Điều khiển chống tắc nghẽn trong các mạng NGN – toàn IP Congestion Control in NGN – All IP Networks

Chia sẻ: Ptit Ptit | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
195
lượt xem
95
download

Điều khiển chống tắc nghẽn trong các mạng NGN – toàn IP Congestion Control in NGN – All IP Networks

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

− Điều khiển để chống tắc nghẽn mạng [4]. Với cách thứ nhất chi phí đầu tư lớn, làm thay đổi phần cứng của mạng và không thể thực hiện thường xuyên được. Cách thứ hai sử dụng các thuật toán, các giao thức để điều khiển chống tắc nghẽn mạng. Cách này đầu tư nhỏ, không ảnh hưởng đến phần cứng của mạng và rất mềm dẻo linh hoạt và đây cũng là phương án khả thi, thích hợp với điều kiện ở Việt Nam....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Điều khiển chống tắc nghẽn trong các mạng NGN – toàn IP Congestion Control in NGN – All IP Networks

  1. Điều khiển chống tắc nghẽn trong các mạng NGN – toàn IP Congestion Control in NGN – All IP Networks Cao Huy Phương, Hoàng Đăng Hải Abstract: The Next Generation Network (NGN) and the − Điều khiển để chống tắc nghẽn mạng [4]. rapid growth of new services on the All-IP basis pose new Với cách thứ nhất chi phí đầu tư lớn, làm thay đổi challenges to congestion control. TCP congestion control and its enhanced variations such as ECN [2] or RED [3] phần cứng của mạng và không thể thực hiện thường seem to be quite effective in sustaining the stability in xuyên được. traditional networks [1], but did not consider the effects of Cách thứ hai sử dụng các thuật toán, các giao thức network nodes and characteristics of transmission medium, để điều khiển chống tắc nghẽn mạng. Cách này đầu tư thus they become no longer suitable for NGN. Besides, a nhỏ, không ảnh hưởng đến phần cứng của mạng và rất number of new services needs congestion control that not mềm dẻo linh hoạt và đây cũng là phương án khả thi, relies on TCP mechanism [21,20,13,8,9,4,3,2]. There is an thích hợp với điều kiện ở Việt Nam. actual need to systematically revise typical congestion control methods, in order to propose essential criteria, Tuy nhiên điều khiển chống tắc nghẽn mạng là một which could be used for design of a comprehensive vấn đề phức tạp, nhất là khi mạng ngày càng phát framework for analyzing and evaluating various congestion triển rộng lớn, dịch vụ gia tăng nhanh, các dịch vụ control methods as well as for improving and applying mới ngày càng nhiều, số lượng người sử dụng tăng them in NGN environment. That is the contribution of this đột biến kèm theo vấn đề lưu lượng tăng vọt và biến paper. đổi động... Vì vậy, điều khiển chống tắc nghẽn mạng ngày càng trở lên cấp thiết. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Thực chất vấn đề điều khiển chống tắc nghẽn đã Mạng viễn thông của các nước trên thế giới cũng được nghiên cứu từ khá lâu và cũng đã có nhiều thuật như ở Việt Nam đang chuyển dần đến mạng thế hệ toán và giao thức điều khiển chống tắc nghẽn được sau NGN và tiến tới IP hoá (all-IP) với mục tiêu: mọi công bố. Tuy nhiên, chúng được thiết kế chủ yếu cho lúc - mọi nơi và bằng mọi phương tiện. Nhu cầu về mạng truyền thông cũ. Trong môi trường tích hợp đa các dịch vụ mạng ngày càng đa dạng, phong phú và dịch vụ của mạng NGN với những đặc trưng khác biệt đòi hỏi nhiều mức độ chất lượng dịch vụ khác nhau. của mạng NGN so với các mạng truyền thống, những Xu hướng phát triển là tiến tới hội tụ về mạng và hội phương thức điều khiển đó khó có thể được áp dụng tụ về dịch vụ. Tài nguyên của mạng thì có giới hạn ngay nếu không có những sửa đổi hiệu chỉnh cần trong khi nhu cầu truyền thông tin ngày càng tăng. thiết. Chính vì những lẽ nêu trên, điều khiển chống tắc Chính vì vậy hiện tượng tắc nghẽn mạng là khó tránh nghẽn đã trở thành một trong những chủ đề nóng khỏi. Để giải quyết vấn đề này có hai hướng giải trong các nghiên cứu triển khai mạng NGN trên nền quyết tổng quát nhất, đó là: All-IP mới đây. − Tăng tài nguyên của mạng (mở rộng nút mạng, tăng Vậy bản chất của điều khiển chống tắc nghẽn là gì? các tuyến truyền dẫn, tăng băng thông của mạng...) Tại sao vấn đề này ngày càng cấp thiết hơn đối với 30
  2. mạng NGN? Những tiêu chí có thể đặt ra để đánh giá bởi băng thông (bandwidth) của các đường kết nối, những phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn là gì, thường nhỏ hơn băng thông của các đường đến do đặc biệt trong môi trường mạng NGN? Có thể xây phải phân chia cho nhiều luồng. dựng được một mô hình tổng quát để phân tích, đánh Xảy ra tắc nghẽn giá và so sánh các phương pháp đó không? Mục tiêu của bài viết này là nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó. Phần 2 của bài trình bày tổng quan về nguyên lý và phân loại các phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn. Tiếp đó bài viết đề xuất những tiêu chí đánh giá các phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn trên quan điểm mạng NGN hiện nay. Phần 3 của bài hệ Thông lượng Có điều khiển thống hóa lại một số phương pháp điển hình truyền thống và cải tiến trong điều khiển chống tắc nghẽn, phân tích đánh giá chúng theo các tiêu chí đã đề ra. Không có điều khiển Trong phần 4, bài viết đề xuất một mô hình tổng quát có thể áp dụng cho phân tích, đánh giá và so sánh các phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn. Phần cuối Lưu lượng đầu vào cùng là kết luận của bài. Hình 1. Hiện tượng xảy ra tắc nghẽn và hiệu quả của việc điều khiển II. ĐIỀU KHIỂN CHỐNG TẮC NGHẼN TRONG Mạng truyền Máy MẠNG NGN- TOÀN IP chủ hình 1. Vấn đề tắc nghẽn nói chung Tắc nghẽn là một hiện tượng rất quen thuộc trên MG mạng, mà nguyên nhân nói chung là do tài nguyên MG Mạng lõi MG mạng giới hạn trong khi nhu cầu truyền thông tin của con người là không có giới hạn. Hình 1 trình bày hiện MG Mạng dữ tượng tắc nghẽn trên mạng và hiệu quả của việc có Mạng di liệu điều khiển. động Mạng cố Thông thường, nút mạng được thiết kế với một bộ MG - Media gateway định đệm lưu trữ có hạn. Nếu tình trạng nghẽn mạng kéo Hình 2. Môi trường mạng hỗn tạp trong NGN đủ dài, bộ đệm bị tràn, các gói sẽ bị mất hoặc trễ quá thời gian cho phép. Nếu một gói bị mất trên mạng thì Nguyên nhân của xảy ra tắc nghẽn trong môi tại thời điểm ấy các tài nguyên mạng mà gói đó đã sử trường mạng mới đó là : dụng cũng bị mất theo. 1. Tràn bộ đệm: đây cũng là nguyên nhân giống như 2. Vấn đề tắc nghẽn trong NGN trong mạng truyền thống. Hình 2 minh họa môi trường mạng hỗn tạp trong 2. Lỗi do đường truyền vô tuyến: các hiệu ứng môi NGN. Các mạng riêng lẻ được kết nối với nhau thông trường như di động, che chắn, pha đinh, … gây ra qua các bộ định tuyến hay các cổng (MG), tại đây các mất gói và ảnh hưởng đến tắc nghẽn mạng. gói tin đến sẽ được lưu giữ (store) trong bộ đệm và 3. Do nghẽn cổ chai: tại điểm đấu nối từ các mạng chuyển tiếp (forward) theo một trong các đường kết tốc độ thấp vào mạng tốc độ cao. Đây là một trong nối đầu ra. Tốc độ của các gói tin đầu ra bị giới hạn những đặc điểm nổi bật của môi trường hỗn tạp 31
  3. NGN. cùng gửi dữ liệu nhưng dữ liệu không được truyền 4. Nhu cầu băng thông cao của các dịch vụ đa đến phía nhận. Lúc đó hầu hết các gói bị mất và hiện phương tiện và các loại hình dịch vụ mới: dữ liệu, tượng tắc nghẽn xảy ra . âm thanh và hình ảnh được tích hợp truyền trên Giải pháp cho vấn đề trên là phải chống tắc nghẽn mạng duy nhất NGN ALL – IP gây ra tắc nghẽn tại trên mạng. Nguyên lý chung để điều khiển chống tắc các đường truyền dẫn băng thông nhỏ. nghẽn là cần duy trì điểm hoạt động của mạng luôn 5. Lưu lượng lớn, thay đổi đột biến và biến đổi nằm bên trái điểm Knee và đảm bảo các bộ đệm của động: Thông thường, các ứng dụng mới trong mạng bộ định tuyến không bị tràn. Ngoài ra điều khiển NGN được thiết kế với nhu cầu lưu lượng truyền tải chống tắc nghẽn còn đảm bảo phía gửi dữ liệu nhanh lớn (đặc biệt là các ứng dụng liên quan đến cơ sở mà phía nhận vẫn có thể xử lý, giúp sử dụng tài dữ liệu phân tán, hay VoIP, Video, IPTV,…). Mặt nguyên mạng một cách hiệu quả nhất. khác, những ứng dụng đa phương tiện có đặc điểm 4. Phân loại các phương pháp điều khiển chống là lưu lượng biến đổi động khó dự đoán trước được. tắc nghẽn 6. Tính biến động của mạng, hình trạng mạng: Đây a) Các đặc điểm chung là một đặc tính mới của mạng NGN so với mạng Các phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn có truyền thống. Các nút mạng có thể dịch chuyển làm thể được phân loại dựa trên các đặc điểm chung như hình trạng mạng thay đổi gây ra những biến đổi về sau: phân chia lưu lượng trên mạng. − Điều khiển tiếp nhận (Admission control): Cho phép 3. Nguyên lý chung điều khiển chống tắc nghẽn một kết nối mới chỉ khi mạng có thể đáp ứng một Điểm Kích thước cách thích hợp. Người dùng đưa ra một tập các mô Điểm tả về lưu lượng (tốc độ truyền dẫn cực đại, tốc độ gãy Thông lượng (bit/s) vách bộ đệm tăng truyền dẫn trung bình, trễ cực đại cho phép...) trong pha thiết lập kết nối. Mạng cho phép người sử dụng truy nhập đến chỉ khi nào có đủ tài nguyên sẵn sàng Tắc nghẽn xảy ra trong mạng. Ngược lại, yêu cầu kết nối bị từ chối. Mạng giám sát, kiểm soát các luồng lưu lượng để Lưu lượng đầu vào (bit/s) xem liệu người dùng có tuân theo các mô tả về lưu lượng không. Hình 3. Quá trình xảy ra tắc nghẽn − Kiểm soát (Policing): Kiểm tra kết nối nào vi phạm Quá tải làm thông lượng (throughput) suy biến như các mô tả về lưu lượng để đưa ra xử lý trừng phạt được chỉ ra trên hình 3. Đồ thị biểu diễn mối quan hệ bằng việc: 1) Xoá các gói vi phạm mô tả; 2) Gán giữa thông lượng với lưu lượng đưa vào (offered cho chúng quyền ưu tiên thấp hơn. load). Ở mức lưu lượng đưa vào nhỏ (phía trái của − Điều khiển luồng lưu lượng (Flow control). điểm gãy - Knee), thông lượng tăng tuyến tính với lưu b) Phân loại lượng đưa vào. Đó là lúc băng thông chưa sử dụng Theo các đặc điểm chung nêu trên, các phương hết. Thông lượng lớn nhất khi lưu lượng đưa vào gần pháp điều khiển chống tắc nghẽn có thể được phân với băng thông thắt cổ chai (bottleneck bandwidth) và loại như trên hình 4. thông lượng tăng chậm tương ứng với kích thước dữ liệu trong bộ đệm. Khi lưu lượng đưa vào tiếp tục Điều khiển chống tắc nghẽn vòng hở (Open-loop tăng, thông lượng giảm đột ngột từ điểm vách (Cliff) congestion control) là sự kết hợp của điều khiển tiếp xuống một giá trị rất nhỏ, đó là lúc tất cả các luồng nhận, kiểm soát và nguyên lý thùng rò (leaky bucket). Điều khiển chống tắc nghẽn vòng kín (Close-loop 32
  4. congestion control) là dựa trên trạng thái của mạng không tuyến tính, điều chỉnh giá trị Xi(t) để đạt được với giám sát tắc nghẽn và điều khiển lưu lượng dựa các mục đích quản lý tài nguyên được miêu tả trong trên thông tin phản hồi. phần trên. Họ kết luận rằng các điều khiển phi tuyến là rất nhạy cảm với các tham số hệ thống và vì vậy Các cơ chế điều khiển chống tắc nghẽn không khả thi. Điều khiển tuyến tính được chọn có dạng: Vòng hở (open loop) Vòng kín (closed loop) X i (t+1) = a + bX i (t) (1) Căn cứ vào một số tiêu chuẩn về hiệu quả điều khiển, khả năng hội tụ và khả năng đáp ứng nhanh, Điều Điều Phản hồi ẩn Phản hồi rõ Chiu và Jain [18] đã đề xuất thuật toán tăng cộng - khiển khiển (Implicit) (Explicit) giảm nhân như sau: phía phía Tăng cộng (additive increase): gửi nhận Liên tục Phản ứng lại X i (t+1) = Xi (t) + a, a > 0 (2) Giảm nhân (multiplicative decrease): X i (t+1) = bX i (t), 0 ≤ b < 1 (3) Toàn bộ Cục bộ Thuật toán tăng cộng/giảm nhân (AIMD – Additive Increase/ Multiplicative Decrease) này đã trở thành Hình 4. Phân loại điều khiển chống tắc nghẽn thuật toán được lựa chọn rộng rãi nhất để điều khiển chống tắc nghẽn. + Vòng hở: không có thông tin phản hồi từ mạng hoặc từ phía nhận. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thuật toán AIMD đã được xây dựng trên giả thiết biến đổi lưu lượng rất ít + Vòng kín: có thông tin phản hồi rõ (explicit) hoặc và mạng chỉ có dịch vụ truyền tải dữ liệu thuần tuý ẩn (implicit) từ mạng hoặc từ phía nhận. như TCP. Điều này không còn đúng trong thực tế, đặc + Phản hồi ẩn (implicit feedback): nguồn phát sử biệt là đối với mạng NGN. Các nghiên cứu mới đây dụng thời gian chờ (time-out) để xác định liệu có xảy cho thấy, thuật toán AIMD tỏ ra không còn hữu hiệu ra tắc nghẽn hay không. Ví dụ: điều khiển chống tắc và một loạt các phương pháp mới đã được đề xuất nghẽn trong TCP thực hiện theo kiểu này. nhằm cải thiện AIMD và thay thế AIMD [4, 5, 7, 16, + Phản hồi rõ (explixit feedback): một số bản tin 20]. tường minh được gửi đến nguồn phát. Ví dụ: điều khiển chống tắc nghẽn cho dịch vụ ABR (Available 6. Các tiêu chí đánh giá phương pháp điều khiển Bit Rate) trong ATM. chống tắc nghẽn Vậy những đặc tính cần được thỏa mãn của các + Điều khiển theo tốc độ: điều khiển một cách trực phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn là gì? tiếp tốc độ truyền tại phía gửi (nguồn gửi tin). Những tiêu chí nào cần thiết đối với điều khiển chống + Điều khiển theo kích thước cửa sổ: điều khiển tắc nghẽn cho mạng NGN? Chắc chắn những tiêu chí gián tiếp tốc độ truyền thông qua việc thay đổi kích đó cần xem xét đến những đặc điểm riêng biệt của thước cửa sổ (số gói tin hoặc số byte tồn tại ở đó). mạng thế hệ mới với các dịch vụ và ứng dụng mới. 5. Thuật toán tăng giảm Trong phần này, bài viết đề xuất một số tiêu chí đánh Nguyên lý chủ đạo của điều khiển chống tắc nghẽn giá cơ bản nhất dựa trên cơ sở những tiêu chí truyền là dựa trên thuật toán tăng giảm. Chiu và Jain [18] thống [18], song có xem xét đến những đặc tính của nghiên cứu các điều khiển khác nhau, tuyến tính và môi trường mạng mới NGN. 33
  5. Để tiện trình bày, giả sử rằng mạng được chia sẻ − Chỉ số bình đẳng giữa các giao thức khác họ: bởi n người sử dụng (n users). Thời gian được chia ra F2 = θi ω j (7) thành các khe rời rạc. Lưu lượng đưa vào của người trong đó θi và ωj là thông lượng của các giao thức i sử dụng thứ i trong khe thời gian t là Xi(t). Những tiêu và j khác họ sử dụng cho các lớp ứng dụng khác nhau. chí cơ bản nhất dùng cho phân tích, đánh giá các phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn bao gồm: 3. Tính hội tụ (Convergence): Sự hội tụ được đánh giá bởi thời gian cần để hệ thống đạt đến trạng thái 1. Tính hiệu quả (Efficiency): Được định nghĩa là tỉ mong muốn từ một trạng thái xuất phát bất kỳ. Một số giữa tổng tài nguyên phân phối cho các ứng cách lý tưởng, hệ thống đạt tới trạng thái đích dụng và tổng tài nguyên mong muốn tại điểm Knee nhanh và có biên độ dao động rất nhỏ xung quanh của mạng, nghĩa là trước thời điểm mạng xảy ra nó. bão hòa. Nếu Xgoal biểu thị mức lưu lượng đưa vào Như vậy, tính hội tụ được đánh giá qua 3 yếu tố: mong muốn tại điểm Knee, X(t) biểu thị tổng tài nguyên phân phối cho các ứng dụng, nghĩa là − Trạng thái cân bằng tiệm cận với Xgoal . X (t ) = ∑ i =1 X i (t ) , thì tính hiệu quả được xác n − Thời gian cần thiết để thuật toán hội tụ đến Xgoal . định bởi tỉ số: − Biên độ của dao động xung quanh giá trị Xgoal nhỏ η = X (t ) X goal (4) dần. 4. Thời gian đáp ứng nhanh (Small response time): Thuật toán hiệu quả khi η tiến gần tới 1, nghĩa là Thuật toán phải nhanh chóng phát hiện được tắc X(t) tiến gần tới Xgoal. nghẽn và thời gian kể từ khi phát hiện tắc nghẽn 2. Tính bình đẳng (Fairness): Khi nhiều người sử đến khi có tác động của điều khiển chống tắc dụng chia sẻ tài nguyên, tất cả người sử dụng trong nghẽn phải càng nhanh càng tốt: Tresp ≤ Tgoal . Trong cùng một lớp phải có chia sẻ như nhau về tài đó Tgoal là cơ sở để so sánh các thuật toán điều nguyên. Thường thì sự phân bổ không bằng nhau khiển. một cách chính xác, mức độ bình đẳng được đo bởi 5. Độ mịn trong điều khiển (Smoothness): Trong chỉ số bình đẳng. Chỉ số bình đẳng được định nghĩa thực tế, tác động của điều khiển không thể đưa hệ khái quát trong [18] như sau: thống đến trạng thái mong muốn ngay lập tức. Vì (∑ i =1 X i (t )) 2 n vậy, các thuật toán điều khiển chống tắc nghẽn phải F= (5) n(∑ i =1 X i (t ) 2 ) thiết kế sao cho tác động điều khiển có độ mịn cần n thiết, tránh đưa hệ thống vào trạng thái mất ổn định Thuật toán bình đẳng khi F tiến gần tới 1. Tuy thêm. Đại lượng để đo độ mịn có thể là hiệu số giữa nhiên, chỉ số này chỉ biểu diễn tính bình đẳng giữa các lưu lượng tại 2 thời điểm điều khiển liên tiếp t1 và người dùng mạng nói chung mà chưa thể hiện được t2: |Xi(t2) – Xi(t1)| hoặc hiệu số giữa tổng lưu lượng bản chất đa dịch vụ trong mạng thế hệ mới. Trong mạng tại 2 thời điểm điều khiển liên tiếp t1 và t2: mạng NGN sẽ có nhiều lớp dịch vụ khác nhau, sử |X(t2) – X(t1)| . dụng nhiều hệ giao thức vận chuyển khác nhau. Vì vậy, cần thiết phải đưa thêm hai chỉ số bình đẳng mới: 6. Tính phân tán (Distributedness): Đây là điều cần thiết bởi vì một mô hình tập trung đòi hỏi thông tin − Chỉ số bình đẳng giữa các giao thức cùng họ: đầy đủ về trạng thái của mạng cũng như các luồng F1 = θi θ j (6) riêng lẻ, và điều này là không thể không có đối với trong đó θi và θj là thông lượng của các giao thức i mạng cỡ lớn. và j cùng sử dụng cho một lớp ứng dụng. Như vậy, mô hình có thể xây dựng để đánh giá các phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn cho 34
  6. mạng NGN có thể được thiết kế dựa trên sáu tiêu chí Quản lý chống tắc nghẽn TCP dựa trên thuật toán cơ bản nêu trên. Trong phần tiếp theo, bài viết sẽ hệ tăng cộng giảm nhân (AIMD). Nếu xảy ra tắc nghẽn, thống hóa lại một số phương pháp điều khiển chống kích thước cửa sổ gửi giảm đi một nửa (nhân với 0,5), tắc nghẽn điển hình nhất, phân tích đánh giá chúng ngược lại thì tăng lên một giá trị là MSS (Maximum dựa trên cơ sở những tiêu chí đã đề xuất. Segment Size). Điều khiển chống tắc nghẽn trong TCP được thực III. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN hiện như sau: khởi tạo cập nhật ngưỡng tắc nghẽn (CT CHỐNG TẮC NGHẼN – Congestion Threshold) và tuỳ thuộc vào Wc (cửa sổ 1. Một số phương pháp điều khiển chống tắc điều khiển chống tắc nghẽn) lớn hơn hay nhỏ hơn CT, nghẽn truyền thống lưu lượng TCP được điều khiển theo hai pha như sau: a) DECbit + Pha 1: Pha bắt đầu chậm (Wc < CT): DECbit là một trong các mô hình điều khiển − Khi một đoạn được báo là đã nhận được, Wc được chống tắc nghẽn sớm nhất. Phương pháp này sử dụng tăng lên một giá trị MSS. phản hồi ẩn. Trong DECbit, mạng cung cấp thông tin phản hồi cho phép phía gửi điều chỉnh lưu lượng vào − Các gói được truyền vào kênh. mạng. Các bộ định tuyến giám sát kích thước trung + Pha 2: Pha chống tắc nghẽn (Wc > CT): bình của hàng đợi trong khoảng thời gian được định − Đường truyền xảy ra tắc nghẽn. nghĩa. Nếu độ dài trung bình của bộ đệm vượt quá ngưỡng (threshold) thì bộ định tuyến thiết lập một bit − Giảm Wc xuống còn một nửa. chỉ dẫn chống tắc nghẽn (gọi là DECbit) trong các gói − Cập nhật lại CT. tin để thông báo sự tắc nghẽn của mạng. Phía nhận Điều khiển chống tắc nghẽn trong TCP có những gửi lại bit này trong thông báo nhận được đến phía nhược điểm cơ bản là: gửi. Phía gửi giám sát các bit chỉ dẫn chống tắc nghẽn này để điều chỉnh kích thước của cửa sổ gửi như sau: − Thông tin phản hồi là ẩn và vì vậy cửa sổ gửi luôn Nếu xảy ra tắc nghẽn thì giảm đi theo phép nhân giảm đi một nửa khi xảy ra tắc nghẽn là không thực (nhân với 0,875), trong trường hợp ngược lại thì kích sự hiệu quả. thước cửa sổ được tăng lên theo phép cộng. − TCP không chia sẻ thông tin điều khiển, vì vậy các DECbit là phương pháp khá đơn giản và hữu hiệu. kết nối cùng một thời điểm đến cùng một đích (một Tuy nhiên, căn cứ vào các tiêu chí nêu trên thì thuật trường hợp thường xảy ra với lưu lượng web) sẽ toán này không đạt được tính hiệu quả vì lưu lượng bị phải cạnh tranh, thay vì phối hợp để sử dụng băng gạt bỏ đáng kể (qua hệ số 0,875) dẫn đến thông lượng thông mạng một cách hợp lý. rất thấp. Ngoài ra, các tiêu chí về tính bình đẳng, độ Điều khiển chống tắc nghẽn của TCP không đáp hội tụ, độ mịn điều khiển cũng không đạt được. Thuật ứng được đầy đủ các tiêu chí đã nêu, cụ thể là: toán không phù hợp cho các ứng dụng mới trong − Đối với mạng NGN, đặc biệt là trong môi trường NGN. nhiều lỗi như môi trường vô tuyến, vệ tinh… thuật b) Điều khiển chống tắc nghẽn trong TCP toán điều khiển chống tắc nghẽn của TCP không TCP (Transmission Control Protocol) là giao thức hiệu quả. Thậm chí thông lượng không thể chấp phổ biến nhất hiện nay cho truyền dữ liệu tin cậy trên nhận được [4]. Internet. Ngoài điều khiển chống tắc nghẽn ra, nó còn − Đối với mạng đa dịch vụ, thuật toán điều khiển thực hiện các chức năng khôi phục dữ liệu đã mất và chống tắc nghẽn của TCP không đem lại tính bình quản lý kết nối. Điều khiển chống tắc nghẽn trong đẳng cần thiết cho các ứng dụng. TCP thuộc loại điều khiển vòng kín phản hồi ẩn. − Đối với mạng có lưu lượng biến đổi động, biến đổi 35
  7. nhanh, điều khiển chống tắc nghẽn của TCP tỏ ra các bộ định tuyến đến phía gửi. Bên trong bộ định bất ổn định và không hội tụ [4]. tuyến EWA thông tin phản hồi được tính toán định kỳ c) Các phương pháp khác dựa trên đánh giá dung lượng rỗi hiện tại của hàng đợi Ngoài hai phương pháp đã nói đến ở trên còn có các trong bộ định tuyến nhân với một biến α. α tuỳ thuộc phương pháp như ECN [2] (Explicit Congestion vào giá trị khởi tạo và kích thước hàng đợi hiện tại. Notification), RED [3] (Random Early Detection) (sử Nó được điều khiển theo thuật toán AIMD. EWA cho dụng trong các bộ định tuyến để hỗ trợ điều khiển thấy các kết quả hoạt động tốt trong các bộ định tuyến chống tắc nghẽn cho TCP), RAP [21] (Rate có tải lớn, nhưng có một số vấn đề trong các bộ định Adaptation Protocol) (giao thức điều khiển chống tắc tuyến hoạt động ở dưới mức tải trong hầu hết thời nghẽn ở mức ứng dụng) và các phương pháp điều gian. Lý do nằm ở việc tính toán α, nó đặt quá nhiều khiển chống tắc nghẽn trong từng ứng dụng cụ thể vào trọng tải trước đó của bộ định tuyến, vì vậy không như trong RealPlayer [20], Microsoft Windows Media thể phản ứng lại đủ nhanh đối với những thay đổi lớn Player [19]. của các điều kiện tải. d) Đánh giá chung Chính vì hạn chế đó EWA mờ (FEWA – Fuzzy Căn cứ vào các tiêu chí đề ra, có thể thấy các EWA) đã phát triển, khác với EWA cũ chủ yếu ở việc phương pháp trên chủ yếu chỉ phù hợp cho các mạng tính toán α. FEWA sử dụng một bộ điều khiển mờ để cũ truyền thống, không đáp ứng nhu cầu của các mạng tính α dựa theo giá trị hiện tại và một giá trị gần nhất mới và dịch vụ mới. Tất cả các phương pháp trên đều của bộ đệm bộ định tuyến. Với các thay đổi này trong không thể thích ứng nhu cầu phát triển của mạng và việc tính toán phản hồi bên trong bộ định tuyến, hiệu không thể ứng dụng một cách chung và rộng rãi trên suất từ đầu cuối đến đầu cuối có thể đạt được lớn hơn mạng, chúng có những nhược điểm như: chưa thích so với EWA. ứng một cách hiệu quả với sự tắc nghẽn của mạng; b) ETCP chưa có sự chia sẻ bình đẳng về băng thông; một số Ý tưởng của ETCP [7] (Enhanced TCP) là sử dụng phương pháp đòi hỏi sự thay đổi ở phía đầu cuối… phản hồi FEWA (dựa trên sự thích ứng với cửa sổ Chính vì vậy cần phải nghiên cứu đưa ra các phương điều khiển lưu lượng - AWND) để tính cửa sổ gửi mới pháp điều khiển chống tắc nghẽn mới. (SWND). ETCP phía gửi không thực hiện chu trình 2. Một số phương pháp điều khiển chống tắc bắt đầu chậm (slow start) và chống tắc nghẽn nghẽn mới (congestion avoidance), mà bắt đầu với một cửa sổ Trong phần này, bài viết đề cập đến một số phương gửi khởi tạo và cập nhật cửa sổ gửi theo các cách sau: pháp điều khiển chống tắc nghẽn mới được đề xuất − Nếu cửa sổ gửi hiện tại lớn hơn cửa sổ điều khiển trên cơ sở cải tiến các phương pháp truyền thống. lưu lượng thì cửa sổ gửi mới được thiết lập bằng cửa Những phương pháp này đã được nêu chi tiết trong sổ điều khiển lưu lượng: SWND ← AWND. [7]. Bài viết này chỉ tóm lược những đặc điểm quan − trọng nhất và phân tích đánh giá chúng trên cơ sở Nếu cửa sổ gửi hiện tại nhỏ hơn cửa sổ điều khiển những tiêu chí đã đề xuất trong phần 2. lưu lượng thì cửa sổ gửi được tính như sau: SWND←SWND.(AWND/SWND)1/SWND a) EWA và FEWA Với tính toán này cửa sổ gửi của phía gửi ETCP Phương pháp EWA [5] (Explicit Window được tăng theo hàm mũ để tiệm cận với cửa sổ điều Adaptation) dùng thông báo một cách rõ ràng đến khiển lưu lượng. Với các thay đổi nhỏ này có thể thu phía gửi về băng thông còn khả dụng của các đường được sự cải thiện đáng kể về khả năng thực hiện. ra bằng cách sử dụng cơ chế điều khiển lưu lượng giống như trong TCP để truyền thông tin phản hồi từ c) XCP XCP [8] (Explicit Control Protocol) là một giao 36
  8. thức truyền thông dự kiến thay thế TCP. Sự phát lại thông tin này vào mỗi gói. Các bộ định tuyến lõi tính và cửa sổ chống tắc nghẽn của XCP dựa trên TCP. toán băng thông hợp lý chia sẻ cho tất cả các luồng Mặc dù vậy, một cơ chế điều khiển chống tắc nghẽn dựa trên tốc độ đến và chuyển tiếp. Các gói mà nhãn mới được đề xuất. Phía gửi đưa yêu cầu lưu lượng vào của nó chỉ ra tốc độ luồng vượt quá sự chia sẻ băng các biến điều khiển chống tắc nghẽn nằm ở phần mào thông hợp lý sẽ bị xoá gói. đầu gói tin XCP để mỗi bộ định tuyến trên đường Trong kiến trúc của CSFQ, các bộ định tuyến nằm truyền có thể ước lượng được tốc độ nguồn phát trên ở biên sẽ xoá các nhãn khỏi các gói khi mà chúng rời luồng đó. Mỗi bộ định tuyến có một thuật toán điều khỏi miền CSFQ. FBA-TCP sao chép nhãn vào mào khiển chống tắc nghẽn và một thuật toán điều khiển đầu IP, vì thế giữ giá trị chia sẻ hợp lý ở biên của bình đẳng. Thuật toán điều khiển chống tắc nghẽn xác miền CSFQ và chuyển chúng trên tất cả các đường tới định tải lưu lượng và băng thông sẵn sàng. Thuật toán đầu cuối. Dựa trên thông tin này, FBA-TCP phía nhận điều khiển bình đẳng phân bổ một cách hợp lý băng cung cấp phản hồi đến phía gửi bằng cách thiết lập thông sẵn sàng bằng cách cập nhật vào trường phản kích thước cửa sổ thông báo để giá trị chia sẻ hợp lý hồi chống tắc nghẽn trong phần mào đầu chống tắc và thời gian vòng truyền (RRT). Vì thế, tốc độ đầu ra nghẽn của mỗi gói XCP. Các thuật toán điều khiển của phía gửi được giới hạn một cách hiệu quả bởi chống tắc nghẽn và điều khiển bình đẳng của bộ định băng thông nút cổ chai của bộ định tuyến trong miền tuyến XCP có đặc điểm là chúng không đòi hỏi thông CSFQ. tin trạng thái của mỗi luồng. Thay thế nó, bộ định Các kết quả mô phỏng trình bày trong [10] chỉ ra tuyến khai thác thông tin lưu lượng tổng bằng cách rằng FBA-TCP có thể làm tăng sự bình đẳng giữa các tích luỹ thông tin từ tất cả các gói truyền qua bộ định luồng đồng thời cải thiện khả năng hoạt động với việc tuyến trong một khoảng thời gian nhất định. Với cơ tránh mất gói TCP (điều khiển FBA-TCP ngăn ngừa chế điều khiển chống tắc nghẽn theo mô hình MIMD khả năng tăng tốc độ vượt quá dung lượng sẵn sàng). (Multiplicative Increase Multiplicative Decrease), cho phép XCP sử dụng tài nguyên đang rỗi nhanh hơn e) QS-TCP so với các phương pháp sử dụng AIMD. Mặt khác, QS-TCP (Quick Start TCP) đã được đề xuất năm thuật toán điều khiển bình đẳng của XCP phân bổ 2002 bởi Jain và Floyd như là một cách để tăng cửa sổ thông tin phản hồi tắc nghẽn tổng theo các luồng và khởi tạo của một kết nối TCP [11]. Trong thủ tục thiết nó đảm bảo tính bình đẳng giữa các luồng [14, 15, lập kết nối TCP (TCP SYN và TCP SYN/ACK) phía 17]. gửi TCP chèn một yêu cầu bắt đầu nhanh (Quick Start Request) vào gói TCP nó chính là tốc độ khởi tạo mà d) FBA-TCP phía gửi muốn truyền. Mỗi bộ định tuyến dọc theo Phân bổ băng thông hợp lý cho TCP (FBA-TCP) đường truyền xác nhận liệu nó có thể đáp ứng yêu cầu [10] (Fair Bandwidth Allocation for TCP) là một lưu lượng mới này. Nếu nó có thể đáp ứng yêu cầu phương pháp điều khiển lưu lượng TCP dựa trên mới này thì nó sẽ truyền yêu cầu QS đi, ngược lại nó thông tin phản hồi về mạng được cung cấp bởi CSFQ sẽ giảm tốc độ dữ liệu đến một giá trị phù hợp. Để (Core-Stateless Fair Queueing) [9]. làm được điều đó bộ định tuyến cần thiết phải giám CSFQ nhằm mục đích đạt được một sự phân bổ sát sự khác nhau của trọng tải hiện tại và dung lượng băng thông hợp lý trong bộ định tuyến mà không yêu sẵn sàng và những yêu cầu QS trong thời gian gần cầu sự tính toán cho mỗi luồng hoặc trạng thái mỗi đây. Khi yêu cầu QS (QS request) tới TCP phía nhận, luồng trong bộ định tuyến lõi của một miền CSFQ. Sự một đáp ứng QS (QS response) tương ứng được tạo ra tính toán trên mỗi luồng và trạng thái được giới hạn và chèn vào một thông báo nhận được gửi trở về phía bởi các bộ định tuyến nằm ở biên, nó ước lượng tốc gửi. Nhận được đáp ứng QS, phía gửi điều chỉnh cửa độ đến của mỗi luồng đưa vào miền, và dán nhãn sổ chống tắc nghẽn khởi tạo theo tốc độ dữ liệu chỉ ra 37
  9. trong đáp ứng QS. Để tránh lưu lượng bùng phát, phía lớn (ví dụ mạng tốc độ cao gigabit hay mạng di động gửi tăng dữ liệu từng bước vào cửa sổ khởi tạo. QS- tốc độ cao), vấn đề quan trọng là điều khiển chống tắc TCP đòi hỏi tất cả các bộ định tuyến, phía gửi và phía nghẽn cho phép tăng nhanh tốc độ gửi dữ liệu để tận nhận hỗ trợ khởi tạo nhanh (QS). Cơ chế này được dụng tài nguyên mạng. Đặc điểm này được cung cấp dựa trên một bộ đếm bước truyền (hop) nó tương tự bởi XCP, QS-TCP và ETCP. Mặc dù vậy, chỉ XCP và như bộ đếm bước truyền trong giao thức IP (dựa trên ETCP cho phép tăng nhanh khi băng thông nút cổ Bảng 1. So sánh các phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn (F)EWA ETCP XCP FBA-TCP QS-TCP ECN Có/không Có/không không/ Có/không Có/Không Có/không Hỗ trợ các luồng TCP/UDP không Trong suốt đối với phía Có/có Không/có Không/ Có/không Không/ Không/ gửi/nhận không Không không Cách điều khiển Một chiều Một chiều Hai chiều Một chiều Hai chiều Một chiều Sử dụng cửa sổ tăng/giảm Không/ có Có/ có Có/ có Không/ có Có/ Có Không/Có Cung cấp phản hồi liên tục Có Có Có Có Không Có Cần trạng thái mỗi luồng trong Không Không Không Có Không Không các bộ định tuyến Cần định tuyến đối xứng Có Có Không Không Không Không Có cơ chế phát triển từng phần Không Có Không Không Có Không Độ phức tạp trong các hệ Thấp/ Thấp/ Thấp/ Thấp/ Thấp/ Thấp/ thống đầu cuối/bộ định tuyến Trung bình Trung bình cao cao Trung bình Trung bình Tăng hoạt động của mạng (+)++ ++++ +++++ +++ ++ + trường Time-to-live). chai thay đổi động. Nhưng XCP đòi hỏi các sự thích Đề xuất QS-TCP ban đầu nhằm mục đích xác định ứng của các giao thức truyền tải nằm tại các hệ thống khởi tạo cửa sổ TCP. Một cập nhật gần đây của QS- đầu cuối. Ngược lại với XCP, (F)EWA không đòi hỏi TCP [11] mở rộng QS như kích hoạt một tín hiệu khi bất kỳ sự thay đổi nào ở các hệ thống đầu cuối. thông tin đính kèm vào một nút đầu cuối thay đổi, ví Nhưng (F)EWA kém hơn XCP, bởi vì với (F)EWA dụ cho IP di động (mobile IP). Vấn đề mở rộng liên cửa sổ gửi của phía gửi TCP không thể được điều quan đến ứng dụng của QS cho DCCP được nói rõ khiển một cách chính xác như là XCP. Biến thể hơn trong [11]. (F)EWA được gọi Forward-(F)EWA (F(F)EWA). FBA-TCP cũng có thể là ứng cử viên sáng giá cho f) Đánh giá chung việc cải thiện điều khiển chống tắc nghẽn trên mạng Các đặc tính và chức năng chính của các phương IP. Từ thiết kế của cơ chế phản hồi, FBA-TCP có các pháp điều khiển chống tắc nghẽn được tổng kết và so cải thiện hoạt động tương tự như (F)EWA. Nhưng sánh trong bảng 1, trong đó ECN là đại diện cho các nhược điểm là đòi hỏi sự triển khai ở phạm vi rộng phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn truyền của CSFQ thì mới trở nên hiệu quả. thống. Có thể thấy mỗi phương pháp có những ưu nhược Phương pháp nào được sử dụng trong các mạng còn điểm riêng của nó, tuy nhiên nếu căn cứ vào các tiêu tuỳ thuộc vào mức độ mong muốn về tính tương thích chí áp dụng cho mạng NGN, ta có thể thấy được với các giao thức truyền tải TCP và UDP hiện tại đã những hạn chế như sau: triển khai trong các hệ thống đầu cuối. Ví dụ, XCP là một phương pháp tốt nhất để cải thiện hoạt động tổng − Đa số các phương pháp còn chưa xem xét đến các thể của mạng. Đặc biệt với các mạng có băng thông khác biệt về nguyên nhân tắc nghẽn trong mạng 38
  10. NGN để có điều khiển một cách thích ứng. Đầu phát Bộ đệm trong mạng Đầu thu − Hầu hết các phương pháp còn dựa trên nguyên lý điều khiển chống tắc nghẽn tuyến tính truyền thống, Khối điều Trễ T1 Bộ giám do vậy không thể hiện được đặc tính động và sự khiển Mạng sát biến thiên về lưu lượng động trong mạng NGN. − Chưa xem xét đến vấn đề đa dịch vụ: về các yêu cầu chất lượng dịch vụ đa dạng… Cần cơ chế điều khiển ưu tiên theo yêu cầu của từng dịch vụ. Trễ T2 − Chưa xem xét đến biến đổi tăng vọt và biến đổi động của lưu lượng. Cần phải theo dõi, giám sát lưu Hình 5. Mô hình tổng quát cho điều khiển chống tắc nghẽn lượng. Một hướng mới cho vấn đề này là sử dụng Bộ giám sát có chức năng giám sát trạng thái mạng mô hình phân cấp điều khiển. để phát hiện tắc nghẽn. Bộ này được đặt ở đầu thu nhằm thu thập thông tin về việc vận chuyển các gói IV. MÔ HÌNH TỔNG QUÁT ĐIỀU KHIỂN tin từ đầu phát - qua mạng - tới đầu nhận, qua đó biết CHỐNG TẮC NGHẼN được về độ mất gói qua mạng, mức độ sử dụng tài Như đã trình bày ở trên, hầu hết các phương pháp nguyên trên mạng thông qua các tham số thời gian gửi còn dựa trên nguyên lý điều khiển chống tắc nghẽn và nhận, mức tắc nghẽn trên mạng, v.v. Các trễ T1 và tuyến tính truyền thống, cụ thể là tăng cộng - giảm T2 thể hiện thời gian cần thiết khi truyền qua mạng và nhân. Duy có XCP có đề xuất theo hướng sử dụng khi phản hồi, liên quan đến quá trình các gói tin phải tăng nhân - giảm nhân nhằm tăng tốc độ truyền dữ chờ trong các bộ đệm (hàng đợi) trong mạng. Khối liệu và tận dụng hiệu quả tài nguyên. Rõ ràng nguyên điều khiển, căn cứ vào thông tin phản hồi từ bộ giám lý điều khiển tuyến tính không còn đáp ứng đầy đủ để sát/đầu thu để ra quyết định điều khiển thích ứng. thể hiện đặc tính động của mạng, sự biến thiên của lưu Thời gian điều khiển được tính toán căn cứ vào các trễ lượng trong mạng NGN với những ứng dụng đa trong mạng, hiệu số giữa thời gian thu – phát và thông phương tiện và các ứng dụng mới. Việc đưa ra một tin phản hồi. Mặt khác, thông qua việc cộng tác mật mô hình tổng quát cho điều khiển chống tắc nghẽn thiết giữa bộ giám sát và khối điều khiển, có thể phát trong mạng thế hệ mới là điều cần thiết. hiện được lỗi mất gói do tắc nghẽn hay là do môi Mô hình tổng quát cần dựa trên cơ sở phi tuyến, trường truyền một cách hữu hiệu, điều mà rất ít thuật nhằm thể hiện được hết bản chất động của mạng và toán hiện nay có thể thực hiện được. Đây cũng là một dịch vụ. Hơn nữa, mô hình này còn cần khái quát điều cần thiết khi truyền tin qua mạng NGN, khi có được cho cả hai phương thức điều khiển cơ bản là: môi trường liên kết giữa mạng cố định và mạng di dựa theo cửa sổ (theo cách truyền thống) và dựa theo động. tốc độ (cho các giao thức tốc độ cao thế hệ mới). Về nguyên tắc chung, mô hình vẫn dựa trên cơ sở Từ ý tưởng đó, mô hình được đề xuất như Hình 5. tăng - giảm, nghĩa là điều khiển tăng lưu lượng khi không tắc nghẽn và điều khiển giảm lưu lượng khi có tắc nghẽn. Hàm điều khiển tổng quát của mô hình có dạng: Zik+1 = Zik + f(Zik , f b (k)) (8) Trong đó k thể hiện trạng thái hệ thống, i thể hiện người dùng thứ i trong hệ thống, fb(k) là hàm phản hồi ở bước k (trạng thái k). Nếu biểu thị hai hàm tăng và 39
  11. giảm với a(y) và b(y) với y là tín hiệu phản hồi, ta có tế, hàm mũ cho phép hệ thống đạt được trạng thái thể viết lại phương trình điều khiển như sau: cân bằng ổn định. Zik+1 = a(Zik ,y)* Zik + b(y) (9) − Chọn tham số a và b phù hợp, thuật toán có thể đạt Hệ thức thứ nhất biểu thị hàm giảm, còn hệ thức thứ được bình đẳng cần thiết cho các ứng dụng. 2 biểu thị hàm tăng. Như vậy, ta có thể thấy phương Trên cơ sở đó, có thể dùng mô hình tổng quát này trình trên biểu diễn dạng tổng quát nhất cho điều để phân tích đánh giá các thuật toán điều khiển chống khiển chống tắc nghẽn. Nếu các hệ số a và b là hằng tắc nghẽn. số, ta được các thuật toán tăng giảm tuyến tính đã sử dụng trong các phương pháp truyền thống nêu ở các Mô hình tổng quát phần trên. Mô hình của TCP Mặt khác, nếu để ý ta có thể thấy, bản chất của điều khiển phi tuyến là sử dụng hài đa thành phần bao gồm các thứ hạng bậc nhất và các sóng hài cấp cao hơn. Lấy ví dụ, phân tích một hàm mũ ex thành chuỗi ta sẽ được một chuỗi gồm một hệ số tuyến tính và các hài bậc 1, bậc 2,… Trên cơ sở đó, có thể thiết kế một thuật toán điều khiển tăng giảm tổng quát như sau: Hình 6. So sánh mô hình tổng quát k+1 k -H và mô hình truyền thống TCP Tăng: Z i = Z +a*e i (10) k+1 k Kết quả thử nghiệm trong so sánh với thuật toán Giảm: Z i = Z * (1 - b) i (11) điều khiển chống tắc nghẽn truyền thống của TCP cho Trong mô hình này, a và b là các hằng số. H là hệ thấy, mô hình thuật toán điều khiển chống tắc nghẽn số điều khiển cần được chọn căn cứ vào thời gian tổng quát với hàm mũ cho thông lượng bình đẳng với truyền tin trong mạng (nghĩa là thời gian quay vòng TCP trong điều kiện thời gian quay vòng trên mạng RTT) và tài nguyên tối đa sử dụng được trên mạng. Ví RTT và điều kiện về tỉ lệ tổn thất gói như nhau (hình dụ, áp dụng điều khiển cho mạng với tRTT đo dược và 6). với cửa sổ truyền tin tối đa Wm (nghĩa là tài nguyên sử dụng được tối đa), ta có thể chọn H như sau [4]: V. KẾT LUẬN a Với sự phát triển của mạng, cơ chế điều khiển H = (12) t RTT ∗ Wm chống tắc nghẽn trong các giao thức truyền thống Việc chọn hàm mũ trong mô hình giúp ta biểu thị không còn phù hợp. Do đó cần phải có những cải tiến được đặc tính động của mạng NGN và đạt được các thay đổi để đáp ứng nhu cầu hiện tại và trong tương tiêu chí điều khiển cần thiết đã nêu ở phần 2: lai của mạng. Chính vì vậy một loạt các phương pháp mới được nghiên cứu đề xuất. Tuy nhiên, cần có các − Hàm mũ biểu thị sự biến đổi động của hệ thống. tiêu chí đánh giá các phương pháp và khả năng sử − Hàm mũ cho phép giảm thời gian đáp ứng trong dụng chúng cho mạng NGN. Bài viết này đã hệ thống điều khiển hơn là phương thức tăng tuyến tính hóa lại một số phương pháp điều khiển chống tắc truyền thống trước đây. nghẽn điển hình, phân tích nguyên lý chung để từ đó − Hàm mũ cho phép thuật toán hội tụ nhanh (hội tụ tới đề ra các tiêu chí đánh giá hiệu suất của chúng. Tiếp trên 70% sau 1 khoảng thời gian ngắn) đó, bài viết đã đề xuất một mô hình tổng quát có thể − Căn cứ vào thời gian quay vòng RTT đo được thực áp dụng cho phân tích, đánh giá và so sánh các 40
  12. phương pháp điều khiển chống tắc nghẽn. [13] A. Jain, S. Floyd, M. Allman, P. Sarolahti. Quickstart for TCP and IP. http://www.ietf.org/internetdrafts/draft- amit-quick-start-03.txt, work in progress, Sep. 25, 2004. TÀI LIỆU THAM KHẢO [14] XCP@ISIproject, www.isi.edu/isixcp/ index.html [1] M. Allman, V. Paxson, and W. Stevens. TCP [15] MIT project: Congestion Control for High Bandwidth- Congestion Control. RFC 2581, April 1999. DelayProductNetworks,www.ana.lcs.mit.edu/ dina/XCP [2] K. Ramakrishnan, S. Floyd, and D. Black. The addition [16] S. Floyd, M. Handley, J. Padhye, and J. Widmer. of explicit congestion notification (ECN) to IP. RFC Equation-based congestion control for unicast 3168, Sep. 2001. applications. In Proceedings of ACM SIGCOMM’00, [3] B. Braden, D. Clark, J. Crowcroft, B. Davie, S. pages 43—56, 2000. Deering, D. Estrin, S. Floyd, V. Jacobson, G. Minshall, [17] IPonAir project: http://www.iponair.de/. C. Partridge, L. Peterson, K. Ramakrishnan, S. Shenker, [18] D-M. Chiu and R. Jain. Analysis of the Increase and J. Wroclawski, and L.Zhang. Recommendations on Decrease Algorithms for Congestion Avoidance in queue management and congestion avoidance in the Computer Network. Computer Networks and ISDN internet. RFC 2309, April 1998. Systems, 17:1-14, 1989. [4] Dang-Hai Hoang. Quality of Service Control in the [19] Intelligen Streaming www.microsoft.com/windows/ Mobile Wireless Environments. PETER LANG windowsmedia/features/intellistream/default.asp, 1998. Publisher, Frankfurt/M-Berlin-Bern-Bruxelles-New [20] SureStream(tm), Delivering Superior Quality and York-Oxford-Wien, ISBN 3-531-50578-7, US–ISBN 0- Reliability. http://www.real.com/devzone/library/ 8204-6402-3, 2003. whitepapers/surestrm.html,1998. [5] L. Kalampoukas, A. Varma, and K. K. Ramakrishnan. [21] R. Rejaie, M. Handley, and D. Estrin. RAP: An End- Explicit window adaptation: A method to enhance TCP to-End Rate-base Congestion Control Mechanism for performance. IEEE/ACM Transactions on Networking, Realtime Streams in the Internet. In Proc. IEEE 10(3):338–350, June 2002. ENFOCOM’99, 1999. [6] M. Savori., Fuzzy Explicit Window Adaptation: Using router feedback to improve TCP performance, Ngày nhận bài: 12/10/2005. Technical Report TKN-04-009, July 2004. [7] M. Savori. Improving congestion control in IP-based networks using feedback from routers. Technical Report TKN-04-008, July 2004 [8] D. Katabi, M. Handley, and C. Rohrs. Congestion control for high bandwidth-delay product networks. Proceedings of ACM SIGCOMM’02, August 2002. [9] I. Stoica, S. Shenker, and H. Zhang. Core-stateless fair queueing: Achieving approximately fair bandwidth allocations in high speed networks. In Proceedings of ACM SIGCOMM’98, pages 118–130, 1998. [10] R. Kapoor, C. Casetti, and M. Gerla. Core-stateless fair bandwidth allocation for TCP flows. In Proceedings of IEEE ICC 2001, 2001. [11] A. K. Jain and S. Floyd. Quick-start for TCP and IP. Http://www.ietf.org/internet-drafts/draft-amit quickstart-02.txt, work in progress, Oct. 2002. [12] S. Kent and R. Atkinson. Security Architecture for the Internet Protocol. RFC 2401, Nov. 1998. 41
  13. SƠ LƯỢC TÁC GIẢ CAO HUY PHƯƠNG HOÀNG ĐĂNG HẢI Sinh năm 1975 Sinh năm 1960. Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1998 ngành Tốt nghiệp Đại học kỹ thuật Công nghệ thông tin, năm 2002 năm 1984, Tiến sỹ kỹ thuật năm ngành Điện tử-Viễn thông, 1999, Tiến sỹ khoa học năm nhận bằng Thạc sỹ Điện tử 2002 tại Cộng hòa Liên bang Viễn thông năm 2005 tại Học Đức chuyên ngành Viễn thông viện Công nghệ Bưu chính Tin học. Viễn thông. Hiện đang công tác tại Trung Hiện đang công tác tại Trung tâm VNCERT, Bộ tâm VNCERT, Bộ Bưu chính, Bưu chính, Viễn thông. Viễn thông. Lĩnh vực quan tâm: Công nghệ truyền thông, mạng Lĩnh vực quan tâm: Các hệ thống truyền thông, và dịch vụ mới, Quản lý và điều khiển mạng. công nghệ mạng mới, phần mềm điều khiển mạng, Email: caohuyphuong@yahoo.com quản lý lưu lượng, quản lý mạng, chất lượng dịch vụ, giao thức truyền thông, đa phương tiện, an ninh mạng. Email: hoangdanghai@hn.vnn.vn 42
Đồng bộ tài khoản