Điều tra cơ bản kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế

Chia sẻ: Phan Luyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:81

0
107
lượt xem
42
download

Điều tra cơ bản kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dự án Quản lý Tổng hợp các Hoạt động Đầm phá (IMOLA) là một dự án của FAO đóng tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Mục tiêu hướng đến của dự án là nhằm “ nâng cao sinh kế của người dân sống dựa vào hệ thống đầm phá Thừa Thiên Huế bằng cách phát triển quản lý bền vững có sự tham gia đối với các tài nguyên thuỷ-sinh học vùng đầm phá, phù hợp với các yêu cầu về kinh tế xã hội và sản xuất của người dân, và với sự nhấn mạnh đặc biệt vào những vai...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Điều tra cơ bản kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế

  1. Điều tra cơ bản kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế Phần 1 Báo cáo điều tra Mạng lưới các trung tâm nuôi trồng thuỷ sản Châu Á – Thái Bình Dương (NACA) Hà Nội, tháng 6, 2006
  2. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 1. Giới thiệu về chương trình điều tra cơ bản Cơ sở của hoạt động nghiên cứu Dự án Quản lý Tổng hợp các Hoạt động Đầm phá (IMOLA) là một dự án của FAO đóng tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Mục tiêu hướng đến của dự án là nhằm “ nâng cao sinh kế của người dân sống dựa vào hệ thống đầm phá Thừa Thiên Huế bằng cách phát triển quản lý bền vững có sự tham gia đối với các tài nguyên thuỷ-sinh học vùng đầm phá, phù hợp với các yêu cầu về kinh tế xã hội và sản xuất của người dân, và với sự nhấn mạnh đặc biệt vào những vai trò của giới, thành quả của an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo.” Dự án IMOLA mong muốn đạt được mục tiêu của mình thông qua việc “ phát triển và thực hiện một kế hoạch quản lý tổng hợp vùng đầm phá được xây dựng dựa trên sự đồng thuận của những bên liên quan, mà qua đó cân bằng việc sử dụng bền vững các tài nguyên vùng đầm phá với các sinh kế và nhu cầu của những người sử dụng tài nguyên.” Dự án có 6 kết quả đầu ra như sau: Kết quả đầu ra 1: Các vấn đề về sinh học và vật lý tác động đến vùng đầm phá Thừa Thiên Huế được mô tả và nắm bắt; Kết quả đầu ra 2: Các phương diện chính sách và quy định về vấn đề sử dụng tài nguyên thuỷ sản được xác định và nêu lên nhằm hỗ trợ việc quản lý tổng hợp; Kết quả đầu ra 3: Nâng cao năng lực cho các cơ quan cấp tỉnh (DOFI, DOSTE, DONRE, DPI, DOLISA, DARD) nhằm thu thập và quản lý thông tin liên quan đến việc ra quyết định về quản lý tổng hợp đầm phá Thừa Thiên Huế; Kết quả đầu ra 4: Sự hiểu biết được nâng cao và hành động đáp ứng các vấn đề kinh tế xã hội và sinh kế của những người sử dụng tài nguyên đầm phá được thực hiện thí điểm; Kết quả đầu ra 5: Một kế hoạch quản lý tổng hợp vùng đầm phá được phát triển thông qua một quá trình thảo luận và tham gia với những người sử dụng đầm phá và những bên liên quan; và Kết quả đầu ra 6: Điều phối và liên hệ với các tổ chức khác để nâng cao nhận thức về kế hoạch quản lý tổng hợp và các hoạt động dự án IMOLA. Trong khuôn khổ kết quả đầu ra 3, 4, và 5 và theo yêu cầu của dự án FAO-IMOLA, Mạng lưới các Trung tâm Nuôi trồng Thuỷ sản Châu Á Thái Bình Dương (NACA) đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để tiến hành một chương trình tập huấn và điều tra cơ bản kinh tế-xã hội sử dụng công cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), Phân tích sinh kế bền vững (SLA), và Nghiên cứu khảo sát sử dụng bảng câu hỏi (QS) tại các xã được chọn quanh vùng đầm phá Huế. NACA đã tiến hành các hoạt động sau: 1. Điều phối và thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua việc tiến hành công tác; 2. Tập huấn và tiến hành các công cụ PRA & SLA; 3. Tập huấn và tiến hành công cụ Khảo sát sử dụng bảng câu hỏi; và 4. Tập huấn quản lý và phân tích dữ liệu và hoàn tất báo cáo. Lập báo cáo Hai báo cáo chuyển tiếp đến nay đã được lập xong để điểm lại việc tập huấn PRA và SLA, và các kết quả bước đầu từ 6 hoạt động PRA được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 3, 2006. Một báo cáo chuyển tiếp thứ 3 được hoàn thành trong tháng 5 mô tả lại các kết quả ban đầu việc phân tích điều tra sử dụng bảng câu hỏi. Các đầu ra cuối cùng Theo Thư thoả thuận giữa FAO và NACA, các đầu ra cuối cùng dưới đây đã được hoàn thành: 1. Điều tra cơ bản kinh tế xã hội vùng đầm phá Huế 2. Cẩm nang hướng dẫn tiến hành PRA-SLA; 3. Cẩm nang hướng dẫn tiến hành điều tra sử dụng bảng câu hỏi; 1
  3. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 4. Tài liệu và sổ tay tập huấn, 5. Sáu hoạt động PRA-SLA; 6. Đánh giá tập huấn và người tham gia tập huấn, và các bài học kinh nghiệm. Điều tra cơ bản kinh tế xã hội vùng đầm phá Huế Mặc dù các kết quả từ việc điều tra sử dụng bảng câu hỏi rất dài, báo cáo cơ bản kinh tế xã hội đã được chia thành 2 phần nhằm mục đích làm cho nó rõ ràng và đơn giản hơn cho người đọc. Hai phần này bổ sung lẫn nhau và như sau: Phần I: Báo cáo điều tra; Phần II: Phương pháp và các kết quả điều tra chi tiết. Phần I Tổng hợp các kết quả chính thu được từ việc xem xét dữ liệu thứ cấp phù hợp, sáu hoạt động PRA-SLA, phỏng vấn bán cấu trúc với những người cung cấp thông tin chính, Đánh giá nhu cầu tập huấn và Điều tra sử dụng bảng câu hỏi. Phần II Cung cấp một cái nhìn tổng thể về cấu trúc điều tra cơ bản và phương pháp tiến hành kèm theo trong suốt quá trình điều tra, và các kết quả điều tra chi tiết từ việc áp dụng điều tra sử dụng Bảng câu hỏi đã được triển khai tại 11 xã quanh vùng đầm phá Huế (cấu trúc được giải thích rõ trong Phần II). Cấu trúc của Phần I: Báo cáo điều tra Báo cáo này được tổ chức thành 5 chương chính. Mỗi chương tập trung vào một phạm vi cụ thể mặc dù mỗi lĩnh vực đều có liên quan đến những lĩnh vực kia. Mục tiêu nhằm tổng hợp tình trạng vùng đầm phá trong lúc nhấn mạnh các vấn đề chủ yếu và những tác động đến sinh kế của các cộng đồng dân cư đầm phá, và đề xuất các giải pháp phù hợp. Chương 1 giới thiệu về điều tra cơ bản (giới thiệu hiện thời) Chương này tóm tắt toàn bộ quá trình và các hoạt động mà NACA đã đảm trách theo thoả thuận với Dự án FAO-IMOLA, và chú trọng đến các kết quả đầu ra chính. Chương 2 nêu bối cảnh chung vùng đầm phá Huế Phần này nêu lên một cái nhìn tổng thể về các đặc điểm chủ yếu của đầm phá Huế, bao gồm các phương diện địa lý, thiết chế, và kinh tế xã hội. Chương này được tổ chức theo Khung biện pháp tiếp cận với sinh kế bền vững (DFID, 1999), qua đó các điều kiện về sinh kế của các nhóm cộng đồng được môt tả và phân tích trong phạm vi bối cảnh của khả năng dễ bị tổn thương, các tài sản sinh kế và các chiến lược, và chính sánh & khung thể chế. Chương 3 về ngành thuỷ sản Chương này được chia thành 2 lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt, dù mỗi lĩnh vực đều có tầm quan trọng đối với sinh kế cộng đồng và môi trường đầm phá. Chương 4 về ngành nông-lâm nghiệp Chương 4 tập trung vào 3 hợp phần trong ngành nông lâm nghiêp: nông nghiệp, lâm nghiệp, và chăn nuôi. Chương 5 nêu các đề xuất Cuối cùng, các đề xuất được đưa ra để xem xét các vấn đề xuyên suốt và các nhu cầu cụ thể của mỗi ngành, và dựa trên việc phân tích tình hình quanh vùng đầm phá Huế. Ngoài ra, nó còn bao gồm các đề xuất do nhóm công tác của NACA đưa ra và những đề xuất được nêu lên từ các cuộc phỏng vấn và PRA. 2
  4. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Mục lục 1. Giới thiệu về điều tra cơ bản .................................................................................1 Mục lục ........................................................................................................................3 Các từ viết tắt ..............................................................................................................4 2. Bối cảnh chung của đầm phá Huế .....................................................................100 3. Ngành thuỷ sản...................................................................................................24 3.1 Nuôi trồng thuỷ sản.........................................................................................25 3.2 Khai thác thuỷ sản...........................................................................................38 4. Ngành nông-lâm nghiệp......................................................................................50 4.1 Nông nghiệp ....................................................................................................50 4.2 Lâm nghiệp......................................................................................................53 4.3 Chăn nuôi ........................................................................................................53 5. Các đề xuất .......................................................................................................577 6. Tham khảo ........................................................................................................677 7. Phụ lục................................................................................................................70 3
  5. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Viết tắt AA Hội nghề cá AFFS Hội nghị đầu bờ trong nuôi trồng thuỷ sản BMP Thực hiện quản lý tốt hơn BOD Nhu cầu ôxy sinh học CoC Quy tắc ứng xử CPC Uỷ ban Nhân dân xã CPUE Năng lực đánh bắt trên mỗi đơn vị CSSH Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Khoa học Huế DANIDA Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn DFID Cơ quan phát triển quốc tế DOFI Sở Thuỷ sản DOLISA Sở Lao động Thương binh Xã hội DONRE Sở Tài nguyên Môi trường DOSTE Sở Khoa học và Công nghệ DOT Sở Du lịch DPC Uỷ ban Nhân dân huyện DPI Sở Kế hoạch và Đầu tư EIA Đánh giá tác động môi trường FA Hội nghề cá FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc FEC Trung tâm Khuyến ngư FSPS Chương trình hỗ trợ ngành thuỷ sản GAP Thực hiện tốt hoạt động nuôi trồng thuỷ sản GOV Chính phủ Việt Nam HH(s) Hộ gia đình HUAF Đại học Nông Lâm Huế ICZM Quản lý tổng hợp vùng ven bờ IDRC Trung tâm Nghiên cứu Phát triển quốc tế (Canada) IMOLA Quản lý tổng hợp các hoạt động đầm phá IPM Quản lý sâu bệnh tổng hợp LoA Thư thoả thuận MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn MFI Thiết chế tài chính quy mô nhỏ MOFI Bộ Thuỷ sản MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư MRC Uỷ ban sông Mêkông NACA Mạng lưới các trung tâm nuôi trồng thuỷ sản Châu Á Thái Bình Dương NAV Tổ chức Bắc Âu trợ giúp Việt Nam PC Hội đồng Nhân dân PCR Phản ứng dây chuyền Polymerase PFA Hội nghề cá cấp tỉnh PPC Uỷ ban Nhân dân tỉnh PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân QS Điều tra sử dụng bảng câu hỏi RIA(-1-2-3) Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản (No.1) (No.2) (No.3) SEAFDEC Trung tâm Phát triển Thuỷ sản Đông Nam Á SEDP Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội SLA Phân tích sinh kế bền vững SUMA Hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nuôi trồng biển TA Hỗ trợ kỹ thuật 4
  6. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 TNA Đánh giá nhu cầu tập huấn TOR Các đề cương tham chiếu TTHRDP Chương trình Phát triển Nông thôn Thừa Thiên Huế UN Liên Hiệp Quốc VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam VBSP Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam VEW Khuyến ngư viên tình nguyện VIFEP Viện kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản Việt Nam VINAFIS Hội nghề cá Việt Nam VND Đồng Việt Nam WSD Bệnh đốm trắng WSSV Hội chứng virus đốm trắng WU Hội Phụ Nữ 5
  7. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 1.1 Tóm tắt thực hiện Mục tiêu của điều tra nghiên cứu Mục tiêu dự án IMOLA hướng đến là vấn đề quản lý bền vững các tài nguyên đầm phá Thừa Thiên Huế, là bộ phận tác động tích cực lên sinh kế của những người sử dụng tài nguyên thuỷ sản. Qua điều tra đã xác định được các vấn đề chủ yếu đang tác động đến môi trường đầm phá trong mối quan hệ với sinh kế của các cộng đồng, cùng với các biện pháp khắc phục, một số trong đó được hỗ trợ bằng các đầu ra và hoạt động của dự án IMOLA. Do đó, IMOLA có thể là công cụ khởi xướng và thúc đẩy những quá trình hướng đến vấn đề quản lý đầm phá tốt hơn. Nền tảng chung Nền kinh tế của tỉnh duyên hải miền trung Thừa Thiên Huế đã phát triển đáng kể trong 5 năm qua, đạt được một tỉ lệ giảm nghèo từ 25% xuống 8%. Khoảng chừng 1/3 dân số của tỉnh sống dựa vào vùng đầm phá với diện tích 22.000 ha, lớn nhất Đông Nam Á. Lũ lụt, sạt lở vùng ven bờ, và sự bồi tụ trầm tích đang là những vấn đề đáng lo ngại. Những cộng đồng dân cư sống quanh vùng đầm phá dựa vào 3 hoạt động tạo thu nhập chính: đánh bắt thuỷ hải sản, nuôi trồng thuỷ sản, và nông nghiệp, bao gồm lâm nghiệp và chăn nuôi. Các nghề phụ khác bao gồm những công việc theo mùa vụ, xây dựng và dịch vụ. Sự thiếu sinh kế chuyển đổi nói chung cũng như sự gia tăng dân số được phản ảnh ở việc gia tăng di cư và áp lực lên các tài nguyên đầm phá, thể hiện những tín hiệu của việc khai thác không bền vững. Ngành thuỷ sản đóng một vai trò kinh tế xã hội quan trọng ở tỉnh Thừa Thiên Huế nhờ có bờ biển trải dài và vùng đầm phá rộng. Trong lúc nghề đánh bắt dường như đã đạt đến ngưỡng sản xuất, ngành nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển đáng kể trên một diện tích sản xuất rộng 5.350 ha và cho sản lượng 7.000 tấn trong năm 2005. Nghành thuỷ sản vùng đầm phá và môi trường xung quanh đã trải qua những thay đổi lớn trong những năm vừa qua về mặt sử dụng tài nguyên, kể cả tài nguyên thuỷ sản, đất và nước, và điều này ảnh hưởng sâu sắc đến các cộng đồng mà sinh kế của họ đang trực tiếp hoặc gián tiếp dựa vào vùng đầm phá. Các vấn đề xuyên suốt Toàn vùng thường bị ảnh hưởng bởi những cơn lũ hằng năm, khiến sinh kế và đời sống cộng đồng đứng trước nguy cơ. Một số cộng đồng dân cư sống trên thuyền vẫn chưa định cư, và hầu như hoàn toàn dựa vào hoạt động đánh bắt nhỏ lẻ. Các tài nguyên thuỷ sản đang đứng trước nguy cơ do việc khai thác quá mức, ô nhiễm nước và diện tích mặt nước đầm phá bị thu nhỏ lại do sự lấn chiếm của các ngư cụ. Điều này còn gây mất mát cho toàn bộ hệ sinh thái bao gồm cả những bãi lầy bằng phẳng. Trình độ dân trí vẫn còn thiếu đồng đều ở 32 xã sống quanh đầm phá do thiếu trường cấp III. Mặc dù hạ tầng giao thông nhìn chung là tốt hoặc đang được nâng cấp, một số xã vẫn còn hạn chế trong việc tiếp cận hệ thống đường giao thông, và phương tiện vận tải chính vẫn dựa vào các thuyền nhỏ băng qua đầm phá. Điều này làm hạn chế việc tiếp cận đến các thị trường. Các cộng đồng nghèo vẫn gặp phải khó khăn trong việc tiếp cận với các chương trình tín dụng chính thức nếu không có tài sản để thế chấp. Các chương trình tín dụng nhỏ đang sẵn có tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, Hội Phụ nữ và các sáng kiến do dự án khởi xướng mặc dù trong thực tế nhu cầu lớn hơn khả năng cung ứng. Nông nghiệp Nông nghiệp được xem như một hoạt động kinh tế chính và một phương tiện để thoát khỏi nghèo đói. Việc phát triển thiếu quy hoạch phù hợp trong những năm qua đã dẫn đến nhiều vấn đề làm trì hoãn khả năng phát triển của ngành này. Hơn 73% số người nuôi trồng thuỷ sản đang liên quan đến hoạt động nuôi tôm, chủ yếu sử dụng phương pháp quảng canh cải tiến và bán thâm canh. Cá nước ngọt, nước lợ, và cá biển cũng được nuôi lồng và chắn sáo, trong lúc hoạt động nuôi nhuyễn thể vẫn trong giai đoạn thử nghiệm ban đầu. Tôm giống sẵn có trong và ngoài tỉnh, tuy nhiên số lượng và chất lượng là vấn đề còn phải bàn. Giống cá biển chủ yếu được bắt từ thiên nhiên. Cá giống nước ngọt chỉ có sẵn ở vùng cách xa đầm phá và chất lượng thấp. Nông dân có kiến thức kỹ thuật hạn chế và bệnh tôm luôn xảy ra hằng năm, ảnh hưởng đến trên 90% nông dân. Việc mất mùa liên tục gây nên những khoản nợ lớn. Tập huấn khuyến 6
  8. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 ngư do cả chính quyền và tư nhân cung cấp cần phải phối hợp tốt hơn để thoả mãn nhu cầu của người nông dân. Vùng ven phá đang bị lấn chiếm bởi những ao nuôi được xây dựng trong vùng hạ triều, và điều này có thể dẫn đến thất bại và làm mặn hoá đất nuôi trồng thuỷ sản. Rõ ràng hiện nay đầm phá đã đạt đến mức tối đa khả năng chịu tải đối với chất thải, đặc biệt là trong mùa khô. Tình thế hiện nay đòi hỏi phải có sự giảm thiểu các chất thải và làm giảm nhẹ những ảnh hưởng. Việc mở rộng khu vực nuôi trồng thuỷ sản trong tương lai phải được xem xét kỹ nhằm không gây thêm áp lực lên hệ thống đầm phá. Những người sản xuất nhỏ và nghèo ở Huế gặp phải vấn đề trong việc tìm kiếm thị trường thay vì bán cho tư thương, do các nước xuất khẩu đòi hỏi ngày càng cao về nguồn gốc hàng hoá và các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm. Do đó cần có kế hoạch xác nhận hiệu quả chi phí sản xuất. Đánh bắt thuỷ hải sản Các cộng đồng đầm phá Huế có truyền thống lâu đời trong hoạt động đánh bắt thuỷ hải sản, là một trong những sinh kế quan trọng nhất. Có hơn 30 loại ngư lưới cụ khác nhau hiện đang được sử dụng bao gồm cả những ngư cụ được đặt cố định, chiếm một diện tích lớn trên đầm phá và gây nên những trách chấp về ngư trường khai thác. Sự suy giảm tài nguyên thuỷ sản liên tục và rõ ràng đã được ghi nhận trong vòng những năm gần đây do sự khai thác quá mức và sự xuống cấp của môi trường. Ngư dân sống quanh vùng đầm phá Huế có truyền thống lâu đời về các quy định theo thông lệ và việc liên kết lại cùng nhau theo nhóm. Theo một quy định mới ở cấp tỉnh về quản lý thuỷ sản vùng đầm phá, Sở Thuỷ sản và chính quyền các địa phương trong tỉnh đang thúc đẩy việc hợp pháp hoá các quyền đánh các theo thông lệ thông qua việc thành lập các Hội nghề cá. Đây có thể xem như một động thái khởi đầu quan trọng hướng đến việc sử dụng bền vững các tài nguyên đầm phá dưới một cơ chế đồng quản lý. Cho đến nay, Sở Thuỷ sản đã thành lập được 14 Hội nghề cá cơ sở và 1 Hội nghề cá cấp tỉnh, hiện nay vẫn đang còn trong giai đoạn sơ khai. Nông-lâm nghiệp Nông-lâm nghiệp, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi được xem như là sinh kế bền vững nhất cho các cộng đồng sống quanh đầm phá Huế và cho nền kinh tế của tỉnh. Do vậy cần thiết phải tìm các biện pháp để tối ưu hoá hiệu quả mà ngành này đang đem lại cho nhân dân địa phương. Trong lúc ngành nông nghiệp chủ yếu là một hoạt động tự cung tự cấp, ngành nuôi trồng thuỷ sản được xem như một ngành nghề kinh tế và do vậy nhiều diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển đổi sang mục đích nuôi trồng thuỷ sản. Lúa vẫn là cây lương thực chính mặc dù chi phí sản xuất tăng và giá thị trường thấp. Chất dinh dưỡng, BOD, thuốc trừ sâu thải ra từ hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi cũng là một nguồn gây ô nhiễm nước đầm phá. Do đó cần có các quy định cụ thể và cần phải quản lý tốt các hoạt động nông nghiệp để giảm thiểu các ảnh hưởng xấu đó. Các hệ thống thuỷ lợi cần phải được nâng cấp và việc phòng chống xâm nhập mặn cần phải được tăng cường. Hoạt động lâm nghiệp còn hạn chế ở một số vùng cụ thể đặc biệt là ở vùng thấp trũng của đầm phá ở huyện Phú Lộc. Các đề xuất chủ yếu nhằm nâng cao sinh kế cho các cộng đồng và quản lý đầm phá Các đề xuất mang tính chất xuyên suốt Xác định các nhu cầu tín dụng và xây dựng các chương trình tích luỹ tiết kiệm và tín dụng quy mô nhỏ, và các nguồn vốn xoay vòng thông qua Hội Phụ nữ nhằm đáp ứng các nhu cầu đầu tư của người nông dân; tổ chức các khoá tập huấn cho nông dân, đặc biệt là phụ nữ, về vấn đề lập kế hoạch kinh tế và kinh doanh; tập huấn cho Hội Phụ nữ nhằm nâng cao khả năng quản lý tài chính về tích luỹ và tín dụng; Xác định và đẩy mạnh các sinh kế chuyển đổi trong phạm vi ngành thuỷ sản: chế biến sản phẩm sau thu hoạch; dịch vụ (sửa chữa thuyền, đan lưới), sản xuất vôi và nước đá; 7
  9. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Hỗ trợ các nghề khác ngoài ngành thuỷ sản: thợ mộc, xây dựng, sửa chữa máy móc cơ khí, điêu khắc đá; đẩy mạnh nghề thủ công mỹ nghệ; du lịch sinh thái; Xác định các cơ chế phù hợp nhằm nâng cao vai trò tham gia của phụ nữ trong các hoạt động dự án và tập huấn (đặc biệt liên quan đến tài chính và kinh tế), tuỳ theo công việc thường ngày trong gia đình của họ; Nâng cao năng lực và các kỹ năng của chính quyền địa phương thông qua tập huấn hướng đến các sinh kế của cộng đồng; Hỗ trợ các cơ quan nhà nước để tiếp cận phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân; Hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong việc phát triển các kế hoạch sử dụng đất và đầm phá tổng hợp đa ngành, và nuôi trồng thuỷ sản trong một khuôn khổ quản lý tổng hợp vùng ven bờ; Tiến hành các nghiên cứu nhằm tìm hiểu loại hình và tần suất các cơn lũ cũng như bản chất của nó, và xác định các biện pháp phòng chống thiên tai phù hợp; làm thí điểm tại một số nơi; Phát triển và tăng cường cơ sở hạ tầng chủ yếu tại các vùng nông thôn: đường sá, hệ thống thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, và hệ thống đê phòng lũ và ngăn mặn. Nâng cao việc lập quy hoạch cho các vùng nuôi trồng thuỷ sản dựa trên năng lực chịu tải, EIA và các vùng nuôi trồng thuỷ sản an toàn; Giảm bớt việc thải các dưỡng chất, thuốc bảo vệ thực vật, và rác thải công nghiệp từ lưu vực; Chất thải từ các ao nuôi trồng thuỷ sản phải được xử lý trước khi nó được thải ra đầm phá; Xem xét việc giới thiệu nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền - các khoản thuế áp dụng cho người gây ra ô nhiễm; Tăng cường lưu lượng nước đầm phá nhằm nâng cao chất lượng nước bằng cách tạo những hành lang thông thoáng giữa các khu vực nuôi chắn sáo, nò sáo; Chấm dứt việc lấn chiếm đầm phá để xây dựng ao nuôi trong vùng triều và vùng đầm phá, và phục hồi lại các môi trường sinh sống của động thực vât; Tăng cường khả năng tiếp cận đến thông tin về thị trường nội địa và quốc tế, và xác định các thị trường có thể lựa chọn. Giúp đỡ các cộng đồng xây dựng những mối liên hệ thương mại với những thị trường này, hướng dẫn họ từng bước trong quá trình này; quảng bá các sản phẩm chất lượng cao (v.d sản phẩm thuỷ sản đã chế biến; nếp và gạo được trồng trong vùng nước lợ); Xây dựng các quy định và hướng dẫn thông qua quá trình có sự tham gia hướng đến các vùng Nuôi trồng Thuỷ sản An toàn, kết nối với Quy định thực hiện Nuôi trồng có Trách nhiệm (COP/CoC), các Biện pháp Thực hiện tốt Nuôi trồng Thuỷ sản (GAP), và các Biện pháp Quản lý Tốt nhất (BMP); Phát triển các kế hoạch cấp chứng nhận an toàn thực phẩm mà người nghèo có thể tiếp cận; Phát triển các dịch vụ khuyến ngư của nhà nước và tư nhân và đẩy mạnh việc điều phối giữa các cơ quan liên quan đến hoạt động khuyến ngư (chính quyền, tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học, các dự án); khuyến khích hình thức tập huấn khuyến ngư giữa nông dân và nông dân; Xác định các nhu cầu tập huấn và tập huấn kỹ thuật cho nông dân trong nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản và nông-lâm kết hợp. Tập huấn phải bao gồm phương diện kỹ thuật và kinh tế và phải phù hợp với từng bối cảnh và đặc điểm kinh tế cụ thể; Hỗ trợ Sở Thuỷ sản thực hiện chiến lược củng cố các Chi hội nghề cá hiện nay và hỗ trợ việc thiết lập các chi hội mới thông qua việc đánh giá xác định nhu cầu; Xác định và hỗ trợ các cơ chế đảm bảo tính bền vững về tài chính và dòng thông tin đến các nông dân và các hội đoàn, v.d OASIS; Nuôi trồng thuỷ sản 8
  10. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Xác định và xúc tiến các mô hình nuôi trồng thuỷ sản và các loài nuôi thích hợp đòi hỏi ít chi phí đầu tư nhằm giảm bớt rủi ro; Chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản đối với các loài thích hợp từ các Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản Trung ương và các trường Đại học cho Huế, đặc biệt là các loài lớp dưới trong chuỗi thức ăn v.d bào ngư và hải sâm (RIA-3); ốc babylonia (RIA-3) và tôm nước ngọt cỡ lớn (Macrobrachium rosembergii) (Đại học Cần Thơ) đem vào nuôi trong các ruộng lúa nước; Nâng cao năng lực của chính quyền và các trại giống tư nhân để sản xuất tôm giống với số lượng lớn hơn và chất lượng tốt hơn trong mối liên hệ với các chương trình của Trung tâm Giống Quốc gia; phát triển các trại giống địa phương cung cấp các loài nuôi nước ngọt; Nâng cao năng lực và hiệu quả thực hiện kiểm tra PCR đối với tôm giống; Nâng cao nhận thức về BMP và GAP của NACA, và phát triển các tài liệu BMP Huế để phục vụ tốt nhất nhu cầu của nông dân; Đánh bắt thuỷ sản Xác định khả năng chịu tải của đánh bắt đầm phá thông qua nghiên cứu thích hợp; Hỗ trợ Sở Thuỷ sản trong việc quản lý các nò sáo và quy định mới về kích thước mắc lưới Hỗ trợ Sở Thuỷ sản, các Hội nghề cá được thí điểm và các nhóm ngư dân để phát triển một quá trình có sự tham gia của người dân đối với việc tái phân bổ các quyền đánh cá lên các ngư trường hiện nay và thực hiện nó, đưa vào xem xét khả năng chịu tải của đánh bắt đầm phá; Tham gia kết hợp các Hội nghề cá và Sở Thuỷ sản với các thử nghiệm ban đầu đối với việc sử dụng nò sáo và lưới đáy với kích thước mắt lưới khác nhau để kiểm tra hệ thống thuỷ sản; Xúc tiến các hoạt động nâng cao nhận thức về các chi hội nghề cá thông qua việc phân vùng các thuỷ đạo, nò sáo và các vùng nuôi trồng thuỷ cùng với các cộng đồng ngư dân; Nuôi trồng thuỷ sản Ở những nơi có chất đất phù hợp, xúc tiến IPM và mô hình lúa-cá kết hợp; Đưa vào áp dụng trồng các giống lúa địa phương phù hợp cho những vùng bị nhiễm mặn; Cung cấp con giống chăn nuôi có chất lượng cao, sạch bệnh, và năng suất cao (đặc biệt là lợn); 9
  11. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 2. Bối cảnh chung của đầm phá Huế Các đặc điểm địa lý Tỉnh Thừa Thiên Huế (TT Huế) nằm ở miền Trung Việt Nam, trải dài trên 128 km và 60 km chiều rộng (Hình 2.1). Nó giáp với tỉnh Quảng Trị ở phía Bắc, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam ở phía Nam, nước CHDCND Lào ở phía Tây, và biển Đông ở phía Đông. Vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế chiếm 34% tổng diện tích toàn tỉnh và khoảng chừng 81% dân số. Vùng ven bờ có 5 cửa biển: Thuận An, Tư Hiền, Cảnh Dương và Lăng Cô. Thành phố Huế là thủ phủ của tỉnh, và trước đây từng là cố đô của chế độ phong kiến Việt Nam dưới thời Pháp thuộc từ 1883 đến 1945. Tổng diện tích của tỉnh là 5,055 km2 , 1,5 % trong số đó là đất của nhà nước. Toàn tỉnh bao gồm 8 huyện và 1 thành phố (Huế) với 150 phường xã. Theo số liệu năm 2004, toàn tỉnh có 1.119.800 người với mật độ dân số 222 người/km2 (GSO, 2006). Địa hình tỉnh Thừa Thiên Huế rất đa dạng, bao gồm rừng, núi, đồi, đồng bằng ven biển, đầm phá, và bờ biển. Cao độ của địa hình giảm dần từ Tây sang Đông: Đồi núi ở phía Tây chiếm 70% diện tích tự nhiên và trải dài đến các lưu vực sông Hương, Bồ, Truồi, A-sap, và Ô Lâu, tạo nên các đồng bằng hẹp ven biển và hệ thống đầm phá Tam Giang-Cầu Hai.Các lưu vực của 5 con sông chính bao gồm một hệ thống quanh co các dòng suối và núi, tạo nên một nguồn nước ngọt dồi dào và một hệ sinh thái ven biển đặc trưng. Hệ thống đầm phá Tam Giang-Cầu Hai ở Hình. 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế (Nguồn: Nguyen và De Vries, 2004). Việt Nam lớn nhất Đông Nam Á và chiếm một diện tích 22.000 ha. Vùng đầm phá là một sự kết hợp kéo dài của của các lưu vực đầm phá được kết nối theo một tuyến chạy song song đến bờ biển. Từ hướng Tây Bắc sang Đông Nam, các lưu vực đó là Tam Giang, Thanh Lam (Sam, An Truyền), Hà Trung, Thuỷ Tú, và Cầu Hai. Đầm phá có thể chia thành 4 hình thái chính: khu vực nước, các cửa trong vùng thuỷ triều, một hệ thống nhỏ hơn gồm các dãi cát và đụn cát, và bờ đầm phá nằm trong đất liền. Một đặc điểm nổi bật của đầm phá TT Huế đó là sự pha trộn rõ rệt giữa nước ngọt và nước biển. Điều này tạo nên một vùng 10
  12. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 nước lợ mang tính năng động và năng suất cao. Đọ mặn của đầm phá bị quyết định bởi các điều kiện thời tiết khô hặc ẩm, với các đặc điểm khác biệt rõ rệt như sau: Mùa khô: vùng đầm phá phía Bắc tiếp cận với nước ngọt; ở gần cửa Thuận An độ mặn biến thiên trong khoảng 10 đến 30 ppt; ở đầm Thuỷ Tú giữa Thuận An và Cầu Hai và ở ngay trong đầm Cầu Hai, độ mặn vào mùa khô biến thiên trong khoảng 10 đến 25 ppt. Thêm vào đó, trong suốt mùa khô cột nước bị phân tầng với những khác biệt lên đến 13 ppt giữa nước trên mặt và dưới đáy. Mùa mưa: Độ mặn dưới 6 ppt ở gần Thuận An; ở gần Tư Hiền và đặc biệt là Ô Lâu, Tam Giang và Cầu Hai độ mặn rất thấp và tiếp cận đến mức bằng 0. Năng suất được tạo nên bởi các chất dinh dưỡng được tiếp nhận vào trong hệ thống thông qua các sông và hằng năm đầm phá tích luỹ các chất lắng đọng và vùng đáy đầm phá nâng cao lên ở mức từ 2 đến 3 mm (VEPA-VNICZM, 2004; Nguyen và De Vries, 2004). Độ sâu của đầm phá thay đổi tuỳ vị trí và nằm trong khoảng từ 1 đến 10m. Khung pháp lý và thể chế Ở cấp quốc gia có hệ thống pháp chế phù hợp, ảnh hưởng đến hệ thống đầm phá Thừa Thiên Huế trên nhiều phương diện. Điều này đã được nghiên cứu đầy đủ (IMOLA, 2006f) và bao gồm: (1) Luật về Tài nguyên nước (Số 08/1998/QH10); (2) Luật Thuỷ sản (Số 17/2003/QH 11); (3) Luật Đất đai (Số 13/2003/QH11); (4) Nghị định Chính phủ số 109/2003/ND-CP, cùng với một số Nghị định, Thông tư và các văn bản hướng dẫn khác. Việc định nghĩa rõ ràng về đầm phá và các vùng phụ cận và các ranh giới của chúng là rất cần thiết cho công tác quản lý và cho việc phân định các quyền và nghĩa vụ của các cộng đồng đang sinh sống và sử dụng tài nguyên ở các vùng này. Do vậy cần thiết phải hỗ trợ các cơ quan chính quyền thực thi các trách nhiệm quản lý của mình. Tuy nhiên, hiện nay chưa có định nghĩa nào rõ ràng về các vùng đầm phá. Bảng 3.1 tóm tắt các định nghĩa thông thường nhất thích hợp để xác định các vùng đầm phá. Bảng 2.1: Định nghĩa về vùng đầm phá theo thể chế Việt Nam. Vùng Định nghĩa đầm phá Đất ngập nước nội địa = khu vực ngập trong nước ngọt hoặc nước lợ, bao gồm sông, suối, kênh rạch, mương, diện tích mặt nước đặc dụng, hồ và ao. Nguồn nước = Nơi tích luỹ nước tự nhiên hoặc nhân tạo, có thể được sử dụng hay khai Mặt nước thác, bao gồm sông, hồ, ao. Mặt nước (bên trong) = Nước đang tồn tại trên mặt đất trong lục địa; đất có diện tích mặt nước bên trong. Khu vực giữa phần nước và phần khô của đầm phá, mà trên đó các ao nuôi tôm được xây dựng Diện tích Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm sông, kênh rạch, mương, suối. mặt nước Đất nuôi trồng thuỷ sản = đất nuôi trồng thuỷ sản bao gồm đất phi nông nghiệp với đặc dụng diện tích mặt nước. Đất mặt nước vùng ven bờ. Xét về đất bị ảnh hưởng bởi sự gần gũi về không gian của nó với diện tích mặt nước đầm phá, các loại đất được phân loại như sau: Nhóm đất nông nghiệp: nó bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm ngiệp (sản xuất, phòng hộ, và đặc dụng), đất nuôi trồng thuỷ sản, đất sản xuất muối và các loại đất nông nghiệp khác; Diện tích Nhóm đất phi nông nghiệp: được phân chia thành các nhóm nhỏ hơn (i) đất thổ cư; đất (ii) đất chuyên dụng (đất dành cho việc xây dựng công sở và các mục đích công cộng khác), (iii) đất có sông, arroyos, kênh rạch, suối, và các loại diện tích mặt nước đặc dụng khác; và (iv) các loại đất phi nông nghiệp khác; Nhóm đất chưa sử dụng: bao gồm đất đồng bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, và núi đá không có rừng. Nguồn: IMOLA, 2006f. 11
  13. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Thêm vào đó, nhiều sự chồng chéo theo chiều ngang và dọc đã được xác định về phạm vi chức năng của mỗi cơ quan quản lý nhà nước, quyền hạn và trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý nhà nước về đầm phá và vùng ven bờ nói chung. Điều này có thể gây nên những bất đồng giữa các cơ quan nhà nước trên cùng một vùng quản lý, và có thể không đảm bảo được rằng việc quản lý các chương trình, chính sách và kế hoạch ở mỗi cấp được nhất quán với các vấn đề đó cở những cấp khác trong sự nhất quán về chính sách theo chiều dọc. Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phi tập trung hoá hiện nay về quyền hạn và nhiệm vụ trong hệ thống thiết chế Việt Nam và gây trở ngại cho tiến trình giảm thiểu các bất cập về hành chính (IMOLA, 2006f). Quyền sở hữu và các quyền của người sử dụng trong vùng ven bờ Quyền sở hữu có thể được định nghĩa là những quyền quan hệ đến tài sản như đã nêu trong Điều 173 của Bộ luật Dân sự: “ quyền sở hữu bao gồm các quyền của người chủ sở hữu được sở hữu, sử dụng, và định đoạt tài sản theo các quy định của pháp luật”; theo đó những người sở hữu là những cá nhân hay những chủ thể khác có tất cả 3 quyền nói trên”. Do vậy dường như có thể thấy được rằng toàn bộ vùng đầm phá (diện tích mặt nước, diện tích mặt nước đặc dụng, và diện tích đất) được pháp luật công nhận thuộc sở hữu toàn dân và do đó Nhà nước thực hiện toàn bộ các quyền sở hữu (IMOLA, 2006f). Các đặc điểm chính về quyền lợi xét đến tài sản thuộc sở hữu toàn dân đối với 3 khu vực đầm phá được xác định đó là: Các quyền đối với diện tích mặt nước. Vùng diện tích mặt nước đầm phá được xem như nằm trong một cơ chế tiếp cận mở. Điều này có nghĩa là mọi người (tạo nên Toàn Dân) đều có quyền tiếp cận, quyền sử dụng, và quyền khai thác diện tích mặt nước nhưng không ai có quyền sở hữu hay định đoạt nó; Các quyền đối với diện tích mặt nước đặc dụng. Được quy định như đất phi nông nghiệp; Các quyền trên diện tích đất. Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho những người sử dụng dưới hình thức giao đất, cho thuê đất, và công nhận các quyền sử dụng đất cho những người sử dụng đất lâu dài; đồng thời Nhà nước còn quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Điều này được làm rõ như sau. Các hoạt động thuỷ sản được quy định trên đầm phá Bộ Thuỷ sản là cơ quan Nhà nước thực thi quyền quản lý nhà nước về thuỷ sản, bao gồm nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản, chế biến, bảo vệ và phát triển các tài nguyên thuỷ sản trong đất liền và trên biển trên toàn quốc và quản lý các dịch vụ công. Luật Thuỷ sản mới ngày 1/7/2004 cung cấp khung thể chế quốc gia về các hoạt động thuỷ sản được thực hiện bởi các tổ chức, hộ gia đình, và các nhân. Nó còn có các điều khoản quy định cụ thể, qua đó trao quyền cho Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh được quyền (a) ban hành các quy định về ngư trường trên sông, hồ, đầm phá và các vùng nước tự nhiên trong phạm vi quản lý của mình theo sự hướng dẫn của Bộ thuỷ sản; (b) Lập các kế hoạch cấp tỉnh về phát triển nuôi trồng thuỷ sản, và các khu vực nuôi trồng thủy sản dựa trên quy hoạch tổng thể quốc gia được Chính phủ phê chuẩn. Ở tỉnh TT Huế, quy định về vấn đề quản lý tài nguyên của hệ thống đầm phá bao gồm 3 Quyết định của UBND tỉnh TT Huế vào năm 2004 và 2005: Quyết định số 3677/2004/QĐ-UB: Phê duyệt Quy hoạch tổng thể về vấn đề quản lý và khai thác tài nguyên thuỷ sản trên hệ thống đầm phá tỉnh TT Huế đến năm 2010; Quyết định số 4260/2005/QĐ-UBND: Ban hành các quy định về quản lý hoạt động thuỷ sản vùng đầm phá TT Huế; Quyết định số 3014/2005/QĐ-UBND: Quy định về quản lý môi trường của các vùng nuôi tôm an toàn tỉnh TT Huế. 12
  14. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Thảo luận sau đây sẽ đề cập đến các quy định đó và điều này cần thiết phải đề cập ở đây rằng 3 văn bản quy phạm pháp luật nói trên có thể được xem xét trước tiên trong quản lý thuỷ sản ở Việt Nam tương ứng với chính sách của Bộ Thuỷ sản. Ở đây người ta giới thiệu và nắm bắt các khái niệm và nguyên tắc chính như đồng quản lý, quản lý dựa vào cộng đồng, vùng nuôi trồng thuỷ sản an toàn, giấy phép nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, và xúc tiến thành lập các chi hội nghề cá như là một chiến lược quản lý trọng tâm. Các vùng đầm phá: Một số định nghĩa Định nghĩa về các phần khác nhau của đầm phá là một yếu tố chủ yếu để phục vụ cho việc thảo luận về pháp lý liên quan đến các quyền của người sử dụng và vấn đề phân bố tài nguyên. Quyết định số 3014/QD-UBND đưa ra các định nghĩa sau: Vùng nuôi tôm hạ triều. Vùng ngập trong nước, thường xuyên hoặc tạm thời, nằm dọc theo bờ đầm phá mà ở đó ao nuôi không thể phơi khô để tiến hành các thủ tục kỹ thuật của hoạt động nuôi tôm thâm canh hay quảng canh. Thông thường, vùng nuôi tôm hạ triều là vùng diện tích mặt nước đầm phá nằm ngoài vùng đập ngăn mặn hoặc ngoài các cánh đồng trên bờ đầm phá. Theo IMOLA (2006f), vùng này bao gồm cả (a) diện tích mặt nước và (b) diện tích mặt nước đặc dụng và được gọi là vùng nằm trong chế độ thuỷ triều trong báo cáo này. Vùng nuôi tôm cao triều. Khu vực không bị ngập nằm trên vùng bờ đầm phá, ở đó ao nuôi có thể phơi khô để tiến hành các thủ tục kỹ thuật cho hoạt động nuôi tôm thâm canh hay quảng canh. Thông thường, vùng nuôi tôm cao triều là vùng nằm trên bờ đầm phá bên trong đập ngăn mặn, hoặc vùng nằm trên các đụn cát đầm phá, hoặc vùng bờ đất cát. Các tổ chức, chính sách, và các chiến lược tương ứng với cộng đồng Có nhiều tổ chức đóng vai trò quản lý đầm phá Huế và trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng lên các cộng đồng đầm phá. Các tổ chức đó bao gồm: các cơ quan nhà nước các cấp, các tổ chức quần chúng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi chính phủ, các dự án phát triển quốc tế, các trường đại học, thành phần kinh tế tư nhân, và các tổ chức xã hội chuyên nghiệp. Một mô tả khái quát về một số trong các tổ chức này được nêu tiếp theo đây, và các chi tiết khác có thể thấy trong báo cáo này. Chính quyền. Hai bộ phận chính tham gia vào chính quyền cấp tỉnh là Hội đồng Nhân dân (PCs) và Uỷ ban Nhân dân (PPCs). Hội đồng Nhân dân là các cơ quan dân cử ở cấp tỉnh, huyện, và xã, trong lúc đó UBND là cơ quan hành pháp của chính quyền ở cấp tỉnh, huyện, và xã. Uỷ ban Nhân dân tỉnh. UBND tỉnh là cơ quan hành pháp, thực thi các luật lệ, quy định được ban hành bởi các cơ quan nhà nước cấp cao hơn và nghị quyết của HĐND. Các trách nhiệm của nó được giao phó bởi HĐND, và chịu sự lãnh đạo của Chính phủ. Uỷ ban Nhân dân tỉnh là cơ quan hành pháp đứng đầu ở mỗi tỉnh, với 2 vai trò chính. Thứ nhất, nó thực hiện các nghị quyết và báo cáo kết quả thực hiện cho HĐND và chính quyền. Thứ hai, là một cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh, UBND chịu sự lãnh đạo của Chính phủ-là cơ quan hành pháp cao nhất. Mỗi UBND cấp tỉnh được hỗ trợ bởi các sở ban ngành giúp việc, nhưng các cơ quan này cũng đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của các bộ chủ quản của nó (ADB-MPI, 2005). Hội đồng Nhân dân. HĐND ở cấp tỉnh, huyện, xã được cử tri bầu theo nhiệm kỳ 5 năm. Số lượng đại biểu tuỳ thuộc vào số dân, và cơ cấu của nó đại diện cho các ngành nghề và thành phần trong cộng đồng, nghĩa là phụ nữ, nông dân, ngư dân, thanh niên... Chức năng chính của nó là ra các quyết định nhằm huy động các nguồn lực và tài nguyên của vùng. Nó có trách nhiệm phê chuẩn các quyết định của UBND tỉnh và giám sát việc thực hiện (ADB-MPI, 2005). Sở Kế hoạch và Đầu tư. Sở KHĐT (DPI) ở mỗi tỉnh giúp việc cho UBND tỉnh trong quản lý nhà nước về đầu tư. Nói có trách nhiệm lập các kế hoạch phát triển KTXH của tỉnh, đề xuất các chính sách và phương thức thu hút đầu tư, quản lý đầu tư trong và ngoài nước trên địa bàn 13
  15. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 tỉnh, và hoạt động như một tâm điểm thực hiện các chức năng được giao. Sở KHĐT chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh và sự chỉ đạo theo ngành dọc của Bộ KHĐT (ADB- MPI, 2005). Sở Tài nguyên và Môi trường. Các chức năng của Sở TNMT (DONRE) đang được xác định, nhưng sẽ mở rộng các chức năng của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường (DOST) trước đây để bao hàm các lĩnh vực như quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, quản lý và bảo vệ môi trường vùng ven bờ (ADB-MPI, 2005). Sở Lao động, Thương binh, và Xã hội. Sở LĐTBXH (DOLISA) chịu trách nhiệm quản lý về lao động, thương binh, và các vấn đề xã hội trên địa bàn tỉnh. Sở LĐTBXH hoạt động dưới sự chỉ đạo và quản lý của UBND tỉnh và dưới sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ chủ quản của nó, Bộ LĐTBXH. Sở LĐTBXH đóng một vai trò quan trọng trong các hoạt động bản trợ xã hội, đặc biệt là cho các cộng đồng nghèo vùng ven bờ. (ADB-MPI, 2005). Sở Du lịch. Sở Du lịch (DOT), được quản lý bởi UBND tỉnh, giúp việc cho UBND tỉnh về phát triển du lịch ở cấp tỉnh (ADB-MPI, 2005). Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Sở NNPTNT (DARD) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, các nông trường, và các cơ quan phát triển nông thôn. Nó nằm dưới sự quản lý của UBND tỉnh và sự chỉ đạo về chuyên môn của Bộ NNPTNT. Ở hầu hết các tỉnh đều có các phòng, chi cục, và trung tâm, ví dụ như chi cục bảo vệ thực vật, chi cục thú y, chi cục khuyến nông khuyến lâm, trung tâm giống cây trồng, chi cục thuỷ lợi và quản lý đê điều, ban quản lý các dự án phát triển nông thôn. Ngoài ra nó còn quản lý một số nông lâm trường quốc doanh (ADB-MPI, 2005). Sở Thuỷ sản. Sở Thuỷ sản (DOFI) là một cơ quan quản lý ngành thuỷ sản ở các tỉnh ven biển. Sở TS chịu sự quản lý hành chính của UBND tỉnh và sự chỉ đạo kỹ thuật của Bộ TS. Mỗi văn phòng Sở Thuỷ sản thường có từ 15-25 nhân viên trong biên chế, tuỳ thuộc vào vai trò và giá trị thủy sản của tỉnh. Sở TS còn quản lý Trung tâm Khuyến ngư và Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản. Sở Thuỷ sản có trách nhiệm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động khuyến ngư, mà hiện nay đang là một hoạt động được đa dạng hoá. Các trách nhiệm của Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản gồm (i) đăng ký tàu thuyền đánh cá, kích thước lớn và nhỏ; (ii) quản lý phòng ngừa dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt trong mối quan hệ với việc sản xuất và cung ứng các giống; và (iii) cấp giấy phép đánh cá tại các khu vực cụ thể (ADB-MPI, 2005). Sở TS và Chi cục Khuyến ngư đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng thuỷ sản bằng việc chuyển giao công nghệ, tiến hành tập huấn, thiết kế và xây dựng các mô hình thí điểm về nuôi trồng thuỷ sản, và tư vấn về phòng chống bệnh tôm cá và các vấn đề về quản lý. Các chính quyền cấp huyện. Mỗi huyện được chia thành một số xã, thường từ 15 đến 20, với dân số trung bình khoảng 5.000. Do vậy mỗi huyện chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ và hạ tầng cho một dân số từ 80.000 đến 100.000 dân. Huyện là cấp chính quyền cơ bản quản lý về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản (ADB-MPI, 2005). Uỷ ban Nhân dân xã. Các trách nhiệm của UBND cấp xã cũng tương tự như của UBND tỉnh và huyện. Các chức năng kinh tế chính bao gồm: (i) Phát triển các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm, (ii) Quản lý ngân sách địa phương, (iii) Kế hoạch phát triển lâu dài bao gồm sử dụng đất và quy hoạch phân vùng, (iv) Khuyến khích người dân trong các hoạt động kinh tế sản xuất, (v) Thúc đẩy việc thành lập và phát triển của các hợp tác xã và các nhóm/tổ chức tập thể, (vi) Quản lý và bảo vệ các tài nguyên nước, thuỷ lợi và các cơ sở hạ tầng khác, (vii) Theo dõi và bảo vệ hệ thống đê điều, rừng, (viii) Khắc phục hậu quả thiên tai; và (ix) Thúc đẩy tích luỹ, chống tham nhũng, và các chính sách hoạt động kinh doanh lành mạnh (ADB-MPI, 2005). Có thể nói UBND xã là tổ chức rất quan trọng trực tiếp tác động đến các sinh kế của cộng đồng. Ngoài ra, UBND xã đóng vai trò thiết yếu tạo điều kiện để nông dân được vay vốn ngân hàng, và giải quyết các tranh chấp giữa các cộng đồng. 14
  16. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Quản lý hành chính ở thôn/xóm. Mỗi xã bao gồm một số thôn, thường từ 5 đến 10. Không có cơ cấu hành chính chính thức ở cấp thôn, dù mỗi thôn đều có một trưởng thôn do dân bầu và một người giúp việc. Họ không nhận lương từ ngân sách nhà nước mà chỉ nhận được khoản trợ cấp nhỏ từ thôn. Trưởng thôn đóng vai trò như một đại biểu của thôn tham dự họp với lãnh đạo xã khi đề đạt nguyện vọng liên quan đến các vấn đề phát triển thôn xóm. Trưởng thôn còn đóng vai trò là người trung gian giữa lãnh đạo xã và người dân. Họ thu thập ý kiến của người dân trong thôn và ra quyết định về những vấn đề của thôn. Trong các cộng đồng dân tộc thiểu số, trưởng thôn/bảng thường là một người cao tuổi được cả cộng đồng kính trọng. Trưởng thôn đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chương trình phát triển của địa phương mình. (ADB-MPI, 2005). Các cơ quan chính quyền khác. Ban Quản lý các Dự án Sông Hương nằm dưới sự quản lý của UBND tỉnh và đóng vai trò cố vấn cho UBND tỉnh về các dự án nằm trên lưu vực sông và vùng đầm phá. Thêm vào đó, cơ quan này tổ chức các hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế liên quan đến bảo tồn, phục hồi, và phát triển của cả lưu vực sông và vùng đầm phá. Các tổ chức phi chính phủ. Ở Huế có nhiều tổ chức PCP đang hoạt động và thực hiện các dự án phát triển, chủ yếu ở cấp cơ sở. Các hoạt động thường bao gồm xây dựng các chương trình tích luỹ và tín dụng nhỏ với Hội Phụ nữ và giới thiệu các hoạt động tạo thu nhập, ví dụ như tổ chức Bắc Âu trợ giúp Việt Nam (NAV) và chương trình Phát triển Nông thôn Thừa Thiên Huế (TTHRDP). Các tổ chức tín dụng. Các tổ chức tín dụng chính thức, nửa chính thức và không chính thức đóng vai trò quan trọng trong các cộng đồng luôn có nhu cầu về vốn. Phụ lục 7.2A nêu các tổ chức tín dụng chính. Khu vực kinh tế tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong các cộng đồng và bao gồm các cơ sở giống, đại lý (nhà cung cấp đầu vào), và các hợp tác xã được xác định là các tổ chức kinh tế (IMOLA, 2006f). Ngoài ra, tư thương ở các thôn xóm cũng đóng một vai trò quan trọng đối với các cộng đồng bởi họ cung cấp các trang thiết bị đầu vào phục vụ sản xuất, cho vay vốn với thủ tục đơn giản, và thu mua sản phẩm mà ngư dân sản xuất được. Các tổ chức quần chúng. Các tổ chức này gồm Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc và Đoàn thanh niên. Bên cạnh việc tổ chức các hoạt động xã hội và tuyên truyền thông tin về pháp luật, chính sách của nhà nước, các tổ chức này còn giúp nông dân tiếp cận với tín dụng trực tiếp thông qua các chương trình tín dụng được tài trợ (xem phụ lục 7.2), hay thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam (VBSP). Các tổ chức xã hội-chuyên nghiệp. Đây là các tổ chức chính thức liên kết nông dân cùng làm một nghề, thường là ở cấp thôn xã. Các tổ chức bao gồm chi hội nghề cá và các tổ tự quản. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các cộng đồng cơ sở với các cơ quan chính quyền. Chính sách tái định cư cho dân thuỷ diện Sau năm 1985 và một trận lũ tàn phá nghiêm trọng, đã có nhiều chương trình tái định cư của chính quyền hướng đến việc cấp đất để xây dựng nhà ở (200 m2/ hộ gia đình) và nông nghiệp hoặc diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài ra mỗi hộ còn được hỗ trợ về mặt tài chính với 2,7 triệu đồng để làm nhà, khắc phục hậu quả của lũ lụt trong 6 tháng và mua sắm các tiện nghi tối thiểu trong gia đình (bếp lò, màn tránh muỗi...). Tuỳ theo các tình hình cụ thể của địa phương, tác dụng của mỗi chương trình cũng khác nhau từ xã này đến xã khác. Đã có một số sáng kiến thành công với sự tham gia của toàn cộng đồng ngư dân thuỷ diện này. 15
  17. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Tuy nhiên, ở một số vùng có chương trình tái định cư, các cộng đồng dân thuỷ diện đã định cư được cấp ruộng ở những nơi bị mặn hoá và đất trồng kém phẩm chất. Ở một số vùng khác, họ đang có nhu cầu đất để làm nhà. Trong một số trường hợp, một số gia đình được cấp đất làm nhà cách xa nơi diễn ra hoạt động sinh kế của họ, tức là nghề thuỷ sản đầm phá, và không phải tất cả đều được tập huấn đầy đủ về các sinh kế chuyển đổi, chăn nuôi... Do đó họ đã bỏ nhà và quay trở lại sống trên thuyền để sống nhờ vào các tài nguyên đang trở nên hiếm hoi của đầm phá. Ở Lộc Bình, 60% số hộ tái định cư đã quay trở lại sống trên thuyền khi đã dùng hết lương thực và phương tiện được cung cấp từ các chương trình tái định cư. Mặc dù chính quyền đã có nhiều nỗ lực đối với các chương trình tái định cư, các cộng đồng dân thuỷ diện vẫn gặp khó khăn để tiếp cận với đất cư trú. Có nhiều cặp vợ chồng trẻ cùng con cái vẫn chưa định cư được trên đất liền. Ở xã Vinh Hưng hiện nay có 60 hộ dân sống trên thuyền với trung bình 7 khẩu trên mỗi hộ, và con số có thể lớn hơn ở các vùng khác. Kinh tế xã hội Thừa Thiên Huế là một trong 4 tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Việt Nam, và là một trung tâm văn hoá, du lịch, giáo dục đào tạo, và y tế. Trong năm 2004, giá trị GDP của tỉnh là 5.842,7 tỉ VND, ngành dịch vụ đóng góp 44%, công nghiệp và xây dựng đóng góp 34%, và nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 23% vào tổng GDP. GDP bình quân đầu người hằng năm là 580 USD và tỉ lệ tăng GDP cả năm đạt 9,5%. Trong năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 40 triệu USD, trong đó giá trị của ngành thuỷ sản đóng góp là 6 triệu USD (chiếm 15%). Các hoạt động sinh kế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Tỉnh được xếp thứ 39 trong tổng số 64 tỉnh thành trong cả nước về sản xuất lúa gạo, và một phần lớn diện tích đất của tỉnh được dành cho việc trồng lúa, sản xuất được 246.100 tấn gạo mỗi năm (ADB-MPI, 2005). Ngành thủy sản phát triển tốt đặc biệt ở vùng đầm phá Huế, bao gồm đánh bắt (biển và nội địa), và nuôi trồng thuỷ sản. Việc phát triển du lịch đã tạo thêm hàng nghìn việc làm và một cách gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của vận tải, thương mại, công nghiệp và các dịch vụ khác (PPC TT Hue, 2005a). Tỉ lệ thất nghiệp khá cao, đặc biệt ở nhóm thanh niên. Năng suất lao động thấp, ở mức khoảng 67,5% so với mức trung bình toàn quốc. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006- 2010 ghi nhận vấn đề thất nghiệp và đặt ra chỉ tiêu tạo công ăn việc làm thông qua việc tăng tỉ lệ lao động được đào tạo lên 40% mỗi năm. Thêm vào đó, cơ cấu sản xuất cũng được thay đổi, và công nghiệp, du lịch, dịch vụ sẽ là động lực chính để phát triển kinh tế xã hội (Bảng 2.2). Chính quyền tỉnh cũng có kế hoạch phân bố lại lao động để thích ứng với sản xuất đặc biệt là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống cho thanh niên. Đáng lưu ý rằng tỉnh cũng chú trọng đến vấn đề xuất khẩu lao động như là một giải pháp cho nạn thất nghiệp với việc khuyến khích 1.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài (PPC Hue, 2005a), điều này phù hợp với các đề xuất của Liên Hiệp Quốc (UN Agencies in Viet Nam, 2003). Bảng 2.2: Các mục tiêu được chọn từ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2000-2010 ở tỉnh Thừa Thiên Huế Chỉ tiêu Giai đoạn Mục tiêu về kinh tế 2000-2005 2006-2010 Tỉ lệ tăng GDP/ năm 9.5% 11.2-12.0% Xây dựng và công nghiệp 16,3% (30.9-36.0% của GDP) 15,5-16,0% (42% của GDP) Dịch vụ 8,2% (43.0-44.0% của GDP) 9,0% (43,0-43,5% của GDP) Nông lâm thuỷ sản 8,4% (24.1-20.4% của GDP) 5,6% (14,5-15,0% của GDP) + 19,0%/ năm - tổng số Doanh thu hằng năm từ du lịch +20%/ năm 800 tỉ VND Số lượng khách du lịch hằng năm + 13,4%/ năm 2,0-2,5 triệu Mục tiêu về xã hội 16
  18. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 Chỉ tiêu Giai đoạn Mục tiêu về kinh tế 2000-2005 2006-2010 Tỉ lệ đô thị hoá không có thông tin 40% Tỉ lệ tăng dân số hằng năm 1,3% 1,1-1,2% Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuối bị suy dinh - xuống còn 20% dưỡng xuống còn 8% (-14,5% tổng Hộ nghèo xuống mức 3% số) Nguồn: TT Hue SEDP 2006-2010 (TT Hue PPC, 2005). Trong 5 năm trở lại đây, chính quyền đã có những nổ lực lớn nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Vùng thấp, vùng ven biển, và vùng đầm phá đã có những bước phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản về phương diện mở rộng cơ sở hạ tầng cơ bản, ví dụ việc xây mới các cầu Trường Hà, Hoà Xuân, Quảng Phú, và Tư Hiền và các tuyến đường ven biển ở Cảnh Dương và Lăng Cô (PPC TT Hue, 2005a). Những bước tiến này đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển thương mại và du lịch trong vùng. Đần tư từ bên trong, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, vẫn còn hạn chế. Khu vực kinh tế tư nhân ở Huế đang hoạt động tốt, được khuyến khích bởi các chính sách ưu đãi. Hiện nay toàn tỉnh có 1.280 doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh, trong đó có 850 doanh nghiệp tư nhân, 334 công ty trách nhiệm hữu hạn, và 95 công ty được tư nhân hoá (PPC TT Hue, 2005a). Nghèo đói. Khoảng cách nghèo đói giữa các huyện không lớn, A Lưới là huyện nghèo nhất (có 12% số hộ ) so với con số tương đối khá hơn của thành phố Huế (7.5% số hộ) như trong bảng 2.3. Có những xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn nơi đất kém màu mỡ và thiếu điều kiện thuỷ lợi, ở các vùng đầm phá và đồi núi, và những nơi này được hưởng lợi từ các chương trình xoá đói giảm nghèo của nhà nước, ví dụ chương trình 1351. Các chương trình xoá đói giảm nghèo là phổ biến và có hiệu quả, cho dù tính bền vững là một vấn đề còn phải bàn, do chúng được thúc đẩy nhờ dự án. Trong năm 2005 tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng vẫn còn 23% (PPC TT Hue, 2005). Bảng 2.3: Dữ liệu điều tra dân số và nghèo đói ở Thừa Thiên Huế Tỉ lệ % số hộ Các huyện / thành phố Số xã Dân số Số xã nghèo Số hộ nghèo Số hộ nghèo Thành phố Huế 5 316.798 60.920 4.553 7,5 Huyện Phong Điền 15 105.685 3** 17.435 1.656 9,5 Huyện Quảng Điền 10 92.228 3** 15.131 1.437 10,5 Huyện Hương Trà 15 116.066 2** 19.003 1.805 10,2 Huyện Phú Vang 19 180.058 8** 28.677 2.752 9,6 Huyện Hương Thuỷ 11 92.910 16.300 1.564 9,6 Huyện Phú Lộc 16 149.875 5** 26.458 2.539 9,6 Huyện A Lưới 20 38.287 5.890 706 12,0 Huyện Nam Đông 10 22.107 3.565 392 11,0 Tổng cộng 121 1.114.014 193.379 17.404 9,0 ** Các xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 106/QD-TTg ngày 11/6/2004. Nguồn: Văn kiện dự án FSPS, 2005 (đã sửa đổi). Nghèo đói là một vấn đề đa diện, có thể được tóm gọn lại như là “một sự kết hợp các hoàn cảnh làm hạn chế các cơ hội sinh kế”. Bộ Lao động, Thương Binh, Xã hội (MOLISA) định nghĩa 1 Chương trình 135 nhằm mục tiêu (i) giảm tỉ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn và (ii) cung cấp nước sạch, đưa hơn 70% ở độ tuổi đi học đến trường, tập huấn về sản xuất cho người nghèo, phòng chống bệnh nguy hiểm và các bệnh xã hội, và nâng cấp các tuyến đường liên xã và chợ. 17
  19. IMOLA Project GCP/VIE/029/ITA Báo cáo kinh tế-xã hội vùng đầm phá Huế - Phần 1 nghèo đói trong giai đoạn 2000-2005 là có thu nhập dưới 80.000 VND/tháng ở các vùng nông thôn. Kể từ tháng 7/2005, chuẩn nghèo đói mới là thu nhập dưới 200.000 VND/tháng ở các vùng nông thôn (2,4 triệu VND/người/năm). Bằng những tiêu chí này, tỉnh đã đạt được tỉ lệ giảm nghèo đáng kể trong vòng 10 năm qua, từ 25% năm 1995 xuống còn 8-9% năm 2005 (Kế hoạch PT KTXH 2006-2010). Nguồn vốn tự nhiên Các sinh kế và khả năng dễ bị tổn thương. Khoảng chừng 300.000 dân thuộc 32 xã ở 5 huyện vùng đầm phá tại 236 thôn (bảng 2.4 và phụ lục 7.1) sinh sống bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp khai thác các tài nguyên thiên nhiên quanh vùng đầm phá (Nguyen và De Vries, 2004). Các sinh kế của hầu hết dân nghèo ở các nước đang phát triển rất đa dạng và phức tạp và thường hay dựa vào nhóm danh mục các hoạt động (Chambers, 1997). Ở Huế, các cộng đồng đầm phá nhìn chung dựa vào 3 hoạt động tạo thu nhập chính: đánh bắt thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản và nông nghiệp, bao gồm cả lâm nghiệp và chăn nuôi. Các nghề bổ trợ khác bao gồm thương mại, công việc theo mùa vụ, xây dựng và dịch vụ. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng người dân nuôi trồng thuỷ sản như là một hoạt động chính cũng làm nông nghiệp, chăn nuôi, và đánh bắt thuỷ sản, trong lúc nông dân làm ruộng như là hoạt động chính cũng tiến hành chăn nuôi, nhưng nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản rất hạn chế. Ngư dân cũng tham gia nuôi tôm và chăn nuôi nhưng không làm nông nghiệp. Bảng 2.4: Một số đặc điểm về hành chính và dân số của đầm phá Thừa Thiên Huế Số xã đầm phá/tổng số Diện tích các xã đầm Dân số đầm phá/ tổng Huyện xã và thị trấn thuộc phá/ diện tích toàn dân số (%) 2004 huyện (tỉ lệ %) huyện, ha (%) Phong Điền 2 / 16 (13%) 2.660 / 95.400 ha (3%) 10.038 / 105.685 (9%) Quảng Điền 8 / 11 (73%) 12.184 / 16.307 ha (75%) 63.046 / 92.228 (68%) Hương Trà 2 / 16 (13%) 2.596 / 52.089 ha (5%) 19.029 / 116.066 (16%) Phú Vang 13 / 20 (65%) 20.636 / 28.031 ha (74%) 127.970 / 181.149 (71%) Phú Lộc 7 / 18 (39%) 29.062 / 72.809 ha (40%) 61.468 / 149.875 (41%) 67.138 / 264.636 ha Tổng cộng 32 / 81 (40%) 281.551 / 645.003(44%) (25%) Nguồn: số liệu thống kê của huyện Các đặc điểm về địa lý và sinh thái của vùng này đã và đang ảnh hưởng lên sinh kế của cư dân địa phương trong suốt một thời gian dài. Khí hậu quanh vùng đầm phá nóng về mùa khô và ẩm trong mùa đông. Khoảng cách giữa mùa khô và mùa mưa thường rất ngắn và nó ảnh hưởng đến các hoạt động nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Hạn hán thường xảy ra vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 và lụt bão thường xảy ra từ tháng 8 đến tháng 10. Đối với các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản vụ thứ 2 có thời gian rất hạn chế do lũ lụt sau những tháng khô hạn. Điều này không cho phép việc chuẩn bị ao nuôi phù hợp, với những rủi ro kèm theo. Trong mùa lũ, mưa và lũ làm hạn chế giao thông vận tải, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế địa phương. Toàn bộ vùng quanh đầm phá luôn chịu ảnh hưởng của các trận lũ hằng năm và các vùng thấp trũng thường rất dễ bị tổn thương. Vào tháng 11/1999, một trận lũ lịch sử đã phá vỡ vùng bao quanh đầm phá ra đến biển, gây nên thiệt hại về tài sản và sinh mạng của hơn 300 người (VEPA-VNICZM, 2004). Người dân đã nỗ lực để khắc phục hậu quả do họ mất hết mọi thứ - thóc lúa, áo quần, đồ đạc, gia súc... Thêm vào đó, nhiều cầu cống bị gãy sập và nhiều đường giao thông bị phá huỷ. Hiện nay số nhà kiên cố và bán kiên cố đang tăng lên. Sau lũ năm 1999, các khu dân cư đầm phá và ven biển đã xây dựng cho người dân định cư dần hồi phục. 18

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản