Đồ án môn học: "Xác định và hạch toán các khoản dự phòng trong doanh nghiệp"

Chia sẻ: happy25251325

Kinh doanh là hoạt động chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì ta phải dự phòng, hạn chế những rủi ro có thể dự đoán trước. Trong kinh doanh, hoạt động tài chính ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếu, nó vừa hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh vừa góp phần để tạo ra lợi nhuận cho Doanh nghiệp. Hoạt động tài chính các Doanh nghiệp chủ yếu thường là đầu tư vào chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận, tuy nhiên giá...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đồ án môn học: "Xác định và hạch toán các khoản dự phòng trong doanh nghiệp"

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

----- -----



Đồ án môn học

Xác định và hạch toán các khoản dự
phòng trong Doanh nghiệp




1
MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU........................................................................................................... 1
PHẦN I : CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ HẠCH TOÁN CÁC KHOẢN
DỰ PHÒNG TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM ...................................... 2
1. Khái quát chung về các khoản dự phòng.......................................................... 2
1.1. Khái niệm chung về dự phòng......................................................................... 2
1.2. Ý nghĩa của việc lập dự phòng........................................................................ 2
1.3. Thời điểm và nguyên tắc lập dự phòng............................................................2
1.4. Phân loại các khoản dự phòng......................................................................... 3
• Dự phòng giảm giá trong đầu tư tài chính
• Dự phòng phải thu khó đòi
• Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
1.5. Nhiệm vụ hạch toán các khoản dự phòng....................................................... 4
2. Nội dung của các khoản dự phòng.................................................................... 4
2.1. Dự phòng giảm giá chứng khoán trong đầu tư tài chính..................................
4
2.1.1. Khái niệm......................................................................................................... 4
2.1.2. Nguyên tắc kế toán........................................................................................... 5
2.1.3. Phương pháp kế toán....................................................................................... 5
2.2. Dự phòng phải thu khó đòi.............................................................................. 6
2.2.1. Khái niệm......................................................................................................... 6
2.2.2. Đối tượng cần lập dự phòng............................................................................ 7
2.2.3. Xác định mức lập dự phòng phải thu khó đòi cần lập..................................... 7
2.2.4. Kế toán dự phòng phải thu khó đòi................................................................. 8
2.3. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho..................................................................... 9
2.3.1. Khái niệm........................................................................................................ 9
2.3.2. Nguyên tắc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho............................................ 9
2.3.3. Kế toán các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho.......................................
9

PHẦN II: KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG TRONG HỆ THỐNG KẾ
TOÁN PHÁP VÀ MỸ.......................................................................................................... 11
1. Kế toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Pháp............................ 11
1.1. Kế toán dự phòng giảm giá tài sản bất động.................................................... 11
1.2. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho..................................................................... 12
1.3. Kế toán dự phòng giảm giá tài khoản khách hàng .......................................... 12
1.4. Kế toán dự phòng giảm giá chứng khoán........................................................ 14

2. Các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Mỹ............................................. 14
2.1. Kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho........................................................ 14
2.2. Kế toán dự phòng phải thu khó đòi.................................................................. 15
2.3. Kế toán dự phòng giảm giá chứng khoán........................................................ 16

PHẦN III: MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ TRÍCH LẬP CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG
TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM..................................................................17

2
1. Đối tượng lập dự phòng ......................................................................................
17
1.1. Đối với các khoản dự phòng trong đầu tư tài chính.........................................17
1.2. Đối với việc dự phòng giảm giá hàng tồn kho................................................. 17
1.3. Tài sản cố định................................................................................................. 17
2. Kế toán các khoản dự phòng cần lập bổ sung.................................................... 18
2.1. Dự phòng giảm giá các khoản đầu tư góp vốn liên doanh...............................18
2.1.1. Xác định mức dự phòng giảm giá các khoản đầu tư góp vốn liên doanh........ 18
2.1.2. Phương pháp hạch toán.................................................................................... 18
2.2. Kế toán dự phòng giảm giá TSCĐ................................................................... 19
2.2.1. Xác định mức dự phòng giảm giá TSCĐ.........................................................19
2.1.1. Phương pháp hạch toán.................................................................................... 19
KẾT LUẬN................................................................................................................ 20




3
LỜI MỞ ĐẦU

Kinh doanh là hoạt động chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn do nhiều nguyên
nhân khác nhau. Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy
trì ta phải dự phòng, hạn chế những rủi ro có thể dự đoán trước.
Trong kinh doanh, hoạt động tài chính ngày nay đã trở thành một hoạt
động không thể thiếu, nó vừa hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh vừa góp phần để
tạo ra lợi nhuận cho Doanh nghiệp. Hoạt động tài chính các Doanh nghiệp chủ
yếu thường là đầu tư vào chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận, tuy nhiên giá cả
chứng khoán trên thị trường luôn biến động.
Ngoài ra dự trữ hàng hoá của Doanh nghiệp, đặc biệt là Doanh nghiệp
thương mại là lực lượng vật chất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
trong nền kinh tế quốc dân một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ.
Hàng tồn kho, các khoản nợ phải thu là bộ phận tài sản có giá trị lớn tại
doanh nghiệp. Ngoài ra, hoạt động đầu tư vào các loại chứng khoán là hoạt động
đầu tư nhằm khai thác và sử dụng nguồn lực tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp
cũng chứa đựng không ít rủi ro. Xuất phát từ nguyên tắc thận trọng của kế toán,
việc trích lập dự phòng cho các khoản này trong doanh nghiệp là việc rất cần
thiết.
Nhờ việc trích lập dự phòng này doanh nghiệp có thể hạn chế những rủi ro
về mất ổn định nếu hàng tồn kho, các loại chứng khoán doanh nghiệp đã đầu tư
bị giảm giá trên thị trường hoặc có những khoản nợ phải thu khách hàng không
thể thu được.
Xuất phát từ những suy nghĩ đó, em đã chọn đề tài: "Xác định và hạch
toán các khoản dự phòng trong Doanh nghiệp " làm đề án môn học của mình.

Đề tài gồm có 3 phần:
Phần I : Các phương pháp xác định và hạch toán các khoản dự phòng trong
hệ thống kế toán Việt Nam
Phần II : Kế toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Pháp và Mỹ
Phần III : Một số suy nghĩ về trích lập các khoản dự phòng trong hệ thống kế
toán Việt Nam

Mặc dù rất cố gắn, nhưng do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của
bản thân về vấn đề này, nên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong được sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ của các thầy cô để đề tài này
được hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cám ơn cô !




4
PHẦN I : CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ HẠCH
TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG TRONG HỆ THỐNG
KẾ TOÁN VIỆT NAM
1.Khái quát chung về các khoản dự phòng
1.1. Khái niệm chung về dự phòng:
Dự phòng là sự xác nhận về phương diện kế toán một khoản giảm giá trị tài
sản do những nguyên nhân mà hậu quả của chúng cũng không chắc chắn. Như
vậy, dự phòng mới chỉ là việc xác nhận trên phương diện kế toán khoản giảm
giá trị tài sản chứ thực tế chưa xảy ra, bởi vì tài sản này Doanh nghiệp vẫn đang
nắm giữ, đang quản lý chưa chuyển đổi hay nhượng bán.

1.2. Ý nghĩa của việc lập dự phòng:
Các khoản dự phòng có một vai trò quan trọng đối với Doanh nghiệp, vai trò
đó được thể hiện trên các phương diện sau:
- Phương diện kinh tê : nhờ có tài khoản dự phòng mà bảng cân đối kế toán
của Doanh nghiệp phản ánh chính xác hơn giá trị thực tế của tài sản.
Giá trị thực tế tài sản của Doanh nghiệp được xác định như sau :
Giá trị thực tế của = Giá trị ghi sổ của _ Dự phòng giảm giá
Tài sản Tài sản Tài sản đã lập

- Phương diện tài chính: do dự phòng giảm giá có tác dụng làm giảm lợi
nhuận của niên độ nên Doanh nghiệp có được một khoản tích luỹ đáng lẽ đã
được phân chia. Khoản tích luỹ này được sử dụng để bù đắp các khoản giảm giá
tài sản thực sự phát sinh và tài trợ các khoản chi phí hay lỗ đã được dự phòng,
khi các khoản chi phí này thực sự phát sinh ở niên độ sau này.
Thực chất, các khoản dự phòng tài chính của Doanh nghiệp tạm thời nằm
trong các tài sản lưu động trước khi sử dụng thực thụ.
- Phương diện thuế khoá: dự phòng được ghi nhận như một khoản chi phí
hợp lý làm giảm lợi nhuận, phát sinh để tính toán ra số lợi nhuận thực tế.

1.3. Thời điểm lập và nguyên tắc lập:
Thời điểm tiến hành lập dự phòng giảm giá là thời điểm cuối niên độ kế toán,
trước khi lập các Báo cáo tài chính. Trên cơ sở các bằng chứng tin cậy về sự
giảm giá của từng đối tượng cụ thể, kế toán sẽ xác định số dự phòng cần lập cho
niên độ tới với điều kiện số dự phòng không được vượt quá số lợi nhuận thực tế
phát sinh của Doanh nghiệp.
Về nguyên tắc, việc lập dự phòng phải được tiến hành riêng cho từng loại vật
tư, hàng hoá, chứng khoán và từng khoản nợ phải thu khó đòi. Sau đó phải tổng
hợp toàn bộ các khoản dự phòng vào bảng kê chi tiết dự phòng từng loại. Để
thẩm định mức độ giảm giá của các loại vật tư, hàng hoá, chứng khoán và xác
định các khoản nợ phải thu khó đòi Doanh nghiệp phải thành lập Hội đồng các
thành viên bắt buộc là giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng vật tư hoặc
trưởng phòng kinh doanh.
5
1.4. Phân loại các khoản dự phòng:
Theo nội dung kinh tế, các khoản dự phòng được chia làm các loai sau:
• Dự phòng giảm giá trong đầu tư tài chính: gồm giảm giá chứng khoán
ngắn hạn và giảm giá chứng khoán dài hạn.
Dự phòng giảm giá chứng khoán là bộ phận giá trị dự tính bị giảm giá của
chứng khoán đầu tư nhằm ghi nhận các khoản lỗ có thể phát sinh nhưng chưa
chắc chắn. Đồng thời qua đó phản ánh giá trị thực của các khoản đầu tư tài
chính. Giá trị thực của chứng khoán đầu tư là giá trị dự tính có thể chuyển hoá
thành tiền của các loại chứng khoán.
Giá trị thực của = Giá trị thực tế ghi sổ _ Số dự phòng giảm
giá
chứng khoán của chứng khoán đã lập của chứng
khoán
(giá trị thực hiện thuần)
Giá trị thực hiện thuần của chứng khoán đầu tư là giá trị có thể chuyển hoá
thành tiền của chứng khoán.
• Dự phòng phải thu khó đòi :
Để dự phòng những khoản tổn thất về các khoán phải thu khó đòi có thể xảy
ra, bảo đảm phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ. Cuối mỗi niên độ, kế
toán phải dự tính số nợ khó đòi để lập dự phòng.
Các khoản nợ phải thu khó đòi phải có tên, địa chỉ, nội dung từng khoản nợ,
số tiền phải thu của từng con nợ, trong đó ghi rõ số nợ phải thu khó đòi. Đồng
thời doanh nghiệp phải có chứng từ gốc hoặc xác nhận của con nợ về số tiền còn
nợ chưa trả.
Đây là khoản nợ đã quá hạn hai năm hoặc chưa quá hạn hai năm nhưng con
nợ đang trong thời gian xem xét giải thể, phá sản hoặc có các dấu hiệu khác như
bỏ trốn, đang bị giam giữ, xét hỏi...
Mức dự phòng khoản nợ phải thu khó đòi tối đa không vượt quá 20% tổng số
dư nợ phải thu của doanh nghiệp, tại thời điểm cuối năm và bảo đảm cho doanh
nghiệp không bị lỗ.
• Dự phòng giảm giá hàng tồn kho :
Dự phòng là khoản dự tính trước để dựa vào chi phi sản xuất kinh doanh
phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn giá trị ghi sổ sách của hàng tồn kho. Việc
lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nhằm bù đắp các khoản thiệt hại thực tế xảy
ra do vật tư, sản phẩm, hàng hoá tồn kho bị giảm giá; đồng thời cũng để phản
ánh đúng giá trị thuần hàng tồn kho của Doanh nghiệp khi lập báo cáo tài chính
vào cuối kỳ kế toán.

1.5. Nhiệm vụ hạch toán các khoản dự phòng:
- Xác định số lượng từng loại chứng khoán, từng loại hàng tồn kho và từng
khoản phải thu khó đòi hiện có cuối niên độ kế toán có dấu hiệu giảm giá hay
khó đòi để lập dự phòng.
- Xác định mức dự phòng giảm giá cần lập của từng loại hàng tồn kho, từng
loại chứng khoán và từng khoản phải thu khó đòi cho niên độ tới.
6
- Hoàn nhập dự phòng giảm giá của từng loại hàng tồn kho, từng loại
chứng khoán và từng loại phải thu khó đòi nếu mức dự phòng cần lập nhỏ hơn
số dự phòng còn vào cuối niên độ kế toán.
- Trích lập thêm dự phòng giảm giá của từng loại hàng tồn kho, từng loại
chứng khoán và từng khoản phải thu khó đòi cho niên độ tới, nếu mức dự phòng
cần lập lớn hơn số dự phòng còn của năm trước.

2. Nội dung của các khoản dự phòng
2.1.Kế toán dự phòng giảm giá chứng khoán trong đầu tư tài chính:
2.1.1. Khái niệm:
Đầu tư tài chính là hoạt động khai thác, sử dụng nguồn lực tiền nhàn rỗi của
Doanh nghiệp để đầu tư ra ngoài Doanh nghiệp nhằm tăng thu nhập và nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.
Nói cách khác, tiền vốn được huy động từ mọi nguồn lực của Doanh nghiệp,
ngoài việc sử dụng để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp
còn có thể tận dụng để đầu tư vào các lĩnh vực khác để nâng cao hiệu quả sử
dụng đồng vốn, làm lợi vốn như: đầu tư vào thị trường chứng khoán, góp vốn
liên doanh, cho vay vốn... các hoạt động này chính là hoạt động tài chính của
Doanh nghiệp.
Quá trình Doanh nghiệp bỏ vốn ra đầu tư chứng khoán để kiếm lời có thể
gặp rủi ro do sự giảm giá của chứng khoán hoặc đơn vị phát hành cổ phiếu bị
phá sản. Xuất phát từ nguyên tắc thận trọng của kế toán, Doanh nghiệp phải lập
các khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
Dự phòng giảm giá chứng khoản trong hoạt động tài chính là dự phòng giá
trị dự kiến bị tổn thất do giảm giá các loại chứng khoán có thể xảy ra trong năm
kế hoạch.
Dự phòng giảm giá chứng khoán được trích trước vào hoạt động của năm
báo cáo để ghi nhận trước giá trị các khoản tổn thất có thể xảy ra trong năm kế
hoạch, nhằm bảo toàn nguồn vốn kinh doanh. Thế nhưng, theo nguyên tắc hạch
toán kế toán hiện hành, khoản tổn thất này đã được phản ánh trong kết quả kinh
doanh, vì vậy trường hợp vào cuối năm tài chính nếu số dự phòng giảm giá
chứng khoán cần lập cho năm đến nhỏ hơn số dự phòng giảm giá chứng khoán
đầu tư ngắn hạn, dài hạn đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước thì Doanh
nghiệp phải hoàn nhập số chênh lệch đó, đồng thời ghi giảm chi phí hoạt động
tài chính cho năm đó. Vì thế, mục đích của việc lập dự phòng giảm giá chứng
khoán hiện này chỉ nhằm phản ánh giá trị thực hiện thuần của chứng khoán đầu
tư trên Báo cáo tài chính.
2.1.2. Nguyên tắc kế toán:
Chỉ lập dự phòng vào cuối niên độ kế toán khi khoá sổ kế toán để lập báo
cáo tài chính năm, nếu có những bằng chứng đáng tin cậy về sự giảm giá thường
xuyên của các loại chứng khoán mà Doanh nghiệp đang nắm giữ, theo các qui
định tài chính hiện hành và các qui định có tính pháp lý về hoạt động của Doanh
nghiệp.
Theo chế độ hiện hành thì việc trích lập các khoản dự phòng không được
vượt quá số lợi nhuận phát sinh của Doanh nghiệp và có các bằng chứng sau:
7
- Là chứng khoán được Doanh nghiệp đầu tư theo đúng qui định của pháp
luật.
- Được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáo
tài chính có giá trị thị trường giảm so với giá đang hạch toán trên sổ sách kế
toán.
Khi lập dự phòng, Doanh nghiệp phải lập hội đồng để thẩm định mức độ
giảm gía của chứng khoán.
Doanh nghiệp phải lập dự phòng cho từng loại chứng khoán đầu tư có biến
động giảm giá tại thời điểm 31/12 năm báo cáo theo công thức sau:

Mức dự phòng Số lượng chứng khoán Giá chứng khoán Giá chứng
khoán
giảm giá đầu tư = bị giảm giá tại thời điểm * hạch toán trên sổ - thực tế trên
CK cho năm KH 31/12 năm BC kế toán thị trường

Doanh nghiệp phải lập dự phòng riêng cho từng loại chứng khoán bị giảm
giá và được tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá chứng khoán đầu
tư, làm căn cứ hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính của Doanh nghiệp.
2.1.3. Phương pháp kế toán:
• Tài khoản sử dụng:
- Tài khoản 129 " Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn ".
Kết cấu tài khoản :
Bên Nợ : Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn.
Bên Có : Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn.
SD bên Có : Số dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn hiện có vào cuối
kỳ.
- Tài khoản 229 " Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn ".
Kết cấu tài khoản :
Bên Nợ : Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.
Bên Có : Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.
SD bên Có : Số dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn hiện có vào cuối
kỳ.
- Tài khoản 635 " Chi phí tài chính."
Kết cấu tài khoản :
Bên Nợ : Các khoản chi phí hoạt động tài chính...
Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán...
Bên Có : Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán
Cuối kỳ kế toán kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính và các khoản lỗ
phát sinh trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh.

• Nội dung và phương pháp phản ánh :
(1) Cuối niên độ kế toán, kế toán căn cứ vào các bằng chứng đáng tin cậy về
sự giảm giá của các loại chứng khoán ngắn hạn, dài hạn mà Doanh nghiệp đang
nắm giữ để tính mức dự phòng giảm giá cần lập cho từng loại chứng khoán. Sau
đó tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư làm căn
cứ hạch toán :
8
Nợ TK 635 " Chi phí hoạt động tài chính "
Có TK 129 - Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Có TK 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn

(2) Cuối niên độ sau : Trường hợp số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư
ngắn hạn, dài hạn phải lập nhỏ hơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán
ngắn hạn, dài hạn đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì số chênh lệch
phải được hoàn nhập, ghi:
Nợ TK 129 - Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Nợ TK 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
Có TK 635 - Chi phí tài chính
Trường hợp số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn, dài hạn
phải lập lớn hơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn đã
lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì số chênh lệch cần phải được lập thêm:
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính
Có TK 129 - Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Có TK 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn

2.2. Dự phòng phải thu khó đòi:
2.2.1. Khái niệm:
Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh có những khoản phải thu mà
người nợ khó hoặc không có khả năng trả nợ, các khoản nợ của khách hàng này
gọi là nợ phải thu khó đòi.
Để đề phòng những tổn thất về các khoản phải thu khó đòi có thể xảy ra, hạn
chế về những đột biến về kinh doanh trong một kỳ kế toán, Doanh nghiệp phải
dự kiến số nợ có khả năng khó đòi, tính trước vào chi phí sản xuất kinh doanh
trong kỳ hạch toán. Số tính trước này gọi là dự phòng phải thu khó đòi.

2.2.2. Đối tượng cần lập dự phòng:
- Đối với con nợ là pháp nhân khi có quyết định của toà án cho xử lý phá
sản hay quyết định của cấp có thẩm quyền về giải thể Doanh nghiệp hoặc các
quyết định khác của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Đối với con nợ là thể nhân con nợ đang tồn tại nhưng có đủ cơ sơ để chứng
minh không có khả năng trả nợ hoặc lệnh truy nã hay xác nhận của cơ quan
pháp luật đối với những con nợ đã bỏ trốn hoặc đang thi hành án hoặc con nợ đã
chết, không có khả năng trả tiền (kèm theo xác nhận của chính quyền địa
phương).
Về nguyên tắc, căn cứ để lập dự phòng là phải có những bằng chứng đáng
tin cậy về các khoản nợ phải thu khó đòi (khách hàng bị phá sản hoặc bị tổn thất,
thiệt hại lớn về tài sản,... nên không hoặc khó có khả năng thanh toán, đơn vị đã
làm thủ tục đòi nợ nhiều lần vẫn không có khả năng thu nợ).
Đối với Doanh nghiệp Nhà nước, theo chế độ tài chính hiện hành, việc trích
lập dự phòng phải thu khó đòi không được vượt quá số lợi nhuận phát sinh của
niên độ kế toán và có những bằng chứng sau :

9
- Số tiền phải thu từng đối tượng, theo nội dung, từng khoản nợ trong đó
ghi rõ số nợ phải thu khó đòi.
- Phải có chứng từ gốc hoặc xác nhận của đối tượng về số tiền nợ còn nợ
chưa trả bao gồm : Hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng,
cam kết nợ, đối chiếu nợ...
Căn cứ để được ghi nhận là một khoản nợ khó đòi là :
- Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán từ 2 năm trở lên kể từ ngày hết hạn thu
nợ được ghi trong Hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản cam kết hợp đồng
hoặc cam kết nợ, Doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được.
- Trường hợp đặc biệt tuy thời gian quá hạn chưa tới 2 năm nhưng con nợ
đang trong thời gian xem xét giải thể, phá sản hoặc đang bị cơ quan pháp luật
giam giữ, xét xử hoặc bị chết.
2.2.3. Xác định mức dự phòng phải thu khó đòi cần phải lập
Phương pháp ước tính trên doanh thu bán chịu (phương pháp kinh
nghiệm):
Số dự phòng phải thu khó đòi = Tổng số doanh thu * Tỷ lệ phải thu khó đòi
cần lập cho năm tới bán chịu ước tính
Phương pháp ước tính đối với khách hàng đáng ngờ
(dựa vào thời gian quá hạn thực tế)
Số dự phòng phải thu khó = Số nợ phải thu của * Tỷ lệ ước tính không thu
đòi cần lập cho năm tới khách hàng đáng ngờ i được ở khách hàng đáng
ngờ i

2.2.4. Kế toán dự phòng phải thu khó đòi
• TK sử dụng : TK 139 "Dự phòng phải thu khó đòi"
Kết cấu tài khoản:
Bên Nợ : Hoàn nhập số dự phòng phải thu khó đòi không dùng đến
Bên Có : Trích lập dự phòng phải thu khó đòi
SD bên Có : Số dự phòng phải thu khó đòi hiện còn
• Nội dung và phương pháp hạch toán dự phòng phải thu khó đòi:
(1) Cuối kỳ kế toán năm, Doanh nghiệp căn cứ vào các khoản nợ phải thu
được xác định là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi), kế toán tính
xác định số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập. Nếu số dự phòng phải thu
khó đòi cần trích lập năm nay lớn hơn số dư của khoản dự phòng phải thu khó
đòi đã trích lập ở cuối niên độ trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch lớn hơn
được hạch toán vào chi phí, ghi:
Nợ TK 642 _ Chi phí quản lý Doanh nghiệp
Có TK 139 _ Dự phòng phải thu khó đòi

(2) Nếu số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập năm nay nhỏ hơn số dư
của khoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độ trước chưa sử
dụng hết, thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí, ghi:
Nợ TK 139 _ Dự phòng phải thu khó đòi
Có TK 642 _ Chi phí QLDN (Chi tiết hoàn nhập dự phòng phải thu khó
đòi).

10
(3) Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được,
khi có quyết định cho phép xoá nợ (theo chế độ tài chính hiện hành). Căn cứ vào
quyết định xoá nợ phải thu khó đòi, ghi:
Nợ TK 139 _ Dự phòng phải thu khó đòi
Nợ TK 642 _ Chi phí QLDN (Phần chênh lệch giữa số nợ phải thu khó đòi
xoá sổ lớn hơn số lập dự phòng)
Có TK 131 _ Phải thu của khách hàng
Đồng thời ghi:
Nợ TK 004 "Nợ khó đòi đã xử lý "

(4) Đối với những khoản nợ phải thu khó đòi đã được xử lý xoá nợ, nếu sau
đó lại thu hồi được nợ, kế toán căn cứ vào giá trị thực tế của khoản nợ đã thu hồi
được, ghi:
Nợ TK 111, 112
Có TK 711 _ Thu nhập khác
Đồng thời ghi:
Có TK 004 "Nợ khó đòi đã xử lý "
2.3. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
2.3.1. Khái niệm:
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho là khoản dự tính trước để đưa vào chi phí
sản xuất kinh doanh phần giá trị bị giảm xuống thấp hơn giá trị đã ghi sổ kế toán
của hàng tồn kho.
Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc
của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện của hàng tồn kho.
2.3.2. Nguyên tắc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Cơ sở lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho là từng loại mặt hàng. Riêng đối
với các dịch vụ cung cấp dỡ dang, việc lập dự phòng được tính theo từng loại
dịch vụ có mức giá riêng biệt.
Giá trị hàng tồn kho không thu hồi đủ khi hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời,
giá bán bị giảm, hoặc chi phí hoàn thiện, chi phí để bán hàng tăng lên. Việc ghi
giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được là
phù hợp với nguyên tắc, tài sản không được phản ánh lớn hơn giá trị thực hiện
ước tính từ việc bán hay sử dụng chúng.
Khi ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được phải tính đến mục đích của
việc dự trữ như: giá trị thuần có thể thực hiện được của lượng hàng tồn kho dự
trữ để đảm bảo cho các hợp đồng bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ không thể huỷ
bỏ phải dựa vào giá trị trong hợp đồng. Nếu số hàng đang tồn kho lớn hơn số
hàng cần cho hợp đồng thì giá trị thuần có thể thực hiện được của số chênh lệch
giữa hàng đang tồn kho lớn hơn số hàng cần cho hợp đồng được đánh giá trên
cơ sở giá bán ước tính.
Nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ dự trữ để sử dụng cho mục đích sản
xuất sản phẩm không được đánh giá thấp hơn giá gốc nếu sản phẩm do chúng
góp phần cấu tạo nên sẽ không được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất
của sản phẩm. Khi có sự giảm giá của nguyên vật, vật liệu và công cụ, dụng cụ
mà giá thành sản phẩm sản xuất cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được, thì
11
nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ tồn kho được đánh giá giảm xuống
bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng.

2.3.3. Kế toán các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào cuối niên độ kế toán nhằm
ghi nhận bộ phận giá trị dự tính giảm sút so với giá gốc (giá thực tế) của hàng
tồn kho nhưng chưa chắc chắn. Qua đó, phản ánh được giá trị thực hiện thuần
của hàng tồn kho trên Báo cáo tài chính.
Giá trị thực hiện thuần = Giá gốc của hàng _ Dự phòng giảm giá
của hàng tồn kho tồn kho hàng tồn kho

Dự phòng giảm giá được lập cho các loại vật tư, hàng hoá, thành phẩm tồn
kho để bán mà giá trên thị trường thấp hơn giá thực tế đang ghi sổ kế toán.
Những loại vật tư hàng hoá này là mặt hàng kinh doanh, thuộc sở hữu của
Doanh nghiệp, có chứng cứ hợp lý chứng minh giá vốn vật tư hàng hoá tồn kho.

Mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho được xác định theo công thức sau:

Mức dự phòng cần lập = Số lượng hàng tồn kho i * Mức giảm giá
của hàng
năm tới cho hàng tồn kho i cuối niên độ tồn kho i

• TK sử dụng : TK 159 "Dự phòng giảm giá hàng tồn kho"
Kết cấu tài khoản sử dụng :
Bên Nợ : Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Bên Có : Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
SD bên Có : Dự phòng giảm giá hàng tồn kho hiện còn

• Nội dung và phương pháp dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Cuối năm tài chính, Doanh nghiệp căn cứ vào tình hình giảm giá hàng tồn
kho ở thời điểm 31/12 để tính toán phải lập dự phòng giảm giá cho hàng tồn kho
so sánh với số đã lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho năm trước, xác định số
chênh lệch phải lập thêm, hoặc giảm đi (nếu có):
(1) Trường hợp số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn
số dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì
số chênh lệch lớn hơn được lập thêm, ghi:
Nợ TK 632 _ Giá vốn hàng bán
Có TK 159 _ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho

(2) Trường hợp số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay nhỏ hơn
số dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì
số chênh lệch nhỏ hơn được hoàn nhập, ghi:
Nợ TK 159 _ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Có TK 632 _ Giá vốn hàng bán


12
PHẦN II : KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG
TRONG
HỆ THỐNG KẾ TOÁN PHÁP VÀ MỸ.
1. Kế toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Pháp
Dự phòng là phương pháp kế toán dùng để đánh giá sự giảm giá của tài
sản có thể xảy ra do các nguyên nhân mà hậu quả không chắc chắn.
Các khoản dự phòng được lập trong hệ thống kế toán Pháp:
1.1. Kế toán dự phòng giảm giá tài sản bất động
Có một số loại bất động sản không phải khấu hao mà chỉ lập dự phòng
giảm giá: đất đai (trừ đất đai có hầm mỏ), nhãn hiệu, phương thức sản xuất,
quyền thuê nhà...Ngược lại, một số bất động sản khác, mặc dù đã trích khấu hao
nhưng nếu có khả năng giảm giá vẫn phải lập dự phòng.
Phương pháp kế toán dự phòng giảm giá bất động sản như sau:
(1) Cuối niên độ kế toán, trước khi lập báo cáo tài chính của năm, tiến hành
kiểm kê các loại bất động sản nếu thấy có khả năng giảm giá (giá thực tế trên thị
trường thấp hơn giá đang ghi trên sổ kế toán) thì cần phải lập dự phòng.
Khi lập dự phòng giảm giá bất động sản, kế toán ghi:
Nợ TK 681 : Dự phòng(Chi phí kinh doanh)
Có TK 290 : Dự phòng giảm giá bất động sản vô hình
Có TK 291 : Dự phòng giảm giá bất động sản hữu hình
(2) Trong niên độ kế toán sau, nếu bất động sản vô hình và hữu hình đã lập
dự phòng mà đem nhượng bán thì cùng với bút toán phản ánh nhượng bán bất
động sản cần phải hoàn nhập dự phòng đã lập cuối năm trước cho các bất động
sản đó:
Nợ TK 290 (chi tiết) : Dự phòng giảm giá bất động sản vô hình
Nợ TK 291 (chi tiết) : Dự phòng giảm giá bất động sản hữu hình
Có TK 781 : Hoàn nhập dự phòng (Thu nhập kinh doanh)
(3) Cuối niên độ kế toán sau, xem xét khả năng giảm giá của bất động sản để
tính mức dự phòng mới cần lập cho năm tiếp theo. Sau đó tiến hành điều chỉnh
mức dự phòng đã lập còn lại của năm trước, về mức dự phòng cần lập cho năm
tiếp theo:
_ Nếu mức dự phòng cần lập lớn hơn mức dự phòng đã lập thì cần điều chỉnh
tăng dự phòng số chênh lệch:
Nợ TK 681 : Số chênh lệch
Có TK 290, 291(chi tiết): Số chênh lệch
_ Nếu mức dự phòng cần lập ít hơn mức dự phòng đã lập thì cần điều chỉnh
giảm dự dự phòng số chênh lệch (hoàn nhập dự phòng số thừa):
Nợ TK 290, 291: Số chênh lệch
Có TK 781 : Số chênh lệch
13
1.2. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
(1) Vào thời điểm kiểm kê cuối năm (trước khi lập báo cáo kế toán năm), nếu
hàng tồn kho bị giảm giá (giá thực tế trên thị trường thấp hơn giá đang ghi sổ kế
toán) hoặc hàng bị lỗi thời (không hợp với kiểu mẫu hiện tại) mà Doanh nghiệp
có thể bán với giá thấp hơn giá vốn, thì cần căn cứ vào giá bán hiện hành, đối
chiếu với giá vốn của từng mặt hàng để lập dự phòng.
Khi lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, kế toán ghi:
Nợ TK 681 : Dự phòng (Chi phí kinh doanh)
Có TK 39 : Dự phòng giảm giá hàng tồn kho và dở dang
(2) Cuối niên độ kế toán sau, căn cứ vào giá cả thị trường, đối chiếu với giá
ghi sổ kế toán của từng mặt hàng để dự kiến mức dự phòng mới và tiến hành
điều chỉnh mức giá dự phòng đã lập năm trước về mức dự phòng phải lập năm
nay.
+ Nếu mức dự phòng mới lớn hơn mức dự phòng đã lập năm trước, thì cần
lập bổ sung số chênh lệch (điều chỉnh tăng dự phòng)
Nợ TK 681 : Số chênh lệch
Có TK 39 (chi tiết) : Số chênh lệch
+ Nếu mức dự phòng mới ít hơn mức dự phòng đã lập trước, thì cần hoàn
nhập dự phòng số chênh lệch (điều chỉnh giảm giá dự phòng)
Nợ TK 39 (chi tiết): Số chênh lệch
Có TK 781 : Hoàn nhập dự phòng (thu nhập kinh doanh)

1.3. Dự phòng giảm giá các tài khoản khách hàng
Doanh nghiệp kiểm kê các tài khoản khách hàng đang nợ tiền Doanh nghiệp
và phân loại khách hàng thành hai nhóm:
+ Khách hàng tin cậy là khách hàng thanh toán tốt
+ Khách hàng nghi ngờ là khách hàng lâm vào tình trạng phá sản, khó khăn
về tài chính...
Tiến hành lập dự phòng cho những khách hàng nghi ngờ trên cơ sở đánh giá
khả năng mất (không đòi được) và số tiền khách hàng nợ ngoài thuế GTGT theo
công thức:
Số dự phòng giảm giá = Số nợ ngoài thuế của * Số % có khả năng
TK khách hàng khách hàng nghi ngờ bị mất

Trình tự hạch toán :
(1) Căn cứ vào bảng kê phân loại khách hàng, chuyển khách hàng thường
sang khách hàng nghi ngờ :
Nợ TK 416 : Khách hàng nghi ngờ
Có TK 411 : Khách hàng
Có TK 413 : Khách hàng _ Thương phiếu sẽ thu (nếu có)
(2) Lập dự phòng giảm giá TK khách hàng theo số nợ ngoài thuế GTGT
Nợ TK 681 : Dự phòng (chi phí kinh doanh)
Có TK 491 : Dự phòng giảm giá TK khách hàng

14
(3) Sang năm sau, Doanh nghiệp tìm mọi cách để thu tiền và có thể xảy ra
các tình huống sau:
+ Chưa đòi được nợ, khả năng mất tăng lên: Lập thêm dự phòng theo số
chênh lệch:
Nợ TK 681 : Dự phòng(Chi phí kinh doanh)
Có TK 491 : Dự phòng giảm giá TK khách hàng

+ Chưa đòi được nợ, khả năng mất giảm đi: Giảm dự phòng so với mức cũ,
hoàn nhập dự phòng:
Nợ TK 491 : Dự phòng giảm giá TK khách hàng
Có TK 781 : Hoàn nhập dự phòng (Thu nhập kinh doanh)

+ Nếu vẫn không đòi được nợ, Doanh nghiệp quyết định xoá số nợ của
khách hàng nghi ngờ:
Hoàn nhập số dự phòng đã lập:
Nợ TK 491 : Dự phòng giảm giá TK khách hàng
Có TK 781: Hoàn nhập dự phòng (Thu nhập kinh doanh)
Số nợ không đòi được ngoài thuế GTGT được coi là lỗ do không đòi được
nợ:
Nợ TK 654 : Lỗ do không đòi được nợ
Nợ TK 4455 : Thuế GTGT phải nộp
Có TK 416 : Khách hàng nghi ngờ

+ Nếu cuối niên độ, khách hàng bị thiệt hại lớn, Doanh nghiệp dự kiến có
thể mất hết số nợ khách hàng còn thiếu (mất chắc chắn 100%), Doanh nghiệp
chưa kịp lập dự phòng giảm giá TK khách hàng:
Nợ TK 654 : Lỗ do không đòi được nợ
Nợ TK 4455 : Thuế GTGT phải nộp
Có TK 411: Khách hàng

+ Nếu số nợ của khách hàng đã xử lý (xoá nợ), nhưng năm sau lại thu được
thì số tiền này được coi là thu nhập đặc biệt:
Nợ TK 512 : Tiền gửi ngân hàng
Nợ TK 531 : Tiền mặt
Có TK 771 : Thu nhập đặc biệt về nghiệp vụ quản lý
1.4. Dự phòng giảm giá chứng khoán
Các chứng khoán đều được ghi sổ theo giá gốc mà Doanh nghiệp đã bỏ tiền
ra mua, nhưng thời giá lại thường biến đổi. Do vậy, cuối năm phải kiểm kê đối
chiếu giá ghi trên sổ kế toán và giá thị trường, nếu giảm giá thì Doanh nghiệp
lập dự phòng giảm giá đúng bằng hiệu số giữa giá ghi trên sổ kế toán và giá thị
trường.
- Tài khoản sử dụng:
TK 296 : Dự phòng giảm giá chứng khoán
TK 297 : Dự phòng giảm giá các TSCĐ tài chính khác
TK 590 : Dự phòng giảm giá các phiếu lưu động đầu cơ ngắn hạn
15
- Phương pháp hạch toán:
+ Lập dự phòng giảm giá chứng khoán
Nợ TK 686 : Dự phòng (Chi phí tài chính)
Có TK 296 : Dự phòng giảm giá chứng khoán
Có TK 297 : Dự phòng giảm giá các TSCĐ tài chính khác
Có TK 590 : Dự phòng giảm giá các phiếu lưu động đầu cơ ngắn hạn

+ Hoàn nhập dự phòng chứng khoán:
Nợ TK 296 : Dự phòng giảm giá chứng khoán
Nợ TK 297 : Dự phòng giảm giá các TSCĐ tài chính khác
Nợ TK 590 : Dự phòng giảm giá các phiếu lưu động đầu cơ ngắn hạn
Có TK 786 : Hoàn nhập dự phòng (Thu nhập tài chính)

2. Các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Mỹ
2.1. Kế toán dự phòng giảm giá chứng khoán
Việc đầu tư vào tín phiếu thường được giữ lại trong các tài khoản theo chi
phí bỏ ra cho đến khi chúng được bán đi hoặc đến hạn thanh toán và giá cả của
chứng khoán có thể dao động trên thị trường, nên đầu tư vào cổ phiếu có thể bán
được phản ánh trên bảng BCKT ở mức thấp giữa chi phí với giá thị trường. Khi
tính toán mức thấp giữa chi phí với giá thị trường, tổng chi phí của các cổ phiếu
có thể bán được, được so sánh với tổng giá trị thị trường vào ngày lập BCKT.
Khoản chênh lệch giữa giá thấp hơn của thị trường với giá gốc trên BCTC sẽ
được Doanh nghiệp ghi nhận như khoản lỗ mặc dù chưa bán.
Ap dụng cho tất cả các khoản mục chứ không tính riêng cho từng khoản
mục.
- Khi lập dự phòng giảm gía chứng khoán:
Nợ TK "Lỗ do giảm giá CK "
Có TK "Dự phòng giảm giá"

- Nếu sang kỳ sau giá trị CK tăng lên, kế toán sẽ ghi giảm dự phòng:
Nợ TK "Dự phòng giảm giá CK"
Có TK "Lãi do tăng giá CK"
- Nếu giá CK tiếp tục tăng, kế toán vẫn tiếp tục ghi giảm dự phòng giảm
giá CK đến khi giá CK ghi trên BCKT bằng với giá gốc. Nếu giá thị
trường cao hơn giá gốc, kế toán chỉ phản ánh giá gốc.

2.2. Kế toán dự phòng phải thu khó đòi
Trên thực tế, khi Công ty bán chịu cho khách hàng, thường vẫn xảy ra số ít
khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn thanh toán. Khi đó, khách hàng
phải ký phiếu nhận nợ với Công ty để gia hạn thêm và phải chịu lãi suất. Đôi khi
có khách hàng không có khả năng trả nợ do tình hình tài chính khó khăn.
Trường hợp này khoản nợ của khách hàng được gọi là khoản nợ khó đòi và coi
đó là một khoản chi phí của phương thức bán chịu.

16
Theo phương pháp kế toán thừa nhận nợ khó đòi, vào cuối niên độ kế toán
Doanh nghiệp phải dự kiến tổng số nợ khó đòi và số tiền này được coi là như
một khoản tiền bị mất mát trong doanh thu bán hàng. Kế toán sẽ vào sổ với một
điều chỉnh trên bảng kế toán nháp và một bút toán điều chỉnh.
Phương pháp kế toán các khoản dự phòng phải thu khó đòi:
(1) Cuối năm, ước tính số tiền có khả năng không đòi được. Kế toán ghi:
Nợ TK "Chi phí Nợ khó đòi"
Có TK "Các khoản đáng ngờ"

(2) Trong TK "Các khoản đáng ngờ" nếu chắc chắn có một số tiền không
thể thu hồi được, sẽ được xáo sổ. Kế toán phải lập tức ghi sổ để xoá sổ khoản nợ
khó đòi này:
Nợ TK "Các khoản đáng ngờ"
Có TK "Các khoản phải thu"

(3) Tuy nhiên đôi khi xoá sổ một số khoản nợ khó đòi của khách hàng nào
đó, sau đó do tình hình tài chính thuận lợi, khách hàng tự nguyện đem trả nợ.
Khi đó kế toán ghi sổ:
+ Phục hồi lại khoản đã xoá sổ:
Nợ TK "Các khoản phải thu"
Có TK "Các khoản đáng ngờ"
+ Ghi số tiền thu hồi được của khách hàng:
Nợ TK "Tiền mặt, Tiền gửi ngân hàng"
Có TK "Các khoản phải thu"

(4) Trong nhiều trường hợp nếu đã xác định được khoản nợ khó đòi mà
không cần phải ước tính, kế toán có thể lập bút toán xoá sổ trực tiếp mà không
cần sử dụng bút toán điều chỉnh. Trong trường hợp này kế toán ghi:
Nợ TK "Chi phí Nợ khó đòi"
Có TK "Các khoản phải thu"
Nếu sau này khoản tiền nợ khó đòi đã xoá sổ lại thu hồi được, kế toán
phản ánh vào sổ kế toán:
+ Hồi phục lại khoản nợ đã xoá:
Nợ TK "Các khoản phải thu"
Có TK "Chi phí Nợ khó đòi"
+ Đồng thời, phản ánh số tiền thu được:
Nợ TK "Tiền mặt, Tiền gửi ngân hàng"
Có TK "Các khoản phải thu"
2.3. Kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Hàng tồn kho là tất cả những hàng hoá thuộc quyền sở hữu của đơn vị, mua
về nhằm mục đích dự trữ sản xuất và bán ra ngoài bất kể hàng hoá đó đang ở
đâu tại thời điểm kiểm kê. Các hàng hoá cũ kĩ, hư hỏng lạc hậu sẽ không được
xem là hàng tồn kho của đơn vị nếu như không bán được.
Giá trị hàng tồn kho có thể không thu hồi được nếu chúng bị hư hỏng hoặc
chúng bị lỗi thời toàn bộ hay từng phần, hoặc giá bán của hàng hoá thay thế
17
giảm xuống. Giá trị hàng tồn kho có thể không thu hồi được nếu giá trị thực hiện
được ước tính, giá ước tính phát sinh để tiêu thụ tăng lên. Đó là hàng tồn kho bị
giảm giá.
Như vậy việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được thực hiện khi:
- Giá bán của hàng hoá thay thế bị giảm xuống.
- Có tính đến tổn thất của bộ phận hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời.
- Chi phí để tiêu thụ hàng hoá tăng lên.

Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho có thể thực hiện theo hai cách:
- Tính chung cho tất cả các mặt hàng.
- Tính riêng cho từng loại hàng hoá.




PHẦN III : MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ TRÍCH LẬP
CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG TRONG HỆ THỐNG
KẾ TOÁN VIỆT NAM
1. Đối tượng lập dự phòng:
1.1. Đối với các khoản dự phòng trong đầu tư tài chính:
Theo đoạn 39 IAS 31 thì trong quá trình đầu tư, bên liên doanh có thể xem xét
giá trị của khoản vốn góp liên doanh, nếu có sự suy giảm đã được các chuyên
gia thẩm định, đánh giá thì bên liên doanh phản ánh sự giảm sút này bằng
nghiệp vụ dự phòng giảm giá đầu tư theo chuẩn mực số 10 IAS 10 (yêu cầu của
nguyên tắc thận trọng).
Đầu tư vào Công ty liên doanh là một hoạt động đầu tư tài chính chứa đựng
không ít rủi ro và trên cơ sở định hướng xác định cơ bản của chuẩn mực kế toán
cho hoạt động này thì cần phải trích lập dự phòng cho khoản đầu tư này, để
thông tin trên báo cáo tài chính của người tham gia liên doanh có độ tin cậy hơn.

1.2. Đối với việc dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Theo chuẩn mực kế toán số 2 về hàng tồn kho (IAS -2) đoạn 25 có nêu: Giá
trị hàng tồn kho có thể không thu hồi được nếu chúng bị hư hỏng hoặc bị lỗi thời
toàn bộ hay từng phần, hoặc giá bán của hàng hoá thay thế giảm xuống. Giá trị
tồn kho có thể không thu hồi được giá thuần ước tính hoặc giá trị ước tính phát
sinh để tiêu thụ tăng lên. Việc ghi giảm giá trị tồn kho dưới mức giá phí cho
bằng với giá trị thực hiện ròng là phù hợp với quan điểm: "Các tài sản không
được phản ánh lớn hơn giá trị thực hiện mong đợi từ việc bán hàng hay sử dụng
chúng".
Như vậy có thể thấy, việc dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo quy định
quốc tế, được thực hiện khi:

18
- Giá bán của hàng hoá thay thế bị giảm xuống.
- Có tính đến tổn thất của bộ phận hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời.
Các quan điểm về dự phòng giảm giá hàng tồn kho của chúng ta còn thiếu do
khái niệm dự phòng giảm giá hàng tồn kho của chúng ta không tính đến tổn thất
do việc giảm giá của những mặt hàng thay thế.

1.3. Tài sản cố định: là một bộ phận không thể thiếu được trong một Doanh
nghiệp đặc biệt là những Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nó phản ánh quy
mô và trình độ sử dụng khoa học công nghệ của Doanh nghiệp.
Ngoài ra để đánh giá một Doanh nghiệp người ta thường dựa vào tiêu
chuẩn về tài sản cố định của Doanh nghiệp đó. Tuy nhiên trong kế toán ta lại
phản ánh chúng theo nguyên tắc giá phí nên không thể phản ánh đúng giá trị
thực tế của các TSCĐ. Khi giá cả của các loại TSCĐ này thay đổi trên thị trường
chúng ta lại không có một tài khoản nào để phản ánh, nếu giá trị của một bộ
phận TSCĐ nào thay đổi theo chiều hướng tăng ta có thể không cần phản ánh,
tuy nhiên trường hợp này rất ít mà thường là thay đổi theo chiều hướng ngược
lại, giá trị TSCĐ thường giảm thì đây là vấn đề không thể không quan tâm. Theo
nguyên tác thận trọng việc này nên được ghi nhận, để thực hiện được điều này
chúng ta cần phải trích lập dự phòng cho các tài sản này vào chi phí sản xuất
kinh doanh hàng kì.

2. Kế toán các khoản dự phòng cần lập bổ sung
2.1. Dự phòng giảm giá các khoản đầu tư góp vốn liên doanh
2.1.1. Xác định mức dự phòng giảm giá các khoản đầu tư góp vốn liên
doanh
Doanh nghiệp phải lập dự phòng cho từng khoản đầu tư góp vốn liên doanh
có biến động giảm giá tại thời điểm 31/12 năm báo cáo theo công thức sau:
Mức dự phòng giảm giá = Tổng số vốn góp * Tỷ lệ ước tính giảm giá
đầu tư góp vốn liên doanh liên doanh trong năm

2.1.2. Phương pháp hạch toán
Theo chế độ kế toán hiện hành sử dụng TK 129 và TK 229 để trích lập dự
phòng cho giảm giá của chứng khoán ngắn hạn và dài hạn, chúng ta sẽ tiếp tục
sử dụng hai tài khoản này để trích lập dự phòng cho các khoản đầu tư vào công
ty liên doanh, nếu các khoản vốn góp liên doanh có sự suy giảm (trừ khi giảm
tạm thời).
• Tài khoản sử dụng:
TK 129 Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn vào công ty liên doanh
TK 229 Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn vào công ty liên doanh
• Nội dung và phương pháp phản ánh:
(1) Cuối niên độ kế toán, kế toán căn cứ vào các bằng chứng về sự giảm giá
của các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn vào Công ty liên doanh của Công ty. Kế
toán tiến hành lập dự phòng:
Nợ TK 635 _ Chi phí hoạt động tài chính
Có TK 129 _ Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
19
Có TK 229 _ Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
(2) Cuối niên độ sau : Trường hợp số dự phòng giảm giá các khoản đầu tư
góp vốn liên doanh ngắn hạn, dài hạn phải lập nhỏ hơn số dự phòng giảm giá
các khoản đầu tư góp vốn liên doanh ngắn hạn, dài hạn đã lập ở cuối niên độ kế
toán năm trước, thì số chênh lệch phải được hoàn nhập, ghi:
Nợ TK 129 - Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Nợ TK 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
Có TK 635 - Chi phí tài chính
Trường hợp số dự phòng giảm giá các khoản đầu tư góp vốn liên doanh ngắn
hạn, dài hạn phải lập lớn hơn số dự phòng giảm giá các khoản đầu tư góp vốn
liên doanh ngắn hạn, dài hạn đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì số
chênh lệch cần phải được lập thêm:
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính
Có TK 129 - Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Có TK 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
2.2. Kế toán dự phòng giảm giá TSCĐ:
2.2.1. Xác định mức dự phòng giảm giá TSCĐ
Dự phòng giảm giá TSCĐ được lập riêng cho từng loại TSCĐ tham gia vào
các hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau. Mức dự phòng cần lập được xác
định theo công thức sau:
Mức dự phòng giảm giá = Nguyên giá TSCĐ _ Giá thị trường của
TSCĐ cần lập của Doanh nghiệp TSCĐ đó

2.2.2. Phương pháp hạch toán:
Cuối mỗi kỳ kế toán, kiểm kê tài sản nếu thấy các TSCĐ bị giảm giá chúng
ta cần tiến hành trích lập phần chênh lệch giữa giá trị TSCĐ phản ánh trên sổ kế
toán với giá thị trường. Nếu cuối kỳ, mức dự phòng giảm giá TSCĐ cần lập lớn
hơn giá trị còn lại của khoản dự phòng trong kì thì kế toán tiến hành lập thêm
vào TK chi phí sản xuất kinh doanh.
Nợ TK 627 _ Chi phí sản xuất chung (TSCĐ thuộc bộ phận sản xuất)
Nợ TK 642 _ Chi phí QLDN (TSCĐ thuộc bộ phận quản lý doanh
nghiệp)
Nợ TK 641 _ Chi phí bán hàng (TSCĐ thuộc bộ phận bán hàng)
Có TK "Dự phòng giảm giá TSCĐ"

Ngược lại nếu mức dự phòng cần lập nhỏ hơn số dư khoản dự phòng còn
lại thì kế toán tiến hành hoàn nhập số chênh lệch, ghi giảm chi phí sản xuất kinh
doanh của Doanh nghiệp.
Nợ TK " Dự phòng giảm giá TSCĐ"
Có TK 627 _ Chi phí sản xuất chung
Có TK 641 _ Chi phí bán hàng
Có TK 642 _ Chi phí QLDN
Trường hợp Doanh nghiệp thanh lý hoặc nhượng bán TSCĐ đã được lập dự
phòng thì Doanh nghiệp phải tiến hành hoàn nhập dự phòng và hạch toán bình
thường.
20
KẾT LUẬN
Trong sản xuất kinh doanh để đảm bảo cho hoạt động của Doanh nghiệp
luôn được diễn ra thì việc đảm bảo nhu cầu vốn của Doanh nghiệp phải được
đảm bảo. Nhưng trong kinh doanh muốn rủi ro không xảy ra là điều không thể.
Vậy để đảm bảo nguồn vốn không bị tổn thất mạnh, ta phải trích lập dự phòng
trước để khi những tổn thất xảy ra ta vẫn đảm bảo nguồn vốn để hoạt động kinh
doanh của Doanh nghiệp không bị đình trệ.
Việc hạch toán các khoản dự phòng trong hệ thống kế toán Việt Nam hiện
nay đã được hoàn thiện rất nhiều. Tuy nhiên, danh mục các tài sản được trích lập
lại còn hạn chế, bên cạnh các khoản được trích lập dự phòng trong hệ thống kế
toán Việt Nam còn có một số tài sản khác có giá trị luôn biến động do sự tác
động của khoa học kỹ thuật tiến bộ.
Qua quá trình nghiên cứu đề tài này, xuất phát từ nhận thức chủ quan của
bản thân, cùng với sự tham khảo một số tài liệu. Em đã mạnh dạn đưa ra những
ý kiến này, với mong muốn các khoản dự phòng của hệ thồng kế toán Việt Nam
ngày càng hoàn thiện hơn.
Tuy đã rất cố gắn nhưng do hạn chế về mặt thời gian cũng như trình độ của
bản thân, nên đề tài này chắc chắn không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Rất mong
được sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ của các thầy cô, để đề tài này được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn cô giáo hướng dẫn Đoàn Thị Ngọc Trai, đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt thời gian qua và giúp em sớm hoàn thành đề
tài này!




21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hướng dẫn thực hành kế toán
Tác giả: Võ Văn Nhị _ NXB Thống Kê _ Hà Nội
2. Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Ban hành và công bố theo QĐ số 149/2001/QĐ _BTC ngày 31/12/2001 của
BTBTC
3. Giáo trình kế toán quốc tế
Tác giả : TS Nguyễn Minh Phương _ TS Nguyễn Thị Đông
NXB Thống Kê _ Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân _ Hà Nội.
4. Tạp chí kế toán Số 44_ tháng 10/2003
5. Đặc điểm kế toán Mỹ và Pháp
NXB Tài Chính _ Hà Nội 1995. Trường Đại Học Tài Chính Kế Toán
6. Kế toán tài chính Doanh nghiệp (Phần II)
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà _ Nguyễn Thị Thu Hiền




22
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN




Phân tích SWOT trong việc hình thành chiến lược kinh doanh

23
Năm mới hy vọng mới cho sự phát triển đi lên của đất nước, đóng góp vào sự phát triển đó,
tầng lớp doanh nhân Việt Nam có vai trò rất quan trọng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện
nay, việc mở cửa, giao lưu kinh tế - văn hóa với các nước là điều không thể tránh khỏi và rủi
ro trên thương trường đối với các doanh nghiệp cũng không nhỏ. Phân tích SWOT sẽ giúp các
doanh nghiệp “cân - đong – đo - đếm” một cách chính xác trước khi quyết định thâm nhập thị
trường quốc tế.
SWOT trong doanh nghiệp
Phân tích SWOT là một trong 5 bước hình thành chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp
bao gồm: xác lập tôn chỉ của doanh nghiệp, phân tích SWOT, xác định mục tiêu chiến lược,
hình thành các mục tiêu và kế hoạch chiến lược, xác định cơ chế kiểm soát chiến lược. Nó
không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong việc hình thành chiến lược kinh doanh nội
địa mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành chiến lược kinh doanh quốc tế nhằm đáp
ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp muốn phát triển, từng bước
tạo lập uy tín, thương hiệu cho mình một cách chắc chắn và bền vững thì phân tích SWOT là
một khâu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
Như vậy, phân tích SWOT là phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài mà doanh nghiệp
phải đối mặt (các cơ hội và nguy cơ) cũng như các yếu tố thuộc môi trường nội bộ doanh
nghiệp (các mặt mạnh và mặt yếu). Đây là một việc làm khó đòi hỏi nhiều thời gian, công
sức, chi phí, khả năng thu nhập, phân tích và xử lý thông tin sao cho hiệu quả nhất.
Doanh nghiệp xác định các cơ hội và nguy cơ thông qua phân tích dữ liệu về thay đổi trong
các môi trường: kinh tế, tài chính, chính trị, pháp lý, xã hội và cạnh tranh ở các thị trường nơi
doanh nghiệp đang hoạt động hoặc dự định thâm nhập. Các cơ hội có thể bao gồm tiềm năng
phát triển thị trường, khoảng trống thị trường, gần nguồn nguyên liệu hay nguồn nhân công rẻ
và có tay nghề phù hợp. Các nguy cơ đối với doanh nghiệp có thể là thị trường bị thu hẹp,
cạnh tranh ngày càng khốc liệt, những thay đổi về chính sách có thể xảy ra, bất ổn vê chính trị
ở các thị trường chủ chốt hay sự phát triển công nghệ mới làm cho các phương tiện và dây
chuyền sản xuất của doanh nghiệp có nguy cơ trở nên lạc hậu.
Với việc phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp, các mặt mạnh về tổ chức doanh
nghiệp có tthể là các kỹ năng, nguồn lực và những lợi thế mà doanh nghiệp có được trước các
đối thủ cạnh tranh (năng lực chủ chốt của doanh nghiệp) như có nhiều nhà quản trị tài năng,
có công nghệ vượt trội, thương hiệu nổi tiếng, có sẵn tiền mặt, doanh nghiệp có hình ảnh tốt
trong mắt công chúng hay chiếm thị phần lớn trong các thị thường chủ chốt. Những mặt yếu
của doanh nghiệp thể hiện ở những thiểu sót hoặc nhược điểm và kỹ năng, nguồn lực hay các
yếu tố hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đó có thể là mạng lưới phân phối
kém hiệu quả, quan hệ lao động không tốt, thiếu các nhà quản trị có kinh nghiệm quốc tế hay
sản phẩm lạc hậu so với các đối thủ cạnh tranh...
Kết quả của quá trình phân tích SWOT phải đảm bảo được tính cụ thể, chính xác, thực tế và
khả thi vì doanh nghiệp sẽ sử dụng kết quả đó để thực hiện những bước tiếp theo như: hình
thành chiến lược, mục tiêu chiến lược chiến thuật và cơ chế kiểm soát chiến lược cụ thể.
Chiến lược hiệu quả là những chiến lược tận dụng được các co hội bên ngoài và sức mạnh bên
trong cũng như vô hiệu hóa được những nguy cơ bên ngoài và hạn chế hoặc vượt qua được
những yếu kém của bản thân doanh nghiệp. Mục tiêu chiến lược (là những mục tiêu chính mà
doanh nghiệp muốn theo đuổi thông qua việc thực hiện một loạt các hành động cụ thể) phải
đo lường được, mang tính khả thi và có thời hạn thực hiện. Các chiến thuật thường được thiết
lập theo hướng tập trung cụ thể hóa chi tiết việc thực hiện các kế hoạch chi tiết như thế nào.
Cơ chế kiểm soát chiến lược là cơ chế quản lý và tổ chức chiến lược mà doanh nghiệp sử
dụng để kiểm soát bất cứ bước nào trong 5 bước hình thành chiến lược nhằm đảm bảo quá

24
trình thực hiện đi theo đúng định hướng mục tiêu chiến lược.
Những công ty áp dụng phân tích SWOT thành công
Chẳng hạm cho tới năm 1992, Walt Disney Company luôn thành công ở những công viên chủ
đề Disneyland ở Anaheim, Calífornia (1955), ở Florida (1970), và ở Tokyo (1983). Năm
1992, Disney lại tiếp tục thành công tại Paris nhà những kết quả chính xác thực tế và khả thi
của quá trình phân tích SWOT, cụ thể, S: Sự nổi tiếng của các nhân vật phim hoạt hình,
thương hiệu Walt Disney nổi tiếng, tiềm lực tài chính vững mạnh, W: sự hiểu biết về văn hóa,
sở thích của người Pháp chưa đầy đủ, O: Vị trí địa lý của Phi thuận lợi (trung tâm Châu Âu),
Chính phủ Pháp có những biện pháp khuyến khích và hỗ trợ về giao thông, về giá đất, về
đóng góp cổ phần... T: Sự cạnh tranh của các công viên chủ đề khác ở Paris...
Một ví dụ khác gần gũi hơn là vào thời kỳ 1990, khi khối Đông Âu sụp đổ Công ty Công
nghiệp cao su miền Nam (Casumina) mất một thị trường quan trọng với 15 triệu vỏ xe/năm
trong lúc đang gánh lên vai món nợ của những năm trước, Công ty chỉ còn sản xuất khoảng
20% công suất.
Vào thời kỳ đó, Công ty đã kịp thời có những thay đổi đúng đắn trong chiến lược kinh doanh
quốc tế đó là ban đầu thì tiếp cận công nghệ cao với chi phí thấp khi ký hợp đồng liên doanh
và chế biến cho các đối tác của Nhật, khai thác sự trợ giúp kỹ thuật từ đối tác sau đó áp dụng
chiến lược tạo sự khác biệt cho sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm nhờ vào kết
quả của việc phân tích SWOT cho điều kiện môi trường kinh doanh của Casumina, cụ thể: S:
Công ty có đội ngũ lãnh đạo có năng lực, đội ngũ công nhân gắn bó với Công ty, W: Công ty
chưa có kinh nghiệm về sử dụng kỹ thuật cao để sản xuất gánh nặng từ món nợ lớn, thiết bị
công nghệ lạc hậu (tính đến 1990 là đã 15 năm sử dụng), O: Công nghệ sản xuất vỏ xe 2 bánh
đã đến tới hạn, nhu cầu thị trường nội địa về xuất vỏ xe 2 bánh cao, lợi thế về chi phí nhân
công rẻ và môi trường sản xuất thuận lợi, T: Mất thị trường quan trọng khi Liên xô và Đông
Âu sụp đổ nguy cơ đối đầu với các đại gia trên thế giới về vỏ xe 2 bánh ...
Đừng quá sa đà vào lĩnh vực chuyên môn của mình
Trong các bản kế hoạch tham gia dự thi, một trong những thiếu sót thường gặp nhất là người
viết quá sa đà vào lĩnh vực chuyên môn của mình.
Chẳng hạn, nếu người viết có kinh nghiệm về tiếp thị kinh doanh thì mảng phân tích thị
trường và nhu cầu sản phẩm của họ rất chi tiết, trong khi đó ở các phần dự đoán tài chính,
nguồn vốn thực hiện dự án lại không được viết rõ ràng và mạch lạc, các quy trình kỹ thuật sản
xuất, nguồn nguyên liệu đầu vào lại bị xem nhẹ.
Ngược lại, nếu người viết có kiến thức kỹ thuật chuyên môn về sản phẩm mình dự định cung
cấp thì họ lại quá chuyên tâm về chi tiết kỹ thuật của sản phẩm mà không đánh giá được nhu
cầu thị trường, các đối thủ cạnh tranh và phân khúc họ muốn nhắm vào.
Dù ý tưởng của bạn rất hay, nhưng khi viết bản kế hoạch kinh doanh, bạn đừng quên một
nhân tố rất quan trọng: con người triển khai dự án - khả năng của đội ngũ quản lý điều hành.
Đây chính là một trong những yếu tố thuyết phục nhà đầu tư bỏ vốn vào dự án của bạn. Chính
vì thế mà trong bản kế hoạch kinh doanh, bạn nên có phần giới thiệu về khả năng và kinh
nghiệm của người viết hoặc những người tham gia dự án, thay vì chỉ có một số thông tin về sơ
đồ tổ chức của dự án và mức lương dự tính cho các vị trí tương ứng.
Để thuyết phục các nhà đầu tư, một bản kế hoạch kinh doanh cần những yếu tố gì? Một bản
kế hoạch kinh doanh hoàn thiện cần phải đảm bảo các phần sau:
(i) Sản phẩm, dịch vụ: mô tả sản phẩm, dịch vụ mà công ty sẽ cung cấp, chú trọng vào lợi ích
mà khách hàng sẽ nhận được khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của mình.


25
(ii) Phân tích thị trường: là phần trọng yếu mà từ đó người viết (cũng như người đọc) có thể
xác định được phân khúc thị trường, tiềm năng phát triển, nhu cầu khách hàng, cách thức tiếp
cận khách hàng, tình hình các đối thủ cạnh tranh…
(iii) Chiến lược thực hiện: ở mức tối thiểu thường bao gồm các chiến lược tiếp thị, quảng bá,
và bán hàng; nên bao gồm những cột mốc về ngày tháng và chi phí.
(iv) Đội ngũ quản lý: phần này rất được nhà đầu tư chú trọng, bao gồm một sơ đồ tổ chức, sơ
lược về năng lực của những người tham gia dự án, xác định những kỹ năng còn thiếu sót và
chiến lược bổ trợ những thiếu sót ấy, cuối cùng là kế hoạch nhân sự ở cấp lãnh đạo.
(v) Phân tích tài chính: các báo cáo dự toán ở mức tối thiểu về kết quả kinh doanh, cân đối kế
toán, lưu chuyển tiền tệ cho 3-5 năm; ngoài ra có thể phân tích thêm về thời điểm hòa vốn
hoặc các chỉ tiêu tài chính cơ bản.
Một bản kế hoạch kinh doanh thường không đòi hỏi người viết phải trau chuốt về ngôn từ nên
các ý chính có thể được viết dưới dạng gạch đầu dòng miễn sao bảo đảm yếu tố rõ ràng mạch
lạc. Ngoài ra để làm phong phú và tăng tính hấp dẫn, dễ hiểu của bản kế hoạch, bạn có thể sử
dụng hình ảnh, đồ thị và bảng biểu để minh họa cho ý tưởng của mình.
Suy nghĩ chiến lược
Cụm từ "có chiến lược" được sử dụng rất nhiều nhưng cụm từ đó thật sự có ý nghĩa như thế
nào đối với những người làm quản lý cấp trung bình trong lĩnh vực công nghệ kỹ thuật?
Hãy xây dựng lòng tin và cố đem lại những thay đổi tích cực bằng lối tư duy có chiến lược
về cách thức để nhóm của bạn có thể đóng góp vào những mục tiêu kinh doanh chung.
Những tư vấn viên về quản lý và đào tạo thường sử dụng cụm từ “suy nghĩ có chiến lược” khi
nói về chiến thắng thương trường trước các đối thủ cạnh tranh bên ngoài. Những người quản
lý lâu năm thường dùng cụm từ này khi vạch chiến lược nhằm giúp cho công ty của họ có
được khả năng cạnh tranh cao hơn. Mặc dù những ví dụ như vậy rất có ích cho việc hiểu lối
suy nghĩ có chiến lược nhưng chúng đặc biệt không liên quan gì đến những người quản lý
trong lĩnh vực công nghệ kỹ thuật, những người luôn cố gắng duy trì sự hoạt động của các hệ
thống mạng nội bộ hay cũng như xây dựng cho họ uy tín của một người chuyên nghiệp. Do
vậy cách tư duy có chiến lược giúp những người quản lý trong lĩnh vực công nghệ kỹ thuật
chỉ ra phạm vi quan tâm của họ như thế nào?
Làm thế nào để trở thành một người tư duy có chiến lược
Cơ sở hình thành lối tư duy có chiến lược nằm trong cách nhìn nhận của bạn đối với công
việc của mình và những người mà bạn giám sát. Nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và hiểu biết
về mức độ năng động của công ty. Sau đây là một vài cách có thể giúp bạn trở thành người tư
duy có chiến lược:
Chú ý và sẵn sàng với những tình huống bất ngờ. Một trong những cái bẫy tiềm năng có thể
xảy ra đối với những người quản lý trực tiếp và trung gian là xu hướng bị “cận thị”. Những
người quản lý mạng nội bộ thường dễ bị lôi cuốn vào những hoạt động thường ngày liên quan
đến hệ thống của họ đến nỗi có rất ít những kiến thức cơ bản khác về các lĩnh vực khác của
công ty. Hãy cố học càng nhiều càng tốt về toàn bộ công ty và các điều kiện bên trong và bên
ngoài có thể trở thành cơ hội cũng như đe dọa. Đôi khi tình huống có thể thay đổi rất nhanh
chóng và bạn muốn mình là người có khả năng thích ứng với những điều kiện mới.
Hãy tính xem nỗ lực của nhóm bạn có thể đóng góp gì cho công ty. Cố thoát khỏi những công
việc thường ngày của cả nhóm, xem xét xem yêu cầu và ưu điểm của công ty đang thay đổi
như thế nào. Nếu công ty đang trong quá trình lớn mạnh, bạn phải làm sao để đảm bảo rằng
nhóm của bạn đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng những yêu cầu công nghệ của công
ty? Nếu công ty đang suy yếu, làm thế nào để để nhóm bạn có thể giúp tránh điều đó?
26
Hiểu những ưu điểm và quan tâm tối cao của giới quản lý cấp trên. Thời gian là tất cả khi cần
phải có một tác động tích cực lên cách nhìn nhận của giới quản lý đối với đội ngũ của bạn.
Hãy tiếp cận một cách có phân tích khi thương lượng với người quản lý tối cao của bạn. Hãy
tự hỏi cái gì là quan trọng đối với công ty của bạn, những người quản lý cấp trên nhìn nhận từ
xa như thế nào đối với những ưu thế của công ty, và cụ thể hơn, là của đội ngũ của bạn? và tại
thời điểm đó ưu thế hay mục tiêu nào có cơ hội tốt nhất để được nhìn nhận một cách tích cực?
Một ví dụ
Juanita là người điều hành mạng nội bộ mới trước đó đã từng là một kỹ thuật viên làm việc
cùng một đội ngũ khác trong một công ty quy mô trung bình. Mặc dù cô rất thích thú vị trí
mới của mình cũng như những trách nhiệm quản lý của mình, cô hơi cảm thấy khó chịu trước
mặt “tác động phản hồi” trong công việc của mình. Cô dường như luôn phải sửa chữa những
thiếu sót của mạng nội bộ chứ rất ít khi có cơ hội để dùng những kinh nghiệm và khả năng
của mình để thật sự cải tiến quá trình làm việc hay kết hợp chặt chẽ những tiến bộ kỹ thuật
vào mạng nội bộ.
Cô thổ lộ nỗi bực tức của mình với người có kinh nghiệm hơn, người đã giao phó công việc
cho cô khi cô được đề cử. Bà ta biết rõ là vị trí người quản lý mạng nội bộ của cô có thể đang
bị hạn chế nhưng cũng thách thức cô tìm ra phương thức làm cho công việc của cô thú vị hơn.
Bà ta khuyên cô nên tự trau rồi cho mình những hiểu biết về lịch sử và ưu thế của công ty
cũng như những điều kiện ngoại cảnh như những biến động kinh tế có thể ảnh hưởng đến sự
phát triển của công ty, và sau đó quyết định xem đội ngũ làm việc của cô có thể có những
phản ứng như thế nào với những điều kiện thay đổi và những thử thách mới này.
Juanita nghe theo lời khuyên của bà và bắt đầu nhìn nhận đội ngũ của mình cũng như công ty
theo cách có phân tích hơn. Cô ta tự đặt cho mình câu hỏi điều kiện nào có thể xảy ra trong
vòng 6 tháng và thậm chí một năm tới và thử xem đội ngũ của mình sẽ có thể làm gì để đóng
góp cho công ty. Cuối cùng cô ta đã có cơ hội khi mà một hôm người giám sát của cô nhắc
đến chuyện công ty đang tìm cách để các đội ngũ làm việc khác nhau có thể giao tiếp tốt hơn.
Juanita đọc về một kiểu mẫu đang được áp dụng ở một công ty lớn nhằm tăng cường khả
năng giao tiếp chiều ngang trong nội công ty. Cô đã trình bày kiểu mẫu này với người giám
sát. Trước sự ngạc nhiên của cô, người giám sát chấp nhận và chia sẻ nó với những người
đồng nghiệp.
Nội dung câu chuyện nằm ở chỗ Juanita đã sử dụng cách nghĩ có chiến lược để quan sát công
việc của mình ở tầm ngoài những giới hạn hạn chế của công việc hàng ngày và chuẩn bị sẵn
sàng cho việc tận dụng bất kỳ cơ hội nào để đóng góp cho quá trình đưa ra các chính sách của
cấp trên.
Những người suy nghĩ có chiến lược học được cách phân tích những gì xung quanh công việc
của họ để thấy được những cơ hội và thách thức tiềm năng mà đội ngũ của họ và công ty có
thể sẽ gặp phải. Họ cũng học cách kiên nhẫn và nhạy cảm với những cơ hội để có thể đóng
góp cho việc vận hành của công ty.
Hiển nhiên là những người quản lý công nghệ kỹ thuật phải sẵn sàng đáp ứng lại những vấn
đề phát sinh hàng ngày mà mạng nội bộ của họ có thể phải đối mặt. Tuy nhiên, những người
quản lý có thể thêm vào công việc của họ những giá trị đáng kể bằng cách nhìn nhận tầm xa
và sẵn sàng đưa ra những gợi ý sáng tạo nhằm giúp hình thành và cải tiến hơn nữa những
chính sách của công ty.




27

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản