Đề thi phức hợp môn Văn

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
363
lượt xem
131
download

Đề thi phức hợp môn Văn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'đề thi phức hợp môn văn', tài liệu phổ thông, ôn thi đh-cđ phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề thi phức hợp môn Văn

  1. ĐỀ THI TUYỂN SINH MÔN VĂN KHỐI D NĂM 2007 Câu I: (2 điểm) Anh/chị hãy trình bày hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh. Câu II: (5 điểm) Tràng Giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Anh/chị hãy phân tích bài thơ Tràng Giang để làm sáng tỏ nhận xét trên. PHẦN TỰ CHỌN (Thí sinh chỉ được chọn làm 1 trong 2 câu) Câu III.a: Theo chương trình THPT không phân ban (3 điểm) So sánh cách nhìn người nông dân của hai nhân vật Hoàng và Độ trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Câu III.b: Theo chương trình THPT phân ban thí điểm (3 điểm) Phân tích những nét đẹp trong suy nghĩ và ứng xử của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải. BÀI GIẢI GỢI Ý Câu I: Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh. Học sinh trả lời đủ 2 ý: Ý 1/ Hoàn cảnh ra đời: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặt trận Việt Minh lần lượt giành chính quyền trên tòan quốc. - Ngày 19/8/1945 chính quyền Hà Nội về tay nhân dân. - Ngày 26/8/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về đến Hà Nội, tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Người sọan bản Tuyên Ngôn Độc Lập. - Ngày 2/9/1945, Người thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc tại quảng trường Ba Đình. Ý 2/ Mục đích sáng tác: Người không những tuyên bố với đồng bào trong nước mà còn tuyên bố với thế giới, đối thoại với bọn đế quốc thực dân đang lăm le chiếm lại đất nước ta (phía Bắc có quân đội của Tưởng Giới Thạch, đằng sau là đế quốc Mỹ, phía Nam có quân đội Anh, đằng sau là viễn chinh Pháp). - Người nêu cao chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, đã mở ra một trang sử vẻ vang trong lịch sử đấu tranh kiên cường của dân tộc, chấm dứt hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến nước ta, khẳng định quyền độc lập tự do và nêu cao ý chí bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc ta. Câu II. (5 điểm): Yêu cầu chung: Thí sinh biết cách làm bài phân tích bài thơ để làm sáng tỏ vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bút pháp tác giả. Thí sinh có thể làm bằng nhiều cách, sau đây là vài gợi ý chính. 1. Vẻ đẹp cổ điển được: - Đề tài và điểm nhìn cảnh vật: tả buổi chiều hoàng hôn trên sông dài rộng mênh mông, những gian bao quát toàn cảnh vật. - Bút pháp miêu tả: lấy điểm tả diện (cảnh củi khô, bên cô liêu, cánh chim nhỏ để tả không gian bao la, hoang vắng). - Cảm xúc: con người như thăng hoa, lẫn vào cảnh vật, vào không gian, thời gian. Mượn cảnh gợi tình, cảnh sông nước Tràng Giang của Huy Cận gợi nhớ đến cảnh sông nước Tràng Giang của thơ Đường (Đỗ Phủ, Thôi Hiệu). Nghệ thuật đối được tác giả sử dụng nhuần nhuyễn tạo ra nhịp điệu thơ như trong thơ xưa. 2. Vẻ đẹp hiện đại: Tuy vậy, Tràng giang là bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới giai đoạn 1932 - 1945. - Bút pháp hiện đại thể hiện với những chi tiết, hình ảnh thơ cụ thể, sống sít đời thường, chân thực với cành củi khô, cồn cát, cánh bèo, cánh chim nhỏ. Nói chung là quá nhiều hình ảnh, chi tiết được đưa vào bài thơ dường như ngẫu nhiên, tình cờ, không theo trình tự không gian, thời gian. - Tâm trạng thơ, là một cái tôi của thế hệ thanh niên sống trên đất nước bị thực dân Pháp thống trị, một cái tôi cô đơn, lạc lõng, vô định giữa không gian bao la, muốn hoà nhập nhưng bất lực, bế tắc. - Càng nhớ nhà, nhớ quê hương vì vậy sâu nặng, phát xuất tự đáy lòng nhà thơ chứ không cần ngoại cảnh như trong thơ xưa. **** Bài làm tham khảo Trước Cách mạng tháng Tám, Huy Cận viết nhiều về thiên nhiên, vũ trụ - Đây là một hồn thơ buồn, nỗi buồn của một con người gắn bó với đất nước, quê hương, nhưng cô đơn bất lực, thường tìm đến những cảnh mênh mông bát ngát, hoang vắng lúc chiều tà và đem đối lập nó với những sự vật gợi lên hình ảnh những thân phận nhỏ nhoi, tội nghiệp, bơ vơ trong tàn tạ và chia lìa. Bài thơ Tràng giang là một trường hợp tiêu biểu cho những đặc điểm phong cách vừa cổ điển vừa hiện đại. 1/Tràng giang nghĩa là sông dài. Nhưng hai chữ nôm na “sông dài” không có được sắc thái trừu tượng và cổ xưa của hai âm Hán Việt “tràng giang”. Với hai âm Hán Việt, con sông trong thơ tự nhiên trở thành dài hơn, trong tâm tưởng người đọc, rộng hơn, xa hơn, vĩnh viễn hơn trong tâm tưởng người đọc. Một con sông dường như của một thuở xa xưa nào đã từng chảy qua hàng nghìn năm lịch sử, hàng nghìn năm văn hóa và in
  2. bóng trong hàng nghìn áng cổ thi. Cái cảm giác Tràng giang ấy lại được tô đậm thêm bởi lời thơ đề là “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” (Nhớ hờ - Lửa thiêng) 2/ Khổ một: Ở hai câu đầu, cảnh vật thực ra tự nó không có gì đáng buồn. Nhưng lòng đã buồn thì tự nhiên vẫn thấy buồn. Đây là cái buồn tự trong lòng lan tỏa ra theo những gợn sóng nhỏ nhấp nhô “điệp điệp” với nhau trên mặt nước mông mênh. Cũng nỗi buồn ấy, tác giả thả trôi theo con thuyền xuôi mái lặng lẽ để lại sau mình những rẽ nước song song. Ở hai câu sau, nỗi buồn đã tìm được cách thể hiện sâu sắc hơn trong nỗi buồn của cảnh: ấy là sự chia lìa của “thuyền về nước lại” và nhất là cảnh ngộ của một cành củi lìa rừng không biết trôi về đâu giữa bao dòng xuôi ngược. Thử tưởng tượng: một cành củi khô gầy guộc chìm nổi giữa bát ngát tràng giang... Buồn biết mấy! 3/Khổ hai: Bức tranh vẽ thêm đất thêm người. Cái buồn ở đây gợi lên ở cái tiếng xào xạc chợ chiều đã vãn từ một làng xa nơi một cồn cát heo hút nào vẳng lại. Có thoáng hơi tiếng của con người đấy, nhưng mơ hồ và chỉ gợi thêm không khí tàn tạ, vắng vẻ, chia lìa. Hai câu cuối của khổ thơ đột ngột đẩy cao và mở rộng không gian của cảnh thơ thêm để càng làm cho cái bến sông vắng kia trở thành cô liêu hơn: Nắng xuống, trời lên sâu chót vót. - Sông dài, trời rộng, bến cô liêu 4/Khổ ba: Cảnh mênh mông buồn vắng càng được nhấn mạnh hơn bằng hai lần phủ định: Mênh mông không một chuyến đò ngang - Không cầu gợi chút niềm thân mật... Không có một con đò, không có một cây cầu, nghĩa là hoàn toàn không bóng người hay một cái gì gợi đến tình người, lòng người muốn qua lại gặp gỡ nhau nơi sông nước. Chỉ có những cánh bèo đang trôi dạt về đâu: lại thêm một hình ảnh của cô đơn, của tan tác, chia lìa. 5/Khổ bốn: Chỉ có một cánh chim xuất hiện trên cảnh thơ. Xưa nay thơ ca nói về cảnh hoàng hôn thường vẫn tô điểm thêm một cánh chim trên nền trời: Chim hôm thoi thóp về rừng (Nguyễn Du), Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi. (Bà Huyện Thanh Quan), Chim mỏi về rừng tìm chốn trú (Hồ Chí Minh) Bài thơ Huy Cận cũng có một cánh chim chiều nhưng đúng là một cánh chim chiều trong “thơ mới”, nên nó nhỏ nhoi hơn, cô đơn hơn. Nó chỉ là một cánh chim nhỏ (chim nghiêng cánh nhỏ) trên một nền trời “lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Và cánh chim nhỏ đang sa xuống phía chân trời xa như một tia nắng chiều rớt xuống. Người ta vẫn nói đến ý vị cổ điển của bài thơ. Nó thể hiện ở hình ảnh nhà thơ một mình trước vũ trụ để cảm nhận cái vĩnh viễn, cái vô cùng của không gian, thời gian đối với kiếp người. Ý vị cổ điển ấy lại được tô đậm thêm bằng một tứ thơ Đường. Lòng quê dợn dợn vời con nước - Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà Tác giả Tràng giang tuy nói “không khói hoàng hôn” nhưng chính là đã bằng cách ấy đưa thêm “khói hoàng hôn Thôi Hiệu” vào trong bài thơ của mình để làm giàu thêm cái buồn và nỗi nhớ của người lữ thứ trước cảnh tràng giang. 6/Mỗi người Việt Nam đọc Tràng giang đều liên tưởng đến một cảnh sông nước nào mình đã đi qua. Có một cái gì rất quen thuộc ở hình ảnh một cành củi khô hay những cánh bèo chìm nổi trên sóng nước mênh mông, ở hình ảnh những cồn cát, làng mạc ven sông, ở cảnh chợ chiều xào xạc, ở một cánh chim chiều. Một nhà cách mạng hoạt động bí mật thời Pháp thuộc mỗi lần qua sông Hồng lại nhớ đến bài Tràng giang. Tình yêu đất nước quê hương là nội dung cảm động nhất của bài thơ. Còn “cái tôi Thơ mới”, tất nhiên là phải buồn. Thơ Huy Cận lại càng buồn. Buồn thì cảnh không thể vui. Huống chi lại gặp cảnh buồn. Nhưng trong nỗi cô đơn của nhà thơ, ta cảm thấy một niềm khát khao được gần gũi,hòa hợp, cảm thông giữa người với người trong tình đất nước , tình nhân loại - niềm khát khao có một chuyến đò ngang hay một chiếc cầu thân mật nối liền hai bờ sông nước Tràng giang. Câu III.a (3 điểm) - Ta đã từng tiếp xúc với những Điền, những Hộ, với một Chí Phèo, một Lão Hạc của Nam Cao trong những sáng tác trước cách mạng! Ta đã bắt gặp được ở đó những người dân quê lam lũ nghèo nàn, sớm tối quần quật với cây cày lưỡi cuốc, bị biến chất bởi xã hội đen tối xấu xa. Ta đã nhìn thấy và thông cảm đớn đau cùng với nỗi bi kịch tinh thần đang chất chứa, xâu xé tâm hồn của những người trí thức nghèo trong xã hội. Những con người ấy dường như đã được tập hợp lại để trở thành một hệ thống nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao! - Sau cách mạng một thời gian, ta lại được tiếp xúc với những tác phẩm mới của ông. Ta ngỡ ngàng và thú vị trước một hình tượng nhân vật mới của Nam Cao! Đó là Hoàng và Độ trong Đôi mắt. - Trong Đôi mắt, thông qua nhân vật Hoàng, Nam Cao đã nêu bật lên một vấn đề có ý nghĩa vĩnh cữu. Nó day dứt những người làm nghệ thuật. Bất kì một nhà văn nào mà lại không cần đến “đôi mắt” và cái nhìn đứng đắn để khám phá và sáng tạo thực tại. Nhưng, nếu có một “đôi mắt” như Hoàng thì không nên có và quả thực không cần phải có nhất là cho những người làm nghệ thuật!
  3. Với đôi mắt ấy, Hoàng dường như đã bị “mù” trước thời đại. Những người kháng chiến trí thức nhập cuộc sẵn sàng “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, hay như trong lời một bài hát “Đoàn vệ quốc quân một lòng ra đi, nào có sá chi đến ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi, ra đi ra đi thà chết không lui” , nhưng với Hoàng, thì người nông dân, lực lượng chủ yếu của kháng chiến chỉ là một lũ “đần độn, lỗ mãng, ích kỉ tham lam, bần tiện cả”! Anh nhìn họ với đôi mắt “thiếu tình thương, thiếu trân trọng”. Những gì mà anh nói với họ không phải là không có cơ sở, tuy nhiên nói theo Nam Cao là “chỉ nhìn thấy cái ngố bên ngoài mà không thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong”. Chính vì “vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn”, nên nếu nhìn càng nhiều, càng quan sát lắm thì chỉ càng thêm”chua chát và chán nản”mà thôi. Hoàng nhìn cuộc kháng chiến một cách bi quan, dù có được một chút thán phục người lãnh tụ. Nhưng nếu xét kĩ thì cái “chút xíu” tin tưởng ấy là xuất phát từ cái nhìn duy tâm, do sự sùng bái cá nhân. Chỉ thán phục có “ông cụ” như đã từng đắc ý với Tào Tháo. Hoàng đã thực sự sống xa rời quần chúng, chính vì vậy nên anh đánh giá không hết những khả năng của họ. - Đối với Độ, một con người sống gần gũi, hòa nhập với sinh hoạt và gắn bó với quần chúng lao động thì lại bị Hoàng cho là “làm một anh tuyên truyền nhãi nhép”. Độ nhìn người nông dân với cái nhìn “người nông dân nước mình vẫn còn có thể làm cách mạng mà làm cách mạng thì hăng hái lắm, và can đảm lắm” , anh nhìn họ bằng cái nhìn đầy nâng niu và trìu mến khác hẳn với Hoàng là khinh khi miệt thị họ, phần đông họ “dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, chịu nhục một cách đáng thương”. Hoàng không như Độ có thể cảm thông trước những tật xấu của người nông dân, để hiểu được họ và đánh giá đúng mức sự đóng góp của họ vào kháng chiến. Sống cuộc sống trưởng giả sang giàu nên Hoàng không thể từ bỏ nó để hòa mình vào bầu không khí chung của dân tộc. Anh đứng bên lề cuộc chiến, nhìn đời bằng đôi mắt thiển cận, thản nhiên với tình cảnh dầu sôi lửa bỏng, vô tình với cái vận mệnh đang “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước nhân dân. Nhưng điều đáng nói ở đây là tình cảnh đất nước đang cần những người “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, bao người đã và đang sẵn sàng giũ áo ra đi, sẵn sàng hi sinh và cống hiến bao xương máu, bao nhà văn đã tự nguyện lột xác để đến với nhân dân với dân tộc, với trách nhiệm công dân. - Nam Cao đã xây dựng nên nhân vật Hoàng bằng một nghệ thuật vô cùng độc đáo. Hoàng “được” Nam Cao mổ xẻ về cái xấu cả nhân hình lẫn nhân tính. Ghét cay ghét đắng Hoàng lẫn cái “tuýp” người như Hoàng trong xã hội đương thời. Nam Cao đã rất thâm thuý khi đặt Hoàng ở bên cạnh con chó của anh ta - Như vậy, từ vô số những “đôi mắt” ích kỉ, vô tâm như vậy ở ngoài đời, Nam Cao đã hệ thống lại để đưa vào tập trung mọi bản chất trong cùng một con người, chính vì vậy nhân vật Hoàng có giá trị điển hình rất cao. - Xây dựng nhân vật bằng những nét điển hình độc đáo, bằng những chi tiết tả thực để từ đó có thể lột tả hết những bản chất sâu xa bên trong mỗi con người là một thành công xuất sắc của Nam Cao – nhà văn lớn của văn học Việt Nam. Câu III.b (3 điểm) 1. Giới thiệu chung về tác phẩm, nhân vật : - Truyện ngắn Một người Hà Nội là một sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Khải trong thời kỳ đổi mới, thể hiện cái nhìn nghệ thuật mới của nhà văn : nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và các thế hiện nối tiếp. - Truyện là một phát hiện vẻ đẹp trong suy nghĩ và hành động của cô Hiền qua bao biển dông thăm trầm của đất nước, đó là một người giàu lòng tự trọng, thẳng thắn, thực tế, luôn có ý thức dạy con cháu sống sao cho đúng là người Hà Nội. 2. Nét đẹp trong suy nghĩ và hành động của nhân vật cô Hiền : a. Nét đẹp trong suy nghĩ : - Nét chuẩn trong nghĩ của cô Hiền là lòng tự trọng, vì cô quan niệm rất rõ ràng: Lòng tự trọng không cho phép sống tùy tiện, buông thả; sống hèn nhát, ích kỉ; giúp con người ta sống có trách nhiệm với cộng đồng. - Thẳng thắn: Bày tỏ rất thẳng nhận xét của mình về cuộc sống với bao vấn đề (vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều) - Suy nghĩ của cô Hiền về cuộc sống rất thực tế : + Biết "nhìn xa trong rộng" (qua thái độ nghiêm túc, lựa chọn kĩ càng việc hôn nhân của mình, việc sinh con với mong muốn để dạy con vào đời bằng sự tự vươn lên, nhìn nhận vai trò "nội trợ" của người phụ nữ…) + Không vồ vập, không lãng mạn, viễn vông với cuộc sống mới. - Là người công dân có trách nhiệm với đất nước (hưởng ứng chủ trương xây dựng xã hội nhân ái không có cảnh người bóc lột người của chính phủ nên không đồng ý cho chồng mua máy in và thuê thợ, con đi bộ đội).
  4. - Luôn tự hào về Hà Nội, người Hà Nội, văn hóa của Hà Nội (luôn nhắc nhở, dạy con cháu về cách sống của người Hà Nội qua từng cách ngồi, cách ăn, đi đứng, qua lời ăn tiếng nói). b. Nét đẹp trong hành động: Tuy là người Hà Nội chính gốc, nhưng cô Hiền hòa đồng rất nhanh với cuộc sống mới không chỉ ở suy nghĩ mà còn ở những việc làm cụ thể của mình: + Cuộc sống còn khó khăn của giai đoạn đầu, nhưng cô đã nhanh chóng thích ứng bằng việc mở cửa hàng bán hoa do đích thân cô và các con làm và bán sản phẩm. + Với cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc, cô đã đồng ý để con ra trận với tâm trạng rất thật của người mẹ "Tao đau đớn mà bàng hoàng", rồi đến đứa con thứ hai cũng có ý nguyện như anh, cũng bày tỏ thái độ của mình "tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản". Đây là quyết định đúng đắn nhưng cũng rất khó khăn, đầy dũng cảm của cô Hiền - một người yêu nước. c. Khái quát: Qua suy nghĩ và việc làm của cô Hiền, ta thấy nổi lên hình ảnh một con người Hà Nội bình thường nhưng rất đáng trân trọng, nổi lên bản lĩnh một con người song hành cùng chặng đường dài, những biến động lớn lao của đất của đất nước, cô quả thật là "hạt bụi vàng" của Hà Nội, góp phần làm đẹp thêm bản sắc văn hóa chung của cộng đồng. Nội dung trên đã được thể hiện khá rõ qua bút pháp xây dựng nhân vật, giọng điệu trần thuật của nhà văn Nguyễn Khải. Môn Văn khối C năm 2007 Câu I (2 điểm) Anh/chị hãy trình bày ngắn gọn những đặc điểm thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám 1945. Câu II (5 điểm) Phân tích nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc. PHẦN TỰ CHỌN: (Thí sinh chỉ được chọn làm một trong hai câu: III.a hoặc III.b) Câu III.a . Theo chương trình THPT không phân ban (3 điểm) Bình giảng đoạn thơ sau đây của Thâm Tâm Đưa người, ta không đưa qua sông, Một giã gia đình, một dửng dưng … Sao có tiếng sóng ở trong lòng? - Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ, Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, Chí nhớn chưa về bàn tay không, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong, Thì không bao giờ nói trở lại! Đưa người, ta chỉ đưa người ấy, Ba năm, mẹ già cũng đừng mong Câu III.b. Theo chương trình THPT phân ban thí điểm (3 điểm) Cảm nhận của anh / chị về vẻ đẹp của sông Hương đoạn từ thượng nguồn đến thành phố Huế qua tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phú Ngọc Tường). BÀI GIẢI GỢI Ý Câu I. (2 điểm) Nghệ thuật thơ của Xuân Diệu trước 1945 rất đặc sắc, mới mẻ, hiện đại. Ông học hỏi từ mạch thơ truyền thống phương Đông, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi nghệ thuật thơ lãng mạn phương Tây, nên Ông khám phá và thể hiện tinh tế những biến thái tinh vi của thiên nhiên và lòng người. Những đặc điểm thơ Xuân Diệu : - Ông sáng tạo ra những tứ thơ mới trong đề tài cũ, lấy cái đẹp của con người làm chuẩn để cảm nhận và miêu tả thiên nhiên nên nghệ thuật nhân hóa được nhà thơ sử dụng hết sức sinh động. - Ông cảm nhận ngoại giới bằng tổng hợp các giác quan trong đó có sự chuyển đổi biên độ giác quan rất mới lạ. - Ngôn ngữ diễn đạt không khuôn sáo, ước lệ mà có nhiều cách tân trong việc sử dụng từ ngữ và cú pháp (rất Tây). Câu II . (5 điểm) Trong sáng tạo văn học của Nguyễn Ái Quốc, nghệ thuật trào phúng chiếm một vị trí đặc biệt. Với nghệ thuật trào phúng Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày bản chất tàn bạo, giả dối của chế độ thực dân Pháp. Cũng với nghệ thuật ấy, Người bày tỏ thái độ khinh bỉ đối với bọn vua quan bù nhìn bán nước cầu vinh. Chỉ riêng đối với sự kiện Khải Định sang Pháp dự cuộc Đấu xảo thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc và vở kịch Con rồng tre lên án và chế giễu sâu cay ông vua bù nhìn. Nhân kỉ niệm một năm chuyến đi ô nhục ấy, Nguyễn Ái Quốc lại viết truyện ngắn Vi Hành, biến Khải Định thành đối tượng của những cuộc đàm tiếu khinh bỉ. Vấn đề đặt ra cho tác giả là phải sáng tạo một hình thức nghệ thuật mới để không lập lại chính mình. Sự thành công của tác phẩm Vi hành đã chứng tỏ tài năng nghệ thuật dồi dào, sắc bén của nhà văn Nguyễn Ái Quốc. Thật vậy, nếu trong hai tác phẩm Lời than vãn của bà Trưng Trắc và Con rồng tre, Khải Định trực tiếp xuất hiện, thì ở đây, trong tác phẩm Vi hành, vua Khải Định vắng mặt. Vậy làm thế nào để cho Khải Định xuất hiện, đặng nhận lấy lời đàm tiếu nhục nhã và lời tố cáo sắc bén? Nguyễn Ái Quốc đã dùng biện pháp hóa không thành có- biện pháp hiểu lầm, nhận lầm một người An Nam là nhà vua đi “vi hành”, để tố cáo, chế giễu một cách cay độc. Ai là người có thể nhận lầm như vậy? Đó không thể là người An Nam, thần dân của ngài. Đó chỉ có thể là người dân Pháp hiếu kì và từ lâu đã không xem vua chúa như một đấng bề trên. Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo nên một đôi nam nữ người Pháp nhận lầm vua An Nam trên xe điện, và truyện ngắn mở đầu bằng cuộc
  5. tranh luận của họ. Chàng trai quả quyết đó chính là nhà vua, còn cô gái, người đã thấy nhà vua ở trường đua thì quả quyết là không phải, vì thấy thiếu mũ măng, nhẫn vàng, hạt cườm. Từ hai cách hiểu ấy mở ra hai hướng đàm tiếu: đàm tiếu về trang phục nhà vua và đàm tiếu về việc “vi hành” của ông. Việc đàm tiếu về trang phục nhà vua do đôi thanh niên nam nữ người Pháp thực hiện. Lợi dụng cách cảm nhận ngộ nghĩnh của họ đối với cách ăn mặc xa lạ. Nguyễn Ái Quốc đã biến ông vua thành một trò cười rẻ tiền: đầu đội chụp đèn, quấn khăn, tay đeo đầy nhẫn, mũi tẹt, mắt xếch, mặt bủng như quả chanh, không một chút uy nghi, đường bệ. Hơn thế, người bạn gái đã trông thấy nhà vua, hình dung vua là người “đeo lên người hắn đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm”, y như một mụ đàn bà. Còn người thanh niên thì xem vua như một trò vui mắt không phải mất tiền như xem “vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên”, hoặc “trò leo trèo, nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô”. Thậm chí còn tung tin Nhà hát Múa rối định ký hợp đồng thuê nhà vua biểu diễn! Thật không còn lời báng bổ, khinh miệt nào hơn đối với một đức Hoàng Thượng! Nhưng đó là sự thật: Khải Định chỉ đóng được một vai hề rẻ tiền trong lịch sử! Việc đàm tiếu về truyện “vi hành” do kẻ bị nhận lầm – tác giả bức thư gửi cho cô em họ – thực hiện qua lời tâm sự trong thư. Đây là lời của một người An Nam, am hiểu nội tình nước Nam. Ở đây Nguyễn Ái Quốc dùng biện pháp “quá mù ra mưa” – nhân có người nói nhà vua “vi hành”, thế là người anh họ trong thư liền liên hệ với các cuộc “vi hành” của các vị vua vĩ đại như vua Thuấn, vua Pie, và bình luận nhạo báng về cuộc “vi hành” tưởng tượng của vua Nam. Đây là một đoạn văn nữa mỉa mai sắc bén, từ nào cũng nhằm phơi trần thân phận và nhân cách hèn hạ của tên vua. Biện pháp "quá mù ra mưa” lại được sử dụng thêm một lần: nhân việc người Pháp nhận lầm vua Nam, tác giả đẩy xa hơn: phổ quát hóa sự nhận lầm để châm biếm việc cảnh sát Pháp theo dõi người yêu nước Việt Nam trên đất Pháp:”… tất cả những ai ở Đông Dương có màu da trắng đều là những bậc khai hóa thì bây giờ đến lượt tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành Hoàng đế ở Pháp”. Trở thành Hoàng đế thì được sự chăm sóc, theo dõi của cảnh sát và đó là nỗi phiền hà cho những ai da vàng. Đến đây ta thấy “Vi hành” rõ ràng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo lạ lùng. Ai cũng thấy là tác giả bịa, nhưng là một sự bịa đặt khéo léo, tài tình, hợp lí, có khả năng tố cáo sâu sắc và do đó mà gây thú vị cho người đọc. Có thể nói là tác giả đã dùng phép “đà đao”, nhân sự hiểu lầm của mấy người Pháp mà đưa ngòi bút sắc bén đánh trúng vào chỗ trí mạng của tên vua. Ở đây người ta thấy sức mạnh nghệ thuật được sử dụng một cách nhẹ nhàng, dí dỏm, đắc địa. Ngoài việc xây dựng cốt truyện khéo léo, việc không có mà như có thật, bút pháp mỉa mai, châm biếm của tác giả thể hiện ở các pháp ví von dí dỏm rất “Tây”: mũ miện của vua thì ví với chụp đèn, ngọc quý thì ví với hạt cườm, nhìn vua thành con rối, so hắn với hề Saclô, đặc biệt, ngòi bút mỉa mai của tác giả chỉa thẳng một lúc vào hai đối tượng: thực dân và phong kiến. Ta hãy xem tác giả viết trong thư: “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là Alêchxăng đệ Nhất, (…) có được uống nhiều rượu và được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam, dưới quyền ngự trị của ngài, hay không?(…). Hay là, chán cảnh làm một ông vua to, giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời các cậu công tử bé?”. Những nghi vấn thật là mỉa mai! Và đây là lời mỉa mai cảnh sát Pháp: “Các vị chẳng nề hà chút công sức nào để bảo vệ bọn tôi, và giá có được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác bà mẹ hiền rình con thơ chập chững bước đi thứ nhất, thì hẳn cô phải phát ghen lên được về nỗi niềm âu yếm của các vị đối với tôi. Có thể nói là các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt với tôi như hình với bóng…” Biết bao chua chát, cay đắng trong nụ cười ở đây! Đó là nghệ thuật mỉa mai, châm biếm có tính chất chính luận hết sức già dặn. Tất cả các chữ dùng đều được sử dụng rất đắt và phát huy tác dụng châm biếm tối đa. Chẳng hạn gọi vua Pháp là “bạn” của vua Nam hoặc nói cảnh sát Pháp theo dõi như “mẹ hiền rình con thơ” v.v… và v.v… Tóm lại, nghệ thuật độc đáo và bút pháp mỉa mai châm biếm bậc thầy của thiên truyện đã chứng tỏ tài nghệ siêu việt, phong phú của Nguyễn Ái Quốc, chứng tỏ một thành tựu sắc sảo của nghệ thuật cách mạng giàu tính chiến đấu. Câu III.a . Theo chương trình THPT không phân ban (3 điểm) 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích 1.1 .Thâm Tâm (1917 – 1950) là tác giả tiêu biểu trong phong trào Thơ mới. Ông sáng tác không nhiều nhưng thể hiện một giọng thơ lạ, nhất là những bài hành, giọng thơ “rắn rỏi , gân guốc”, phảng phất hơi thơ cổ nhưng “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” (Hoài Thanh) 1.2 . Bài thơ Tống biệt hành là bài thơ duy nhất của của Thâm Tâm được tuyển vào Thi nhân Việt Nam, được nhiều người yêu thích. Bài thơ thể hiện tâm trạng người ở kẻ đi trong một cuộc tiễn đưa, qua đó bộc lộ nỗi lòng của một lớp thanh niên những năm 40. Đoạn trích nằm ở phần đầu của thi phẩm, tái hiện tâm trạng của hai nhân vật trữ tình. 2. Bình giảng đoạn trích, gồm các ý chính sau: 2.1.Tâm trạng người tiễn đưa
  6. - Người tiễn đưa là một người bạn tri âm tri kỷ, vì đã tỏ ra hiểu hết “chí lớn” cũng như tình cảm day dứt của người ra đi, điều ấy thể hiện bằng các dấu hiệu: + Giọng điệu da diết, như tiếng nói thì thầm trong lòng, như lời tự vấn: Đưa người ta không đưa qua sống/Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bóng chiều không thắm, không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Những âm tiết gồm nhiều thanh bằng liên kết thành một chuỗi dài gợi lên tâm trạng bâng khuâng man mác. Sang câu thứ hai, thanh điệu bỗng thay đổi đột ngột, hàng loạt âm tiết mang thanh trắc xuất hiện liên tiếp, diễn tả mộtcảm giác bất ổn, khiến người tiễn đưa như thảng thốt. + Các câu thơ hướng về thế giới nội tâm; không gian tiễn đưa ở đây không phải dòng sôngc chia cắt, thời gian không cũng không phải buổi chiều sầu tím, thế mà lòng người vẫn âm vang nỗi buồn ly biệt, đầy tiếng sóng, nỗi sầu. Nhà thơ dùng các từ “không” (ở ngoại cảnh) để biểu hiện cái “có” (trong nội tâm). - Tâm trạng của người tiễn đưa cũng là tâm trạng của một tráng sĩ, đồng lòng với “chí lớn”. Cách xưng hô ở đây làm ta chú ý (người – ta), hàm chứa một khẩu khí ngang tàng, rắn rỏi của trang nam nhi cũng mang chí lớn và những cao vọng. Tình cảm của người đưa tiễn là sự đồng cảm, đồng tình với việc ra đi, dù biết đó là cuộc ra đi khó trở về, nên đầy lưu luyến, nghẹn ngào. Tất cả chỉ có “một”: “Đưa người ta chỉ đưa người ấy – người tiễn chỉ tiễn một người ấy, người đi chỉ chọn một con đường ấy. . Phải chăng đây là hai người cùng một tâm trạng, hay chỉ là sự phân thân của nhân vật trữ tình, “một mình làm năm bảy cuộc phân li”. 2.2. Hình ảnh và tâm trạng người ra đi (qua mắt người đưa tiễn) - Người ra đi là một một trang nam nhi thời loạn: + Anh ra đi không phải vì cơm áo, mà vì nghĩa lớn với tâm niệm nhất khứ hề bất phục phản. Bài thơ mở đầu bằng cảnh tiễn đưa gợi một bến sông thuở Kinh Kha nhập Tần “Tráng sĩ một đi không trở về”. Lời thơ toát lên vẻ ngang tàng hùng dũng, khẳng định dứt khoát con đường lựa chọn. + Anh ra đi chấp nhận sự hy sinh tình riêng: Một giã gia đình một dửng dưng” , “Ba năm mẹ già cũng đừng mong” - Người ra đi là một trang nam nhi thời Thơ mới: Vẻ dửng dưng chỉ là bên ngoài. Từ trong sâu thẳm tâm hồn anh vẫnvấn vương bao tình cảm về ý thức bổn phận, lòng hiếu nghĩa. Người bạn tri kỷ đã nhìn thấy điều dó trong ánh mắt “đầy hoàng hôn”, trong giọng điệu bi phẫn. 2.3. Nhận xét chung về đoạn thơ và bài : Bút pháp nghệ thuật hoá thân – phân thân rồi nhập thân, sự hoà kết chủ thể trữ tình với nhân vật trữ tình làm một, đoạn thơ khắc hoạ một cách độc đáo cốt cách và tâm hồn của người tráng sĩ – thi sĩ thời Thơ mới, khơi dậy trong thanh niên một khát vọng bứt phá khỏi cuộc sống tù túng chật hẹp, đi tìm những chân trời lý tưởng. CÂU III.b : 1. Giới thiệu tác phẩm "nhân vật" dòng sông Hương: - Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, ông quê gốc Quảng Trị nhưng song song học tập và họat động ở Huế nên tâm hồn thấm đậm chất văn hóa Huế. - Sông Hương là con sông đặc trưng của Huế , là niềm tự hào kiêu hãnh của những con xứ Huế . - Bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông ? là bài kí đặc sắc của Hòang Phủ Ngọc Tường viết về con sông Hương với vẻ đẹp thiên nhiên phong phú, huyền ảo. 2. Vẻ đẹp con sông Hương: a) Vẻ đẹp ở thượng nguồn : - Hình ảnh đầy ấn tượng: trường ca của rừng già, bóng cây đại ngàn, những ghềnh thác cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn. - Màu sắc: rực rỡ màu đỏ của hoa đỗ quyên. - Liên tưởng độc đáo với cách so sánh và nhân hóa mạnh mẽ như cô gái Di - gan phóng khoáng, nan giải. - Sông Hương có sức sống mãnh liệt, hoang dại nhưng dịu dàng và say đắm. b) Vẻ đẹp ở đồng bằng: - Rừng già đã chế ngự sự mãnh liệt để khi bắt đầu ra khỏi rừng con sông mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành bà mẹ phù sa. - "Người tình mong đợi đến đánh thức người đẹp ngủ" dự báo cho ta vẻ đẹp mới của dòng sông. - Những khúc quanh vượt qua bao địa danh mang màu sắc văn hóa Huế. - Con sông vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn qua những ngọn đồi. - Dòng sông mềm như dãi lụa (so sánh) - Dòng sông đi qua những rừng thông u tịch nơi có bao lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn. - Vận dụng sự hiểu biết về địa lí,văn học, lịch sử để viết về sông Hương thể hiện năng lực quan sát tinh tế của nhà văn. c) Vẻ đẹp khi vào thành phố Huế: - Vui tươi, chậm rãi, mềm mại, êm dịu như tiếng vang rất nhẹ của tình yêu.
  7. - Hình dạng sông như một cánh cung, chiếc cầu trên sông như vầng trăng non. - Điệu chảy lặng lỡ của sông như điệu Slow tình cảm dành cho Huế . - Ngôn ngữ uyển chuyển đầy chất thơ và âm nhạc. - Tình cảm gắn bó say mê tự hào của tác giá với dòng sông, với Huế. 3. Trình bày cảm nhận: - Cảm nhận về một tài năng của cây bút giàu chất trí tuệ và văn hóa. - Từ vẻ đẹp của dòng sông, người đọc hiểu về lịch sử, văn hóa của Huế và vẻ đẹp tâm hồn của con người vùng đất cổ kính này. - Tác phẩm bồi đắp cho người đọc tình yêu, niềm tự hào và sự gắn bó với quê hương đất nước từ những gì rất gần gũi, quen thuộc, thân thương TOÁT NGHIEÄP TRUNG HOC PHOÅ THOÂNG 2009 Câu 1 (2 điểm): Trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, khách ở quán trà nhà lão Hoa đã bàn về những chuyện gì? Hãy cho biết điều nhà văn muốn nói qua những chuyện ấy. Câu 2 (3 điểm): Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) phát biểu ý kiến về tác dụng của việc đọc sách. Thí sinh học chương trình nào thì chỉ được làm câu dành riêng cho chương trình đó (câu 3.a hoặc 3.b) Câu 3.a. chương trình Chuẩn (5,0 điểm): Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài. Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm): Phân tích vẻ đẹp của hình tượng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. BÀI GIẢI GỢI Ý Câu 1: Bài làm cần có 3 ý chính sau: 1. Giới thiệu vài nét về tác giả - tác phẩm: - Tác giả: Lỗ Tấn (1881-1936) là nhà văn lớn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XX. - Tác phẩm Thuốc là truyện ngắn tiêu biểu của Lỗ Tấn, đăng lần đầu tiên trên tạp chí Tân thanh niên số 5- 1919, là bức tranh thu nhỏ về xã hội Trung Quốc tối tăm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Tác phẩm được đánh giá như một “tiếng thét để an ủi những người chiến sĩ” và để cảnh tỉnh tinh thần nhân dân, truyền cho họ ý chí nghị lực bước vào giai đoạn đấu tranh mới. 2. Câu chuyện của những người khách trong quán trà nhà ông bà Hoa Thuyên: - Bàn về cái chết của người tử tù Hạ Du và cho rằng anh ta là kẻ “điên rồi”. - Bàn về việc ông Hoa Thuyên mua được chiếc bánh tẩm máu người tử tù. - Bàn về hiệu quả của liều thuốc được truyền tụng trong dân gian chữa bệnh lao bằng bánh bao chấm máu tươi của người. 3. Điều nhà văn muốn nói qua những chuyện ấy: - Phê phán tuyệt đại bộ phận nhân dân Trung Hoa thời kỳ ấy ngu muội, lạc hậu, như đang “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”; xã hội Trung Quốc là một “con bệnh trầm trọng” đòi hỏi một liều “thuốc” mới, cần phát quang một “con đường” mới. - Tỏ thái độ đau xót, tiếc thương cho người chiến sĩ chiến đấu hy sinh cho quần chúng mà quần chúng “ngu muội quá đỗi” không hiểu. Cùng với ý nghĩa trên, tác giả đưa ra tư tưởng chủ đề của tác phẩm: cần có liều “thuốc” mới chữa căn bệnh rời rã của quốc dân. Câu 2: Có thể tham khảo những luận điểm chính sau đây (không cần thiết tuân theo thứ tự): - Vai trò của sách trong thời đại thông tin nghe – nhìn: khẳng định các phương tiện thông tin nghe - nhìn đang phát triển ngày nay không thể thay thế được hoàn toàn cho việc đọc sách. - Tác dụng của việc đọc sách: + Cung cấp thông tin, tri thức mọi mặt. + Bồi dưỡng giáo dục, nâng cao khiếu thẩm mĩ, làm cho tâm hồn con người phong phú. + Giáo dục đạo đức, tình cảm, hoàn thiện bản thân và góp phần xây dựng đất nước. + Chú ý, cảnh giác với sách có nội dung độc hại. + Đọc sách là cái đích hướng đến của tất cả mọi người trong khát vọng chinh phục tri thức. Câu 3.a: I. Giới thiệu tác phẩm: Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ vừa là thành tựu tương đối hiếm hoi của văn xuôi kháng chiến, vừa ghi dấu sự trưởng thành của ngòi bút Tô Hoài trong sự chiếm lĩnh mảng đề tài miền núi, một đề tài tới nay vẫn còn nhiều mới lạ với bạn đọc. Truyện được tổ chức chặt chẽ, dẫn dắt rất dung dị, tự nhiên, không cần chạy theo những chi tiết li kì rùng rợn mà vẫn có sức hút mạnh mẽ. Có được điều đó chính là nhờ cái nhìn hiện
  8. thực sắc bén và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của nhà văn. Sự thể hiện cuộc đời hai nhân vật trung tâm từ bóng tối đau khổ, ô nhục vươn ra ánh sáng của tự do và nhân phẩm đã chứng minh rất rõ điều đó. II. Phân tích giá trị nhân đạo: - Cô Mỵ xinh đẹp, chăm làm nhưng nghèo khổ, có thể nói “khổ từ trong trứng”. Bố mẹ nghèo, cưới nhau không có tiền phải vay nợ nhà thống lý. Nợ chưa trả hết, người mẹ đã qua đời. Bố già yếu quá, món nợ truyền sang Mỵ, thống lý Pá Tra muốn Mỵ làm con dâu “gạt nợ”. Mà quan trên đã muốn, kẻ dưới làm sao thoát được! Pá Tra xảo quyệt, lợi dụng tục lệ của người Mèo, cho cướp Mỵ về. Thế là không có cưới hỏi, không cần tình yêu mà vẫn hoàn toàn hợp lẽ. - Tô Hoài đã lột trần bản chất bóc lột của giai cấp thống trị ở miền núi trước cách mạng, đại diện là gia đình thống lý Pá Tra. Cô Mỵ, tiếng là con dâu nhưng thực sự là một nô lệ, thứ nô lệ người ta không phải là mua mà lại được tha hồ bóc lột, hành hạ. Mỵ ở nhà chồng như ở giữa địa ngục. Không có tình thương, không sự chia sẻ vợ chồng; chỉ có những ông chủ độc ác, thô bạo và những nô lệ âm thầm, tăm tối. Dần dần rồi Mỵ cũng quên luôn mình là con người nữa. Suốt ngày “Mỵ lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, lúc nào cũng cúi mặt, thế giới của Mỵ thu hẹp trong một cái ô cửa sổ” mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Kết quả của hoàn cảnh sống thật chua xót: “Ở lâu trong cái khổ Mỵ quen rồi”, cô nhẫn nhục, cam chịu đến thành tê liệt ý thức: “Là con trâu, con ngựa phải đổi từ cái tàu ngựa nhà này sang tàu ngựa nhà khác, con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết làm mà thôi”. - Cô gái trẻ trung, yêu đời ngày nào thổi sáo hồi hộp chờ đợi người yêu, đã từng hái lá ngón định ăn để khỏi chịu nhục, giờ đây lại chai lì, u uất. Hoàn cảnh quyết định tính cách. Nguyên tắc biện chứng của chủ nghĩa hiện thực đã được nhà văn thể hiện khá sắc nét. Sự yếu đuối của kẻ nô lệ, sự vùi dập tàn bạo của bọn bốc lột tất sẽ dẫn đến cảnh ngộ bi đát ấy. - Nếu xem xét giá trị hiện thực của một tác phẩm như là sự phản ánh chân thật cuộc sống, thì Vợ chồng A Phủ quả là bản cáo trạng hùng hồn về nỗi thống khổ của người phụ nữ miền núi, vừa chịu gánh nặng của chế độ phong kiến, vừa bị trói chặt trong xiềng xích của thần quyền. - Nhà văn đã cung cấp cho người đọc những chi tiết có giá trị bóc trần bản chất xã hội vô nhân đạo, ở đó thân phận người dân nghèo mong manh bất ổn. Cảnh cô Mỵ lặng lẽ ngồi lơ lững trong những đêm đông buốt giá, thằng chồng thì đi chơi về khuya ngứa tay đánh Mị ngã dúi xuống đất. Lại còn có cái hình ảnh nhức nhối phũ phàng: người con gái bị trói đứng vào cột trong buồng tối, bị trói chỉ vì muốn đi chơi tết như bạn bè. Sự bất lực của Mỵ tràn theo dòng nước mắt chua chát trên má môi mà không có cách gì lau đi được. - Sự xuất hiện của nhân vật chính A Phủ tạo thêm tình huống để hoàn chỉnh bức tranh hiện thực. Cuộc đời nô lệ của A Phủ thật ra là sự lặp lại với ít nhiều biến thái chính cuộc đời Mỵ. Lý do mà thống lý Pá Tra buộc A Phủ phải thành người ở công không, không phải vì cuộc ấu đả thường tình của đám trai làng. Vấn đề là ở chỗ pháp luật trong tay ai? Khi kẻ phát đơn kiện cũng đồng thời là kẻ ngồi ghế quan toà thì còn nói gì tới công lý nữa! Vậy nên mới có cảnh xử kiện quái gỡ nhất trên đời mà chúng ta được chứng kiến tại nhà thống lý. Kết quả là người con trai khỏe mạnh phóng khoáng vì lẽ công bằng mà phải đem cuộc đời mình trả nợ nhà quan. - Tô Hoài trong khi đào sâu vào hiện thực đã phát hiện ra con đường tất yếu mà các nhân vật của ông đi tới. Sự đè nén quá nặng nề, những đau khổ chồng chất mà bọn thống trị gây ra tất sẽ dồn những kẻ khốn cùng ấy tới sự chống trả và nếu gặp được ánh sáng soi đường, họ sẽ đến được thắng lợi. Lấy việc miêu tả tâm lí làm điểm tựa, Tô Hoài đã tìm ra được sự phát triển logic của tính cách. Đây thật sự là một giá trị nhân đạo độc đáo của tác phẩm, và là chỗ có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất. - Có ngọn lửa nào đang được khơi lên bằng hơi men. Chỉ biết rằng cô gái đã quyết thay váy áo đi chơi, điều mà bao năm rồi cô không nhớ đến. Có thể coi đây là một bước đột biến tâm lý nhưng là kết quả hợp lý toàn bộ quá trình tác động qua lại giữa hoàn cảnh với tính cách nhân vật. Sự “vượt rào” của Mỵ tuy bị đàn áp ngay (A Sử đã tắt đèn, trói đứng cô vào cột); nhưng ý thức về quyền sống, khát vọng về hạnh phúc đã trở lại. Mị lại biết khóc, lại muốn tự tử. Và những giọt nước mắt trong cái ngày tàn nhẫn này sẽ lưu giữ trong lòng Mỵ như một vết bỏng rát để đến khi bắt gặp những dòng nước mắt chảy “lấp lánh” trên gò má hốc hác của A Phủ, nó đã biến thành sự đồng cảm sâu sắc giữa những người cùng khổ. Toàn bộ ý thức phản kháng của Mị hiện hình qua một câu hỏi sáng rõ: “người kia việc gì phải chết?” Mỵ quyết định trong khoảnh khắc: cắt dây trói giải thoát cho A Phủ. Và tất nhiên, Mỵ cũng bỏ trốn, tự giải thoát chính mình. Hai kẻ trốn chạy chịu ơn nhau, cảm thông nhau, dựa vào nhau để tạo lập hạnh phúc. Thế nhưng cái đồn Tây lù lù xuất hiện và lại có cha con thống lý Pá Tra về ở trong đồn, thì họ thật sự bị dồn đến chân tường. Trước mặt họ, chỉ còn sự lựa chọn cuối cùng: trở lại kiếp nô lệ hay chống kẻ thù. Chắc chắn họ thà chết còn hơn lại sống như cũ. Nhưng muốn chống kẻ thù, họ trông cậy vào ai? Cách mạng đã đến với họ đúng giây phút ấy. Mỵ và A Phủ đi theo cách mạng, sẽ thuỷ chung với cách mạng như một lẽ tất yếu! Đó là tấm lòng nhân đạo mới mẻ của Tô Hoài nhờ có ánh sáng của cách mạng. - Bằng sự am hiểu cuộc sống và khả năng phân tích những vấn đề sắc bén, nhất là bằng ngòi bút miêu tả tâm lý tinh tế, Tô Hoài đã tái hiện chân thật và sinh động cuộc hành trình từ đau khổ, tối tăm ra phía ánh sáng
  9. cách mạng của những người dân lao động với chế độ cũ. Tác phẩm đem lại cho bạn đọc nhận thức đúng đắn về con đường cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta. - Giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ đã để lộ cái nhìn nhân đạo, ưu ái của Tô Hoài. Khi cô đúc nỗi cùng khốn vào hai thân phận nô lệ với ý thức làm một bản cáo trạng về xã hội cũ, Tô Hoài đã gợi lên trong chúng ta sự căm phẫn, sự đau xót. Đó cũng là tấm lòng nhân đạo của nhà văn trước sự bất hạnh của đồng loại. - Tính chân thật, chính xác, logic ở những đoạn mô tả tâm lí, nhưng rõ ràng phải biết thông cảm, biết trân trọng nâng niu con người lắm, mới có thể xét đoán tâm hồn người ta tinh tế như vậy. Đó là con người biết yêu quý tự do, biết khẳng định quyền sống. Ngay cả lúc bị hoàn cảnh vùi dập đến mê mụ, trong tro tàn của lòng cô vẫn âm ỉ đốm than hồng của niềm ham sống, khao khát thương yêu. Nếu nhà văn chỉ tuân theo một thứ hiện thực khách quan, lạnh lùng thì làm sao ông có thể đón đợi và nắm bắt tài tình giây phút sống lại bất ngờ và mãnh liệt đến thế của cô gái. Ông vẫn tin rằng hoàn cảnh dẫu có khắc nghệt đến mấy, cũng không thể tiêu diệt hoàn tòan nhân tính. Mị đã sống lại bằng tuổi trẻ, bằng nỗi day dứt về thân phận của mình. Chính cái khát vọng sống mãnh liệt không thể chết được ở Mị, làm cho Mị đồng cảm với cảnh ngộ của A Phủ và đi đến quyết định giải thoát cho A Phủ, giúp Mị tự giải thoát khỏi cái chốn địa ngục để làm lại cuộc đời, để sống như một con người. Thể hiện một niềm tin mạnh mẽ vào con người, đó là tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn. III. Tô Hoài đã trân trọng từng bước trưởng thành của Mỵ và A Phủ. Cái nhìn của ông về hai nhân vật này là một cái nhìn nhân đạo tích cực. Ông cảm thông nỗi đau của Mỵ và A Phủ, mặt khác ông trân trọng ý thức nhân phẩm, khát vọng giải phóng và tin ở khả năng tự làm chủ trước cuộc đời của hai con người đau khổ này. Phải chăng, chính cái nhìn đó đã tạo nên giá trị nhân văn của tác phẩm. Câu 3.b: I. Giới thiệu: Tác giả, tác phẩm, vẻ đẹp hình tượng dòng sông qua bút pháp tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. II. Nội dung chính: (thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng phải đảm bảo những ý chính sau đây): Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp sông hương ở nhiều góc độ: từ thượng nguồn tới khi qua kinh thành Huế; từ tự nhiên, lịch sử văn hóa, nghệ thuật. 1. Vẻ đẹp sông Hương ở thương nguồn: - Ở đấy ta gặp một dòng sông đẹp, mạnh mẽ được ví như “cô gái Digan phóng khoáng và man dại”, sông như bản trường ca; sông như cơn lốc, sông như cô gái Di gan và nâng lên thành vẻ đẹp cao cả: “người mẹ phù sa”. - Tác giả tăng vẻ đẹp cho dòng sông bằng nghệ thuật nhân hóa. 2. Vẻ đẹp sông Hương trước khi về kinh thành Huế: - Hương giang như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại”. - Dòng sông mềm như tấm lụa (hình dáng). - Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím (màu sắc). - Trôi chậm như mặt hồ yên tĩnh (dòng chảy). Tất cả đều đó tạo nên một vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí như cổ thi. Khi dòng sông chảy vào thành phố, tác giả đã có những phát hiện độc đáo về sông Hương. 3. Vẻ đẹp sông Hương chảy về đồng bằng và ngoại vị thành phố: Nó mang vẻ đẹp như chiều sâu hồn người. Như xa lâu ngày gặp lại cố nhân kinh thành thân yêu nên sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của cùng ngoại ô Kim Long”. + Cảm xúc như trào dâng, dòng sông chợt mềm hẳn đi, say đắm lạ thường “như tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. + Dòng sông như lưu luyến lúc rời xa kinh thành, Nó tựa như một “nỗi vấn vương” và cả “một chút lẳng lơ kín đao của tình yêu”. Lối so sánh tài tình và nhân cách hoá độc đáo làm người đọc ngây ngất và tâm hồn thăng hoa theo dòng sông đa tình như một khách hào hoa phong nhã . 4. Vẻ đẹp khác của sông Hương: - Dòng chảy lịch sử. - Dòng chảy của văn hóa và thi ca. - Dòng sông đi vào đời thường “nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một cô gái dịu dàng của đất nước”. III. Kết luận: - Sông Hương được cảm nhận với nhiều góc độ, bằng bút pháp tài hoa và văn phong mềm mại, tạo nên đường nét thật tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính của kinh thành. - Đó là những phát hiện thú vị của tác giả, giúp chúng ta thêm tự hào và yêu đất nước.
Đồng bộ tài khoản