Đề tài "Tổ chức hoạt động nhận thức thông qua rèn luyện kỹ năng tư duy và năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý"

Chia sẻ: Tony Nguyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
482
lượt xem
165
download

Đề tài "Tổ chức hoạt động nhận thức thông qua rèn luyện kỹ năng tư duy và năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Theo các quan điểm về giáo dục hiện đại, bản chất của hoạt động học tập là việc giải quyết vấn đề mà thực tế cuộc sống và nhu cầu nhận thức đặt ra. Mặc dù hoạt động tự thân hay tự học – tự nghiên cứu là căn bản và hết sức quan trọng, tuy nhiên, vẫn rất cần sự giúp đỡ của người thày trong việc gợi mở, dẫn dắt, tổ chức hoạt động nhận thức, rèn luyện phương pháp và kỹ năng tư duy và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Bài viết cập nhật và chia sẻ một số vấn đề về quan niệm...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài "Tổ chức hoạt động nhận thức thông qua rèn luyện kỹ năng tư duy và năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý"

  1. Tổ chức hoạt động nhận thức thông trải nghiệm. qua rèn luyện kỹ năng tư duy và năng lực Chính vì vậy người thày cần hiểu rất rõ giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý quá trình nhận thức của học sinh và giúp hình Nguyễn Minh Tân thành ở các em kỹ năng tư duy và phương pháp học tập, nói cách khác, người thày cần Tóm tắt có những biện pháp tổ chức hoạt động nhận Theo các quan điểm về giáo dục hiện đại, thức, rèn luyện phương pháp và kỹ năng tư bản chất của hoạt động học tập là việc giải duy và năng lực giải quyết vấn đề cho học quyết vấn đề mà thực tế cuộc sống và nhu sinh cầu nhận thức đặt ra. Mặc dù hoạt động tự 1. Rèn luyện kỹ năng tư duy thân hay tự học – tự nghiên cứu là căn bản và hết sức quan trọng, tuy nhiên, vẫn rất cần sự Hoạt động tư duy của con người được thể giúp đỡ của người thày trong việc gợi mở, hiện trên 2 phương diện: tư duy phê phán và dẫn dắt, tổ chức hoạt động nhận thức, rèn tư duy sáng tạo, cả hai phương diện đều là luyện phương pháp và kỹ năng tư duy và năng nền tảng dẫn đến suy luận và khái quát hoá lực giải quyết vấn đề cho học sinh. các ý tưởng. Hai phương diện có mối quan hệ tương hỗ với nhau: Bài viết cập nhật và chia sẻ một số vấn đề về quan niệm và nhận thức liên quan đến Tư duy Phê phán Tư duy sáng tạo việc, tổ chức hoạt động nhận thức thông qua Phân tích Khám phá rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề nhằm Diễn dịch Quy nạp tăng cường năng lực nhận thức và rèn luyện Kiểm tra giả thuyết Nêu giả thuyết kỹ năng tư duy sáng tạo cho học sinh trong việc học tập môn vật lý. 1.1. Rèn luyện kỹ năng tư duy phê phán ============== Bước vào mỗi bài học mới, tất nhiên học Đặt vấn đề sinh đều đã có một khối lượng kiến thức liên quan ở dạng tiềm ẩn, được tích luỹ trong bộ Theo các quan điểm về giáo dục hiện đại, não, nhưng trong những tình huống cụ thể, bản chất của hoạt động học tập chính là việc kiến thức đó chưa thể huy động, khai thác, giải quyết vấn đề mà thực tế cuộc sống và chuyển hóa và sử dụng ngay được. Những nhu cầu nhận thức đặt ra. Như những nhà trải nghiệm của học sinh về thế giới xung thám hiểm lần đầu đặt chân đết những miền quanh chỉ được hình thành một cách tích cực đất lạ rộng lớn, học sinh có nhu cầu tìm hiểu thông qua giao tiếp và hòa nhập những ý thế giới xung quanh, các em luôn đặt ra cho tưởng, những quan niệm của các em với môi mình hàng loạt các câu hỏi “cái gì”, ''tại sao'' trường, hoàn cảnh, tình huống cụ thể, từ đó và ''như thế nào''. Trong quá trình đó, theo hình thành kiến thức, kỹ năng và điều chỉnh quan điểm dạy học mới, mặc dù hoạt động tự quan niệm, hành vi, thái độ khoa học của thân hay tự học – tự nghiên cứu là căn bản và mình. hết sức quan trọng, tuy nhiên, vẫn rất cần sự giúp đỡ của người thày trong việc gợi mở, Chính vì lẽ đó, trong quá trình học tập và dẫn dắt, tổng hợp và hệ thống hóa những hoạt động nhận thức, học sinh cần được rèn thông tin thu thập được qua những gì học sinh luyện trong môi trường hội thoại mở, trong đó họ được tạo cơ hội và được khuyến khích
  2. nhằm vừa phát hiện, khám phá bản thân mình, lập luận để: vừa tiếp nhậ và chia sẻ tư tưởng, chính kiến của người khác.  Nêu thuộc tính của vật Rèn luyện kỹ năng tư duy phê phán là làm - So sánh, nhận biết sự giống nhau và khác cho học sinh nhận ra, hiểu được và phê phán - Mô tả sự vật hiện tượng theo các cách khác một cách tích cực những lệch lạc và quan nhau niệm sai, đồng thời cho phép kiểm nghiệm và - Mô tả đặc điểm mà vật không có phát hiện những quan niệm của bản thân, đó là biểu hiện của cấp độ tư duy bậc cao. - Phân biệt bộ phận/toàn thể vv… Theo Bloom, ''tư duy phê phán'' đồng nghĩa 1.2. Rèn luyện kỹ năng tư duy sáng tạo với đánh giá, là cấp độ cao nhất trong 6 kỹ Mọi học sinh đều có khả năng sáng tạo năng tư duy, vì thế, người thày cần giúp học nếu người thày biết cách tạo ra một bầu sinh nhận thức được rằng: quá trình tranh không khí để kích thích nỗ lực sáng tạo, phải luận, đánh giá, khẳng định và phủ định đối đảm bảo tạo cho các em cảm giác yên tâm về với những ý tưởng người khác là việc làm tự mặt tâm lý và được đối sử bình đẳng, được nhiên và lành mạnh, phủ định là để làm rõ, để tôn trọng trong việc đưa ra chính kiến hay đạt tới chân lý, chứ không phải phủ định là những băn khoăn, thắc mắc của mình. Để làm chống đối, là xóa bỏ. được điều này, người thày cần: Kỹ năng tư duy phê phán của học sinh - Công nhận học sinh như là một đối tác biểu hiện ở: bình đẳng và tin tưởng họ trong mọi điều -Có khả năng phát hiện ra vần đề cần tranh kiện. luận, cần xem xét và làm rõ. - Tránh nhiều đánh giá từ bên ngoài và -Có khả năng phát hiện ra vần đề cần hỏi, khuyến khích học sinh tự đánh giá. dám hỏi, biết hỏi khi nào và hỏi cái gì. - Tạo môi trường giao tiếp cởi mở và thân -Có khả năng lập luận và biết trình bày, thiện, vì giao tiếp đóng vai trò quan trọng diễn đạt một cách mạch lạc những lập luận trong việc duy trì không khí sáng tạo, tạo điều của mình kiện cho tư duy sáng tạo phát triển. Dựa trên các nguyên tắc này, trong dạy Về nghuyên tắc, tư duy sáng tạo không thể học, người thày cần: có khuôn mẫu, tuy nhiên để rèn luyện kỹ năng sáng tạo trong hoạt động nhận thức, người -Tạo ra môi trường dân chủ, bình đẳng thày cần nắm bắt một số khâu cơ bản của -Khuyến khích người học tự đặt câu hỏi qúa trình sáng tạo như sau: cho mình, và cho mọi người  Khởi động: để tạo ra sự quan tâm và -Động viên người học đưa ra các câu hỏi hứng thú, có rất nhiều “ thủ pháp khác nhau” mở, các nghi ngờ và các giả thiết trái chiều. như kể một mẩu chuyện lạ, đưa ra một tình -Hướng dẫn người học tìm thông tin qua huống bất ngờ, một hiện tượng gây ngạc sách báo... nhiên… nhưng cách thức đơn giản và phổ biến nhất là đặt ra cho học sinh những câu Trong dạy học vật lý có thể sử dụng các hỏi vui, dí dỏm nhưng bất ngờ, về những vấn
  3. đề, hiện tượng tưởng như rất quen thuộc, rất thực tế (có thể dùng một cái can rỗng hoặc 1 gần gũi, mà hầu hết đều không biết, hoặc cái săm để làm phao bơi, chọn chanh, bưởi biết nhưng rất lúng túng trong cách diễn đạt bằng cách thả xuống thùng nước, quả tươi, hoặc trả lời, ví dụ: mới thì chìm, quả bộp, khô thì nổi…) hoặc quan sát, tiến hành các thí nghiệm (Lấy một - Tại sao cái kim rất nhẹ lại chìm, mà chai nước khoáng, nếu rỗng thì chai nổi, nếu con tàu nặng hàng ngàn tấn lại nổi? đựng cồn hoặc xăng thì lơ lửng trong nước - Quy luật của tự nhiên là nước chảy từ ( không nổi, không chìm), còn nếu đựng nước cao xuống thấp, tại sao nước, nhựa cây “tự muối thì chai chìm tận đáy vv… đưa ra các nhiên” lại chảy ngược từ gốc lên ngọn? giả thiết, các khả năng có thể, liên hệ đến - Tại sao con cá biển sống hàng chục các kiến thức đã biết về lực, khối lượng, khối năm trong nước mặn, mà thịt nó vẫn ngọt, lượng riêng, trọng lượng… nhưng khi con cá chết, chỉ một thời gian ngắn,  Bước cuối cùng là Tổng kết các ý thịt nó đã mặn? tưởng, ý kiến, đi đến kết luận về một khái - Vào lúc bình minh và hoàng hôn, mặt niệm mới: lực đẩy acsimet, vận dụng để giải trời to bằng cái nong, cái nia, về buổi trưa, thích các hiện tượng đã nêu, mở rộng các ứng mặt trời chỉ bằng cái vung, giải thích hiện dụng khác trong thực tế: cánh diều, tầu lượn, tượng này như thế nào? vv…. lướt sóng…  Rõ ràng, những câu hỏi trên đã khơi dậy 2. Tổ chức hoạt động nhận thức thông tính tò mò và nhu cầu Khám phá. Giai đoạn qua rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khám phá gồm các bước: Năng lực giải quyết vấn đề có quan hệ - Xác định vấn đề hay nhiệm vụ cần giải chặt chẽ với tư duy sáng tạo và tư duy phê quyết (trong ví vụ 1: một vật nổi hay chìm phán. Các hoạt động giải quyết vấn đề không không chỉ phụ thuộc vào đặc tính hay nặng chỉ kích thích và phát triển kỹ năng tư duy và nhẹ , vậy khả năng lập luận của học sinh mà còn giúp là còn có những yếu tố khác? Đó là gi?) giáo viên có điều kiện để quan sát các phương pháp mà các em đã sử dụng, từ đó có điều -Thu thập thông tin (trong ví dụ 1: những chỉnh cho phù hợp và hiệu quả. vật nào thì chìm/nổi? tại sao một vật lại chìm/nổi? cái gì làm cho 1 vật có thể 2.1. Cấu trúc của hoạt động giải quyết chìm/nổi…) vấn đề - Lập kế hoạch giải quyết (xem xét đến Các vấn đề thực tiễn nói chung và các vấn tác dụng của các Lực đặt lên vật, trọng lực, đề học tập nói riêng là vô cùng đa dạng. Vì trọng lượng, áp lực, áp suất vv…) vậy, hoạt động nhận thức nhằm giải quyết vấn đề cũng muôn màu, muôn vẻ, hết sức linh  Bước tiếp theo là hoạt động tìm tòi (khai hoạt và phong phú. Tuy nhiên, các chuyên gia thác và phát hiện): Quá trình sáng tạo thường về giáo dục thường đưa ra một cấu trúc của bắt đầu bằng một ý tưởng. Việc tạo điều hoạt động nhận thức - giải quyết vấn đề như kiện cho hoạt động là điêu kiện để người học sau: hiện thực hóa ý tưởng. Trong ví dụ 1: học sinh đưa ra những tình huống, hiện tượng a) Đặt vấn đề, xây dụng bài toán nhận
  4. trong các hoạt động sống của thế giới sinh thức, gồm các bước: vật - Phát hiện hoặc tạo ra các tình huống vấn Trong chương trình vật lý giảng dạy cho đề sinh viên các trường Y dược (có tên gọi là - Phát biểu, nhận dạng vấn đề nảy sinh. môn Lý sinh y học), hiện tượng thẩm thấu - Xác định vấn đề cần giải quyết cùng với 3 hiện tượng khác là khuyếch tán, lọc-siêu lọc và ẩm bào - thực bào được cấu b) Giải quyết vấn đề đặt ra: trúc thành một chương với tên gọi là “Cơ - Đề xuất các cách giải quyết. chế vận chuyển vật chất trong cơ thể sinh - Lập kế hoạch: Thày giáo có thể là người vật”, nằm trong tín chỉ “ Cơ sở lý sinh y gơi mở, hướng dẫn cho học sinh suy nghĩ một học’’. cách có hệ thống để lập nên một kế hoạch, Thẩm thấu là một trong những cơ chế cân nhắc các phương pháp, gợi ý những khả vận chuyển rất phổ biến và rất quan trọng năng có thể, phác thảo một kế hoạch sẽ thực đối với hoạt động sống (vận chuyển của hiện hoặc đã thực hiện và tiến hành thực hiện nước và nhựa cây trong hệ thực vật, quá kế hoạch đó. trình trao đổi chất, sự vận chuyển của nước - Giải quyết vấn đề: Xem xét toàn bộ các và các chất điện giải trong các tế bào, mô yếu tố, liên tưởng đến các tình huống, hiện trong động vật hiện tượng thẩm phân máu tượng tương tự, liên hệ với những kiến thức và sự trao đổi chất ở người...). Hiện tượng vật lý đã được học, những khái niệm vật lý này cũng được ứng dụng rất phổ biến trong luên quan, tiến hành thí nghiệm, thử nghiệm nhiều liệu pháp chẩn đoán và điều trị (phù … nề, sưng tấy, tăng nhãn áp, pha chế thuốc và sử dụng các loại dịch truyền với độ c) Thảo luận, đề xuất và kết luận, gồm các trương khác nhau (đẳng trương, ưu trương, công đoạn chính: nhược trương.)... - Thảo luận kết quả và đánh giá. Vận dụng những luận điểm về tổ chức - Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết hoạt động nhận thức thông qua rèn luyện - Đề xuất giả thuyết mới. kỹ năng giải quyết vấn đề, có thể đưa ra một ví dụ về tổ chức một giờ học như sau: d) Phát biểu kết luận.  Bước 1: Đặt vấn đề, xây dụng bài - Kiểm định giả thiết toán nhận thức: - Kết luận - Tạo ra các tình huống vấn đề: - Vận dụng vào thực tiễn. Gợi ý, bàn luận, Vấn đề, ý tưởng 2.2. Ví dụ về một tình huống có vấn đề trao đổi nảy sinh và kỹ năng giải quyết vấn đề -Trong tự nhiên, Xin được lấy một ví dụ về việc dạy và nước chảy như thế -Trường hợp học về hiện tượng thẩm thấu nào? 1:không tốn năng Hiện tượng thẩm thấu là một hiện tượng Từ cao  thấp lượng vật lý khá phổ biến trong tự nhiên cũng như (không tốn năng
  5. - Đề xuất các cách giải quyết: lượng) -Trường hợp 2: - Để lấy nước từ cần sinh công (tiêu - Liên hệ với những kiến thức vật lý: công, ao, hồ tưới cho tốn năng lượng) lực, trọng lực, áp lực… ruộng, nương, - Liên hệ với những khái niệm liên quan: thường phải làm thế dòng vật chất, nồng độ, dung dich, dung nào môi… Tát, bơm, gánh... - Lập kế hoạch và giải quyết vấn đề: (cần tiêu tốn năng - Tiến hành thí nghiệm (Thày hướng dẫn sơ lượng ) bộ mục đích và các bước tiến hành, sinh -Hiện tượng ngược -Khẳng định là viên chia nhóm, nghiên cứu tài liệu hướng lại có bao giờ xảy ra không dẫn và chuẩn bị dụng cụ thí ngiệm) không? - Nghi ngờ  Bước 3: Thảo luận, đề xuất và kết - Phát hiện có:(dầu luận, gồm các công đoạn chính: vận chuyển trong - Thảo luận kết quả và đánh giá. -Hãy suy nghĩ, hay bấc đèn…) -Xác định có dòng vật chất chuyển động quan sát một số hiện qua lại màng bán thấm. tương: tưới cây, - Nước được “hút” - Hiện tượng vận chuyển liên quan đến sự cắm hoa, kinh từ gốc lên ngọn/ Cá chênh lệch nồng độ của dung dịch nghiệm chọn cá biển tươi thịt ngọt, biển (tươi/ ươn?) - Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết cá đã chết (ươn): mặn - Có vai trò của Gradien nồng độ chất hòa tan - Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh - Có vai trò của màng bán thấm - Phát hiện: Hiện tượng vận chuyển vật chất trong các ví dụ trên là có thật, quan sát - Xác định dòng vật chất là dòng chất dung được, thường gặp trong thực tế, nhưng môi dường như trái quy luật vật lý? - Đề xuất giả thuyết mới. - Vấn đề: Lực nào sinh công để gây ra - Xuất hện khái niệm áp suất thẩm thấu (P) chuyển động (!?) -Gradien P chính là nguyên nhân, là nguồn < tức là đã làm nảy sinh “ tình huống có vấn động lực gây ra hiện tượng vận chuyển đề”>.  Bước 4: Tổng hợp, kiểm chứng giả - Xác định vấn đề cần giải quyết và đưa ra thiết, kết luận, vận dụng vào thực tiễn nhiệm vụ nhận thức: - Tổng hợp ý kiến, kiểm chứng giả thiết, - Bản chất của hiện tượng này là gì? kết luận - Cơ chế vận chuyển ra sao? - Bản chất của hiện tượng: Dòng vật chất - Động lực (nguồn năng lượng) ở đâu? là nước /dung môi  Bước 2: Giải quyết vấn đề đặt ra: - Cơ chế của sự vận chuyển: Dung môi bị “
  6. truyền thống, thày thuyết trình và học sinh hút” từ vùng có nồng độ vât chất thấp  nghe, ghi chép, giờ học sẽ rất nặng nề, cao (ngược với hiện tượng khuyếch tán) buồn tẻ, ngay cả những học sinh chăm chỉ - Động lực của sư vận chuyển: chính là do nhất cũng khó có thể vừa cố gắng ghi chép, sự tồn tại của một đại lượng vật lý: vừa tập trung suy nghĩ, tư duy để tiếp thu Gradien P, trong trường hợp đó, không cần kiến thức của bài học, kết quả là hầu như tiêu tốn năng lượng các em tiếp thu được rất ít, hiệu quả giờ - Vận dụng vào giải quyết vấn đề. học chắc chắn không cao. - Giải thích các hiện tượng đưa ra trong Trong khi đó, với việc thiết kế bài phần đầu : giảng và tổ chức hoạt động trên lớp theo hướng phát huy tính tực cực tham gia học - Da cá là một loại màng bán thấm, khi tập của học sinh, chung ta thấy, trong toàn còn sống, Gradien P còn đươc duy trì  còn bộ tiến trình bài học, từ khâu phát hiện vấn có sự chênh lệch nồng độ muối giữa trong đề, xác định nhiệm vụ học tập và đề ra và ngoài cơ thể, thịt cá không bị nhiễm phương pháp tiếp cận kiến thức, đến khâu mặn. giải quyết vấn đề và thu hoạch kết quả - Nước, nhựa cây tự vận chuyển từ gốc cuối cùng, vai trò của học sinh được đề cao, lên ngọn chính là nhờ áp suất thẩm thấu có thể nói là chủ yếu và quyết định, thày - Những vùng cơ thể bị thương tổn, giáo dường như là nhân tố phụ, chỉ xuất viêm nhiễm, nồng độ vật chất tăng  hiện những khi cần thiết. Nước từ vùng xung quanh bị hút” về  gây Nói một cách hình ảnh, với cách tổ chức sưng tấy, căng nhức. một giờ học như vậy, học sinh là những - Ứng dụng trong thực tiễn: cầu thủ trên sân, thi đấu một cách hào hứng, sáng tạo, thày giáo đóng vai trò của huấn - Sử dụng đúng cách trong pha chế và sử luyện viên bên ngoài đường pít, tuy không dụng các loại dịch truyền (ưu, trương, đẳng trực tiếp tham gia trên sân, nhưng lại là trương) người thiết kế sơ đồ chiến thuật, nhắc nhở, - Ứng dụng trong điều trị tăng nhãn áp trong điều chỉnh vào những thời điểm cần thiết. nhãn khoa Kết quả của giờ học không phải ở chỗ - Người bị Phù nề phải ăn kiêng để tránh học sinh đã chăm chú lắng nghe như thế làm tăng Grad P, gây giữ nước nào, ghi chép bài vở ra làm sao, hiểu và nhớ - Cần duy trì độ ẩm của đất trong canh tác, bài học được bao nhiêu, mà ở chỗ là các em cấy trồng… đã nỗ lực hoạt động, chủ động tham gia vào quá trình tìm tòi, quan sát, thực nghiệm, vv… tranh luận …để đạt được những hiểu biết Bàn luận mới, kiến thức mới, không phải do thày giáo truyền cho, mà là từ chính sự tìm tòi, Qua ví dụ về cách thiết kế một giờ giảng kết nối giữa những vấn đề chưa biết, mới như trên, chúng ta nhận thấy, với một bài phát hiện với sự trải nghiệm và những kiến giảng rất dài trong giáo trình (khoảng 5-7 thức của chính các em đã có. trang giấy), nếu giảng dạy theo phương pháp
  7. Cùng với kiến thức mới mà các em thu Một ưu thế đặc biệt quan trọng là với nhận được, phương pháp tư duy và cách thức phương pháp học tập - tích cực là rèn cho tiếp cận khoa học của các em cũng được cải học sinh có được đức tính tự tin, một đức thiện và phát huy, các em sẽ trải nghiệm tính hết sức cần thiết mà đa số học sinh được rằng, xung quanh mình, có rất nhiều chúng ta còn rất thiếu, rất yếu so với học hiện tượng tưởng như quen thuộc, nhàm sinh của các nước có nền giáo dục tiên tiến chán, “không có gì đáng quan tâm”, nhưng trên thế giới. nếu quan sát nó dưới con mắt của một nhà Phải khẳng định rằng, phẩm chất trí tuệ vật lý, với những câu hỏi “tại sao”, “như thế và năng lực nhận thức của học sinh, sinh nào”… thì chính các em cũng sẽ phải ngỡ viên chúng ta không hề thua kém so với học ngàng vì ngạc nhiên và thường rất lúc túng, sinh, sinh viên của các cường quốc về giáo chính điều đó, kích thích tính tò mò, nảy sinh dục, tuy nhiên sự mạnh dạn và phong cách nhu cầu nhận thức, sự khao khát học tập tự tin phải khẳng nhậ là rất hạn chế. Lý do vv… có lẽ một phần do phong cách giao tiếp, Một thực tế là, với cách học truyền thống, ứng sử của người á đông, một mặt do hạn ngay những học sinh chăm ngoan nhất, thì chế của phương pháp dạy và học truyền thời gian “nghe giảng” trên lớp, học sinh chỉ thống, thường chỉ đánh giá cao về tính nắm bắt được một số thông tin chung nhất ngoan ngoãn, cần cù, chăm chỉ, và điểm số, về bài học, do đó, chỉ sau khi về nhà, đọc đi, còn trong các giờ học, các em rất ít có cơ đọc lại trong giáo trình, sách giáo khoa, hồi hội phát huy cá tính, thể hiện, khẳng định tưởng lại những điều thày giảng .. dần dần, mình, họ chỉ trả lời khi thày giáo chỉ định, cac em mới thực sự hiểu vấn đề và từ đó, và cũng chỉ thường nhắc lại những điều mà mới cố gắng để nhớ (Thuộc bài), phương thày giáo dự đoán sẽ được nghe và muốn pháp học tập nhận thức đó, rõ ràng là rất vất nghe từ các em, rất hiếm khi các em tự vả, và hiệu quả không cao (vì chỉ sau khi mình đưa ra một câu hỏi, một vấn đề cần kiểm tra, thi một khoảng thời gian nắn là các thảo luận, lại càng hiếm hơn là đưa ra ý em sẽ quên, thông tin mới sẽ chồng chất, kiến trái ngược với các bạn hay với thày chiếm chỗ của thong tin cũ như một quy luật giáo, điều rất bình thường đối với học sinh, tất yếu…). Nhưng với phương pháp học tập sinh viên các nước có nền giáo dục tiên tích cực như ví dụ đã đưa ra, kinh nghiệm tiến. thực tế sau nhiều năm giảng dạy cho thấy: Kinh nghiệm thực tế cho thấy: đa số học sinh hầu như nắm được kiến thức cần sinh viên y khoa học tập rất cần cù, chăm thiết ngay trong quá trình học tập mà không chỉ, nhiều em đạt điểm cao trong các kì thi cần phải cố gắng ghi nhớ và hầu như không lý thuyết hay viết bài luận... tuy nhiên, hầu còn khái niệm về nhà gắng sức học “ thuộc hết các em đều thiếu tự tin khi thực hành bài”. Kết quả thu được sau giờ học đó đã là lâm sang (học bênh giường bệnh), Họ kiến thức, là sự trải nghiệm mà chính các em thường có biểu hiện ngại giao tiếp vì sợ thu nạp qua hoạt động tích cực của mình, chứ gặp phải những tình huống, những câu hỏi không chỉ là thông tin, do đó, nó sẽ tồn tại thực tế của người bệnh hay của các bác sĩ mọt cách bền vững, không bị chồng xóa, rất Ơ đàn anh” đưa ra mà họ chưa được khó bị lãng quên. “chuẩn bị”, họ cũng tránh phải làm việc
  8. chung với các y tá, hộ lý, để che dấu sự lóng người truyền đạt thông tin sang vai trò ngóng trong việc sử dụng những dụng cụ, người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học trang thiết bị y tế hay những thao tác chuyên sinh tự mình khám phá kiến thức mới. môn thông thường, mà với tư cách một “Bác Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận sĩ”, họ phải thành thục, lý do đơn giản là thức của học sinh sẽ góp phần làm cho mối trong quá trình học tập, họ có quá ít cơ hội quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò trao đổi, chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm, ít tiếp ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn. Tích cực cận với các tình huống, các biểu hiện bệnh lý hoá vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ thực tế, ít được rèn luyện các thao tác thực dạy học, đồng thời nó góp phần rèn luyện hành, do đó, mặc dù kiến thức sách vở của họ cho học sinh những phẩm chất của người không kém, nhưng họ vẫn không có được sự lao động mới: tự chủ, năng động, sáng tạo tự tin, sự quyết đoán cần thiết. tự tin và quyết đoán. Đó là những mục tiêu mà nhà trường và nền giáo dục của chúng ta Việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy phải hướng tới. tính chủ động, tích cực và chủ động trong =============== hoạt động học tập chính là giải pháp hiệu Abstract quả nhất nhằm khắc phục thực trạng nói According to the view of modern education, the  trên. nature   of   learning   activities   is   the   problem   that  4. Kết luận real   life   needs   and   cognitive   set.   Although   the  Tổ chức hoạt động nhận thức theo operation   itself   or   self­study   ­   self­research   is  hướng tích cực hoá là một hoạt động nhằm fundamental   and   very   important,   however,   still  làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ needs the help of the teacher in the suggestive,  động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận lead,   organize   awareness   activities,   forging  tri thức thành chủ thể tìm kiếm tri thức để training methods and thinking skills and problem­ nâng cao hiệu quả đào tạo. Đây là một trong solving   capacity   for   students. những nhiệm vụ quan trọng của hoạt động Location   update   and   share   some   concepts  and  giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy và issues   related   to   awareness,   organizational  học. awareness activities through the skill  to problem­ Iệc dạy và học vật lý hiện nay cũng nằm solving   capacity   and   cognitive   skill   creative  trong xu hướng đổi chung, đó là tích cực hoá thinking for students in learning physics hoạt động nhận thức của học sinh. Nhiều ======== chuyên gia giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu đang hướng tới việc tìm kiếm con đường TÀI LIỆU THAM KHẢO tối ưu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tất cả các quan điểm, các [1]. Nguyễn Văn Khải (Chủ biên): Lí luận dạy công trình nghiên cứu đó đều hướng tới việc học vật lí ở trường phổ thông; NXB GD, 2008. [2]. Nguyễn Đức Thâm (Chủ biên): Phương thay đổi vai trò người dạy và người học pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông; NXB nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy ĐHSP-HN, 2002; học, đáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai [3]. Phạm Hữu Tòng: Lí luận dạy học vật lí 1; NXB ĐHSP, 2005; đoạn phát triển mới, trong đó học sinh [4]. Thái Duy Tuyên: Những vấn đề cơ bản giáo chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin dục học hiện đại; NXB Giáo dục, 1999; sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm [5]. Thái Duy Tuyên: Phương pháp dạy học- kiếm kiến thức, còn thầy giáo chuyển từ Truyền thống và đổi mới; NXB Giáo dục, 2008;
  9. [6]. Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên): Quá trình dạy- tự học; NXB GD, 1998; [7] Một số tư liệu, bài viết trên các diễn đàn và website: tailieu.vn; DạyhọcIntel.net;www.giaovien.net, tusach.net thuvienkhoahoc.com; .ntu.edu.vn vv… Tags: giáo dục, đào tạo, phương pháp dạy học; Xu hướng đổi mới PPDH, lí luận dạy học, tích cực hóa hoạt động học tập

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản