Để trẻ khỏe mạnh bước vào năm học mới

Chia sẻ: De Khi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
48
lượt xem
9
download

Để trẻ khỏe mạnh bước vào năm học mới

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sốt virut - bệnh dễ gặp nhất Đây là bệnh trẻ rất dễ mắc phải khi vào năm học mới. Các loại virut thường gây sốt gồm myxo, coxackie, entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản... Trong điều kiện bình thường cũng có những virut ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa... khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh. Sốt do nhiễm virut có biểu hiện sau: Sốt cao: Thường sốt từ 38 - 39oC, thậm chí 40-41oC. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Để trẻ khỏe mạnh bước vào năm học mới

  1. Để trẻ khỏe mạnh bước vào năm học mới Cần theo dõi thân nhiệt cho trẻ bị sốt do nhiễm virut. Sốt virut - bệnh dễ gặp nhất Đây là bệnh trẻ rất dễ mắc phải khi vào năm học mới. Các loại virut thường gây sốt gồm myxo, coxackie, entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản... Trong điều kiện bình thường cũng có những virut ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa...
  2. khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh. Sốt do nhiễm virut có biểu hiện sau: Sốt cao: Thường sốt từ 38 - 39oC, thậm chí 40-41oC. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol... Khi hạ sốt, trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường. Trẻ đau mình mẩy, làm trẻ khó chịu, quấy khóc. Một số trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã. Viêm long đường hô hấp: Các biểu hiện của viêm long đường hô hấp như ho, chảy nước mũi, hắt hơi, họng đỏ... Rối loạn tiêu hóa: Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt do virut đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, không có máu, chất nhầy. Nôn: Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn. Không có các biểu hiện nhiễm khuẩn. Ngoài ra còn gặp các biểu hiện khác như viêm hạch, phát ban, viêm kết mạc. Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ và sau 3-5 ngày sẽ giảm dần rồi mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh.
  3. Các bệnh do ký sinh trùng Giun đũa, giun kim: Là loại ký sinh trùng phổ biến nhất trong thời kỳ này. Tay trẻ thường bẩn bởi động tác di chuyển cần sự hỗ trợ của tay, sàn nhà trẻ nếu không được làm sạch thường xuyên sẽ có rất nhiều trứng giun đũa, giun kim. Một thói quen khác của trẻ trong thời kỳ này là mút ngón tay cũng làm tăng nguy cơ bị nhiễm. Những trẻ nhiễm giun thường tăng cân chậm, suy dinh dưỡng, bụng trướng to. Tình trạng này được khắc phục tốt sau khi tiến hành tẩy giun. Giun móc: Ấu trùng giun móc vào cơ thể qua đường ăn uống hoặc qua da. Vì vậy, những trẻ có thói quen không đi giày dép hoặc bò trên nền đất hoặc ăn uống mất vệ sinh rất dễ nhiễm loại giun này. Trung bình mỗi ngày một con giun móc có thể hút 0,2ml máu. Những trẻ nhiễm giun thường chán ăn, đau vùng thượng vị hoặc quanh rốn, đau âm ỉ cả lúc no lẫn lúc đói. Phân lúc táo lúc nát, có màu đen do chảy máu đường tiêu hóa. Dấu hiệu thiếu máu xuất hiện từ từ trong vòng 1-2 tháng hoặc kéo dài hơn. Trẻ mệt mỏi, xanh xao, chóng mặt. Tình trạng này được khắc phục tốt sau điều trị giun móc. Hậu quả của nhiễm giun móc là giảm hấp thu các chất dinh dưỡng, viêm ruột, bội nhiễm ở phổi và có thể suy tim do thiếu máu. Để phòng tránh nhiễm giun, cần tăng cường vệ sinh cá nhân. Không để trẻ bò lê dưới đất hoặc đi chân đất để tránh ấu trùng giun móc chui qua da; rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi đại tiện.
  4. Suy dinh dưỡng Hình ảnh Myxovirus. Chứng bệnh thiếu chất nghiêm trọng này thường đi theo sau các bệnh truyền nhiễm nhưng lại trực tiếp hoặc hỗ trợ những căn bệnh khác gây tử vong ở trẻ. Nguyên nhân là do tình trạng thiếu thốn thực phẩm hoặc mắc bệnh viêm nhiễm, thậm chí là do cả hai. Các bậc cha mẹ nếu không quan tâm đến con đầy đủ sẽ dễ bỏ qua vấn đề chăm sóc dinh dưỡng khi trẻ đến tuổi tới trường. Phòng chống suy dinh dưỡng bằng cách tăng cường chất dinh dưỡng cho trẻ và dự phòng các bệnh truyền nhiễm như đã trình bày ở trên. Việc theo dõi cân nặng theo biểu đồ tăng trưởng là cần thiết và phải làm thường xuyên, khi thấy có dấu hiệu bất thường cần đưa trẻ đi khám bệnh để có biện pháp xử lý cần thiết. Dị ứng
  5. Cơ thể trẻ giai đoạn này rất dễ mẫn cảm với các yếu tố lạ của môi trường. Đặc biệt là sau một thời gian trẻ được nghỉ hè ở nhà hoặc trẻ lần đầu tiên tiếp xúc với môi trường lớp học có thể sẽ làm một số trẻ bị dị ứng với đồ dùng học tập, không khí ở lớp, trường. Nếu có các dấu hiệu như mẩn ngứa, ho, hắt hơi... nhiều cần cho trẻ đi khám. Xử trí sốt do virut ở trẻ Các bệnh do virut gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng, đối với sốt virut ở trẻ em cũng vậy. Do đó, các biện pháp thường áp dụng là: Cặp nhiệt độ, chăm sóc trẻ Hạ sốt: Thường dùng bệnh. paracetamol liều 10mg/kg, 6 giờ/lần. Lau mình trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng. Nếu trẻ sốt cao trên 38,5oC thì nên dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao. Khi sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rối loạn cân bằng điện giải trong cơ thể, nên dùng các thuốc có tác dụng bù lượng nước mất qua
  6. da và điện giải do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng. Để chống bội nhiễm cần vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%. Đồng thời cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng. Phải đưa trẻ đến khám ngay tại cơ sở y tế khi có các dấu hiệu sau: trẻ sốt cao trên 38,5oC, đặc biệt là trên 39oC mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng; lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, tăng dần; buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày. Sốt virut dễ gây thành dịch nên khi trẻ bị nhiễm bệnh, nên cho trẻ nghỉ học để cách ly không lây lan sang các bạn.
Đồng bộ tài khoản