ĐỊA NHIỆT TẦNG NÔNG – NGUỒN NĂNG LƯỢNG PHONG PHÚ

Chia sẻ: Phan Huy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
615
lượt xem
199
download

ĐỊA NHIỆT TẦNG NÔNG – NGUỒN NĂNG LƯỢNG PHONG PHÚ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Năng lượng địa nhiệt hay nhiệt đất là một dạng năng lượng được tích tụ dưới dạng nhiệt lượng nằm ngay dưới lớp đất của vỏ trái đất. Việc khai thác nhiệt lượng tầng nông có nghĩa là khai thác nhiệt của đất nằm ở độ sâu từ 1 đến 100m dưới bề mặt đất

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐỊA NHIỆT TẦNG NÔNG – NGUỒN NĂNG LƯỢNG PHONG PHÚ

  1. ĐỊA NHIỆT TẦNG NÔNG – NGUỒN NĂNG LƯỢNG PHONG PHÚ "CÒN BỊ LÃNG QUÊN" CÓ THỂ SỬ DỤNG CHO SƯỞI ẤM HAY LÀM MÁT CÁC CÔNG TRÌNH: MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA ĐỨC PGS. TSKH. Nguyễn Trung Dũng Nguyễn Tuấn Anh Khoa Kinh tế và Quản lý (tài nguyên thiên nhiên) Đại học thuỷ lợi E.mail: ntdzung990@gmail.com , anhnt.wru@gmail.com Tóm tắt Khi giá dầu trên thị trường thế giới liên tục tăng dựng đứng trong thời gian qua và việc xả thải khí CO2 là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu thì việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo ngày càng có ý nghĩa quan trọng và mang tính chiến lược. Ngày nay kỹ thuật và công nghệ đã phát triển và con người có thể khai thác các nguồn năng lượng tái tạo như địa nhiệt, gió, mặt trời, thuỷ triều và sinh khối. Trong những năm gần đây, địa nhiệt có một vai trò mới đang "bùng" lên và được quan tâm đặc biệt ở Châu Âu vì nó được coi là một nguồn năng lượng vô hạn, lại rất thân thiện môi trường và ổn định trong khai thác. Năng lượng địa nhiệt là một dạng năng lượng được tích tụ dưới dạng nhiệt lượng nằm ngay dưới lớp đất của vỏ trái đất. Khai thác địa nhiệt tầng nông có nghĩa là khai thác nhiệt của đất nằm ở độ sâu từ 1 đến 150 m dưới bề mặt đất. Nhờ có những công nghệ tiên tiến (máy bơm nhiệt, máy thu tích nhiệt, mũi hút địa nhiệt, giếng nước ngầm hay các tấm bêton áp đất) mà lượng nhiệt tầng nông tuy có độ chênh lệch nhiệt độ tương đối thấp so với nhiệt độ không khí song vẫn có thể được khai thác phục vụ cho sưởi ấm vào mùa đông và làm mát về mùa hè cho các công trình như nhà văn phòng, trường học, nhà trẻ, trạm y tế, siêu thị,… Gần 80% nhiệt lượng dùng cho việc sưởi ấm hay làm mát toà nhà đều được khai thác từ nguồn cấp nhiệt nằm ngay trong lòng đất và như vậy việc sưởi ấm hay làm mát có thể được coi gần như không có xả thải khí CO2 và không hề ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu. Trong báo cáo này sẽ giới thiệu về mặt kỹ thuật và công nghệ, phân tích ở khía cạnh kinh tế và tác dụng môi trường cũng như nêu xu thế chung và một số kinh nghiệm trong phát triển và khai thác địa nhiệt tầng nông ở Đức. Từ khoá: Địa nhiệt tầng nông, kinh nghiệm của Đức 1. MỞ ĐẦU Năng lượng địa nhiệt hay nhiệt đất là một dạng năng lượng được tích tụ dưới dạng nhiệt lượng nằm ngay dưới lớp đất của vỏ trái đất. Việc khai thác nhiệt lượng tầng nông có nghĩa là khai thác nhiệt của đất nằm ở độ sâu từ 1 đến 100 m dưới bề mặt đất. Nhiệt lượng đất ở tầng trên cùng, tính đến độ sâu 100 m gồm: Một phần năng lượng mặt trời được tích lại và một phần năng lượng của lòng đất. Chính vì vậy, giữa hai đại lượng nhiệt độ và độ sâu của đất (tính đến 10 m dưới mặt đất) có quan hệ với nhau và phụ thuộc vào nhiệt độ mùa trong năm, ví dụ mùa hè thì thường cao hơn mùa đông. Song, từ độ sâu 15 m trở đi thì biểu đồ nhiệt độ gần như đi vào ổn định trong cả năm. Theo một số nghiên cứu, cứ 100 m sâu thêm thì nhiệt độ của trái đất tăng thêm khoảng 3oC (Hình 1). Do nhiệt độ chỉ giao động trung bình trong miền 8-12oC mà lại đem sử dụng trực tiếp cho sưởi ấm hay làm mát thì quả là quá ít. Chính vì vậy mà người ta phải sử dụng loại máy bơm nhiệt đặc biệt được lắp tiếp nối với mục đích nâng nhiệt độ (làm nóng lên) đến một mức cần thiết, thông thường vào khoảng 35-65oC. Để làm được việc đó ta cần một số thiết bị chuyên dụng thì mới có thể khai thác được tiềm năng của nhiệt đất đã được tích trong lòng đất bao la với nhiệt độ phân bố tương đối đồng đều trong cả năm, như bộ phận thu tích nhiệt, mũi khoan hút nhiệt, giếng nước ngầm hay các tấm bêton áp đất. Gần 80% nhiệt lượng dùng cho việc sưởi ấm đều được khai thác 1
  2. từ nguồn cấp nhiệt nằm trong lòng đất và như vậy việc sưởi ấm có thể được coi như không phát thải khí CO2 và hoàn toàn không ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu. Kỹ thuật mang tính sáng tạo đột phá ở đây là biến ngay lòng đất không những thành nơi lưu tích nhiệt phục vụ cho sưởi ấm hay làm mát công trình, mà còn tích thêm nhiệt lượng dư thừa phát ra từ các nguồn như: bức xạ mặt trời, nhiệt phát thải trong quá trình sản xuất, năng lượng sưởi ấm hay làm lạnh trong các mùa. Đặc biệt ở các vùng cần phải sử dụng máy điều hoà nhiệt độ như Việt Nam thì việc sử dụng địa nhiệt có thể giúp ta tiết kiệm đáng kể lượng điện năng tiêu thụ mà an toàn trong sử dụng và đảm bảo tính cân bằng sinh thái so với các máy điều hoà nhiệt độ truyền thống đang sử dụng. Việc lựa chọn nguồn nhiệt (lòng đất hay nước ngầm) và các phương án kỹ thuật để khai thác (máy thu nhiệt đất, mũi hút nhiệt, giếng nước ngầm hay các tấm bêton áp đất) phụ thuộc vào đặc điểm địa chất và thuỷ văn của khu vực cũng như diện tích mặt bằng có thể sử dụng được. Xét ở góc độ kinh tế thì phải lưu ý đến mức độ nhiệt độ cao, khả năng tái tạo nhiệt tốt và khả năng cung ứng nhiệt lượng quanh năm. Việc khai thác nguồn nhiệt lượng cần phải tính đến chi phí khai thác rẻ và quản lý vận Hình 1. Quan hệ giữa nhiệt độ và độ sâu hành thấp. 2. SƯỞI ẤM HAY LÀM LẠNH MÀ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG VÀ GIẢM PHÁT THẢI KHÍ CO2 Hệ thống khai thác địa nhiệt tầng nông gồm: Máy bơm nhiệt và mũi khoan hay bộ phận thu nhiệt. Máy bơm nhiệt Máy bơm nhiệt có tác dụng lấy / hút nhiệt từ trong lòng đất nhờ một lượng nhiệt nhỏ "làm mồi" cho khởi động vận hành bộ phận cơ hay nhiệt để nâng từ một nhiệt độ thấp đến một nhiệt độ cao nhất định nào đó. Trong trường hợp làm lạnh thì nguyên tắc hoạt động ngược lại. Việc truyền nhiệt trong máy bơm nhiệt được tiến hành theo một vòng tuần hoàn động nhiệt khép kín mà trong đó lãnh chất đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa lớn nhất (Hình 2 và 3). Hoạt động của máy bơm như sau: - Trong máy bốc hơi thì lãnh chất lạnh ở thể lỏng tiếp nhận nhiệt từ nguồn nóng và làm bốc hơi. - Máy ép hơi nén lãnh chất ở thể khí mà trong đó có sử dụng năng lượng cơ học hay điện học bên ngoài và làm nóng nó lên thành khí nóng. - Khí nóng giải phóng năng lượng nhiệt ở máy tụ hơi sang hệ thống sưởi và lại tích tụ thành lãnh chất nóng ở thể lỏng; - Lãnh chất nóng ở thể lỏng được xả ra thông qua một ventil xả và qua đó nhiệt độ lại giảm đi nhanh chóng. Trong máy bốc hơi quá trình thu nhiệt lại bắt đầu từ đầu. 2
  3. Hình 2. Hệ thống máy bơm nhiệt Hình 3. Nguyên lý hoạt động của máy bơm nhiệt Một hệ thống sưởi bằng địa nhiệt bao gồm các: Hệ thống nguồn nhiệt (ví dụ mũi khoan nhiệt), máy bơm nhiệt và hệ thống sử dụng nhiệt (ví dụ hệ thống sưởi sàn nhà). Nếu hệ thống sử dụng nhiệt chỉ do máy bơm nhiệt cung cấp thì ta gọi là hệ thống vận hành đơn nguồn; nếu bên cạnh máy bơm nhiệt lại còn có nguồn cấp nhiệt khác nữa thì gọi là hệ thống vận hành song nguồn và thậm chí còn đa nguồn như kết hợp với sưởi ga, điện, ... Về cơ bản phân biệt máy bơm nhiệt hấp thụ và máy bơm nhiệt nén. Sử dụng rộng rãi nhất mà có liên quan với địa nhiệt là loại máy bơm nén nhiệt. Nếu được khởi động bằng điện cho mồi thì gọi là "máy bơm nhiệt chạy điện". Máy bơm nhiệt sử dụng khí đốt cho mồi khởi động thì chỉ có hiệu quả đối với các hệ thống lớn. Máy bơm nhiệt làm việc có hiệu quả khi mức chênh lệch nhiệt độ giữa nguồn cấp nhiệt và nơi sử dụng tương đối nhỏ. Địa nhiệt với nhiệt độ trung bình thấp mà ổn định trong cả năm thì có thể sử dụng một cách có hiệu quả. Trong đó có kết hợp với một hệ thống sưởi ở nhiệt độ thấp như làm ấm nền nhà chẳng hạn (một hình thức sưởi hiện đang thịnh hành ở Đức). Trong cấp nước nóng buộc ta phải nâng nhiệt độ lên đến 65oC. Trong trường hợp này phải lắp máy bơm nhiệt sưởi. Một phương án thế là máy bơm nhiệt có sử dụng nước loại nhỏ thứ hai để bổ sung. Về mặt năng lượng thì tốt nhất là kèm theo hệ thống đun nước chạy bằng năng lượng mặt trời. Khai thác năng lượng Hình 4 mô tả lưu đồ nhiệt lượng sử dụng được khai thác năng lượng địa nhiệt trong tự nhiên lấy từ hai nguồn là nhiệt của môi trường và năng lượng của đất. Phần nhiệt năng này còn lại là tổn thất trong phân phối. Đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường Sự liên kết tối ưu giữa máy bơm nhiệt tiếp nối với đất và hệ thống sưởi sử dụng đến 80% năng lượng từ lòng đất và chỉ tiêu hao có 20% năng lượng hỗ trợ (mồi) của môi trường (khí đốt, điện năng, ...). Như vậy xét về việc sử dụng năng lượng sơ cấp cũng như phát thải khí CO2 thì địa nhiệt trội hơn hẳn. Từ năm 1995 ở Đức đã cấm việc sử dụng chất FCKW trong kỹ thuật làm lạnh. Đối với địa nhiệt người ta thường sử dụng một hợp chất nhân tạo thay thế. Đó là các chất như R134a và R407C. Song hợp chất tự nhiên sử dụng nhiều nhất là R290, R717 hay R744. 3
  4. Hình 4. Lưu đồ năng lượng của một hệ thống bơm địa nhiệt dùng Hình 5. Lắp đặt "cột ống sinh thái" cho sưởi toà nhà cho sưởi Mũi khoan hay bộ phận thu nhiệt Mũi hút nhiệt khoan được cấu tạo thông thường bởi một chân mũi khoan làm bằng hợp chất PEDH và nối tiếp với 4 ống PEDH. Mũi hút nhiệt được dẫn vào một lỗ khoan sẵn để khai thác địa nhiệt và sau đó được nhồi bằng một hỗn hợp gồm đất sét, xi măng, bột thạch anh và nước. Việc chôn mũi hút nhiệt vào lỗ khoan sẵn và bơm dung dịch nêu trên để cố định và liên kết phải đảm bảo được tính bền vững cũng như khả năng tiếp xúc tốt với môi trường đất xung quanh. Đồng thời liên kết cũng phải đảm bảo tốt độ dẫn nhiệt. Khi hoạt động thì một loại lãnh chất sẽ đi theo hai ống tiền để vào sâu lòng đất và đến chân mũi hút nhiệt thì quay ngược lại theo hai ống hậu để đi lên và chạy thẳng đến máy bơm nhiệt. Chỉ với sự chênh lệch nhiệt độ tương đối thấp khoảng 5oC giữa nhiệt độ của hai ống tiền (10oC) và hậu (5oC) cũng đã đủ để hút nhiệt của đất để máy bơm nhiệt nâng nhiệt độ lên khoảng 35oC dùng cho sưởi ấm sàn nhà hay nâng hẳn lên thành 65oC làm nước nóng dùng cho sinh hoạt. Song trong thực tế, máy thu nhiệt có thể được xây dựng ở dạng "cột ống" hay dạng "dải chiếu" các ống có tiết diện nhỏ được dải nằm ngang ở độ sâu 1,0 đến 1,2 m dưới mặt đất (ở Châu Âu thường nằm dưới tầng đất chịu ảnh hưởng của đóng băng). Bộ phận thu nhiệt thường có chi phí vốn đầu tư nhỏ, song lại cần một diện tích thoáng nhất định, thường thì rộng từ 1,5 đến 2 lần so với diện tích cần được sưởi ấm hay làm mát. Chính vì vậy mà người ta hay áp dụng hình thức "cột ống sinh thái". 3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CỦA NƯỚC ĐỨC Đức đang đẩy mạnh phát triển sản xuất năng lượng tái tạo bao gồm năng lượng gió, mặt trời, sinh khối (năng lượng từ thực vật và các chất thải của sinh vật)... và đã thu được nhiều thành quả lớn. Trước hết, phải kể đến lợi ích kinh tế. Theo báo cáo mới đây của Bộ Môi trường Đức, ngành sản xuất năng lượng tái tạo của quốc gia này đang phát triển như vũ bão, chiếm tới 6,7% tổng năng lượng điện tiêu thụ năm so với 5,5% năm 2006 và 3,5% 2003. Doanh thu của nó đạt 24,6 tỷ euro 4
  5. (32,9 tỷ USD), tăng 10% so với năm 2006 và gấp gần 4 lần so với 2000. Tỷ trọng điện có được từ nguồn năng lượng tái tạo đã đạt tới 14,2%, một bước nhảy rất xa so với 11,7% của năm 2006. Hơn nữa, năng lượng sạch này không gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính - thải khí gây ô nhiễm môi trường và đặc biệt không gieo nỗi “ám ảnh” về tai nạn thảm khốc nếu có sự cố như các nhà máy nhiệt điện và điện nguyên tử. Nguồn năng lượng sạch giúp Đức bớt phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ nhập khẩu cũng như hạn chế khí thải CO2. Mỗi năm, năng lượng tái tạo giúp Đức giảm được gần 20 triệu tấn khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Động lực đưa Đức vươn lên vị trí dẫn đầu ngành năng lượng tái tạo là năm 2001 chính phủ đã ban hành Luật Năng lượng tái tạo (EEG), dành ưu tiên cho việc nhập điện từ các nguồn năng lượng gió, mặt trời, sinh khối ... Luật khuyến khích đầu tư vào sản xuất điện tái tạo trên toàn quốc và hòa vào mạng lưới điện quốc gia. Đây được xem như một bộ luật tối ưu nhất toàn cầu trong số các đạo luật tương tự. Trong đó qui định các công ty điện lực địa phương phải mua điện từ nguồn năng lượng tái tạo theo “biểu giá cung cấp” Siêu thị EDEKA Aktiv-Markt Koch ở Schoemberg cao hơn mức giá thị trường với giá cố định trong 20 năm. Giá cố định sẽ giúp người Diện tích mặt bằng 1.700 m2 Nằm ở độ cao so với mực nước biển 800 m đầu tư thu hồi vốn và thoát khỏi khó khăn Nhiệt độ bên ngoài để khai thác -15oC về tài chính. Thêm vào đó, các nhà doanh Nhu cầu sưởi ấm của cửa hàng cộng với nghiệp Đức - thành công trong lĩnh vực diện tích phụ trợ 150 kW năng lượng tái tạo - lại dành một phần lợi Tổng lượng khí lấy vào đối lưu 11.200 m3/h nhuận cho tái đầu tư vào nghiên cứu và Nhu cầu làm lạnh của cửa hàng 85 kW phát triển, nâng cao hiệu suất pin mặt trời, Công suất làm lạnh của tủ làm lạnh sâu 70 kW quạt gió ... cũng như sáng tạo thêm nhiều Công suất làm lạnh của tủ làm lạnh nông 22 kW sản phẩm mới. Do vậy, ngành công nghiệp Khai thác lại nhiệt của quá trình làm lạnh từ các tủ lạnh 123 kW mới này đang ngày một phát triển mạnh và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho Đức. Địa nhiệt Sử dụng nhiệt vào mùa đông 49 kW Ở bang Bavaria trong những năm gần đây Hạ thấp nhiệt độ (làm mát) vào mùa hè 49 kW đã bùng lên trào lưu sử dụng địa nhiệt. Nếu Mũi khoan địa nhiệt năm 2003 gần như chưa có một dự án nào Sử dụng công suất riêng 50 W/m về địa nhiệt thì sang 2006 đã cấp 75 giấy Chiều sâu mũi khoan 140 m phép cho khai thác địa nhiệt từ các nguồn Số mũi khoan nhiệt 7 mũi khoan nước nóng để phục vụ cho sản xuất điện và Hình thức xây dựng Mũi khoan ống nhiệt. Trong đó việc khai thác địa nhiệt ở hình chữ U kép 4 x 32 mm Molasse thực sự tổng hợp nhất và đặc biệt hàng loạt các vấn đề về kỹ thuật, kinh tế cũng như pháp lý lần đầu tiên được đem ra nghiên cứu để có thể thấy được tính kinh tế của loại dự án này. Các dự án địa nhiệt trong những năm qua có một ý nghĩa đặc biệt khi giá dầu thô trên thế giới gia tăng lên liên tục. Dự án địa nhiệt hoàn toàn không phụ thuộc vào giá dầu leo thang trên thế giới. Song các dự án địa nhiệt lại chịu ảnh hưởng của việc tăng giá sắt thép chung trên thế giới và chi phí khoan cũng như chi phí điện năng cho nhu cầu năng lượng riêng trong mấy năm gần đây cũng tăng. Việc mô phỏng các chỉ tiêu kinh tế đối với dự án công cộng và tư nhân trong sản xuất nhiệt và điện cho thấy khoảng cách giữa lợi nhuận và phi lợi nhuận của các dự án địa nhiệt là khá mỏng manh. Song liệu địa nhiệt có phát triển hay không thì phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách năng lượng và môi trường của bang Bavaria. Về hướng này thì bang Bavaria đã tạo dựng sân chơi cho mọi thành phần kinh tế trong phát triển địa nhiệt. 5
  6. Một ví dụ điển hình là Siêu thị EDEKA Aktiv-Markt Koch ở Schoemberg (vùng Balingen, Đức) được xây dựng cuối năm 2005, đã sử dụng địa nhiệt tầng nông trong một liên kết hiệu quả giữa hệ thống làm lạnh, sưởi và địa nhiệt. Nhờ có hệ thống liên hoàn này mà có thể tiết kiệm đến 50% nhu cầu sử dụng năng lượng năm. Trong đó toàn bộ lượng nhiệt dư thừa phát thải trong quá trình làm lạnh (tủ lạnh, tủ đá và kỹ thuật làm lạnh khác) được khai thác triệt để phục vụ cho sưởi ấm không gian và khi nhiệt độ ngoài trời xuống thấp thì các mũi khoan địa nhiệt hoạt động để bù đắp cho nhu cầu sưởi gia tăng còn lại. Gần ¾ khoảng thời gian trong năm, tiềm năng làm lạnh được trữ trong lòng đất có tác dụng rút nhiệt vào mùa đông, được sử dụng nhằm cải thiện mức độ làm lạnh quá trình của hệ thống làm lạnh trong siêu thị. Ngoài ra, hệ thống liên kết giữa làm lạnh - sưởi ấm thông qua máy bơm dựa vào môi trường trao đổi trung gian tàng trữ địa nhiệt, đã làm vô hiệu hoá hệ thống sưởi bằng nước được lắp đặt trước đây trong siêu thị. Một số thông tin chính ở hộp bên. 4. TIỀM NĂNG ĐỊA NHIỆT CỦA VIỆT NAM Tài nguyên địa nhiệt tầng sâu của Việt Nam tuy không phong phú bằng những quốc gia nằm trong các vành đai động (Địa Trung Hải và Hymalaya, Đông và Tây Thái Bình Dương ...) nhưng cũng thuộc loại có tiềm năng khá. Đây là một dạng năng lượng mới và tái tạo, được biểu hiện bằng những nguồn nước nóng xuất lộ trên mặt đất hay bắt gặp trong các lỗ khoan (chưa có công trình nghiên cứu các dạng địa nhiệt khác như hơi nóng, đá khô nóng...). Theo số liệu điều tra của ngành địa chất, tính đến năm 1998 trên toàn lãnh thổ nước ta đã phát hiện được 253 nguồn có nhiệt độ từ 300C trở lên (chưa kể đến những nguồn được phát hiện bởi các lỗ khoan dầu khí ở thềm lục địa biển Đông). Chúng được phân bố theo các cấp nhiệt độ và miền địa lý ở bảng 1. Bảng 1. Thống kê các nguồn nước nóng theo cấp nhiệt độ và theo miền địa lý Đồng Bắc Nam Cộng % so với Tây Bắc Đông Đông Tây Nhiệt độ Mức độ bằng Trung Trung theo cấp toàn Bộ Bắc Bộ Nam Bộ Nam Bộ Bắc Bộ Bộ Bộ nhiệt độ quốc 30-400C Ấm 35 5 6 5 27 5 48 131 51.78% 0 41-60 C Nóng vừa 38 2 3 9 22 1 2 77 30.43% 61-1000C Rất nóng 5 3 2 6 24 1 0 41 16.21% 0 >100 C Qúa nóng 0 0 3 1 0 0 0 4 1.58% Cộng theo miền 78 10 14 21 73 7 50 253 100,00% % so với toàn quốc 30.83% 3,95% 5,53% 8,30% 28,85% 2,77% 19,76% 100,00% Từ bảng 1 ta có nhận xét: Xét về địa bàn phân bố thì miền Tây Bắc Bộ có nhiều nguồn nước nóng nhất có 78 nguồn (tương đương 30,83% số nguồn nước nóng của cả nước). Tiếp đến, Nam Trung Bộ (Duyên hải và Tây Nguyên) có 73 nguồn (chiếm 28,85%). Nhưng xét về mặt nhiệt độ thì ở Nam Trung Bộ số nguồn "rất nóng" có tới 24 nguồn, tức là chiến 58,54% tổng số nguồn "rất nóng" trong toàn quốc (41 nguồn). Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là những bồn artesi lớn, bị phủ bởi các trầm tích Đệ tứ rất dày nên nước nóng không có điều kiện xuất lộ, nhưng vẫn tồn tại dưới sâu và chỉ được phát hiện bởi các lỗ khoan. Ở vùng trũng sông Hồng có rất nhiều lỗ khoan phát hiện nước nóng nhưng mới thu thập đầy đủ tài liệu ở 14 lỗ khoan, trong đó đặc biệt là một số lỗ khoan sâu ở Thái Bình, Nam Định đã phát hiện được nước "quá nóng" (100-1500C ở lỗ khoan với độ sâu 3-4 nghìn mét). Theo sự phát triển của công tác điều tra địa chất và tìm kiếm dầu khí thì chắc chắn số lỗ khoan gặp nước nóng sẽ ngày càng gia tăng. Ở Đồng bằng Nam Bộ trong các lỗ 6
  7. khoan phần lớn phát hiện các loại nước ấm. Còn địa nhiệt tầng nông thì đến nay chưa được đề cập đến. 5. KẾT LUẬN Địa nhiệt tầng sâu hay tầng nông hiện nay đang được chính phủ Đức quan tâm thích đáng như ngân hàng cho phép vay và hỗ trợ vốn trong triển khai hàng loạt các dự án về địa nhiệt. Lãnh thổ Việt Nam có tiềm năng về tài nguyên địa nhiệt. Đây là một dạng năng lượng mới, có giá trị sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Nhưng đến nay nó vấn chưa được quan tâm đúng mức. Để nguồn tài nguyên này được phát huy tác dụng nhằm phục vụ kinh tế - dân sinh thì trong thời gian tới cần dành sự chú ý thích đáng vào việc điều tra nghiên cứu chi tiết hơn, chọn ra những nguồn có triển vọng nhất để đưa vào khai thác sử dụng. Về ngắn hạn, để giải quyết phần nào sự thiếu hụt năng lượng do quá trình phát triển kinh tế bên cạnh việc tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống Việt Nam nên từng bước khai thác năng lượng đia nhiệt. Nhà nước đề ra Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng địa nhiệt, trong đó cần có chính sách ưu tiên về các mặt công nghệ, thiết bị, tài chính, vay vốn, giá mua bán ... cũng như từng bước rỡ bỏ độc quyền và cho phép tư nhân tham gia kinh doanh điện. Trong tương lai không xa, các nhà máy điện địa nhiệt ở Việt Nam hoàn toàn có khả năng góp phần vào việc cân bằng năng lượng điện của Việt Nam và trước hết góp phần đảm bảo tỉ lệ 10- 15% sử dụng năng lượng sạch trong tổng năng lượng điện của Việt Nam, mà ngành điện Việt Nam đã nhất trí ký kết trong hội nghị toàn ngành điện của các nước ASEAN năm 2005. Về dài hạn, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển các nguồn năng lượng mới. Trong chiến lược này, chi phí kinh tế (gồm cả chi chí nội và ngoại về môi trường, xã hội) cần phải được phân tích một cách kỹ lưỡng, có tính đến những phát triển mới về mặt công nghệ, cũng như trữ lượng và biến động giá của các nguồn năng lượng thay thế. Việt Nam có nhiều thuận lợi để phát triển năng lượng địa nhiệt. Việc không đầu tư nghiên cứu và phát triển điện địa nhiệt là một lãng phí lớn trong khi nguy cơ thiếu điện luôn thường trực, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. TÀI LIỆU THAM KHẢO Bayerisches Staatsministerium fuer Umwelt, Gesundheit und Verbraucherschutz, Bayerisches Staatsministerium fuer Wirtschaft, Infrastruktur, Verkehr und Technologie, Oberflaechennahe Geothermie – Heizen und Kuehlen mit Energie aus dem Untergrund, Ein Ueberblick fuer Bauherren, Planer und Fachhandwerker in Bayern, Initiative klimafreundliches Bayern, 2007 Bitsch, F. & Nuessle, F., Effiziensteigerung und Energieeinsparung durch geothermischen Kaelte-Waermeverbund, Tạp chí Geothermische Energie, 9. Geothermische Fachtagung in Karlsruhe, 52 (Juli/Sep. 2006, 15. Jahrgang/Heft 3) Mary H. Dickson and Mario Fanelli, What is Geothermal Energy?, Prepared, 2004 Võ Công Nghiệp, Về khả năng sử dụng năng lượng địa nhiệt ở nước ta, Hội địa chất Việt Nam 7
Đồng bộ tài khoản