Dịch vụ phát triển kinh doanh

Chia sẻ: kiman68

Dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS) là một khái niệm chỉ những dịch vụ phi tài chính mà doanh nghiệp sử dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Dịch vụ phát triển kinh doanh

 

  1. DỊCH VỤ PHÁT TRIỂN KINH DOANH Chìa khoá giúp doanh nghiệp cải thiện hoạt động và phát triển Dịch vụ Phát triển Kinh doanh (BDS) là một khái niệm chỉ những dịch vụ phi tài chính mà doanh nghiệp sử dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng thị trường và tăng khả năng cạnh tranh. Vai trò của BDS đối với sự phát triển của doanh nghiệp được ghi nhận rộng rãi trên toàn thế giới. ở những nền kinh tế phát triển như Singapore, BDS đóng góp tới 15% tổng sản phẩm quốc nội. ở những nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), một số BDS có mức tăng trưởng trung bình 10%/năm. Tuy nhiên, ở Việt Nam, BDS mới bắt đầu phát triển và chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng sản phẩm quốc nội – khoảng 1% với mức tăng trưởng rất thấp khoảng 1-2%/năm1. Nhận thức về BDS như một công cụ phát triển doanh nghiệp còn khá thấp không chỉ trong khối doanh nghiệp mà ngay cả ở các cấp chính quyền. Các thị trường BDS như đào tạo, kế toán, tư vấn tài chính và thuế và đặt biệt là tư vấn quản lý kém phát triển cả về cung và cầu. Bản tin này tóm tắt tình hình phát triển của thị trường BDS ở Việt Nam và những cản trở mà các nhà cung cấp BDS đang gặp phải. Mục tiêu là nâng cao nhận thức và sử dụng BDS để phát triển hơn nữa doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp nhận thức chưa cao Mặc dù doanh nghiệp của Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh, nhận thức của xã hội và doanh nhân về những lợi ích trong việc sử dụng BDS còn chưa cao. Các chủ doanh nghiệp, vì nhiều lý do, thường vẫn ngại cung cấp thông tin cho các tư vấn độc lập. Các doanh nghiệp nhỏ hơn thì thiếu các nguồn lực cần thiết để thu thập được những thông tin về các dịch vụ kinh doanh đang có trên thị trường. Nói chung là những khách hàng tiềm năng của BDS đều thiếu thông tin đầy đủ và chính xác về những dịch vụ đang có trên thị trường. Điều đáng mừng là gần đây từ phía Nhà nước đã có những xu hướng tích cực hơn, thể hiện bằng việc Chính phủ ghi nhận mục tiêu phát triển BDS trong Chính sách Tăng trưởng và Giảm nghèo của Việt Nam và ban hành một nghị định về “cung cấp và sử dụng dịch vụ tư vấn” nhằm chính thức công nhận và phát triển nghề này. Cung cầu hạn chế Do các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường có thu nhập và tích lũy thấp, nhu cầu sử dụng dịch vụ bên ngoài, trong đó có BDS, cũng thấp. Nhiều DNNVV nói rằng họ không có khả năng mua những dịch vụ này theo giá thị Xem báo cáo của MPDF, Dịch vụ Phát triển Kinh Doanh của Việt Nam, Chuyên đề 1 Nghiên cứu Kinh tế Tư nhân số 6, tháng 12 năm 1998.
  2. trường. Hơn nữa, nhiều DNNVV không nhận thức được những lợi ích tiềm năng mà BDS có thể đem lại, đặc biệt là các dịch vụ vô hình và không đem lại lợi ích ngay lập tức như dịch vụ tư vấn quản lý và tư vấn chiến lược. Cung của thị trường BDS cũng bị hạn chế do một số nguyên nhân. Các nhà cung cấp dịch vụ không phải lúc nào cũng hiểu rõ những nhu cầu cụ thể của các doanh nghiệp trong nước, hoặc đủ chuyên môn và nguồn lực để thiết kế các dịch vụ cho phù hợp với những nhu cầu này. Họ thiếu các kỹ năng và kinh nghiệm tư vấn, đặc biệt là thiếu khả năng truyền đạt về giá trị của dịch vụ tư vấn cho khách hàng2. Nhà cung cấp thiếu thông tin Dữ liệu thống kê về các ngành nghề và thị trường cụ thể của Việt Nam chưa được hệ thống hóa và chưa thống nhất. Thông tin về thị trường nước ngoài và kinh tế thế giới, hay sách kỹ thuật chuyên môn và thông tin chuyên biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ BDS không phải lúc nào cũng có sẵn. Đây cũng là một cản trở đáng kể vì những thông tin và công cụ này là đầu vào quan trọng để các nhà cung cấp dịch vụ BDS cung cấp được dịch vụ chất lượng cao và kịp thời cho doanh nghiệp. Vẫn còn khá nhiều rào cản pháp lý Môi trường pháp lý thuận lợi là một trong những tiền đề để hỗ trợ sự phát triển hiệu quả của thị trường BDS ở Việt Nam. Những cải cách pháp lý gần đây (như Luật Doanh nghiệp) và quá trình tự do hoá nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ, đã giúp thúc đẩy thị trường BDS ở Việt Nam từ cả phía cung và cầu. Chính phủ đã có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh để củng cố niềm tin của giới doanh nghiệp, tuy nhiên, vẫn còn có nhiều rào cản đối với thị trường BDS ở Việt Nam3. Nổi bật nhất là các vấn đề như chi phí gia nhập thị trường quá cao đối với một số các loại hình BDS như dạy nghề, kiểm toán và sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, vẫn có những mâu thuẫn giữa một số quy định và văn bản pháp lý với Luật Doanh nghiệp làm hạn chế những giao dịch BDS. Ví dụ như giới hạn chi phí quảng cáo và xúc tiến thương mại được phép khấu trừ thuế ở mức 10% trên tổng chi phí của doanh nghiệp có thể không khuyến khích các DNNVV sử dụng những dịch vụ này vì những chi phí vượt quá hạn mức này sẽ không được khấu trừ khi tính thuế. THẢO LUẬN Xem báo cáo của MPDF và GTZ, Tư vấn Quản lý: Dịch vụ Hỗ trợ Kinh doanh nhiều triển vọng cho các doanh 2 nghiệp tư nhân Việt Nam, Chuyên đề Nghiên cứu Kinh tế Tư nhân số 15, tháng 4 năm 2003. Xem báo cáo của GTZ, VCCI và CIEM, Môi trường Pháp lý cho Dịch vụ Phát triển Kinh doanh ở Việt Nam, 3 tháng 11 năm 2003.
  3. Quan điểm từ phía doanh nghiệp Sản phẩm dịch vụ hỗ trợ kinh doanh là một sản phẩm vô hình mà chúng • ta không thể hình dung cụ thể về hình dáng, kết cấu và không thể đánh giá được chất lượng ngay tại thời điểm quyết định mua. Do vậy, quyết định mua sản phẩm phụ thuộc nhiều vào uy tín của nhà cung cấp và khả năng thuyết trình của chuyên viên tư vấn. Hiện nay nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam về các loại hình dịch vụ này là rất lớn. Bản thân chúng tôi đã từng sử dụng nhiều dịch vụ này bao gồm tư vấn thiết kế nhà máy, tư vấn giám sát xây dựng, tư vấn về pháp lý trong lĩnh vực thương hiệu, tư vấn kiểm toán, tư vấn về nhân sự và tài chính v.v. Song nói một cách chân thành thì chúng tôi chưa được hài lòng hoàn toàn với bất kỳ nhà cung cấp nào. Lấy ví dụ như trong lĩnh vực tư vấn kiểm toán, chúng tôi mong đợi Thư Quản lý (là các đề xuất về vấn đề quản lý cho khách hàng) không chỉ dừng ở vấn đề hạch toán sổ sách mà phải đưa ra các đề xuất tư vấn quản lý. Hay trong lĩnh vực tư vấn về bảo vệ thương hiệu, nhà cung cấp dịch vụ cũng chưa được chuyên nghiệp trong cách xử lý các mối quan hệ phức tạp và nhạy cảm với khách hàng. Một trong các nguyên nhân chính dẫn tới chất lượng tư vấn chưa cao là • do các công ty tư vấn Việt Nam chưa được đào tạo quy chuẩn và chưa có kinh nghiệm nhiều cũng như tính chuyên nghiệp cao. Điểm sơ qua một vài công ty tư vấn trong nước có thể thấy rằng đa số xuất phát từ những người đã có một thời gian làm việc cho những công ty tư vấn của nước ngoài tại Việt Nam, mỗi người chỉ chuyên về một vài lĩnh vực cụ thể, nay khi điều hành công ty họ phải chào những dịch vụ trọn gói mà họ chưa đủ kinh nghiệm để làm. Điều này dễ làm cho chất lượng dịch vụ trọn gói từ khi tiếp nhận và trong suốt quá trình triển khai, thực hiện và giám sát dự án không được đảm bảo. Ngoài ra, những gì tư vấn nói ban đầu so với kết quả dịch vụ khi kết thúc dự án thường làm cho khách hàng ngỡ ngàng do có sự hiểu khác nhau giữa người mua và người cung cấp dịch vụ về phạm vi công việc đã được thoả thuận. Dịch vụ hậu mãi cũng không được chú trọng. Nhiều công ty tư vấn quá chú trọng đến vấn đề lợi nhuận của từng dự án mà quên mất rằng để dịch vụ này phát triển, họ phải thoả mãn được yêu cầu của khách hàng bởi vì sự hài lòng của khách hàng chính là sự quảng cáo vô giá cho các công ty tư vấn. Tóm lại, các công ty tư vấn Việt Nam chưa theo kịp được tốc độ phát • triển của doanh nghiệp. Họ cần phải hoàn thiện tính chuyên nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn như các công ty có uy tín của nước ngoài đã thực hiện tại Việt Nam và cần có định hướng kinh doanh dài hạn hơn. Yếu tố văn hoá đạo đức trong kinh doanh trong ngành lại phải được đặt biệt chú trọng. Có như vậy thì các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh mới có thể phát triển và đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp.
  4. Bà La Mỹ Hoàn, Tổng Giám đốc, Công ty TNHH Tiến Hưng Khi doanh nghiệp phát triển đến một quy mô nhất định sẽ có nhiều vấn • đề về hệ thống quản lý nảy sinh mà họ không đủ khả năng tự giải quyết. Khi đó, việc sử dụng tư vấn là cần thiết và hiệu quả. Ngay cả khi doanh nghiệp có thể tự làm, họ sẽ bị công việc kinh doanh hàng ngày vì mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn cuốn đi, khó có thể thực hiện những thay đổi lớn cần thiết. Hơn nữa, tư vấn độc lập từ bên ngoài sẽ có những cách tiếp cận và giải pháp khách quan, không bị ràng buộc bởi các mối quan hệ nội bộ của công ty. Với gần 1.500 cán bộ quản lý và công nhân, công ty chúng tôi đã và đang sử dụng khá nhiều dịch vụ tư vấn về quản lý nhân sự như xây dựng điều lệ nhân viên, lập bảng mô tả công việc, xây dựng chính sách công ty và tuyển dụng nhân sự quản lý cao cấp (có thể là nhân sự người nước ngoài). Nói chung là chúng tôi thấy hài lòng với những dịch vụ tư vấn này. Tuy nhiên, một vấn đề hạn chế phổ biến của nhiều tư vấn là họ chưa quan tâm đúng mức tới việc doanh nghiệp cần đảm bảo hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn khi thực hiện những thay đổi mà tư vấn đề xuất. Ngoài ra, với cùng một vấn đề có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau nhưng tư vấn cần hiểu rõ doanh nghiệp để đề xuất được phương án giải quyết phù hợp nhất, có tích thực tiễn nhất cho doanh nghiệp. Ông Lê Lê Tuấn, Trưởng phòng Hành chính nhân sự, Công ty Cổ phần Xây dựng Kiến trúc AA Quan điểm từ phía các nhà cung cấp dịch vụ Công ty chúng tôi có hai mảng hoạt động chính là đào tạo và tư vấn. Với gần 20 năm hoạt động, chúng tôi đã đào tạo trên 21.000 cán bộ và nhân viên của hơn 1.000 công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Trong hai mảng đào tạo và tư vấn, doanh nghiệp có nhận thức tốt hơn đối với dịch vụ đào tạo. Họ cũng nhìn thấy được kết quả rõ và nhanh hơn so với dịch vụ tư vấn quản lý, do vậy nhu cầu cũng rất cao. Trong lĩnh vực đào tạo quản lý, việc gia nhập thị trường rất dễ dàng (Thông tư 35 của Bộ KH-CN và MT cho phép thành lập những trung tâm hay viện đào tạo khá dễ dàng với chi phí thấp). Cạnh tranh gần đây vì thế cũng gia tăng hơn. Song do rào cản gia nhập thấp, lại không có khung pháp lý điều chỉnh và kiểm soát hiệu quả nên thị trường dịch vụ đào tạo cho doanh nghiệp rất hỗn loạn. Chúng tôi đã từng bị một số trung tâm đào tạo mới mở sao chép gần như nguyên si nội dung chương trình và giới thiệu về khoá học của chúng tôi để đăng quảng cáo chiêu sinh, nhưng những trung tâm này chỉ ra đời được vài tháng thì đóng cửa. Người có nhu cầu sử dụng dịch vụ không biết đâu là thật, giả, những đơn vị, doanh nghiệp nghiêm túc, chân chính vì thế mà bị ảnh hưởng. Tuy
  5. nhiên, những lĩnh vực dạy nghề như hàn, vận hành nồi hơi v.v. được quản lý rất chặt và điều kiện cấp phép rất khó khăn. Rất may là chúng tôi đã có giấy phép trong lĩnh vực dạy nghề từ 20 năm trước chứ ngày nay thì doanh nghiệp tư nhân khó mà đáp ứng được các điều kiện cấp phép, do đó hầu như không có doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực dạy nghề. Về phía dịch vụ tư vấn, nhu cầu từ khối doanh nghiệp là nhiều và rất tiềm năng. Với việc gia nhập WTO của Việt Nam trong tương lai gần, các doanh nghiệp thực sự có nhu cầu rất lớn để thay đổi và phát triển bộ máy quản lý nhằm tăng năng lực cạnh tranh. Tuy vậy, các doanh nghiệp chưa hoàn toàn nhận thức rằng cần có tư vấn độc lập để giúp họ xây dựng bộ máy quản lý, thậm chí nhận thức của họ về dịch vụ tư vấn quản lý nhiều khi cũng chưa đúng đắn. Xét về mặt vĩ mô, tôi cho rằng Nhà nước nên quan tâm, khuyến khích việc thành lập những hiệp hội của các đơn vị, cá nhân cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS), từ đó xây dựng được những chuẩn mực và tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp để nâng cao chất lượng dịch vụ. Nhà nước cũng cần xây dựng các cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế xã hội một cách chuyên nghiệp, đáng tin cậy hơn và phổ biến cho toàn xã hội được tiếp cận để nhà cung cấp BDS sẽ có nguồn đầu vào tốt hơn nhằm phục vụ doanh nghiệp hiệu quả hơn. Ông Võ Sáng Xuân Vinh, Phó Giám Đốc, Công ty TNHH Tư vấn và Phát triển Công nghệ ECO; Hiệu phó, Trường Đào tạo Nghiệp vụ và Kỹ thuật MTC Trong vài năm qua, thị trường tư vấn của Việt Nam đã phát triển rất nhanh, khi thành lập MCG vào năm 2002, tôi dự tính rằng cần mất khoảng ba đến năm năm nữa thì các doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam mới sẵn sàng chi trả cho những dịch vụ tư vấn quản lý. Song thực tiễn đã tiến nhanh hơn nhiều, trong hai năm qua tôi đã thấy có nhiều doanh nghiệp tư nhân thuê tư vấn với số tiền phí không nhỏ. Nhu cầu về dịch vụ tư vấn từ phía doanh nghiệp là lớn và tăng nhanh, vấn đề là các công ty tư vấn cần phải phát triển rất nhanh để bắt kịp được sự tăng trưởng này. Khối doanh nghiệp đã qua giai đoạn khởi nghiệp để phát triển mạnh đang gặp phải những vấn đề lớn về hệ thống nhân sự, hệ thống quản lý tài chính và chiến lược kinh doanh – khi đó những công ty tư vấn quản lý như MCG chúng tôi có thể đưa ra các dịch vụ hữu ích. Mặc dù nhu cầu và khả năng chi trả đều tăng, trong thực tế các tư vấn vẫn có một trở ngại lớn là làm thế nào để chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa các giải pháp mà tư vấn đưa ra với các kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì chỉ khi chứng minh được điều này, các doanh
  6. nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ mới nhìn thấy và thừa nhận được giá trị của các dịch vụ tư vấn. Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy thành công của bất kỳ dự án tư vấn nào lại phụ thuộc nhiều vào chính khách hàng chứ không phải là công ty tư vấn. Những doanh nghiệp có thái độ cởi mở, đưa ra những ý kiến phản hồi thẳng thắn sẽ giúp cho nhà tư vấn nâng cao được rất nhiều chất lượng công việc. Ngược lại, những doanh nghiệp không cùng tích cực tham gia, trao đổi với tư vấn trong quá trình dự án cũng thường thất vọng khi kết thúc dự án mà lý do là họ có thể không hiểu hoặc kỳ vọng khác với những gì đã thoả thuận với tư vấn. Để hỗ trợ hơn nữa cho thị trường này, các cơ quan nhà nước và các tổ chức phát triển có thể can thiệp gián tiếp thông qua các hoạt động quảng bá, tuyên truyền, đào tạo, thu thập và chia sẻ thông tin nhưng không nên có các biện pháp can thiệp trực tiếp hay bao cấp hoàn toàn vì điều đó sẽ làm cho mối quan hệ cung cầu của thị trường mất tính bền vững. Ông Vũ Quang Thịnh, Giám đốc, Công ty TNHH Tư vấn Quản lý MCG Chính phủ đã quan tâm tới việc thúc đẩy sử dụng BDS, một ví dụ là Nhà • nước có hỗ trợ tài chính cho những doanh nghiệp để lấy các chứng chỉ ISO. Tuy nhiên, các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng tự chủ động trong lĩnh vực này, ví dụ hơn 80% khách hàng của chúng tôi lấy chứng chỉ tiêu chuẩn ISO chủ yếu là do sức ép từ khách hàng. Nguyên nhân doanh nghiệp ít sử dụng dịch vụ tư vấn, theo tôi, không phải là chỉ do nhận thức thấp mà còn do chất lượng dịch vụ và khả năng của tư vấn còn hạn chế. Một đặc điểm của nhiều công ty tư vấn Việt Nam là sử dụng nhiều tư vấn bán thời gian mà theo tôi như vậy không đảm bảo chất lượng. Nhiều khách hàng chưa mặn mà sử dụng tư vấn cũng là do họ chưa tin tưởng vào lợi ích mà dịch vụ tư vấn đem lại. Một điều mà tôi học được từ khoá học về kỹ năng tư vấn của MPDF là truyền đạt được những lợi ích của dịch vụ cho khách hàng một cách cụ thể hơn, có thể đo lường được hơn và giúp tôi dễ dàng thuyết phục được khách hàng ký hợp đồng hơn. Đáng tiếc là ở Việt Nam chưa có một trường lớp đào tạo nào cho nghề tư vấn, tôi tin rằng có nhiều tư vấn như tôi rất mong muốn có cơ hội tìm được những khoá đào tạo phù hợp để có kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp hơn. Ông Trần Đình Cửu, Giám đốc Tiếp thị, Công ty TNHH Tư vấn Trần Đình Cửu Quan điểm từ phía các cơ quan nhà nước
  7. “Dịch vụ phát triển kinh doanh” là một khái niệm mới phổ biến trong vài • năm gần đây. Mặc dù đã tồn tại dưới nhiều hình thức không chính thức nhưng BDS mới chỉ thực sự phát triển mạnh trong thời gian gần đây. Nghị định 87/CP được ban hành năm 2003 là văn bản pháp lý đầu tiên công nhận và điều chỉnh các hoạt động tư vấn. Các cơ quan quản lý Nhà nước vẫn thường coi đây là một ngành dịch vụ thông thường như những dịch vụ khác như ăn uống, du lịch v.v., do vậy chưa có một định hướng hay chính sách phát triển rõ ràng. BDS cần được hiểu là một ngành dịch vụ chất xám, cung cấp đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu như Luật Doanh nghiệp đã giải phóng được lực lượng doanh nhân, nâng con số doanh nghiệp được thành lập gấp nhiều lần thì cho đến nay, tác động này đã hết dần. Muốn thúc đẩy khối doanh nghiệp phát triển, Nhà nước cần có những động thái chính sách mới để tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, mà theo tôi, một chính sách tốt về BDS sẽ là công cụ đắc lực. Nói một cách đơn giản và dễ hiểu, một tư vấn kế toán có thể làm công việc kế toán cho 5 hay 10 doanh nghiệp, nhờ đó mà chi phí về công việc kế toán của doanh nghiệp giảm, giúp tăng khả năng cạnh tranh. Vì vậy, tôi cho rằng Nhà nước cần có chính sách để phát triển BDS hơn nữa, ví dụ như một chương trình hỗ trợ chi phí sử dụng dịch vụ BDS cho doanh nghiệp - tất nhiên là cần phải phù hợp với các cam kết hội nhập như AFTA, WTO. Nói về cầu, tôi cho rằng số đông doanh nghiệp nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của BDS, song họ còn ít sử dụng là do chưa đủ tin tưởng vào chất lượng của dịch vụ và lo ngại rằng tư vấn có khả năng tiết lộ thông tin bí mật của doanh nghiệp. Nhìn từ phía cung, hầu hết các công ty tư vấn đều chưa chuyên nghiệp, có một số lượng lớn tư vấn là những người đã về hưu, làm tư vấn dựa trên mối quan hệ chứ chưa chuyên nghiệp như một nghề. Lấy ví dụ như nhờ những mối quan hệ, nhà tư vấn có thể biết được những thông tin về các chính sách xuất nhập khẩu sắp ban hành, hay những quy hoạch đường chưa công bố,… và từ đó tư vấn cho doanh nghiệp. Để đẩy mạnh thị trường BDS, theo tôi Nhà nước cần có các quy định tiêu chuẩn về nghề nghiệp để từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời cũng cần có những quy định, chế độ về công khai thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế. Ông Trần Kim Hào, Trưởng Ban Tạp chí Quản lý, Viện Nghiên cứu Quản • lý Kinh tế Trung ương Rất nhiều DNNVV của Việt Nam không nhận thức được tầm quan trọng • của thông tin. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu mà không biết gì nhiều về thị trường mà sản phẩm của mình đi đến – yêu cầu chất lượng của khách hàng như thế nào, đóng gói ra sao v.v.. Để khắc phục, Nhà nước cũng như những các công ty kinh doanh BDS nên chú trọng hơn trong việc tuyên truyền quảng bá để đưa BDS vào đời sống của doanh
  8. nghiệp. Ví dụ như trong năm vừa qua, STAMEQ đã thực hiện việc quảng cáo thông qua thư, fax, email trực tiếp gửi tới hơn 15.000 doanh nghiệp. Điều quan trọng là tuyên truyền quảng báo BDS cần tránh cách làm thông tin chung chung, không cụ thể mà phải đi vào càng định lượng được lợi ích càng tốt để doanh nghiệp nhanh chóng nhận thức được lợi ích. Thị trường BDS ở Việt Nam là một thị trường mới và phát triển mạnh mà sự quản lý của Nhà nước chưa theo kịp. Hiện nay, không có được một cơ sở dữ liệu tổng hợp về các nhà cung cấp BDS nên không thể biết được ở Việt Nam có tất cả bao nhiêu công ty tư vấn trong và ngoài nước. Những doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng dịch vụ vì thế gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, lựa chọn. Theo tôi được biết sắp tới Bộ KH-CN&MT sẽ ban hành những văn bản điều chỉnh về hoạt động tư vấn và cấp chứng chỉ ở Việt Nam để hướng tới một thị trường tư vấn của Việt Nam có chất lượng hơn. Ông Trần Đình Vân, Giám đốc, Trung tâm Tiêu chuẩn Đo lường và Chất lượng (STAMEQ) Quan điểm từ các tổ chức phát triển Trong một nghiên cứu gần đây chúng tôi thấy rằng hơn 90% nhà tư vấn cho rằng các DNNVV không thuê tư vấn là do không thấy được giá trị của dịch vụ tư vấn. Đây là một thông tin quan trọng vì nó phản ánh những vấn đề cả về cung và cầu. Về phía cầu, mặc dù một số DNNVV có thể cho rằng chi phí thuê tư vấn là quá cao nhưng chúng tôi biết khi mà họ nhìn thấy rằng những chi phí này là khoản đầu tư đem lại hiệu quả cao, họ sẽ tìm cách có đủ nguồn tiền để đầu tư phát triển doanh nghiệp của mình. Tư vấn cần biết giải thích được giá trị các dịch vụ theo cách tính đó là những khoản đầu tư của doanh nghiệp. ở những nước phát triển, các doanh nghiệp luôn đòi hỏi tư vấn chứng minh được bài toán kinh tế của dự án tư vấn và chứng minh được lợi ích tài chính và phi tài chính. Tập quán này chưa thành hình ở Việt Nam nhưng tôi tin rằng trong tương lại các DNNVV sẽ đòi hỏi điều này trước khi họ chấp nhận những dự án tư vấn để thực hiện những thay đổi trong hoạt động kinh doanh của mình. Một số doanh nghiệp cho rằng tư vấn không đem lại giá trị, điều này có thể là do họ đã từng có những kinh nghiệm sử dụng tư vấn không thành công. Lý do có thể là do tư vấn làm việc chưa tốt hoặc không biết quản lý được kỳ vọng của khách hàng. Nhìn từ phía cung, hầu hết các công ty tư vấn mới chỉ hoạt động chưa được
  9. 5 năm, họ có ít kinh nghiệm trong việc quảng cáo những dịch vụ cho các • DNNVV và quản lý thực hiện dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Các DNNVV thiếu kinh nghiệm trong việc lựa chọn và quản lý tư vấn một cách hiệu quả, và thường thất vọng nếu họ đã từng kỳ vọng nhiều hơn phạm vi dự án hoặc liên tục yêu cầu gia tăng phạm vi công việc. Thông qua khoá học 10 ngày về Kỹ năng Tư vấn, chúng tôi đã giúp các nhà tư vấn xác định được những lĩnh vực mà họ có thể đem lại giá trị bằng cách giúp khách hàng thực hiện những thay đổi lớn trong hoạt động kinh doanh và thuyết trình được lợi ích trong mỗi giai đoạn của dự án tư vấn. Bằng cách đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết quả dự án từ phía khách hàng ngay từ khi triển khai dự án, khách hàng sẽ lượng hóa được lợi ích trong quá trình triển khai dự án. Những nguyên tắc quan trọng như Kiểm soát Thay đổi nhằm giám sát việc thay đổi phạm vi công việc trong quá trình thực hiện dự án sẽ giúp cho tư vấn thực hiện được đúng những cam kết ban đầu, đồng thời quản lý được kỳ vọng của khách hàng để cả hai bên đều hài lòng khi kết thúc dự án. Một vấn đề quan trọng nữa cần nói đến là doanh nghiệp có thể thiếu tin • tưởng vào tư vấn vì sợ lộ thông tin. Hầu hết những công ty tư vấn ở các nước phát triển đều xây dựng Tiêu chuẩn Đạo đức Kinh doanh để đặt ra các tiêu chí và giá trị cần tuân thủ khi xử lý những vấn đề liên quan tới bí mật của khách hàng, tính phí tư vấn cũng như tiêu chí nghề nghiệp cho nhân viên của mình. Tôi tin rằng các công ty tư vấn của Việt Nam cũng cần xây dựng những bộ tiêu chuẩn đạo đức kinh doanh của mình và hợp tác với nhau để nâng cao tiêu chuẩn nghề nghiệp cả về đạo đức và kỹ thuật dịch vụ mới mẻ trong ngành này. Chúng tôi hy vọng rằng, bằng cách nâng cao nhận thức của DNNVV về cách làm việc với tư vấn và chất lượng công việc mà họ có quyền đòi hỏi cũng như hỗ trợ phát triển kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp của các tư vấn trong nuớc, các DNNVV sẽ ngày càng nhìn thấy được những giá trị mà tư vấn có thể đem lại. Bà Kate Lloyd William, Giám đốc Chương trình Phát triển Tư vấn, MPDF Mặc dù những nguyên tắc chính để phát triển thị trường BDS đều đã • được thống nhất nhưng không có một giải pháp duy nhất. Những vấn đề của thị trường BDS rất đa dạng và khác biệt với nhau, đòi hỏi những tổ chức hỗ trợ thị trường cần rất sáng tạo. Trong lĩnh vực này, ngoài các hoạt động nghiên cứu, GTZ rất tích cực trong các hoạt động nhằm dỡ bỏ những rào cản pháp lý trong thị trường BDS. Chúng tôi đã thực hiện những hoạt động này với sự hợp tác từ VCCI, CIEM, báo chí và các đối tác địa phương khác nhằm quảng bá những dịch vụ tiên tiến và chuyên nghiệp như quản lý chất lượng, đào tạo quản lý và phát triển sản phẩm
  10. mới. Hiệu quả của những hoạt động này đã được thấy rõ qua khả năng cung ứng trong những thị trường BDS cụ thể như quản lý chất lượng, cung cấp thông tin và đào tạo quản lý. Sự hợp tác chặt chẽ với các phương tiện truyền thông đại chúng và các đối tác địa phương đã giúp cho nhận thức về BDS được tăng cường và Nhà nước đã có nhiều hoạt động dỡ bỏ các rào cản pháp lý trong thị trường này. Tuy nhiên, con đường phía trước của chúng tôi vẫn còn khó khăn và chúng tôi cần làm việc nhiều hơn và sáng tạo hơn nữa. Trên con đường này, chúng tôi sẵn sàng hợp tác với các tổ chức khác nhằm thúc đẩy thị trường BDS hoạt động tốt hơn vì các DNNVV ở Việt Nam. Ông Lê Duy Bình, Cán bộ Chương trình, Dự án Phát triển Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa của GTZ Là một tổ chức xúc tiến thương mại lớn và đại diện cho cộng đồng • doanh nghiệp Việt Nam, Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã và đang tích cực đóng góp vào việc phát triển thị trường BDS ở Việt Nam. VCCI vừa là đơn vị hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà cung cấp BDS khác, vừa là một nhà cung cấp BDS trực tiếp cho doanh nghiệp. Kinh nghiêm hoạt động của chúng tôi cho thấy các nhà cung cấp BDS còn yếu kém trong việc hiểu được nhu cầu thực sự về BDS của các doanh nghiệp để có thể thiết kế các chương trình có chất lượng cao. Có những trường hợp nhà cung cấp BDS không tiến hành khảo sát cụ thể yêu cầu của doanh nghiệp trước khi thiết kế các dịch vụ cho sát với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp đó, điều này ảnh hưởng phần nào đến chất lượng dịch vụ đang được cung cấp trên thị trường . Với lợi thế của một tổ chức đại diện cho doanh nghiệp có quy mô toàn quốc, VCCI đã có nhiều hoạt động nhằm nâng cao năng lực cho các nhà cung cấp BDS thông qua công tác đào tạo giảng viên, cung cấp thông tin chuyên ngành hay cùng hợp tác để cung cấp dịch vụ. Ông Nguyễn Việt Phương, Chuyên viên, Trung tâm Thông tin Kinh tế (BIZIC), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản