Di chúc Hồ Chí Minh

Chia sẻ: Tran Hoang Dai | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:24

0
1.124
lượt xem
577
download

Di chúc Hồ Chí Minh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hơn 40 năm chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi, để lại trong lòng chúng ta nhiều bài học sâu sắc về giá trị tư tưởng của người, đặc biệt là trong di chúc mà người để lại cho nhân dân Việt Nam chúng ta nhiều tư tưởng quý báu. Di chúc là bản tổng kết thực tiễn kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng và phương hướng phát triển của dân tộc, đồng thời thể hiện cô đọng nhân cách của vị lãnh tụ, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh. Di chúc kết tinh những giá...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Di chúc Hồ Chí Minh

  1. Mục lục 1. Lời mở đầu. ………………………………………………………………....…... 2. Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh…………………………………................... 3. Những giá trị nội dung trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh………………… a.Đoàn kết……………………………………………………………………. b. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng. …………………………………….……… c. Về cuộc kháng chiến chống Mỹ…………………………………..………. d. Về nhân dân lao động. …………………………………….………………. e. Xây dựng chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh…………………………………………………………… 4. Thực hiện di chúc của Bác. ………………………………………………………. 5. Liên hệ bản thân - Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ………. Tài liệu tham khảo …………………………………………………………………… 1
  2. 1. Lời mở đầu. Hơn 40 năm chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi, để lại trong lòng chúng ta nhiều bài học sâu sắc về giá trị tư tưởng của người, đặc biệt là trong di chúc mà người để lại cho nhân dân Việt Nam chúng ta nhiều tư tưởng quý báu. Di chúc là bản tổng kết thực tiễn kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng và phương hướng phát triển của dân tộc, đồng thời thể hiện cô đọng nhân cách của vị lãnh tụ, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh. Di chúc kết tinh những giá trị lịch sử, văn hoá, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó mỗi chữ, mỗi câu, mỗi đoạn văn được viết ra đều là kết quả của sự suy ngẫm, chắt lọc sâu sắc tư tưởng, tình cảm và trí tuệ của Người, là một chương trình hành động trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng lại đất nước sau khi nước nhà thống nhất. Di chúc thiêng liêng của Người trở thành nguồn động viên, cổ vũ to lớn, là sự chỉ dẫn quan trọng, để quân và dân Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo. Cho đến ngày nay, bản Di chúc vẫn được coi là một văn kiện có giá trị lịch sử quan trọng mà trong đó, sự kết hợp chặt chẽ giữa tính khoa học và tính thực tiễn trên nền tảng chủ nghĩa nhân văn cao đẹp đã làm nên giá trị chân chính và bền vững của Di chúc Bác Hồ. Di sản mà Người để lại trong Di chúc không phải là của cải, tiền bạc, sự kế thừa địa vị mà là những lời dặn dò tâm huyết, những bài học được đúc kết từ thực tế cuộc đời hoạt động cách mạng của Người và từ kết quả của tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam đã trải qua gần một nửa thế kỷ. Chính vì vậy, Di chúc của Người không những có ý nghĩa thiêng liêng với hiện tại mà còn nguyên giá trị to lớn đối với tương lai. 2
  3. 2. Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh. VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------------------------- Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta. Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. * ** Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng "Nhân sinh thất thập cổ lai hy", nghĩa là "Người thọ 70, xưa nay hiếm". Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người "xưa nay hiếm" nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ. Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa? Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột. 3
  4. Trước hết nói về Đảng - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. 4
  5. Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay! Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc. Về phong trào cộng sản thế giới - là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em! Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại. * ** Về việc riêng - Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân. * ** 5
  6. Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế. Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Hà nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969 Hồ Chí Minh 6
  7. 3. Những giá trị nội dung trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh. Di chúc của Bác cũng như tất cả các tác phẩm, lời nói, bài viết của Bác bao giờ cũng giản dị dễ hiểu đối với nhân dân, trước hết đối với công - nông là bộ phận lớn nhất trong nhân dân. Song nó luôn luôn hàm chứa những tư tưởng lý luận và thực tiễn sâu sắc. a. Đoàn kết Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm đến xây dựng tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng. Theo Người, sự đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong nhân dân. Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Trong Di chúc để lại, điều đầu tiên Bác nói về Đảng, Bác căn dặn: Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải "giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Sau những dòng chữ trong bản di chúc ngắn ngủi này là những tổng kết kinh nghiệm cả một đời hoạt động vì nước vì dân của Bác. Không chỉ căn dặn toàn Đảng giữ gìn sự đoàn kết, Bác cũng chỉ rõ cách thức, phương pháp để thực hiện đoàn kết trong Đảng: "Bác nói nguyên lý đoàn kết: Không thực hiện dân chủ thì không đoàn kết được, nhất là dân chủ trong Đảng. Vì Đảng ta cầm quyền, không dân chủ trong Đảng thì làm sao dân chủ trong dân được. Bác dạy phải thường xuyên phê bình, phát triển đoàn kết, tức là không phải hôm nay làm, mai không làm". Một câu nói giản di của Bác cũng chứa đựng ý nghĩa gốc rễ, có tính nền tảng của nửa dòng chữ duy nhất Bác viết thêm vào Di chúc năm 1966: Bác viết: "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau". Bác dạy Đảng ta: “Phê bình việc 7
  8. chứ không phê bình người. Học tập Chủ nghĩa Mác là phải sống với nhau có tình có lý. Ta xử lý dựa trên nguyên tắc, điều lệ Đảng, nhưng thấm đẫm tình người...”. Vì vậy vấn đề mất đoàn kết luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết một cách bao dung, nhẹ nhàng mà thấm thía. Đây vẫn sẽ là một bài học quý báu trong xử lý vấn đề mất đoàn kết trong Đảng đang diễn ra ở một số nơi hiện nay. Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Như trong bài Hòn Đá, Bác đã viết: Hòn đá to, Hòn đá nặng, Chỉ một người, Nhắc không đặng. Hòn đá nặng, Hòn đá bền, Chỉ ít người, Nhắc không lên. Hòn đá to, Hòn đá nặng, Nhiều người nhắc, Nhắc lên đặng. Biết đồng sức, Biết đồng lòng, Việc gì khó, Làm cũng xong. Đánh Nhật, Pháp, Giành tự do, Là việc khó, Là việc to. Nếu chúng ta Biết đồng lòng 8
  9. Thì việc đó Quyết thành công. HỒ CHÍ MINH Báo "Việt Nam độc lập" số 123, ngày 21-04-1942 Học tập đạo đức, cách mạng Hồ Chí Minh, NXB Thông tấn, 2004 b. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác Hồ đã dặn lại toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta những công việc phải làm khi Tổ quốc đã thống nhất, trong đó có nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Bác viết: ''Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, và cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn''. Người còn chỉ rõ: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Về mục tiêu của xây dựng Đảng: Xây dựng Đảng là nhằm làm cho Đảng vững mạnh, trong sạch, đoàn kết thống nhất, có đạo đức, có trí tuệ, có năng lực. Có thể xem đó là mục tiêu trực tiếp của công tác xây dựng Đảng. Nhưng xây dựng Đảng còn nhằm một mục tiêu xa hơn, có tính chất quyết định hơn tức là làm cho Đảng ''xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân'', ''một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc'' như Chủ tịch Hồ Chí Mình đã nêu trong Di chúc. Đảng không có mục đích tự thân, mà vì cách mạng, vì nhân dân, vì Tổ quốc. Sức mạch của Đảng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng chỉ có được khi Đảng phục vụ tốt cho nhân dân, cho Tổ quốc; đoàn kết, tổ chức, lãnh đạo nhân dân giành được độc lập, thống nhất đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên phải là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, luôn luôn hướng mọi sự suy nghĩ, hành động vào việc phục vụ nhân dân. Ngay từ tháng 10-1945 trong Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người đã viết: ''Nếu 9
  10. nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì… Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp Nhật. Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh''. Mối quan hệ giữa dân và chính quyền, giữa dân và Đảng được Người quan niệm rõ ràng, nhất quán suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Tuy nhiên, không phải cán bộ, đảng viên nào cũng ý thức rõ như vậy về trách nhiệm và bổn phận của mình trước Đảng và trước dân. Có người nhớ kỹ quyền lãnh đạo đối với dân nhưng lại hầu như quên hẳn tư cách làm đầy tớ cho dân. Có người lại nói một đường làm một nẻo. Nói là phục vụ dân, nhưng gây phiền hà, ức hiếp dân, đè đầu dân. Cho nên công tác xây dựng Đảng phải lấy việc phục vụ nhân dân làm cho Đảng xứng đáng và người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Về biện pháp xây dựng Đảng: Biện pháp nói ở đây là biện pháp mang tính phương hướng biện pháp mục tiêu. Di chúc lưu ý các biện pháp lớn sau: - Phát huy truyền thống đoàn kết của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con người của mắt mình. - Thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. - Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. - Thực hành dân chủ rộng rãi. Có thời kỳ chúng ta đã thực hiện việc tự phê bình và phê bình khá thường xuyên và có kết quả. Bây giờ công tác này phải được tiến hành thường xuyên có trọng tâm, đồng bộ cả ở cấp dưới và cấp trên, có ý nghĩa thiết thực, có hình thức đa dạng và thích hợp. Nếu việc thực hiện tự phê bình và phê bình mang tính hình thức, làm tràn lan, không có kết quả, hoặc chỉ bó hẹp trong một số sinh hoạt nội 10
  11. bộ, thì càng làm cho cán bộ, đảng viên thờ ơ, mệt mỏi, mất tín nhiệm đối với chính ngay biện pháp xây dựng Đảng. Chúng ta quen nói nhiều về ưu điểm, thành tích, thắng lợi cho nên nhiều người không dễ nói, dễ nghe về nhược điểm, khuyết điểm, thất bại. Quần chúng đang nhìn lên cấp trên, nhìn vào đảng viên. Nếu cấp trên, nếu đảng viên làm qua loa, chiếu lệ, thì cấp dưới, quần chúng chắc không thể nào làm nghiêm túc được. Và đương nhiên tự phê bình và phê bình có tác dụng riêng, nó không thể thay thế cho toàn bộ công tác giáo dục, không thể thay thế cho việc giữ gìn kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một biện pháp rất cơ bản không chỉ để xây dựng Đảng, mà còn để tiến hành thuận lợi mọi công tác là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong nhân dân. Không chỉ trong Di chúc mà trong nhiều bài phát biểu khác của mình, Bác Hồ đã nói đến việc bảo đảm một nền dân chủ rộng rãi cho nhân dân. Trong bài nói Thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, chống bệnh quan liêu (1952), Người giải thích: “Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Cho nên phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công. Cũng trên tinh thần dân chủ, tại Đại hội VI, Đảng ta yêu cầu mọi việc phải được ''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra''. Cần phải xem xét kỹ tại sao trong nhiều việc dân còn tỏ thái độ bàng quan, thờ ơ, thậm chí không đồng tình, tại sao vậy? Do dân kém giác ngộ, kém trình độ hay là do họ không được biết, không được bàn, không được kiểm tra? Khi người dân chỉ có trách nhiệm làm mà không biết, không hiểu, không được bàn, được góp ý, được kiểm tra thì họ sẽ làm không tốt, không hào hứng. Tóm lại, một phần rất quan trọng là cần phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong nhân dân đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu. Dân chủ là mục tiêu lớn được đặt ra từ ngày thành lập Đảng. Dân chủ hiện hay là động lực lớn để xây dựng đất nước, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng về tổ chức là tăng cường sức chiến đấu của Đảng từ Trung ương đến cơ sở. Đại hội VIII của Đảng nhận định: ''Tổ chức cơ sở Đảng ở nhiều nơi yếu kém, phương thức lãnh đạo và sinh hoạt lúng túng, có trình trạng vừa kém dân chủ, vừa thiếu kỷ luật, kỷ cương. Một số cán bộ và cấp 11
  12. uỷ chưa tôn trọng và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, bệnh quan liêu, độc đoán, cục bộ, địa phương, kèn cựa, địa vị, cá nhân chủ nghĩa rất nặng. Không ít nơi nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng''. Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng muốn có hiệu quả thiết thực, trước hết, phải gắn liền với phong trào quần chúng và phải dựa vào quần chúng. Nét đặc sắc trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng chính là mối liên hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Bác Hồ nói: ''Nhân dân giúp đỡ xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình''. Đối với những ý kiến phê bình đúng của quần chúng thì các tổ chức Đảng tiếp thu nghiêm túc và có biện pháp sửa chữa. Đối với những ý kiến không đúng thì phân tích và giải thích đầy đủ với thái độ thực sự “trọng dân” và có ý thức trách nhiệm. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn luôn là một di sản vô giá để làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. c. Về cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tìm hiểu dự báo chiến lược về thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những giúp ta hiểu giá trị to lớn về dự báo thiên tài của Người, mà còn là cơ sở để nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó góp phần đấu tranh phê phán một số quan điểm cho rằng dự báo đó là không có căn cứ, chỉ là lời động viên “thuần tuý” của các nhà lãnh tụ, là “khẩu hiệu tuyên truyền” trong nhân dân trước cuộc chiến “không cân sức”, “không biết ngày nào ra”. Nếu có thắng lợi cũng chỉ là “ăn may”. Trái lại dự báo đó của Hồ Chí Minh là hoàn toàn khoa học. Dự báo trên của Hồ Chí Minh xuất phát từ thực tiễn Việt Nam bước vào giai đoạn mới (sau 1954 cách mạng gặp vô cùng khó khăn). Mỹ – Diệm tập trung đàn áp cách mạng, chúng liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét qua các chiến dịch “tố cộng”, với khẩu hiệu “đạp lên oán thù, thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, “Dĩ đảng trị đảng”, “dĩ dân trị dân”. Hàng trăm cán bộ đảng viên và quần chúng yêu nước bị sát hại. “Trong vòng 10 tháng (7/1955 đến 5/1956) chúng đã bắt và giết 108835 người dân Việt Nam”. 12
  13. Sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam nhất định được phát huy cao độ. Sức mạnh đó đầu tiên bắt nguồn từ đường lối lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo linh hoạt, sáng tạo, kịp thời, đúng lúc qua các thời kỳ cách mạng. Bị thua đau trên các chiến trường, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra cả hai miền Nam Bắc. Tình hình trên đặt ra cho Đảng, nhân dân, Quân đội ta câu hỏi lớn, Việt Nam có dám đánh Mỹ không? Đánh Mỹ bằng cách nào? Đánh rồi có thắng được không? Câu hỏi này, như đã có câu trả lời từ trước, qua dự đoán khoa học của Người: Nhất định ta thắng Mỹ, đó là điều chắc chắn. Bởi vì, chúng ta có sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến tranh mà kẻ thù không bao giờ có (tính chất chính nghĩa của chiến tranh). Có ý chí quyết tâm “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Có sức mạnh của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Sức mạnh tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia và sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Thắng lợi của cuộc chiến tranh thường tuân theo quy luật mạnh được, yếu thua. Nếu so sánh lực lượng giữa ta và địch về quân sự và kinh tế là quá xa lệch, ta gặp nhiều khó khăn. Nhưng thiên tài của Hồ Chí Minh ở chỗ, chính Người đã nhìn thấu suốt được sức mạnh tổng hợp mà nhân dân Việt Nam sẽ có được. Cốt lõi của sức mạnh ấy là ý chí quyết tâm của cả dân tộc “thà chết không chịu làm nô lệ”; là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; là “Còn non còn nước còn người, thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Thực hiện lời tiên đoán của Người “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, quân và dân hai miền Nam Bắc luôn kề vai sát cánh bên nhau đánh thắng hết chiến lược chiến tranh này đến chiến lược chiến tranh khác. Từ chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, đến Việt Nam hoá chiến tranh (1954-1960, 1961-1965, 1966-1968, 1969-1972). Mỹ đã rút về nước, chớp lấy thời cơ có một không hai này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta thực hiện “Đánh cho Nguỵ nhào”(1973-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện trọn vẹn lời tiên đoán của Người. Với thắng lợi này, nhân dân ta đã quét sạch bọn đế quốc xâm lược, chấm dứt ách thống trị tàn bạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta. Đúng như trong Di chúc, Hồ Chí Minh đã viết “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to -là Pháp và Mỹ”. Nhân dân ta đã đánh bại 13
  14. cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất của chủ nghĩa đế quốc kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Đã 40 năm trôi qua, nay nghiên cứu, tìm hiểu, đọc lại tư tưởng trên trong Di chúc Hồ Chí Minh, chúng ta thấy còn rất mới trong công tác khoa học dự báo của Đảng hiện nay. Để làm tốt vấn đề này, cần chú ý một số yêu cầu có tính chất phương pháp luận sau. Một là, nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của công tác dự báo khoa học. Trên cơ sở nhận thức đúng mới có hành động đúng. Làm tốt công tác dự báo là cơ sở quan trọng cho Đảng ta hoạch định đường lối chủ trương đúng, tổ chức lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới thắng lợi. Trong điều kiện biến động phức tạp của tình hình thế giới và trong nước hiện nay, công tác dự báo đặt ra vừa là cơ bản lâu dài, vừa là cấp bách trước mắt. Không nhận thức đúng vai trò quan trọng của công tác dự báo, dẫn tới những cách làm không đúng thường gặp như dự báo không sát, không rõ. Hoặc dự báo theo kiểu chắp vá, thiếu cơ sở thực tiễn. Hai là, trong dự báo chiến lược của Đảng phải xem xét, đánh giá tình hình thế giới trong nước một cách khách quan, toàn diện, cụ thể và phát triển. Để dự báo tình hình thế giới, trong nước được sát, đúng, vấn đề có tính nguyên tắc là phải đánh giá đúng tình hình, xem xét sự vật trong điều kiện cụ thể nhất định, qua đó dự kiến, nắm bắt chiều hướng phát triển của chúng. Thực tiễn cho thấy, nhờ có nắm chắc phương pháp luận này mà Hồ Chí Minh đã có niềm tin tất yếu vào thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ như đã viết trong Di chúc. Trong điều kiện mới hiện nay, trước sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Đảng ta nhận định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”. Ba là, luôn bám sát sự vận động biến đổi của thực tiễn, làm tốt công tác tổng kết thực tiễn. Trong dự báo những vấn đề chiến lược của cách mạng, phải luôn bám sát sự vận động biến đổi của thực tiễn trong nước, thực tiễn thế giới, khu vực, qua đó tổng kết rút ra từ thực tiễn những bài học kinh nghiệm. Đây là một căn cứ quan trọng trong hoạch định đường lối của Đảng. Xa rời vấn đề có tính nguyên tắc này, chủ trường đường lối của Đảng sẽ khó đi vào trong đời sống nhân dân, không động viên, cổ vũ được nhân dân tham gia. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn tổng kết, rút ra một trong 14
  15. những bài học kinh nghiệm là: Đường lối của Đảng phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Bốn là, làm tốt công tác dự báo của dự báo. Trong công tác dự báo, yêu cầu phải biết phối hợp giữa các ngành, các lĩnh vực, các bộ phận. Lấy kết quả nghiên cứu khoa học của bộ phận này làm cơ sở, căn cứ, điều kiện để dự báo chiều hướng phát triển của khoa học khác và ngược lại. Dựa vào nghiên cứu khoa học của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, cả trong nước và ngoài nước để định ra chủ trương đường lối đúng. Trong dự báo cần phân ra từng giai đoạn, thời kỳ, từng lĩnh vực cụ thể. Có dự báo tổng thể và có dự báo bộ phận. Ngay chính trong một giai đoạn cũng phân ra từng lĩnh vực của thể. Trên cơ sở những dự báo cần có kế hoạch tổ chức thực hiện với những biện pháp linh hoạt sáng tạo. d. Về nhân dân lao động. Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong Di chúc Người để lại cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta trước khi về cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: "Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân". Một câu ngắn gọn, nhưng đã khái quát rất rõ mục đích cao nhất của sự nghiệp cách mạng là mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời đó cũng là lời căn dặn tâm huyết của Người đối với toàn Ðảng và cũng là một trong những nội dung quan trọng nhất. Quan điểm nói trên của Người thể hiện ở một số luận điểm sau: Chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, độc lập, thống nhất của Tổ quốc không thể tách rời tự do, hạnh phúc của nhân dân. Người nói: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Vì vậy, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới, Người đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết nhằm đáp ứng những đòi hỏi trước mắt của nhân dân là chống nạn đói; chống nạn dốt và các tệ nạn xã hội khác; xóa bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; thực hiện tín ngưỡng tự do; lương giáo đoàn kết... Ðể thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, Người viết Thư gửi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói, Hô hào nhân dân chống nạn đói, "coi cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống ngoại xâm". 15
  16. Cùng với chiến dịch diệt giặc đói, chiến dịch diệt giặc dốt cũng được phát động. Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ,... Vợ chưa biết thì chồng bảo,... cha mẹ không biết thì con bảo", một phong trào thanh toán nạn mù chữ đã dâng cao trong cả nước. Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn hai triệu người đã biết đọc, biết viết. Công tác văn hóa, giáo dục, y tế cũng được chính quyền mới quan tâm đẩy mạnh. Tính ưu việt của chế độ xã hội mới đã được khẳng định và phát huy. Khi bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong điều kiện đất nước vừa có hòa bình vừa có chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân là một trong những mục tiêu quan trọng của đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước ta. Ðiều đó được thể hiện ngay trong quan điểm của Người về chủ nghĩa xã hội. Người nói: "Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ (ví dụ: lấy vợ, lấy chồng sớm quá, cúng bái, liên hoan lu bù, lười biếng...). Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội". Mọi chính sách của Ðảng và Nhà nước đều phải hướng tới mục tiêu từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Người xác định trách nhiệm của Ðảng và Nhà nước đối với nhiệm vụ chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Ngay từ những ngày đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, Người đã chỉ rõ, "Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm... Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh". Người khẳng định Ðảng ta, Nhà nước ta từ nhân dân mà ra, vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ của nhân dân, không có lợi ích nào khác lợi ích của nhân dân. Vì vậy: "Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân 16
  17. ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy cán bộ Ðảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Ðảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được". Ðảng và Nhà nước phải có chính sách nhằm giúp đỡ những tầng lớp xã hội dễ bị tổn thương nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm chăm lo hạnh phúc các tầng lớp nhân dân. Nhưng đối tượng mà Người dành sự quan tâm đặc biệt là: "những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong)...". Trong Di chúc, Người căn dặn Ðảng, Chính phủ phải chăm lo đến những quyền lợi thiết thực nhất của những người ấy, phải tạo điều kiện cho họ "có nơi ăn chốn ở yên ổn đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mọi người...". Sự quan tâm chăm lo đời sống nhân dân không chỉ dừng lại ở sự giúp đỡ về vật chất mà quan trọng hơn là Ðảng và Nhà nước phải tổ chức, tạo điều kiện cho nhân dân tự xây dựng đời sống hạnh phúc cho mình. Trong Di chúc, Người viết: "Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc... Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang"; "Ðây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Ðể giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân". Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 40 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ và đã thu được nhiều thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và sự nỗ lực của toàn dân, toàn quân nền kinh tế nước ta đã đạt nhiều thành tựu rực rỡ. 17
  18. Ðời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện và không ngừng được nâng cao. e. Xây dựng chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của thế hệ hệ trẻ đối với tương lai của đất nước và dân tộc, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều công sức và tình cảm trong việc chăm lo bồi dưỡng thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng. Người luôn coi đó là vấn đề rất quan trọng và rất cần thiết trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước lúc đi xa, trong Di chúc Người căn dặn Đảng ta: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên quan tâm đến thế hệ măng non của đất nước. Trong buổi khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Người dặn các cháu thiếu nhi: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khoá VII), Đảng ta khẳng định: Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước ta bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không là tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, thế hệ trẻ Việt Nam luôn xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Họ thực sự là lực lượng xung kích trong sự nghiệp cách mạng. Những tấm gương, điển hình tiên tiến trong chiến đấu, lao động, học tập và công tác đã thuộc về tuổi trẻ Việt 18
  19. Nam. Thanh niên hăng hái xung kích, đi đầu trong thực hiện các chương trình, mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, nổi bật là hai phong trào lớn: “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, được tiến hành cụ thể ở bốn chương trình hành động: “Lập thân, lập nghiệp, xây dựng đất nước phồn vinh”, “Bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an ninh”, “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng tài năng trẻ, phát triển văn hoá, thể thao”, “Công tác xã hội, bảo vệ môi trường”. Trong quân đội ta, với các mô hình “Chi đoàn xung kích huấn luyện giỏi”, “Chi đoàn rèn nghiêm, luyện giỏi, không có vi phạm kỷ luật”, “Trận địa thanh niên quyết thắng”, xây dựng chi đoàn văn hoá mới “Đẹp người, đẹp doanh trại, đẹp tình quân dân”, “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam”… đã thu hút hàng triệu thanh niên tham gia, chủ động sáng tạo, cống hiến cho Tổ quốc và rèn luyện chính bản thân mình… Giáo dục và rèn luyện cho thế hệ trẻ hiện nay phải toàn diện, trong đó trước hết về chính trị tư tưởng, quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, những yêu cầu mới về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tạo mọi điều kiện để thế hệ trẻ phấn đấu hình thành một thế hệ con người mới Việt Nam có lý tưởng cao đẹp, có tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, nêu cao trách nhiệm công dân, có tri thức, có sức khoẻ và lao động giỏi, sống có văn hoá và trọng tình nghĩa, năng động sáng tạo, làm chủ khoa học và công nghệ mới… Trong quân đội, phải xác định rõ mục tiêu cách mạng của Đảng là lý tưởng chiến đấu của thanh niên cho mỗi quân nhân. Thanh niên quân đội phải rèn luyện ý chí chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Quan tâm xây dựng môi trường xã hội tích cực, thuận lợi để thanh niên phát triển và hoàn thiện nhân cách, có điều kiện cống hiến được nhiều cho đất nước, cho quân đội. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và nhu cầu, lợi ích chính đáng của thanh niên; chăm lo toàn diện cả học tập, rèn luyện, việc làm, nhu cầu vui chơi giải trí, cả nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần. Chăm sóc, giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền và của toàn xã hội. Cần thực hiện tốt hơn nữa vai trò của mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi địa phương, đơn vị trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước để phát huy hơn nữa tiềm năng to lớn của thế hệ trẻ trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 19
  20. 4. Thực hiện di chúc của Bác. Những điều Đảng ta đã làm được và chưa làm được. Nhóm sinh viên thực hiện bài viết này, xin trích nguyên văn lời phát biểu của Đại tướng Nguyễn Quyết, nguyên Bí thư trung ương Đảng, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam. Khi được phóng viên báo Đất Việt hỏi : chúng ta đã làm được những gì và chưa làm được những gì theo Di chúc Bác Hồ sau 40 năm”. Đại tướng Nguyễn Quyết cho biết: “Chúng ta đã thực hiện đúng như tâm nguyện của Người. Tư tưởng lớn nhất của Bác là không có gì quý hơn độc lập tự do. Những việc lớn chúng ta đã được rồi, đó là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào”. Tuy nhiên, theo ông, còn nhiều việc chúng ta chưa làm được, chưa làm đúng như những gì mà Bác đã dặn…. Chẳng hạn, Bác căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Nhưng thực tế hiện nay cho thấy, không phải cán bộ, đảng viên nào cũng thấm nhuần lời dạy này của Người. Đó chính là một trong những hạn chế lớn nhất. Không thấm nhuần lời căn dặn của Bác nên đã có không ít cán bộ, đảng viên coi mình cao hơn nhân dân, đứng trên nhân dân, hống hách, cửa quyền, quan liêu. Những người này cũng không thực hiện theo lời Bác: phải triệt để thẳng thắn phê bình và tự phê bình. Bác dạy rồi: mỗi ngày rửa mặt đều phải phê bình và tự phê bình. Một đảng mạnh là phải dám phê bình và tự phê bình. Vì thế, cán bộ, đảng viên mà không triệt để phê bình và tự phê bình thì rất nguy hiểm. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản