.889 11.504.447 190,95 31,93 8,16
Hongkong 5.242.568 10.204.946 74,35 157,90 119,89
Pháp 5.229.087 19.871.404 84,28 -11,63 -20,22
Italia 5.004.141 15.113.262 73,54 12,65 14,68
Đài Loan 3.984.958 9.779.306 133,42 -21,99 -5,15
ẤnĐộ 3.392.815 6.559.945 323,73 430,17 193,09
Thuỵ Điển 2.958.783 9.506.574 35,83 -12,35 -2,55
Đan Mạch 2.671.059 5.614.173 184,92 -0,06 -6,49
Xingapo 2.534.695 5.114.814 628,79 667,11 420,20
Malaixia 2.381.787 5.256.971 169,56 61,08 33,79
Tây Ban 2.369.180 8.267.524 31,10 -17,94 0,13
Nha
Thổ Nhĩ 1.786.140 3.664.545 420,31 191,54 75,41
Kỳ
Hy Lạp 1.305.740 3.365.488 244,50 7,08 5,09
Ba Lan 1.001.330 2.921.945 26,61 -34,87 -35,15
Nauy 910.447 2.555.583 84,04 53,04 23,51
Tiểu 802.877 1.683.203 -63,38 34,78 0,48
Vương
quốc A
rập Thống
nhất
Phần Lan 783.308 2.998.553 17,84 -39,58 -26,10
Bồ Đào 441.689 1.029.117 200,28 16,27 5,29
Nha
Áo 433.463 1.684.149 88,87 13,89 13,59
Nga 413.684 1.621.118 18,56 99,81 204,53
Thuỵ Sỹ 321.292 1.660.937 20,07 101,35 54,91

10
TháiLan 304.088 640.099 102,65 -75,94 -64,20
Nam Phi 205.731 492.374 171,74 3,26 -18,73
A rập Xêut 200.044 464.382 88,58 -32,02 -54,39
Ucraina 128.260 231.312 41,12 -15,77 -10,77
Cămpuchia 120.378 290.375 * -11,64 15,26
Séc 87.713 713.443 -62,11 -41,07 2,01
Mêhicô 77.650 225.390 0,11 -27,74 -2,42
Hungari 63.003 151.580 194,38 -7,09 -68,43
Nhận xét:
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy trong quí I thì xu ất kh ẩu ở th ị tr ường Mĩ b ị
giảm,trong khi đó 1 số thị trường như Hàn Quốc.Xingapo,Ấn Độ lại tăng 1 cách
đột biến so với thời gian cùng kì.
II. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí II năm 2011.
1.Thị trường chính xuất khẩu.

Trong quí II này thì thị trường chính là Mỹ và EU tăng trưởng chậm trong khi đó
xuất khẩu vào thị trường nhỏ khác lại tăng mạnh.

Đối với mặt hàng xuất khẩu ghế và khung gỗ trong quí II này thì th ị tr ường chính
là Mỹ, Đức và Anh, còn thị trường tiềm năng được xem là Ý, Nhật và Trung Quốc.

2. Kim ngạch xuất khẩu.

Trong tháng 4/2011, Trung Quốc vượt Mỹ để trở thành thị trường cung cấp gỗ và
sản phẩm gỗ lớn cho Việt Nam, nhưng sang đến tháng 5, thì vị trí này lại nhường
cho Hoa Kỳ với kim ngạch 117,1 triệu USD trong tháng, tăng 2,05% so với tháng 4
và tăng 10,23% so với tháng 5/2011, nâng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ
sang Hoa Kỳ 5 tháng đầu năm 2011 lên 505 triệu USD, tăng 1,96% so với cùng kỳ
năm trước.




11
Đáng chú ý, thị trường Malaysia đứng thứ 3 trong tháng 4/2011, thì nay sang tháng
5, thị trường này chỉ đứng vị trí thứ 12 và vị trí này thứ 3 này là thị trường Nhật
Bản với kim ngạch đạt trong tháng là 43,1 triệu USD, tăng 7,5% so với tháng 4 và
tăng 54,73% so với tháng 5/2010, nâng kim ngạch 5 tháng đầu năm lên 205,7 triệu
USD, tăng 32,73% so với cùng kỳ năm 2010.

Theo số liệu thống kê chính thức, tháng 5/2011, xuất khẩu g ỗ và s ản ph ẩm g ỗ đ ạt
229,9 triệu đô la giảm 10,89% so với tháng 4, nhưng tăng 20,29% so với tháng
5/2010, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm lên 1,4 tỷ đô la, tăng
17,86% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu ghế khung gỗ của Việt Nam trong tháng 5/2011 đ ạt 35,9
triệu USD, giảm 24,7% so với tháng trước. Như vậy đây là tháng thứ 2 liên ti ếp
kim ngạch xuất khẩu ghế khung gỗ của Việt Nam giảm mạnhKim ng ạch xu ất
khẩu các mặt hàng lâm sản chính và đồ gỗ của Việt Nam trong tháng 6 ước đ ạt
350 triệu USD đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước xấp xỉ 1,9 tỉ
USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, gỗ và sản ph ẩm gỗ ước đ ạt
xấp xỉ 1,8 tỉ USD, tăng 18%; sản phẩm mây tre, cói thảm ước đạt 99 tri ệu USD
giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Như vậy so với tốc độ tăng trưởng của quý
trước, tốc độ tăng trưởng của quý này đã cải thiện hơn đáng kể.

3.Kết quả.

Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2011, diện tích rừng trồng m ới t ập trung
của cả nước đạt 53,8 nghìn ha, bằng 68,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 2,9 nghìn ha, bằng 21,1% so với cùng kỳ,
trồng mới rừng sản xuất đạt 50,9 nghìn ha, bằng 78,6% so với cùng kỳ năm trước.

Và đây là giá trị xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 5 tháng đ ầu năm
2011 (nguồn: CIS)
12
Tên nước Xuất khẩu Tên nước Nhập khẩu
Giá trị Giá trị
(1000USD) Thị phần (%) (1000USD) Thị phần (%)
Hoa Kỳ 505.048 34,45Lào 129.483 26,71
Trung Quốc222.806 15,2Trung Quốc 57.110 11,78
Nhật Bản 205.781 14,04Hoa Kỳ 54.480 11,24
Hàn Quốc 84.837 5,79Malaysia 36.488 7,53
Anh 76.725 5,23Thái Lan 26.303 5,43
Đức 51.743 3,53Niuzilan 21.474 4,43
Ôxtraylia 29.577 2,02Campuchia 16.009 3,3
Pháp 29.134 1,99Mianma 14.042 2,9
Hà Lan 29.106 1,99Braxin 10.737 2,21
Canada 28.177 1,92Indonesia 7.965 1,64

Nhận xét:

Nhìn vào bảng trên ta thấy tình hình xuất kh ẩu các m ặt hàng s ản ph ẩm g ỗ cao c ấp
nói chung vẫn duy trì ở tốc độ ổn định.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ và
sản phẩm gỗ Việt Nam chính là chi phí đầu vào tăng mạnh (khoảng 20%). Theo
ông Nguyễn Tôn Quyền, phó chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam, trước
tình hình khó khăn như hiện nay, chỉ tiêu xuất khẩu 4 tỉ USD gỗ và sản phẩm gỗ
trong năm 2011 khó hoàn thành. Nguồn nguyên liệu gỗ trong nước còn hạn chế
trong khi giá thành các nguyên liệu nhập khẩu tăng mạnh.


III. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí III năm 2011.

1.Thị trường chính xuất khẩu.

Thị trường chính là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Trung Đông...
13
Vượt qua châu Âu và Nhật, Trung Quốc trở thành th ị trường xu ất kh ẩu g ỗ l ớn th ứ
hai của Việt Nam sau Mỹ.

2. Kim ngạch xuất khẩu.

Hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ của Việt Nam đang gặt hái nh ững th ắng
lợi lớn về giá trị kim ngạch, đồ gỗ Việt Nam ngày càng được ưa chuộng ở các
nước như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Trung Đông... Vượt qua châu Âu và
Nhật, Trung Quốc trở thành thị trường xuất khẩu gỗ lớn th ứ hai của Việt Nam sau
Mỹ. Ước tính trong 8 tháng đầu năm 2011, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ qua
Trung Quốc đạt gần 400 triệu USD, tăng trên 60% so với cùng kỳ năm 2010.

Theo số liệu thống kê TCHQ, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm của cả nước
tính đến hết tháng 7/2011 đạt trên 2 tỷ USD, tăng 14,64% so với cùng kỳ năm 2010,
tính riêng tháng 7 Việt Nam đã thu về trên 314 triệu USD từ gỗ và sản phẩm gỗ,
giảm 1,44% so với tháng liền kề trước đó, nhưng tăng 1,72% so với tháng 7/2010.

Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 3,4 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và
sản phẩm gỗ 9 tháng đầu năm 2011 đạt 2,8 tỷ USD, tăng 16,3% so với 9 tháng năm
trước.

Giá trị gỗ và sản phẩm từ gỗ nhập khẩu tháng 9 ước đạt 135 tri ệu USD, đ ưa t ổng
kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm lên xấp xỉ 1 t ỷ USD, tăng 22,6% so cùng kỳ
năm trước.

3.Kết quả.

Theo Tổng cục Thống kê, sản lượng gỗ khai thác 9 tháng đ ạt 3066 nghìn m3, tăng
11,9%. Khai thác lâm sản chín tháng đạt khá, đặc biệt là khai thác g ỗ do các đ ịa
phương tập trung khai thác trên diện tích rừng trồng s ản xu ất đ ến tu ổi cho thu

14
hoạch. Một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác tăng cao là: Th ừa Thiên - Hu ế 149,8
nghìn m3, tăng 259,9% so với cùng kỳ năm trước; Quảng Ninh 190 nghìn m3, tăng
181,5%; Đồng Nai 88,3 nghìn m3, tăng 51,8%; Quảng Ngãi 171 nghìn m3, tăng
10,3%; Tuyên Quang 162,2 nghìn m3, tăng 8%. Sản xuất lâm nghiệp trong chín
tháng năm nay bị ảnh hưởng bởi thời tiết rét đậm kéo dài tại th ời đi ểm đ ầu năm ở
các tỉnh phía Bắc và khô hạn tại khu vực miền Trung nên tiến đ ộ trồng r ừng ch ậm
so với năm trước. Diện tích rừng trồng mới tập trung c ả n ước chín tháng ước tính
đạt 151,5 nghìn ha, bằng 92,4% cùng kỳ năm 2010.

Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm tháng 9, 9 tháng năm 2011

ĐVT: USD

Thị KNXK KNXK KNXK % % tăng % tăng
trường T9/2011 9T/2011 9T/2010 tăng giảm giảm
giảm KN so KN so
KN T9 T9/2010 cùng
so T8 kỳ
Tổng KN 352.882.499 2.834.863.384 2.425.930.461 -8,75 20,06 16,86
HoaKỳ 125.674.311 1.004.679.914 1.023.252.145 -4,70 -3,96 -1,82
Trung 77.192.044 510.985.683 288.619.367 -13,70 102,61 77,04
Quốc
Nhật Bản 51.508.870 416.118.200 311.573.490 -9,19 29,79 33,55
Hàn Quốc 16.352.077 142.033.089 95.474.595 -35,66 40,63 48,77
Anh 9.678.441 115.461.271 133.422.478 -0,90 -25,93 -13,46
Đức 7.570.348 79.995.412 76.686.444 -5,16 30,93 4,31
Oxtrâylia 9.386.343 70.057.990 57.054.033 -15,29 7,32 22,79
Canada 7.344.366 63.485.669 61.762.866 -19,30 10,15 2,79
Pháp 4.397.801 45.273.342 48.257.609 19,33 42,20 -6,18
HàLan 2.691.916 41.687.875 45.377.088 -24,92 -25,15 -8,13
Đài Loan 5.867.695 39.816.861 30.916.177 20,77 96,41 28,79

15
hongkong 3.230.191 34.851.631 20.878.949 -17,66 8,63 66,92
Malaixia 3.092.520 26.861.566 17.306.033 -22,79 53,69 55,22
Italia 1.618.444 24.521.027 25.391.950 -3,48 -10,67 -3,43
Bỉ 2.051.999 24.469.244 22.780.518 -11,32 30,31 7,41
ẤnĐộ 4.986.514 22.901.296 10.369.444 99,17 534,94 120,85
Xingapo 2.980.595 17.506.626 7.450.671 10,10 594,63 134,97
Thuỵ Điển 877.183 16.227.534 16.738.732 -24,06 -29,02 -3,05
Tây Ban 843.117 13.469.944 14.240.377 -35,29 -10,13 -5,41
Nha
Đan Mạch 831.035 10.561.764 11.287.755 82,52 -8,88 -6,43
Niuzilan 1.467.687 9.223.841 -15,25 * *
Tiểu 652.330 6.812.093 5.385.783 -30,99 3,79 26,48
Vương
quốc A
rập Thống
nhất
Nauy 574.149 6.132.699 3.998.856 91,92 81,52 53,36
Thổ Nhĩ 283.727 5.658.077 5.179.770 -5,71 36,28 9,23
Kỳ
Ba Lan 597.406 5.436.440 6.782.398 -8,42 -6,71 -19,84
Phần Lan 197.599 4.317.323 5.840.007 32,03 -4,57 -26,07
Áo 571.864 4.210.524 4.060.599 39,54 -4,71 3,69
Hy Lạp 108.225 4.066.472 4.812.150 126,54 105,53 -15,50
A rập Xêut 619.770 3.760.094 3.180.487 -23,35 152,86 18,22
Nga 310.976 3.574.815 1.482.465 16,72 109,74 141,14
TháiLan 458.313 2.532.963 5.532.168 -10,85 196,87 -54,21
Thuỵ Sỹ 23.193 2.491.181 1.468.028 -50,41 * 69,70
Nam Phi 436.833 2.369.117 2.085.218 23,30 -7,37 13,61
Bồ Đào 1.995.804 2.391.185 * * -16,53
Nha
Séc 374.292 1.817.668 1.440.138 35,91 150,85 26,21
Mêhicô 200.057 1.231.454 1.044.621 16,18 18,96 17,89
Cămpuchia 75.302 918.562 1.407.763 -35,16 -9,69 -34,75

16
Ucraina 609.149 1.176.831 * * -48,24
Hungari 36.945 310.459 586.372 * * -47,05

Nhận xét:

Từ bảng trên ta thấy:

Với vị trí địa lý thuận lợi cho việc lưu chuyển hàng hóa, nh ưng Trung quốc ch ỉ
đứng thứ hai với kim ngạch xuất khẩu trong tháng 9 là 77,1 triệu USD, giảm 13,7%
so với tháng 8, nhưng lại tăng 102,61% so với tháng 9/2010. Tính chung 9 tháng đầu
năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu 510,9 triệu USD gỗ và sản ph ẩm gỗ sang th ị
trường Trung Quốc, tăng 77,04% so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài hai thị trường kể trên, Việt Nam còn xuất khẩu gỗ và sản ph ẩm sang các th ị
trường khác như Nhật Bản, Hàn quốc, Anh, Đức, Ôxtrâylia… với kim ngạch đạt
lần lượt trong 9 tháng đầu năm là 416,1 triệu USD, 142 triệu USD, 115,4 tri ệu
USD, 79,9 triệu USD và 70 triệu USD…

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong tháng 9 đ ều gi ảm kim ngạch
ở hầu khắp các thị trường so với tháng 8, số thị trường tăng trưởng chỉ chiếm 33%.
Đó là các thị trường Pháp tăng 19,33%; Đài Loan tăng 20,77%; Ấn Độ 99,7%.

III. Tình hình xuất khẩu gỗ trong Quí IV năm 2011.

1. Thị trường chính xuất khẩu

Đồ gỗ Việt Nam ngày càng được ưa chuộng ở các nước như Mỹ, EU, Nhật Bản,
Trung Quốc, Trung Đông...

Ba thị trường lớn nhất trong quí IV là Hoa Kỳ, Nhật Bản, và Trung Quốc.

2. Kim ngạch xuất khẩu.

17
Trong quý IV/2011, thị trường gỗ thế giới có nhiều biến động, đặc bi ệt là khu v ực
Châu Âu. Cuộc khủng hoảng của khu vực đồng tiền chung châu Âu là nguyên nhân
gây ra một cuộc suy thoái mới cho châu Âu sẽ khiến nhu cầu cho các s ản ph ẩm
công nghiệp rừng sẽ đi xuống do sự suy yếu của tăng trưởng kinh tế.

Tuy vậy nhưng ngành gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong quí này đang g ặt hái
những thắng lợi lớn về giá trị kim ngạch.

Theo số liêu thông kê từ Hải Quan Việt Nam, kim ngạch xuât khâu tháng 11 năm
̣ ́ ́ ̉
2011 đạt 350 triêu USD, đưa kim ngạch xuât khâu 11 tháng năm 2011 đạt 3,5 tỷ
̣ ́ ̉
USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.Trong 38 thị trường có số liệu thống kê,
kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại nhiều thị trường có xu
hướng giảm hơn so với cùng kỳ 11 tháng năm 2010. Giảm mạnh phải kể đến các
thị trường như Thái Lan (-48,56%), Hungari(-29,89%), Ucraina(-23,38%).

Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc vẫn tiếp tục là ba thị trường có kim ngạch xuất
khẩu cao tính đến hết tháng 11 năm 2011,song Nga, Ấn Độ là hai quốc gia có tỷ lệ
tăng trưởng cao hơn 100% so với cùng kỳ 11 tháng năm 2010,cụ thể lần lượt là
136,7% và 120,53%.

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Tin học và Thống kê, kim ngạch xuất kh ẩu
các sản phẩm gỗ và gỗ tháng 12 đạt 355 triệu USD, đưa tổng giá trị xu ất kh ẩu c ủa
cả năm2011 đạt 3,9 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ là 13,4%. Ph ần l ớn các th ị tr ường
đều tăng trưởng khá về kim ngạch. Trong đó, ba th ị trường lớn nh ất là Hoa Kỳ,
Nhật Bản, và Trung Quốc.

4. Kết quả.




18
Kim ngạch cả năm của gỗ Việt Nam đã đạt tới mức 4 tỷ USD, tức vượt xa thành
tích năm 2010 - khi lần đầu tiên Việt Nam đạt mức kim ngạch xu ất kh ẩu g ỗ 3,4 t ỷ
USD, vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á và thứ 10 thế giới.

Chương III: Đánh Giá Và Đề Xuất Giải Pháp.


1. Thành tựu.
- Tính đến 2011 đồ gỗ Việt Nam đã xuất khẩu sang tới hơn 120 quốc gia,
vùng lãnh thổ, thị trường xuất khẩu gỗ lớn nhất Việt Nam là M ỹ, chi ếm
khoảng 40%, thị trường châu Âu khoảng 27%, Nhật Bản khoảng 12-15%.
Giúp đồ gỗ Việt Nam phát triển và bành trướng ra thị trường nước ngoài.
- Năm 2011, xuất khẩu dăm gỗ thiết lập kỷ lục với 5,4 triệu tấn, đưa Việt
Nam trở thành nước xuất khẩu mặt hàng này lớn nhất thế giới.
- Xuất khẩu dăm gỗ bạch đàn và gỗ keo lai Việt Nam đã tăng g ấp h ơn 10 l ần
trong một thập kỷ vừa qua. Năm 2001, cả nước chỉ xuất khẩu 400.000 tấn
dăm gỗ nhưng đến năm 2011, đã tăng thêm 5 triệu tấn so với kh ởi đi ểm.
Lượng xuất khẩu trong năm 2011 cao hơn 36% so với năm 2010 và tăng g ấp
ba lần kể từ năm 2007.Australia là nhà cung cấp dăm gỗ lớn nh ất trên thế
giới trong gần 20 năm qua đã phải nhường vị trí này cho Việt Nam v ới các lô
hàng chiếm khoảng 20% lượng giao dịch trên toàn cầu năm 2011.
- Năm 2011 kim ngạch cả năm của gỗ Việt Nam đã đạt tới mức 4 tỷ USD, tức
vượt xa thành tích năm 2010 - khi lần đầu tiên Việt Nam đạt m ức kim ng ạch
xuất khẩu gỗ 3,4 tỷ USD, vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á và thứ
10 thế giới.


2. Hạn chế.
-Yếu điểm lớn nhất của ngành gỗ là nguồn nguyên liệu cho cho chế biến
xuất khẩu.Với 80% là đi nhập nguyên liệu.
19
Ngành sản xuất gỗ phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu gỗ nhập
khẩu.Trong khi đó giá nguyên liệu nhập khẩu lại tăng lên 20% so với năm 2010.
-Mặc dù gỗ nước ta được ưa chuộng và xuất khẩu sang 3 thị trường lớn Mĩ, EU,
Nhật Bản một mặt tạo ra sức tiêu thụ lớn, tăng nhanh kim ngạch xuất kh ẩu
nhưng cũng đầy những rủi ro khi chính các thị trường này có những biến động
bất lợi.Phụ thuộc vào thị trường nước ngoài.
-Gần đây, thị trường EU và Hoa Kỳ đã được ra những yêu cầu chứng minh nguồn
gốc nguyên liệu gỗ.
Đó là các đạo luật yêu cầu chứng minh "lai lịch" gỗ nguyên li ệu. Trong đó, đ ạo
luật Lacey (Hoa Kỳ) đã có hiệu lực từ ngày 1-4-2010 cấm buôn bán gỗ và sản
phẩm từ gỗ bất hợp pháp vào Hoa Kỳ, bắt buộc doanh nghiệp phải nộp tờ khai,
chứng từ rõ ràng về tên, loại gỗ, nước khai thác gỗ, cách thức khai thác... của
Hội đồng Quản lý rừng bền vững thế giới (gọi tắt là ch ứng nh ận FSC). T ừ
tháng 1-2012, doanh nghiệp gỗ còn phải gánh thêm đạo luật FLEGT c ủa EU có
hiệu lực, cũng yêu cầu các lô đồ gỗ nhập vào EU phải minh bạch, rõ ràng về
nguồn gốc gỗ nguyên liệu mới cho nhập khẩu.
- Nguồn nhân lực cho công nghiệp chế biến gỗ còn yếu. Lao động có trình độ
đại học còn ít, chỉ đạt dưới 10%.
-Kết quả khảo sát cho thấy, 100 % dây chuyền sản xuất của các doanh nghi ệp
được khảo sát là bán tự động. Khoảng 30 % trong s ố đó trình đ ộ công ngh ệ đ ạt
tiên tiến, còn lại 70% có trình độ công nghệ ở mức trung bình.
-Bên cạnh đó, mẫu mã hành hóa còn đơn điệu, thường sản xuất theo mẫu đặt
hàng của khách hàng; công nghệ sản xuất chế biến còn hạn ch ế, phần lớn làm
bằng thủ công. Ngoài ra, còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan qu ản
lý Nhà nước với các doanh nghiệp; thiếu sự liên kết, h ợp tác gi ữa các doanh
nghiệp với nhau để cùng bảo vệ quyền lợi cho nhau và nâng cao tính c ạnh tranh
của sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế...

20
 Tất cả những mặt hạn chế này đã ảnh hưởng và làm chậm hoạt động xuất
khẩu gỗ ở nước ta.Cần có những giải pháp thíc hợp để khắc phục.


3. Tác động của việc gia nhập WTO.


Khi gia nhập vào WTO thì tất cả các hoạt động ngoại thương của nước ta có
những chuyển biến rõ rệt.Nó tạo ra cơ hội cho các ngành kinh t ế c ủa đ ất n ước
phát triển,giúp bành trướng ra thị trường nước ngoài nhưng nó cũng mang lại
không ít khó khăn,nó tạo ra sức ép cạnh tranh lớn đối với tất các ngành hàng nói
chung và ngành gỗ nói riêng.

Sau 2 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có s ự thay đ ổi sâu s ắc và toàn
diện, trong đó ngành chế biến gỗ và thủ công mỹ nghệ đạt được nhiều thành tựu
đáng kể, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã không ngừng tăng lên, trở thành một
trong những ngành hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất của cả nước. Kim
ngạch xuất khẩu đồ gỗ năm 2007 đạt 2,5 tỷ USD và năm 2008 dự ki ến đ ạt 3 t ỷ
USD. Sản phẩm gỗ và thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã dần khẳng định được
thưong hiệu và vươn lên đứng thứ 4 trong khối các nước ASEAN, có mặt trên th ị
trường tại 162 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới...

Sau khi ra nhập vào WTO thì gỗ của nước ta được xuất khẩu rộng rãi ra các th ị
trường trên thế giới.Năm 2006 nước ta mới chỉ có xuất khẩu gỗ sang 67 quốc gia
mà sau 2 năm ra nhập WTO tức năm 2008 đã có tới 120 quốc gia.

Gia nhập WTO còn giúp nhập khẩu các nguyên liệu,máy móc hiện đại giúp nâng
cao hiệu quả và tăng năng suất ngành sản xuất gỗ.Đào tạo và nâng cao ch ất l ượng

21
lao động.Tạo ra sự cạnh tranh khiến các doanh nghiệp không ngừng nâng cao và
đổi mới dây chuyền sản xuất và kĩ năng quản lí.

Nhưng ngoài những thuận lợi trên thì ra nhập WTO cũng là thách th ức đ ối v ới các
nước đang và chậm phát triển như Việt Nam ta hiện nay.Trong cuộc c ạnh tranh
mạnh mẽ của ngành chế biến gỗ Việt Nam trên thị trường chế biến gỗ thế giới
hiện nay, sau hội nhập WTO, ngành chế biến gỗ Việt Nam đã bộc lộ nhiều y ếu
kém và hạn chế về mẫu mã, chất lượng, thương hiệu, pháp luật th ương m ại qu ốc
tế, tiêu chuẩn, chứng chỉ quốc tế, thương mại điện tử…v.v. Đó là ch ưa k ể đ ến
những cạnh tranh (kể cả cạnh tranh không lành mạnh) trong nội bộ các doanh
nghiệp trong nước, cũng là một trong số các nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp
Việt Nam chỉ gia công sản phẩm gỗ xuất khẩu mà không mang thương hiệu của
mình trên thị trường quốc tế.



4. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương.

Trong những năm qua thì ngành gỗ của nước ta cũng đã đạt được 1 số thành t ựu
lớn.Tuy nhiên, để phát triển bền vững hơn trong tương lai, cần có các gi ải pháp
khắc phục những vấn đề tồn tại.

Bộ trưởng Bộ Thương mại, ông Trương Đình Tuyển cũng đã xác định 5 vấn đề
lớn, là: nguồn gỗ nguyên liệu cho sản xuất chế biến; nguồn nhân lực; công nghệ
chế biến; thủ tục hành chính trong xuất nhập khẩu; hiệu quả của hoạt động xúc
tiến đầu tư.

Để đạt mục tiêu xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt được 7 tỷ USD vào năm 2020 như
chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt; Bộ Thương mại đề xuất 8 giải pháp chủ yếu để phát
triển bền vững ngành chế biến xuất khẩu sản phẩm gỗ.
22
Một là, tập trung trồng rừng theo phương thức thâm canh để tự túc nguồn nguyên
liệu gỗ vào năm 2020, đồng thời đẩy mạnh công nghệ chế biến ván nhân tạo từ gỗ
rừng trồng để giảm 50% nhập khẩu ván nhân tạo vào năm 2010.


Hai là, tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhập khẩu và cung ứng nguyên liệu gỗ cho
ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu sản phẩm gỗ đáp ứng số lượng, chất
lượng và thời gian với giá cả cạnh tranh. Chính phủ cần ký kết với Chính phủ các
nước có nguồn nguyên liệu gỗ dồi dào các thỏa thuận về cung cấp gỗ dài hạn cho
Việt Nam...


Ba là, tập trung mọi nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức khác
để xây dựng các trung tâm đào tạo nghề cho ngành công nghiệp chế biến xuất
khẩu đồ gỗ... nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.


Bốn là, thực hiện triệt để cải cách hành chính trong việc nhập khẩu gỗ nguyên
liệu và xuất khẩu sản phẩm gỗ.


Năm là, tăng cường đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến để nâng cao năng
suất lao động và chất lượng sản phẩm.


Sáu là, nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp trong công tác xúc tiến thương
mại, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam...


Bảy là, nâng cao vai trò Hiệp hội lâm sản Việt Nam và các Hiệp hội chế biến xuất
khẩu đồ gỗ địa phương. Nâng cao tính liên kết giữa các doanh nghiệp, từng bước
thực hiện sự phân công hợp tác lao động giữa các doanh nghiệp theo phương thức

23
chuỗi giá trị gia tăng.


Cuối cùng là, tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ về tài chính đối với ngành
chế biến xuất khẩu sản phẩm gỗ. Cụ thể là các chính sách ưu đãi tín dụng đầu tư
và tín dụng xuất khẩu trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO; chính sách hỗ
trợ cước vận tải nội địa và quốc tế...

 Năm 2011 là năm mà ngành gỗ Việt Nam đạt được thành tựu to l ớn.Hoàn
thành được kế hoạch đề ra trong năm.Nâng cao vị trí ngành gỗ Việt Nam ra thị
trường thế giới.Nhưng bên cạnh đó vẫn có nhiều hạn ch ế cần ph ải kh ắc ph ục
để nâng cao hiệu quả hơn nữa.Nhà nước cần có những giải pháp và đưa ra
được cơ chế quản lí ngành gỗ có hiệu quả hơn nữa.Các doanh nghiệp phải luôn
luôn cải tiến kĩ thuật để cạnh tranh được với ngành gỗ n ước ngoài.Và c ần đ ưa
ra được các dự án và kế hoạch cho tương lai 1 cách phù hợp.




24

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản