Đề tài "TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM"

Chia sẻ: vanphong1

Nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu tiên sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được đánh giá là tiếp tục phát triển tốt. Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2007 đạt 7,7%, là mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay, và dự báo tăng trưởng cả năm 2007 sẽ vượt mức kế hoạch 8,5%. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đầu tiên đến một số lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Riêng việc nghiên cứu tình hình xuất khẩu...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài "TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM"

 

  1. LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu tiên sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được đánh giá là tiếp tục phát triển tốt. Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2007 đạt 7,7%, là mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay, và dự báo tăng trưởng cả năm 2007 sẽ vượt mức kế hoạch 8,5%. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đầu tiên đến một số lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Riêng việc nghiên cứu tình hình xuất khẩu của những tháng đầu năm 2007 cũng có thể hé mở một số dấu hiệu cho thấy tác động của việc thực hiện những cam kết gia nhập WTO. Tuy những tác động này chưa thực sự rõ rệt nhưng cũng tiềm ẩn cho thấy một số xu hướng mới rất đáng quan tâm. Một loạt vấn đề cần được đặt ra để tìm những câu trả lời thoả đáng nhất. Chẳng hạn như, làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam ở chính thị trường trong nước và bảo vệ sản xuất trong nước trong điều kiện hàng rào thuế quan đã, đang và sẽ còn tiếp tục được cắt giảm? Làm thế nào để đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa đề bù đắp vào khoản thị trường trong nước bị buộc phải nhường chỗ cho hàng xuất khẩu? Làm thế nào để giảm nhập khẩu để từng bước giảm nhập siêu và tiến tới xuất siêu vào cuối thập kỷ này như chiến lược xuất nhập khẩu đã đề ra?... Để có câu trả lời thoả đáng nhất, điều mà chúng ta cần làm trước hết là tìm hiểu những vấn đề về xuất khẩu của Việt Nam. G  Trang  1
  2. Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 1.1 KIM NGẠCH XUẤT - NHẬP KHẨU: Tình hình xuất - nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến 8 tháng đầu năm 2007 (ĐVT: triệu USD) Năm Xuất Khẩu Nhập khẩu Tổng số Nhập siêu 2000 14.483,00 15.636,50 30.199,50 1.153,50 2001 15.029,00 16.218,00 31.247,00 1.189,00 2002 16.706,10 19.745,60 36.451,70 3.039,50 2003 20.149,30 25.255,80 45.405,10 5.106,50 2004 26.507,40 31.959,30 58.466,70 5.451,90 2005 32.233,00 36.881,00 69.104,00 4.648,00 2006 39.605,00 44.410,00 84.015,00 4.805,00 8 tháng đầu 31.218,00 37.632,00 68.850,00 6.414,00 2007(*) (*) chỉ số ước tính ( Nguồn: Bộ Thương Mại) Nếu như trong năm 2006 cả nước xuất khẩu 39,6 tỷ USD (trị giá tại cảng đi), nhập khẩu 44,4 tỷ USD (trị giá tại cảng đến), cán cân thương mại tuy nghiêng về nhập khẩu, ta nhập siêu 4,8 tỷ USD thì chỉ trong 7 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt trên 27 tỷ USD trong khi nhập khẩu lên tới con số 32,2 tỷ USD tăng trên 30% so với cùng kỳ năm 2006 bằng 72,5% so với năm 2006 và mức siêu nhập đã đạt đến con số 5 tỷ USD. Tính chung 8 tháng đầu năm, cả nước nhập siêu 6,4 tỷ USD hàng hóa. Theo dự báo của Bộ Công thương, con số siêu nhập đến cuối năm 2007 có thể lên đến trên 8 tỷ USD. Về cơ cấu nhập khẩu năm 2006 khoảng 70% là hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất để tái xuất khẩu và sản xuất trong nước, bao gồm các mặt hàng: gỗ nguyên liệu, bột giấy, đồng nguyên liệu, bông và sợi các loại, phân bón, sắt thép, da nguyên liệu, máy móc thiết bị… các mặt hàng tiêu dùng khác chiếm khoảng 30% thì trong 7 tháng đầu năm 2007 kim ngạch nhập khẩu vẫn chủ yếu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất như máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng ước tính đạt 4,4 tỷ USD, tăng tới 46,4% so với cùng kỳ; xăng dầu 3,3 tỷ USD, tăng 8,2%; sắt thép 2,15 tỷ USD, tăng 60,9%, hóa chất tăng 47,1%. Trang  2
  3. Chỉ số phát triển so với năm trước - Index (%) Xuất Nhập Tổng Năm khẩu Khẩu số 2000 125.5 133.2 129.4 2001 104% 104% 103% 2002 111% 122% 117% 2003 121% 128% 125% 2004 132% 127% 129% 2005 122% 115% 118% 2006 123% 120% 122% 8 tháng đầu 2007 79% 85% 82% Các nhân tố làm tăng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2004 - 2006 KNXK Trong đó tăng Do tăng giá XK Do tăng lượng XK (triệu KN T.trọng KN (triệu T.trọng USD) (triệu USD) (%) USD) (%) Năm 6.327,00 1.973,40 31.2 4.353,60 68.8 2004 Năm 5.730,00 3.294,10 57.5 2.436,20 42.5 2005 Năm 7.163,30 2.941,00 41.1 4.222,30 58.9 2006 (Nguồn: báo cáo Bộ Thương Mại trình Chính Phủ) Tình hình Xuất khẩu hàng hóa chia theo khu vực kinh tế (ĐVT: tỉ USD) DN 100% vốn trong DN có vốn nước ngoài Năm nước Xuất khẩu Tỷ trọng Xuất khẩu Tỷ trọng 2000 7.67 52.97% 6.81 47.03% 2001 8.23 54.76% 6.8 45.24% 2002 8.83 52.87% 7.87 47.13% 2003 9.99 49.58% 10.16 50.42% 2004 12.01 45.32% 14.49 54.68% 2005 13.7 42.55% 18.5 57.45% 2006 16.51 42.05% 22.75 57.95% 8 tháng 13.77 44.11% 17.45 55.89% đầu 2007 (Nguồn: Tổng hợp từ Tổng Cục Thống Kê và Bộ Thương Mại Trang  3
  4. 1.2 THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU: Xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: từ nguồn lượng, chủng loại, chất lượng hàng hoá sản xuất ở trong nước để xuất khẩu, giá cả xuất khẩu, công tác quảng cáo, tiếp thị… đến thị trường xuất khẩu. Trong yếu tố trên, thị trường xuất khẩu là yếu tố đặc biệt quan trọng, bởi nó tác động đến hầu hết các yếu tố khác và sự tăng trưởng của tổng kim ngạch xuất khẩu. Dưới đây là diễn biến các thị trường xuất khẩu từ đầu năm 2007 đến nay - Châu Á hiện vẫn là thị trường nhập khẩu hàng của Việt Nam nhiều nhất, chiếm trên 45% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường châu Á đang giảm dần, do xuất khẩu vào thị trường này tăng thấp hơn tốc độ tăng chung, thậm chí vào một số nước và vùng lãnh thổ còn bị giảm so với cùng kỳ năm trước. +Nhật Bản - thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ) của Việt Nam và lớn thứ nhất châu Á, nhưng 4 tháng qua mới đạt 1,6 tỷ USD, chỉ tăng 2,5% (quý I còn bị giảm 1,6%), chủ yếu do xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang đây từ năm 2005 đã vượt Mỹ lên đứng thứ nhất, nhưng từ mấy tháng nay đã bị dừng lại khi Nhật Bản kiểm tra phát hiện dư lượng kháng sinh vượt mức cho phép. +Trung Quốc - thị trường nhập khẩu hàng Việt Nam lớn thứ tư thế giới và lớn thứ hai ở châu Á, nhưng 4 tháng qua mới đạt 1 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ (quý I bị giảm 12,1%). Trong quan hệ xuất nhập khẩu với Trung Quốc, Việt Nam liên tục ở vị thế nhập siêu và nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng: quý I lên đến 1.134,6 triệu USD, lớn nhất trong các nước và vùng lãnh thổ. +Singapore - thị trường nhập khẩu nhiều hàng của Việt Nam, đứng thứ 6 trên thế giới và thứ nhất khu vực Đông Nam Á, trong quý I đã nhập 459,3 triệu USD, tăng tới 50,6% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nhập siêu của Việt Nam từ Singapore rất lớn, quý I lên đến 826,3 triệu USD, đứng thứ hai sau Trung Quốc. +Indonesia - nhập khẩu từ Việt Nam trong quý I/2007 gần 310 triệu USD hàng hoá, vượt lên đứng thứ 8 thế giới, thứ 3 ở châu Á và thứ hai ở Đông Nam Á, tăng 27,8% so với cùng kỳ, chủ yếu do tăng xuất khẩu gạo từ Việt Nam. +Hàn Quốc- quý I/2007 đã nhập từ Việt Nam gần 247 triệu USD hàng hoá các loại, đứng thứ 9 thế giới và thứ 5 châu Á. Tuy nhiên, trong quan hệ buôn bán Việt-Hàn, Việt Nam luôn ở vị thế nhập siêu với mức nhập siêu quý I lên đến 653,8 triệu USD. +Campuchia- quý I/2007 cũng nhập khẩu nhiều hàng của Việt Nam, đạt 223,9 triệu USD, đứng thứ 11 thế giới, thứ 6 ở châu Á và thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á. Việt Nam có vị thế xuất siêu trong quan hệ buôn bán với Campuchia. +Thái Lan - quý I/2007 đã nhập khẩu từ Việt Nam 206,3 triệu USD hàng hoá, giảm 16,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong quan hệ buôn bán với Thái Lan, Việt Nam luôn ở thế nhập siêu với mức nhập siêu quý I/2007 lên tới 400,2 triệu USD. +Hồng Kông- quý I/2007, xuất khẩu của Việt Nam sang Hồng Kông đạt 116,6 triệu USD, tăng 33,3%, đưa Hồng Kông trở thành thị trường nhập khẩu lớn thứ 20 trên thế giới và thứ 11 ở châu Á của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn nhập siêu từ Hồng Kông với mức nhập lên tới 197,6 triệu USD. +Đài Loan - quý I/2007 đã nhập từ Việt Nam một lượng hàng hoá trị giá 221,5 triệu USD. Tuy nhiên, trong quan hệ buôn bán với Đài Loan, Việt Nam vẫn luôn ở thế nhập siêu với mức nhập siêu quý I lên đến 749,7 triệu USD. Trang  4
  5. Qua những kết quả ở trên, ta thấy quan hệ buôn bán của Việt Nam với các nước châu Á trong những tháng qua có 3 đặc điểm: quy mô lớn nhất trong các châu lục khác; tăng chậm nhất so với các châu lục khác, nên tỷ trọng giảm; Việt Nam nhập siêu lớn nhất ở châu lục này. - Mỹ là nước nhập khẩu của Việt Nam nhiều nhất, 4 tháng qua đạt 2,8 tỷ USD, đứng thứ nhất trong các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, chiếm 19,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tăng 23,1% so với cùng kỳ. Những mặt hàng có kim ngạch lớn nhất vào thị trường này là dệt may (1,2 tỷ USD, tăng 32,9%); giày dép 290 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ 267 triệu USD. Trong quan hệ buôn bán với Mỹ, Việt Nam hiện ở vị thế xuất siêu lớn (quý I xuất siêu 1.967,8 triệu USD). Tuy nhiên, xuất khẩu dệt may vào Mỹ đang bị chương trình giám sát bán phá giá giám sát, dự định điều tra vào tháng 8, nên ảnh hưởng đến xuất khẩu trong thời gian tới. - EU - thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam. Bốn tháng qua đã đạt gần 2,8 tỷ USD, chiếm 19,4% tổng kim ngạch của Việt Nam, tăng 26,5% tốc độ tăng chung. Trong khu vực này: +Đức đứng đầu, với 604 triệu USD, tăng 32%; Việt Nam xuất siêu khá (quý I là 271,5 triệu USD); +Anh đứng thứ hai, với 422 triệu USD, tăng 14,1%; Việt Nam xuất siêu khá (quý I đạt 307 triệu USD); +Hà Lan đứng thứ ba, với 320 triệu USD, tăng 28,7%, Việt Nam xuất siêu 149,6 triệu USD trong quý I; +Italia đứng thứ tư, với 269 triệu USD, tăng 37%, Việt Nam xuất siêu khá (quý I xuất siêu 139,7 triệu USD); +Australia nhập khẩu từ Việt Nam 947,7 triệu USD trong quý I/2007, là nước nhập khẩu lớn thứ ba trên thế giới của Việt Nam với tốc độ tăng khá cao (35,8%). Việt Nam xuất siêu lớn (quý I là 803,4 triệu USD, lớn thứ 2 sau Mỹ). 1.3 CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu (ĐVT: Triệu USD) 8 tháng đầu So cùng kỳ Mặt hàng Năm 2006 Năm 2005 2007 2006 Dầu thô 5.091 -11.80% 8.323 7.387 Dệt may 5.084 29.60% 5.820 4.806 Da giày 2.725 14.30% 3.555 3.005 Thủy sản 2.361 14.10% 3.364 2.741 Gạo 1.154 12.10% 1.306 1.399 Cà phê 1.414 90.80% 1.101 725 Cao su 799 -1.60% 1.273 787 Hạt tiêu 178 20.20% 190 152 Chè 71 4.40% 111 100 Hạt điều 396 24.20% 505 486 Sản phẩm gỗ 1.499 24.30% 1.904 1.517 (Nguồn: báo SaigonTimes và Tổng Cục Thống Kê) Trang  5
  6. Như vậy, trong 8 tháng đầu 2007, dầu thô xuất khẩu giảm 4.8% về số lượng, giá dầu thô cũng giảm khoảng 18 USD/ tấn (khoảng 3.6%) làm cho kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này giảm đến 11.80% so với 8 tháng đầu năm ngoái. Sự sụt giảm xuất khẩu dầu thô đã kéo tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chung cả nước xuống thấp trong 8 tháng đầu năm 2007. Tuy nhiên , các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác đều có tín hiệu khả quan như: cà phê, tiêu, điều, dệt may và các sản phẩm gỗ. Trong đó, xuất khẩu cà phê tăng mạnh do nhu cầu và giá cà phê trên thế giới đang có xu hướng tăng mạnh. Tiếp đến là mặt hàng hạt tiêu và hạt điều, tuy có kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn,và giảm đến 43.1% về lượng nhưng tốc độ tăng trưởng hạt tiêu lại vượt xa so với chỉ tiêu đề ra vì nguồn cung của Việt Nam đang khan hiếm nên giá có xu hướng tăng. Năm 2006, Việt Nam là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất trên thị trường thế giới, chiếm đến 50% tổng số lượng giao dịch lên 200.000 tấn trên toàn cầu. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu (ĐVT: Triệu USD) Mặt hàng 8 tháng đầu 2007 So cùng kỳ 2006 Năm 2006 Năm 2005 Máy móc, thiết bị 6.212 51.40% 6.555 5.254 Xăng dầu 4483 6.40% 5.848 4.969 Sắt thép 2.310 65.00% 2.905 2.984 Điện tử, linh 1.784 42.50% 2.055 1.695 kiện Vải 2.598 34.30% 2.954 2.406 NVL dệt, may da 1.407 7.60% 1.959 2.308 Gỗ 669 41.10% 760 667 Kim ngạch nhập khẩu tháng 7/2007 tăng 1,8% (gần 100 triệu USD) so với tháng 6/2007. Tính chung 7 tháng đầu năm 2007, KNNK đạt 32,2 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm 2006. Trong đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI ước đạt 11,42 tỷ USD, tăng 26,3%; nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước là 20,82 tỷ USD, tăng 31,8%. Đa số các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm 2006. Trong đó: nhập khẩu xăng dầu tăng 12%, sắt thép tăng 24,3%, phân bón tăng 14%, máy móc thiết bị tăng 42,2%, vải tăng 32%, tân dược tăng 22,5%. Về thị trường nhập khẩu, 5 đối tác lớn nhất xuất khẩu hàng hoá vào Việt Nam là Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc. KNNK từ 5 thị trường này chiếm trên 50% tổng KNNK của cả nước; - Nhập siêu hàng hoá trong 7 tháng đầu năm ước đạt 5,45 tỷ USD, bằng 20,3% tổng KNXK. 1.4 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN: 1.4.1 Thuận lợi: Trở thành thành viên của WTO, hàng hoá của VN có cơ hội có mặt trên thị trường thế giới và hấp dẫn các công ty nước ngoài đầu tư vào thị trường VN. Hiện nay, FDI Trang  6
  7. của nước ta đang trên đà gia tăng, đạt 5,8tỷ USD năm 2005 và theo dự kiến thì FDI của VN sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thời gian sắp tới. Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sẽ giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến từ các nước phát triển. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước học hỏi cách thức quản lý mới, sử dụng công nghệ mới trong sản xuất và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Cải tiến và hoàn thiện các dây chuyền sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa sẽ giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí, tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng, đa dạng về mẫu mã, bao bì… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Gia nhập WTO, thực thi theo đúng các nguyên tắc của tổ chức này thì hàng hóa của VN được đối xử bình đẳng như hàng hóa của các nước thành viên khác, các doanh nghiệp của VN có vị thế ngang bằng với doanh nghiệp của các nước thành viên khác, các doanh nghiệp VN cũng được đối xử công bằng như các doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp trẻ, năng động, chấp nhận mạo hiểm, dám đối đầu với cạnh tranh cùng với đội ngũ nhân viên kinh doanh nhạy bén với những thay đổi của thị trường giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng rút ngắn khoảng cách thua kém về tài và lực, nâng cao vị thế của Doanh nghiệp Việt Nam ngang bằng với Doanh nghiệp nước ngoài trong môi trường hội nhập nhanh chóng và cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của mẫu mã, chất lượng hàng hóa, mạnh dạn trong việc đổi mới công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh. Khả năng thâm nhập thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp VN tăng 1.4.2 Khó khăn: Các doanh nghiệp xuất khẩu chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của giá cả, tính cạnh tranh của giá cả còn thấp. Phần lớn việc định giá là dựa vào giá cả của đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chưa thật sự chủ động trong việc nghiên cứu nhu cầu thị trường để hoạch định chiến lược giá. Nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay vẫn còn ít nên việc thu mua, dự trữ hàng hoá còn hạn chế, đây cũng là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp xuất khẩu chưa có khả năng chủ động trong việc định giá. Hơn nữa, do khả năng xoay chuyển vốn lưu động còn thấp khiến cho doanh nghiệp luôn ở trong tình trạng cạn vốn mặc dù đã thế chấp tài sản để vay ngân hàng vẫn không đảm bảo được nguồn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp. Đa số doanh nghiệp VN còn chưa thể đáp ứng được các qui định nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh thực phẩm và các qui định về chất lượng. Trước xu thế hội nhập toàn cầu, làn sóng nhập khẩu đang phát triển mạnh mẽ, thì tất cả các nước phải có các chiêu bài để bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất trong nước, một trong những chiêu bài đó là đề ra những qui định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện nay, các mặt hàng xuất khẩu của ta chư đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt này. Sử dụng thiết bị công nghệ lạc hậu, chí phí nguyên vật liệu cao, năng suất lao động thấp do đó chi phí kinh doanh cao nên lợi nhuận thấp, doanh nghiệp không có nguồn lực để phát triển Không thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác chuyên nghiệp nh ư: vận chuyển hàng hóa, dịch vụ hải quan, ngân hàng, dịch vụ hải quan, luật sư đại diện… Trang  7
  8. Hầu hết các doanh nghiệp đều tự mình thực hiện tất cả các khâu trong quá trình xuất, nhập khẩu. Điều này sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp sẽ mất rất nhiều thời gian và nhiều lúc gặp khó khăn từ phía đối tác. Chưa xây dựng được thương hiệu mạnh, vì: • Chưa có chính sách xây dựng thương hiệu. • Chi phí để quảng cáo,quảng bá thương hiệu cao. Một phần tâm lý thu hồi vốn nhanh khi làm ăn của các doanh nghiệp VN nên chưa chú trọng đến thương hiệu. • Quan trọng nhất vẫn là chất lượng sẩn phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp VN. Sản phẩm và dịch vụ của chúng ta chưa có sự đồng đều Doanh nghiệp thiếu hiểu biết về Pháp luật, thông lệ quốc tế, thiếu thông tin và không tích cực tìm hiểu những qui định của các nước nhập khẩu hay những qui định của tổ chức thương mại thế giới mà Việt Nam giờ đây đã là thành viên thứ 150. Chính sự thiếu hiểu biết này đã gây không ít khó khăn cho Doanh nghiệp xuất khẩu VN, làm hạn chế khả năng kinh doanh của doanh nghiệp như việc doanh nghiệp nước ta từng bị kiện bán phá giá cá tra, cá basa, tôm (do các doanh nghiệp Mỹ kiện), giày da (do các doanh nghiệp EU khởi kiện), nhãn hiệu nước mắm Phú Quốc bị Thái Lan chiếm dụng nhãn hiệu … Trang  8
  9. Chương 2: CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC 2.1 DẦU THÔ: 2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu: Sản lượng xuất khẩu dầu thô Việt Nam (ĐVT: Nghìn tấn) Năm Sản lượng 1997 9.638 1998 12.145 1999 14.882 2000 15.424 2001 16.732 2002 16.870 2003 17.143 2004 19.501 2005 18.084 2006 18.601 8 tháng đầu 2007 13.000 (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam) Từ năm 1991, Việt Nam được xếp vào hàng các nước xuất khẩu dầu thô do kim ngạch xuất khẩu dầu thô lớn hơn kim ngạch nhập khẩu xăng dầu đã qua chế biến. Giá xuất khẩu dầu thô tăng sẽ góp phần vào tăng trưởng GDP của Việt Nam, làm tăng nguồn thu ngoại tệ, phần nào khiến cung cầu ngoại tệ diễn biến theo chiều hướng tích cực, từ đó tác động đến tỷ giá, làm cho tỷ giá giữa VND và USD được giữ ở mức tương đối ổn định. Như vậy, giá dầu thế giới tăng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, với tư cách nước xuất khẩu dầu thô. Với sản lượng 19,36 triệu tấn dầu và khí năm 2002, xuất khẩu 16,9 triệu tấn dầu thô; Việt Nam đang đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á về khai thác và xuất khẩu dầu thô. Bên cạnh việc tăng tốc khai thác, xuất khẩu dầu thô, những năm gần đây, ngành công nghiệp khí và hoá dầu Việt Nam đã bắt đầu hình thành và đang phát triển mạnh. Riêng năm 2002, ngành công nghiệp này đã cung cấp 147.000 tấn condensate và 349.000 tấn khí hoá lỏng (LPG) cho sản xuất và tiêu dùng trong nước thay thế hàng nhập khẩu. Theo dự kiến, sản lượng dầu thô quy đổi của Việt Nam dự kiến sẽ đạt khoảng 30-32 triệu tấn vào năm 2010. Ngoài việc tăng ngoại tệ từ xuất khẩu dầu thô, những dự án khí và hoá dầu nếu được triển khai đúng tiến độ sẽ nâng cao giá trị của ngành dầu khí, phục vụ tốt hơn cho các ngành năng lượng và sản xuất công nghiệp trong nước. Dầu thô là mặt hàng có kim ngạch liên tục đứng đầu, chiếm tới 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam; tốc độ tăng bình quân trong 5 năm đạt 16,1%, trong đó do giá tăng 12,6%, do lượng tăng 3,1% nhưng chủ yếu là từ 2001- 2004, còn từ năm 2005 đến nay có xu hướng giảm để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Kim ngạch xuất khẩu dầu thô Việt Nam năm 2005 trong 11 tháng đầu năm gần 16,5 triệu tấn dầu thô trị giá 6,8 tỉ đô la. Lượng dầu bán ra tuy giảm 7,6% nhưng kim ngạch Trang  9
  10. tăng 30,3% vì giá dầu tăng vọt trên thị trường thế giới. Tổng lượng dầu thô xuất khẩu giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 90 triệu tấn, trị giá đạt 23,2 tỷ USD. Tốc độ tăng kim ngạch bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt trên 16%/năm. So với mục tiêu của Chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2001-2010, lượng dầu thô khai thác và xuất khẩu tăng 12,5%. Năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thô (khai thác từ các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, PM3, Cái Nước, Rạng Đông, Ruby và Sư Tử Đen) đạt mức rất cao, gần 8,3 tỷ USD. Cơn sốt nhiên liệu thế giới thời gian qua đã giúp Việt Nam tăng kim ngạch xuất khẩu dầu thô và cải thiện cán cân thương mại. 8 tháng đầu năm 2007, cả nước xuất được hơn 13 triệu tấn, đạt gần 3,5 tỷ USD, tăng 25% về lượng và 70% về trị giá, đã tăng 960 triệu USD so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nếu tính riêng tháng 8, xuất khẩu dầu thô chỉ đạt 1,7 triệu tấn, trị giá 493 triệu USD, tăng 14,3% về lượng và 38% về trị giá so với tháng 8 năm ngoái. Theo Bộ Thương mại, sự tăng lên của kim ngạch dầu thô trong tháng 7 chủ yếu do tăng lượng xuất, còn giá đã bắt đầu xu hướng giảm dần (giảm gần 3 USD/thùng). Dự kiến từ nay đến cuối năm, Việt Nam chỉ xuất thêm 4,5 triệu tấn với giá 38 USD/thùng. Như vậy, kim ngạch trong những tháng cuối năm chỉ đạt 1,2 tỷ USD, tức là bình quân mỗi tháng đạt 300 triệu USD, giảm khoảng 195 triệu USD so với tháng 8 và giảm 135 triệu USD so với bình quân tháng của 8 tháng đầu năm 2.1.2 Thị trường xuất khẩu: Hiện có khoảng 10 nước nhập khẩu dầu thô của Việt Nam, trong đó có các bạn hàng lớn là Australia (trên dưới 30%), Trung Quốc, Singapore (đều trên dưới 20%). Dầu thô là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, nhu cầu nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc khoảng 40 - 50 triệu tấn/năm, cộng với yếu tố giá cả trên thị trường thế giới của mặt hàng này trong thời gian tới vẫn sẽ có lợi cho xuất khẩu. Xuất khẩu dầu thô của Việt Nam sang Trung Quốc chắc chắn sẽ giữ được mức ổn định và tăng về giá trị. Trong 6 tháng đầu năm 2007, các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia có kim ngạch tăng bao gồm: dầu thô xuất khẩu 838 ngàn tấn, trị giá 371,2 triệu USD (tăng 11,7% về lượng và 0,75% về trị giá); Hiện nay, thị trường tiêu thụ dầu thô Việt Nam chủ yếu là khu vực châu Á - Thái Bình Dương như: Trung Quốc, Singapore, Australia, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản... Các khách hàng mua dầu chủ yếu là các hãng và tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới như: Shell, BP (Anh quốc); Exxon Mobil, Chevron (Mỹ); Chinaoil, Sinopec, Sinochem... (Trung Quốc); Sumitomo, Sojitz, Mitsubishi (Nhật Bản)... Bên cạnh các khách hàng mua dầu truyền thống, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã và đang thiết lập các mối quan hệ hợp tác kinh doanh dầu thô với các khách hàng mới trong và ngoài khu vực. 2.1.3 Thuận lợi và khó khăn: 2.1.3.1 Thuận lợi: - Thuận lợi lớn nhất mà ngành dầu khí đã tạo dựng được trong hoạt động xuất khẩu dầu thô là dù giá lên cao hay xuống thấp, dầu thô Việt Nam được khai thác từ mỏ Bạch Trang  10
  11. Hổ, Rạng Đông, Ruby, Đại Hùng... và gần đây là Sư Tử Đen, vẫn luôn hấp dẫn được khách hàng gần xa bởi chất lượng, uy tín trong giao dịch. Trong đó, dầu thô Bạch Hổ chiếm tới 60% tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam. - Có một hệ thống khách hàng truyền thống, gắn kết chặt chẽ với công ty trong mọi hoàn cảnh, nhất là những lúc khó khăn, giá dầu sụt xuống, thị trường dầu thô thế giới gần như bị “đóng băng”, nhưng dầu thô Việt Nam vẫn xuất khẩu đều, tránh được hiện tượng phải đóng mỏ (trong hoàn cảnh bình thường, đây là điều tối kỵ nhất trong quá trình khai thác và xuất khẩu dầu thô). Một sự kiện rất quan trọng, mang tính bổ sung hết sức kịp thời cho việc khai thác dầu khí của Việt Nam là trong khi lượng dầu khai thác gần 20 năm qua từ mỏ Bạch Hổ đang giảm dần thì từ năm 2003, dầu thô từ mỏ Sư Tử Đen bắt đầu được khai thác và đưa vào xuất khẩu với sản lượng khoảng 70.000 thùng/ngày. Bên cạnh đó, trong vài năm tới, mỏ Sư Tử Vàng và Sư Tử Trắng sẽ đi vào khai thác, hứa hẹn một sự tăng trưởng mới cho ngành dầu khí Việt Nam. 2.1.3.2 Khó khăn: - Là mặt hàng đặc biệt, ngoài việc bị điều chỉnh bởi tình hình cung cầu trên thế giới, giá dầu thô còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác như thời tiết, biến động chính trị… - Cũng như nhiều mặt hàng khác, dầu thô đang vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt về giá của nhiều nước khác, nhất là khu vực châu Phi. Khi giá dầu lên cao, các khách hàng tiêu thụ có xu hướng tìm các nguồn dầu khác thay thế rẻ hơn, ví dụ từ châu Phi, Trung Đông... Chất lượng dầu thô của các nước châu Phi xấp xỉ dầu khai thác từ mỏ Bạch Hổ nhưng được chào bán thấp hơn dầu Việt Nam 5 USD/thùng, nên mới đây những khách hàng Trung Quốc đã rút lui để chuyển sang mua dầu của châu Phi. Đây cũng là trở ngại lớn của chúng ta trong tương lai. - Xuất khẩu dầu thô khi giá tăng cao trên thị trường thế giới là rất vất vả. Vì có không ít khách hàng cạnh tranh bằng chiêu thức chào bán với giá thấp hơn để đẩy mạnh bán ra. - Kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam tăng lên hiện nay chủ yếu là do giá tăng chứ không phải do tăng sản lượng khai thác. Hiện tại đây là một dấu hiệu tốt nhưng do kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào giá dầu nên khi giá dầu trên thị trường thế giới ổn định trở lại, kim ngạch xuất khẩu thực tế của Việt Nam sẽ giảm mạnh. Hơn nữa, trữ lượng dầu của Việt Nam còn ít so với các nước xuất khẩu dầu khác. Trong số 56 nước xuất khẩu dầu thô trên thế giới, Việt Nam chỉ đứng thứ 50 về trữ lượng. Mức dầu bình quân đầu người ở Việt Nam cũng còn thấp, mới chỉ dừng ở 2 thùng/người, trong khi một nước xuất khẩu dầu thô chỉ có thể hoàn toàn thu lợi từ việc giá dầu tăng khi mức dầu bình quân đầu người tối thiểu là 50 thùng/người. - Một bất lợi khác của giá dầu cao đối với kinh tế Việt Nam là Việt Nam phải nhập khẩu 100% xăng dầu, do đó kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng. Chính vì vậy Chính phủ Việt Nam phải dùng phần doanh thu từ xuất khẩu dầu thô để bù đắp cho lượng tăng lên trong giá nhập khẩu. Như vậy, nếu giá dầu vẫn tiếp tục tăng cao, phần doanh thu từ dầu thô sẽ không đủ bù đắp phần giá trị tăng lên do nhập khẩu xăng dầu. Do đó Việt Nam cần chú trọng đến các biện pháp tăng cường công suất khai thác, phát hiện và tìm kiếm các mỏ dầu ngoài khơi mới. Trang  11
  12. 2.2 DỆT MAY: 2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu: Dệt may là ngành kinh tế quan trọng, thu hút số lượng lớn lao động, hơn 300.000 lao động là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai sau ngành dầu khí. Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu Tốc độ tăng trưởng USD) (%) 1997 1.503 1998 1.450 -3,5 1999 1.746 20,4 2000 1.892 8,4 2001 1.975 4,4 2002 2.752 39,4 2003 3.689 34,0 2004 4.386 18,9 2005 4.806 9,6 2006 5.834 21,4 8 tháng đầu 2007 5.084 (Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam) Kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2003 đạt 3,7 tỉ USD gấp 2 lần so với năm 2001. Kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước tháng 8/2007 ước đạt 830 triệu USD, tăng 32,8% so với tháng 8/2006, tính chung 8 tháng đầu năm ước đạt 5,084 tỷ USD, tăng 29,6% so với cùng kỳ. Tháng 8, sản xuất kinh doanh của ngành tiếp tục phát triển với nhiều dấu hiệu tích cực do nỗ lực tăng cường quan hệ ngoại giao giữa Chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ trong việc giải quyết vấn đề cơ chế giám sát hàng dệt may Việt Nam. Do quản lý tốt công tác giám sát xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ để tránh kiện bán phá giá nên các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đã quay trở lại Việt Nam đặt hàng cho quý IV và các tháng đầu năm 2008. Tập đoàn Dệt may và Hiệp hội Dệt may đang tiếp tục hướng dẫn các doanh nghiệp tham gia quảng bá sản phẩm, tiếp thị sản phẩm của ngành vào thị trường EU với sự hỗ trợ từ Trung tâm xúc tiến xuất nhập khẩu từ các nước đang phát triển của Hà Lan. Cuối tháng 7/2007, Bộ Công Thương đã ra Quyết định dừng việc chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất hàng dệt may, hàng dệt may bán thành phẩm, nguyên phụ liệu dệt may qua Việt Nam sang Hoa Kỳ. Đây là một trong những biện pháp nhằm ngăn chặn việc chuyển tải bất hợp pháp, sử dụng giấy xuất xứ hàng hóa (C/O) từ Việt Nam thay vì C/O từ nước khác cho việc tạm nhập, tái xuất đối với hàng dệt may. 2.2.2 Thị trường xuất khẩu: Trang  12
  13. Thị trường Mỹ: nếu những tháng đầu năm, ngành dệt may VN điêu đứng vì hàng loạt nhà NK Hoa Kỳ "bỏ đi" do lo ngại hàng dệt may VN bị Hoa Kỳ áp dụng cơ chế giám sát, và có thể bị áp thuế chống bán phá giá... nhưng với sự chủ động giám sát đối với hàng dệt may XK ngay từ trong nước, áp lực đã giảm, và các nhà NK Hoa Kỳ đã quay trở lại. Trong tháng 7/2007, xuất khẩu mặt hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ tiếp tục duy trì ở mức cao và tăng nhẹ so với tháng 6, kim ngạch xuất khẩu đạt 444,3 triệu USD, tăng 3% so với tháng 6 và tăng tới 45% so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chiếm tới 58% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong tháng 7. Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ 7 tháng năm 2007 lên 2,487 tỷ USD, tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao trong nhiều năm qua và cũng là bước đệm cho họat động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ thuận lợi trong những tháng cuối năm nay và đầu năm 2008. Tiếp đến là thị trường EU, đạt kim ngạch 801.987.229 USD tăng 16,78% so với cùng kỳ năm ngoái. Với tiến độ xuất khẩu như hiện nay, nhiều khả năng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU sẽ đạt và vượt kế hoạch đề ra. Xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản cũng có được sự tăng trưởng khá, đạt 389.472.316 USD, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm ngoái. Kết quả này đánh dấu sự hồi phục mạnh mẽ tại thị trường Nhật Bản. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Canađa đã có sự tăng trưởng rất mạnh trong 7 tháng đầu năm, đạt 77.651.653 USD, tăng tới 42,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng ở mức kỷ lục, tăng 491,84% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù kết quả xuất khẩu đạt được vẫn còn thấp, chỉ đạt 21.274.148 USD nhưng cũng đã mở ra rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong thời gian tới. 2.2.3 Khó khăn: Ngành dệt may hiện nay đang phải đối mặt với một số khó khăn sau: Một là, do trình độ máy móc thiết bị của các nhà máy cơ khí trong ngành quá lạc hậu, không được đổi mới, nên không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp về chất lượng và thời gian giao hàng. Hai là, phụ tùng, cơ kiện phục vụ cho ngành dệt may đang nhập lậu vào Việt Nam từ Trung Quốc với số lượng lớn, giá rẻ. Bên cạnh đó, tâm lý các doanh nghiệp không muốn đổi mới thiết bị cơ khí để sản xuất phụ tùng, vì sợ không cạnh tranh nổi với sản phẩm của Trung Quốc cũng là điều dễ hiểu, nhất là cơ chế thị trường hiện nay. Ba là, giá sắt thép trong nước thường xuyên biến động và tăng cao, nên sản xuất phụ tùng không có hiệu quả. Bốn là, phụ tùng cơ kiện của ngành dệt rất phức tạp, yêu cầu khắt khe về chất lượng, đòi hỏi phải có tay nghề cao và trang thiết bị hiện đại, điều này các doanh nghiệp cơ khí trong ngành chưa đủ vốn để đầu tư. Tình hình cung cấp nguyên phụ liệu chưa được cải thiện: Nguyên phụ liệu cũng đang là vấn đề nan giải của ngành dệt may. Hiện nay, 70% sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam thực hiện theo phương thức gia công, 30% còn lại là bán gia công. Vì phụ thuộc tới 80% nguyên, phụ liệu nước ngoài, hàng dệt may Việt Nam bị đội giá tới 20 – 30%. Đặc biệt đối với bông xơ thì tỷ lệ này còn cao hơn. Mỗi Trang  13
  14. năm ngành dệt cần khoảng 60.000 tấn bông xơ, nhưng nguồn bông trong nước chỉ mới sản xuất được từ 13.000 tấn đến 16.000 tấn, một con số nhỏ bé so với nhu cầu. Mặc dù trong những năm qua, chính phủ rất quan tâm đến phát triển diện tích trồng bông, nhưng do khí hậu và thổ nhưỡng nước ta chưa phù hợp, nên diện tích và sản lượng bông trong những năm qua tuy có tăng nhưng không đáng kể. Đặc biệt, vụ bông vừa qua diện tích trồng bị thu hẹp, làm sản lượng giảm 20% so với những vụ trước. Nguyên nhân là do người nông dân chuyển sang trồng các cây khác, hạn hán kéo dài đã làm nhiều vùng trồng bông mất trắng hàng nghìn hecta, không cho thu hoạch. Về phụ liệu, mặc dù thời gian qua có một số nhà máy như: Công ty cổ phần phụ liệu may Nha Trang, Công ty may Việt Tiến, Công ty dệt vải công nghiệp và các công ty tư nhân đã sản xuất được phụ liệu khoá kéo, tấm lót, cúc, chỉ… nhưng sản lượng cũng rất nhỏ bé, chỉ đáp ứng được khoảng 20 – 25% nhu cầu của ngành. Chiến lược vẫn dừng lại ở ý tưởng và dự án: Chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may còn đang dừng ở ý tưởng và dự án. Việc tiếp tục nhập khẩu phụ tùng, cơ kiện, nguyên phụ liệu cho ngành dệt may với khối lượng lớn vẫn phải triển khai. Đây là những khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may cho tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. 2.3 DA GIÀY: 2.3.1 Kim ngạch xuất khẩu: Ngành công nghiệp da giày Việt Nam là ngành có lịch sử phát triển lâu đời và hiện nay đang là một trong những ngành công nghiệp có lợi thế xuất khẩu, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế của đất nước: là ngành đứng thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu của cả nước, chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam và đã mang lại danh hiệu là một trong 10 nước xuất khẩu da giày nhiều nhất trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu ngành da giày Việt Nam Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu Tốc độ tăng trưởng USD) (%) 2000 1.471 6,05 2001 1.587 7,88 2002 1.875 18,15 2003 2.260 20,53 2004 2.691 19,07 2005 3.039 12,93 2006 3.555 16,90 8 tháng đầu 2007 2.700 (Nguồn: Vinanet) Từ năm 1991 trở về trước, ngành da giày Việt Nam chỉ chủ yếu cung cấp cho thị trường nội địa nhưng đến năm 1992 – năm đầu tiên xuất khẩu ra thị trường nước ngoài đã đạt kim ngạch lên tới 5 triệu USD. Và với đà tăng trưởng liên tục, đến năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày đã đạt mức 3.55 tỉ USD. Năm 2006 tình Trang  14
  15. hình sản xuất kinh doanh của toàn ngành có nhiều biến động so với năm 2005, một phần do 3 tháng đầu năm 2006, nhiều doanh nghiệp phải dừng sản xuất hoặc có ít đơn đặt hàng do ảnh hưởng của vụ kiện chống bán phá giá các loại giày mũ da, một phần do phải cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế, phải đáp ứng các yêu cầu của nhà nhập khẩu, người tiêu dùng quốc tế (về các tiêu chuẩn, giảm các hoá chất độc hai…). Đến cuối năm 2006, theo thống kê trên 10 đôi giày tiêu thụ trên thế giới đã có tới 2 đôi sản xuất tại Việt Nam, giúp Việt Nam trở thành “nước lớn” về sản xuất giày dép trên thế giới, xét trong Châu Á thì chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ. Tổng chung 8 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 2,7 tỉ USD, tăng 14,3% xuất khẩu các sản phẩm túi xách, vali, mũ, dù đạt 425 triệu USD tăng 28,8% so với cùng kỳ năm ngoái. 2.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu: Chúng ta xuất khẩu nhiều loại mặt hàng đa dạng, phong phú như giày mũ da, giày vải, giày sandal, giày thể thao, các loại giày thời trang, dép đi trong nhà… trong đó sản phẩm giày mũ da là sản phẩm có giá trị cao nhất. Tuy nhiên, do tác động của vụ kiện chống bán phá giá của EU năm 2005 mà hiện nay các mặt hàng giày mũ da bị giảm mạnh. Các nhà nhập khẩu để tránh thuế chống bán phá giá nên cũng chuyển sang đặt các mặt hàng giày thể thao công nghệ cao hoặc các loại giày khác có mũ giả da làm cho hai mặt hàng này có phần tăng lên. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, mặt hàng giày vải cũng tăng mạnh, một phần do nhu cầu người tiêu dùng tăng lên, một phần do duy trì trở lại sau thời gian giày bị suy giảm (bởi các đơn hàng dự trữ hoặc hàng tồn kho nhiều…). Tuy nhiên yêu cầu về chất lượng và mẫu mã của sản phẩm giày vải cũng đã cao hơn nhiều so với các năm trước. Tháng 6/2007, giầy mũ da tổng hợp tiếp tục dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu, đạt 11,33 triệu đôi với trị giá 87,93 triệu USD, chiếm 21,5% tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam trong tháng 6/2007; tăng 12,67% về lượng và tăng 11,9% về trị giá so với tháng 5/2007; tăng 42,5% về lượng, tăng 62,7% về trị giá so với tháng 6/2006. Trong đó xuất khẩu sang Anh đạt 1,92 triệu đôi với trị giá 15,25 triệu USD, giảm 15,3% về lượng và 7,3% về trị giá so với tháng 5/2007; giảm 1,5% về lượng nhưng tăng 8,9% về trị giá so với tháng 6/2006. Xuất khẩu sang Đức đạt trên 2 triệu đôi với trị giá 13,44 triệu USD, tăng 36% về lượng và 33% về trị giá so với tháng 5/2007; tăng 79,2% về lượng và 98,2% về trị giá so với tháng 6/2006. Xuất khẩu sang Mỹ đạt trên 1 triệu đôi với trị giá 9,12 triệu USD, giảm 12,9% về lượng và giảm 8,5% về trị giá so với tháng 5/2007, nhưng tăng 223,3% về lượng và tăng 238,5% về trị giá so với tháng 6/2006… Tháng 6/2007, kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng tăng mạnh so với tháng 6/2006. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu giầy thể thao có đế và mũ bằng cao su/plastic dẫn đầu về mức tăng kim ngạch và tiếp tục tăng mạnh, đạt 47,84 triệu USD, tăng 155% so với cùng kỳ năm 2006. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang một số thị trường chính tăng rất mạnh. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu sang Bỉ đạt trên 6 triệu USD, tăng 137,4%; kim ngạch xuất khẩu sang Anh đạt 5,2 triệu USD, tăng 398,4%; sang Hà Lan đạt trên 5 triệu USD, tăng 209%; sang Mỹ đạt 4,9 triệu USD, tăng 15%...Tính chung 6 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu giầy thể thao có đế và mũ bằng cao su/plastic tăng 112% so với cùng kỳ năm 2006. Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu giầy mũ nguyên liệu dệt, giầy thể thao mũ nguyên liệu dệt, giầy không thấm nước tiếp tục giảm mạnh. Trong 6 tháng đầu năm 2007, kim Trang  15
  16. ngạch xuất khẩu giầy mũ nguyên liệu dệt giảm 62,53% (tương đương 171,16 triệu USD), kim ngạch xuất khẩu giầy thể thao mũ nguyên liệu dệt giảm 68,85% (tương đương 79,2 triệu USD), kim ngạch xuất khẩu giầy không thấm nước giảm 94,4% (tương đương 29,85 triệu USD) so với cùng kỳ năm 2006. 2.3.3 Thị trường xuất khẩu: Thị trường EU vẫn là thị trường xuất khẩu chính của doanh nghiệp Việt Nam (chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép). Tuy nhiên lượng xuất khẩu vào thị trường này có khá nhiều biến động trong năm 2006 do ảnh hưởng của vụ kiện chống bán phá giá làm cho sức mua và cơ cấu sản phẩm thay đổi, đồng thời phụ thuộc vào đối tác đặt hàng, hợp tác sản xuất và sức ép về thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, EU vẫn là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Thị phần XK vào thị trường này vẫn chiếm số lượng lớn là do giày dép Việt Nam tiếp tục được hưởng ưu đãi theo hệ thống thuế quan phổ cập khi nhập khẩu vào EU. Hiệp hội Da giày cho biết, do tác động của vụ kiện chống bán phá giá đối với giày mũ da xuất xứ Việt Nam, từ đầu năm 2006 các doanh nghiệp da - giày đang phải đối mặt với việc thiếu đơn hàng. Các nhà nhập khẩu đã trì hoãn việc đặt hàng vì họ lo sợ mức thuế chống phá giá cao. Tuy nhiên, sau khi có phán quyết cuối cùng của Liên minh châu Âu áp thuế chống bán phá giá 10% đối với giày mũ da xuất xứ Việt Nam trong khi Trung Quốc chịu mức 16,5% thì tình hình xuất khẩu đã dần ổn định, khách hàng đã quay trở lại Việt Nam để đặt hàng. Xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang các nước thuộc EU tiếp tục tăng. Tháng 7/2007 xuất khẩu giày dép của nước ta sang EU giảm 11% về lượng và 7,2% về trị giá so với tháng 6/2007 nhưng tăng 14,85% về lượng và 20,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2007, xuất khẩu giày dép của nước ta sang khối EU tăng 8,7% về lượng và tăng 10,74% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006. Thị trường Hồng Kông: Ngoài thị trường EU, xuất khẩu giày dép của Việt Nam trong tháng 7/2007 sang các thị trường Hồng Kông, Trung Quốc, Nam Phi, Nga… tiếp tục tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2006. Tháng 7/2007, xuất khẩu giày dép sang thị trường Hồng Kông đạt mức tăng cao nhất, tăng 72,63% về lượng và 120,64% về trị giá, trong đó lượng giày dép có đơn giá trên 15 USD/đôi tăng 119,9 nghìn đôi, lượng giày dép có đơn giá dưới 15 USD/đôi tăng 88,77 nghìn đôi. Thị trường Châu Mỹ: Đây là thị trường mà trước đây ta không xuất khẩu sang nhiều, tuy nhiên nay lại đạt kim ngạch rất cao. Ba nước Châu Mỹ nhập giày thể thao mũ da lớn nhất của Việt Nam gồm: Mỹ, Braxin và Banama trong đó thị trường Mỹ là nhập khẩu nhiều nhất. Theo đánh giá của các chuyên gia, một trong những nguyên nhân cơ bản để kim ngạch xuất khẩu giày mũ da tăng mạnh vào thị trường Châu Mỹ là do việc EU áp thuế chống bán phá giá cho Việt Nam và Trung Quốc. Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang một số thị trường như Braxin, Panama, Canada, Ôxtrâylia, Malaysia, Achentina giảm đáng kể. Trong đó kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Panama giảm mạnh nhất, giảm 35,44% (tương đương 2,1 triệu USD); tuy nhiên, tính chung 7 tháng 2007, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang thị trường này vẫn tăng 26,5% (tương đương 6,8 triệu USD). Thị trường Nhật Bản: Là thị trường yêu cầu chất lượng cao và tương đối khó tính nên tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu vào Nhật hiện nay chiếm tỷ trọng rất thấp. Nhu cầu nhập khẩu giầy dép của nước này vẫn trong xu hướng tăng. Do đó, xuất khẩu của Trang  16
  17. nước ta sang Nhật Bản sẽ tiếp tục đạt được mức tăng trưởng cao trong năm nay. Giầy dép Việt Nam có thể xuất vào Nhật với số lượng lớn là các loại giày, dép có đế ngoài và mũ giầy bằng cao su hoặc plastic, da thuộc, hoặc da tổng hợp và mũ bằng da thuộc; dép xốp, dép quai hậu ... Tuy nhiên, thị trường Nhật Bản có những yêu cầu riêng về thiết kế, kích cỡ và phải phù hợp với thời tiết. Vì vậy, Hiệp hội da giày đang khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và thay đổi trong việc thiết kế giầy dép theo đúng thị hiếu của người dân Nhật Bản. Thậm chí, có thể nhập khuôn của Nhật về để sản xuất cho phù hợp với kích cỡ của người Nhật. Ngoài ra các nhà sản xuất cần quan tâm đến những xu hướng thời trang thay đổi theo mùa ở Nhật để sản xuất theo thị hiếu người tiêu dùng. Các thị trường khác như: Đông Âu, Châu Phi… đã và đang được các doanh nghiệp khảo sát và tìm hiểu. Thị trường châu Phi có nhu cầu khá đa dạng và rất nhiều chủng loại là thế mạnh sản xuất của Việt Nam như: giày thể thao, giày tennis, giày bóng rổ, giày luyện tập, giày thể thao có đế ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc hoặc da tổng hợp và mũ bằng da thuộc hoặc bằng nguyên liệu dệt... Tính chung 7 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang thị trường Hồng Kông tăng mạnh nhất, tăng 76,5% (tương đương 12,6 triệu USD) so với cùng kỳ năm 2006. Đứng thứ 2 là thị trường Ba Lan tăng 68,4%, tiếp đến là Trung Quốc tăng 62,4%, Malaysia tăng 60,4%. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu giày dép của nước ta sang Achentina giảm rất mạnh, giảm 27,8% so với cùng kỳ năm 2006. 2.3.4 Khó khăn: Số liệu cho thấy da giày là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng khá cao trong những năm gần đây. Song hiện tại, ngành da giày cũng đang gặp rất nhiều vấn đề trong quá trình phát triển và đặc biệt là trong tiến trình hội nhập. Ngành da giày Việt Nam hiện nay bên cạnh lợi thế về nhập khẩu nhưng cũng còn tồn tại nhiều điểm yếu. Nguồn nguyên liệu phần lớn phải nhập từ nước ngoài nên hiệu quả kinh tế thấp. Hơn 60% các sản phẩm da giày của Việt Nam là gia công cho đối tác nước ngoài – là nhà buôn chứ không xuất khẩu trực tiếp đến các nhà phân phối chính. Do đó các doanh nghiệp Việt Nam bị phụ thuộc và bị chi phối khá nhiều về việc sản xuất. Bên cạnh đó, chúng ta lại quan tâm xuất khẩu quá nhiều vào một thị trường EU (50%) mà chưa dàn trải đều trên các thị trường khác nhau. Tất cả các điều đó đã góp phần làm cho doanh nghiệp lao đao khi bị EU kiện bán phá giá. Thời gian qua đã cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam có nguy cơ rất cao bị kiện bán phá giá, trợ cấp bán phá giá, tự vệ. Ngành giày da đã kiện hai lần bởi EU vào năm 1998 và năm 2005. Nhưng vào năm 1998, chúng ta không bị đánh thuế vì thị phần gia tăng nhỏ. Nhưng đến năm 2005 vừa qua thì vụ kiện đã tương đối lớn và EU đã quyết định áp thuế chống bán phá giá 10% cho sản phẩm giày mũ da của Việt Nam, gây không ít điêu đứng cho ngành da giày của nước ta. 2.4 THỦY SẢN: 2.4.1 Kim ngạch xuất khẩu: Trang  17
  18. Đất nước ta có chiều dài bờ biển 3260 Km, với 112 cửa sông lạch, có vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226.000 Km2, vùng biển đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu Km2 với 4.000 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên nhiều eo, vùng vịnh, đầm phá và nhiều ngư trường với trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn. Hàng năm chúng ta có thể khai thác 1,2 -1,4 triệu tấn hải sản mà không làm ảnh hưởng đến tiềm năng nguồn lợi. Qua thống kê biển Việt Nam có trên 2100 loài cá, trong đó có trên 130 loài cá có giá trị kinh tế: 75 loài tôm, 25 loài mực, 7 loài bạch tuộc và các loại thực vật biển khác. Trong thời gian qua thuỷ sản đang trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và thuỷ sản chỉ đứng sau dầu thô, dệt may, da giày nếu xét về kim ngạch xuất khẩu. Trên thị trường thế giới, Việt Nam đang dần trở thành một trong những nước xuất khẩu thuỷ sản quan trọng với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng qua các năm. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam Tốc độ tăng trưởng so với Năm Kim ngạch (triệu USD) năm trước (%) 1990 205,0 1991 262,2 27,9 1992 305,1 16,4 1993 368,8 20,7 1994 556,3 51,0 1995 621,4 11,7 1996 696,5 12,1 1997 782,0 12,3 1998 858,0 9,7 1999 973,6 13,5 2000 1.478,5 51,9 2001 1.816,4 22,9 2002 2.021,7 11,3 2003 2.275,6 12,6 2004 2.400,8 5,5 2005 2.739,0 14,1 2006 3.358,0 22,6 8 tháng đầu 2007 2.104,4 (Nguồn: Trung tâm tin học Thuỷ sản) Năm 1990 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 205 triệu USD. Ngành thuỷ sản chỉ mất 12 năm để tăng kim ngạch xuất khẩu lên gấp 10 lần, từ 205 triệu USD đến 2.021,7 triệu USD vào năm 2002. Như vậy trong 17 năm qua, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đạt kết quả khá ngoạn mục so với các ngành kinh tế khác và so với các nước trong khu vực. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Châu Á có ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế các nước trên thế giới và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác có sút giảm thì kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vẫn tăng. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản trong các năm 2001, 2002, 2003 có tốc độ tăng trưởng khá cao. Năm 2004, do hậu quả của các vụ kiện bán phá giá, điều kiện sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn nên tốc độ tăng trưởng năm 2004 có chậm lại nhưng đã nhanh Trang  18
  19. chóng đạt lại tốc độ tăng trưởng trên 5,5%. Năm 2005 tốc độ tăng trưởng đã tăng đến 14,1%. Đặc biệt năm 2006 là năm mà ngành thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất cao 22,6%. Điều này cho chúng ta thấy xuất khẩu thuỷ sản tăng trưởng vững chắc. 8 tháng đầu năm 2007 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản là 2,1 tỉ USD cho thấy năm nay ngành thuỷ sản có thể đạt được kế hoạch kim ngạch xuất khẩu là 3,5 tỉ USD. 2.4.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu: Với nguồn lợi thuỷ sản phong phú, Việt Nam có thể xuất khẩu nhiều loại thuỷ sản có tính kinh tế cao. Tuy nhiên trong thời gian qua các mặt hàng thuỷ sản vẫn còn khá đơn điệu, tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu. Ngoài ra, từ năm 2006 đến nay kim ngạch xuất khẩu cá tra, cá ba sa sang các thị trường nhất là thị trường Đông Âu và EU tăng. Cơ cấu hàng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam 8 tháng đầu năm 2007 Mặt hàng Số lượng (Tấn) Giá trị (Đô la Mỹ) Tôm 73347.4 720985405 Cá tra, basa 213578.6 564762570 Nhuyễn thể chân đầu 48837.1 165636695 Cá 50198 160984666 Mặt hàng khác 27862.3 95858919 Cá Ngừ 32158.3 90851266 Tôm chế biến 8410.4 69133048 Cá khô 18798.2 68326099 Giáp xác khác 7896.6 59633086 Cá chế biến 28842.2 41460524 Mực khô 6149.2 39918630 Nhuyễn thể 2 mảnh vỏ 8404 21757985 Tôm khô 2745.3 3706114 Tôm hùm 27.9 741571 Nhuyễn thể khác 243.7 460685 Tôm hùm, tôm mũ ni 12.2 187397 Tổng 527511.4 2104404660 (Nguồn: Trung tâm tin học Thuỷ sản) Mặt hàng tôm đông lạnh vẫn đứng đầu trong thuỷ sản xuất khẩu, với 670,29 triệu USD, nhưng thị phần lại giảm chút ít. Cá tra và cá ba sa tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu quan trọng thứ 2, đạt 534,45 triệu USD. Cá đông lạnh chiếm vị trí thứ 3, đạt 156,67 triệu USD. Mặt hàng nhuyễn thể các loại đứng thứ 4, tăng 20,31% so với cùng kỳ năm 2006, đạt 177,98 triệu USD. Mặt hàng cá ngừ tăng 25,41% so với cùng kỳ 2006 đạt 87,13 triệu USD. 2.4.3 Thị trường xuất khẩu: Thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam đã nổ lực đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhằm mở rộng khả năng tiêu thụ và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thuỷ sản Việt Nam. Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung Quốc là những thị trường xuất khẩu thuỷ sản Trang  19
  20. chủ yếu của Việt Nam nhưng vị trí của các thị trường này cũng biến động theo thời gian. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam theo thị trường Đơn vị tính: Giá trị (triệu USD); Tỷ trọng (%). Năm Thị Chỉ 8 tháng trường tiêu 1997 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 đầu 2007 Giá trị 382,1 467,3 465,9 538,0 582,9 754,9 813,4 842,6 396,2 Nhật Bản Tỷ 48,9 31,6 25,6 26,6 25,6 31,4 29,7 25,1 18,8 trọng Giá trị 39,1 298,2 489,0 655,7 782,2 592,8 634,0 664,2 413,6 Mỹ Tỷ 5,0 20,2 26,9 32,4 34,4 24,7 23,1 19,8 19,7 trọng Giá trị 74,9 99,2 107,0 84,4 127,2 243,9 436,7 723,5 527,9 EU Tỷ 9,6 6,7 5,9 4,2 5,6 10,2 15,9 21,5 25,1 trọng Trung Giá trị 106,4 291,7 316,7 302,3 147,8 131,2 134,4 164,3 113,5 Quốc, Hồng Tỷ 13,6 19,8 17,4 15,0 6,5 5,5 4,9 4,9 5,4 Kông trọng Giá trị 64,1 77,8 64,9 79,5 73,1 165,7 123,2 150,9 108,1 ASEAN Tỷ 8,2 5,3 3,6 3,9 3,2 6,9 4,5 4,5 5,1 trọng Các Giá trị 115,4 244,3 372,9 361,8 562,4 513,3 597,3 812,5 545,1 nước Tỷ khác 14,7 16,4 20,6 17,9 24,7 21,3 21,9 24,2 25,9 trọng 1.816, 2.021, 2.275, 2.400, 2.739, 3.358, Giá trị 782,0 1.478,5 2.104,4 4 7 6 8 0 0 Tổng cộng Tỷ trọng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 (%) (Nguồn: Trung tâm tin học thuỷ sản) Thị trường Nhật Bản ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 đã là thị trường nhập khẩu thuỷ sản chủ yếu của Việt Nam. Tuy nhiên vị trí độc tôn này giảm dần trong những Trang  20
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản