Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chia sẻ: bacgiangyeudau84

Tham khảo luận văn - đề án 'doanh nghiệp vừa và nhỏ', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Luận văn


Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu
rất quan trọng: cơ cấu kinh tế có chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng trưởng ổn
định trong một thời gian khá dài. Kết quả đó có sự đóng góp không nhỏ của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) thuộc các thành phần kinh tế ở nước ta.
SME trong thời gian qua có bước phát triển nhanh về số lượng, tham gia
vào các loại hình kinh tế và sự đóng góp vào sự tăng trưởng GDP của nước ta
ngày một cao. Tuy nhiên trong xu thế hiện nay, với quá trình toàn cầu hoá, khu
vực hoá và hội nhập kinh tế quốc tế trong khu vực và trên thế giới đã bước sang
một giai đoạn phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng và sâu sắc, làm cho nền
kinh tế thế giới ngày càng trở thành một chỉnh thể thống nhất, các quan hệ kinh
tế được phát triển đa phương, đa dạng hoá dưới nhiều hình thức.Trong bối cảnh
đó, đối với một nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay tham gia vào tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những cơ hội cho các doanh nghiệp nói
chung và những doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng như là mở rộng thị trường
cho hàng xuất khẩu, tiếp nhận vốn và công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp, nhờ
đó tạo ra công ăn việc làm và đảm bảo tăng trưởng kinh tế, học tập được công
nghệ quản lý mới, nhưng mặt khác lại đặt các doanh nghiệp Việt Nam vào tình
thế phải cạnh tranh khốc liệt hơn. Thêm vào đó, các doanh nghiệp sản xuất hàng
xuất khẩu ở Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp rất
nhiều khó khăn trong sản xuất cũng như tiêu thụ trên thị trường quốc tế. Việc
khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm nâng cao sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu là một trong nội dung quan
trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Qua thời gian tìm hiểu, thu thập và tham khảo tài liệu về các loại hình
doanh nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam, nhận thấy tầm quan trọng của việc hỗ
trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế
ở nước ta trong thập kỷ tới, nên tôi đã mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài:


1
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


“Thực trạng hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt
Nam và giải pháp phát triển”.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tập trung vào các vấn đề thực trạng
hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm qua đó đưa ra những
giải pháp phát triển kinh doanh hàng xuất khẩu cho khối doanh nghiệp này trong
nền kinh tế mở với những khó khăn, thách thức khi Việt Nam tham gia vào hội
nhập kinh tế trong khu vực và thế giới.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được đề cập trong khoá luận tốt nghiệp này
được xác định theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày
23/11/2001, trong đó quy định doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất,
kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn
đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá
300 người.
Nội dung của khoá luận tốt nghiệp bao gồm ba chương sau:
Chương I: Khái quát chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách
hỗ trợ xuất khẩu.
Chương II: Doanh nghiệp vừa và nhỏ và các chính sách hỗ trợ xuất
khẩu ở Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Do giới hạn về mặt thời gian cộng với trình độ còn hạn chế nên khoá luận
tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo trong Trường Đại học Ngoại thương
cùng các bạn để khoá luận này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Thạc sỹ Phạm Thị Hồng Yến đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi nghiên cứu hoàn thành bản Khoá luận tốt nghiệp
này.


Sinh viên
Phạm Thị Bích Thủy

2
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương




CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ XUẤT KHẨU.


I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
1- Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa
rất lớn để xác định đối tượng được hỗ trợ. Vì vậy, hầu hết các nước đều nghiên
cứu tiêu thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, trên thế giới không
có tiêu thức thống nhất để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thậm chí ngay
trong một nước, sự phân loại cũng khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ, từng ngành
nghề, địa bàn...Có hai nhóm tiêu thức chủ yếu dùng để phân loại doanh nghiệp
vừa và nhỏ: Tiêu thức định tính và tiêu thức định lượng.
- Tiêu thức định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp
vừa và nhỏ như không có vị thế độc quyền trên thị trường, chuyên môn hoá thấp,
số đầu mối quản lý ít...các tiêu thức này có ưu thế là phản ánh đúng của vấn đề
nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nó chỉ được làm cơ sở để tham
khảo mà ít được sử dụng trên thực tế để phân loại.
- Tiêu thức định lượng: Thường sử dụng các tiêu thức như là số lao động
thường xuyên và không thường xuyên trong doanh nghiệp, giá trị tài sản hay
vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó:
- Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động
thường xuyên, lao động thực tế,..
- Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay
vốn cố định, giá trị tài sản còn lại...
- Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm, tổng giá trị gia tăng
trong một năm(hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ tiêu này).


3
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Ở các nước, tiêu chí định lượng để xác định quy mô doanh nghiệp rất đa
dạng. Dưới đây là một số tiêu chí phân loại SME qua điều tra ở 12 nước trong
khu vực APEC. Trong các nước này, tiêu chí số lao động được sử dụng phổ biến
nhất (12/12 nước sử dụng). Còn một số chỉ tiêu khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện
của từng nước: vốn đầu tư (3/12), tổng giá trị tài sản (4/12), doanh thu (4/12) và
tỷ lệ góp vốn (1/12). Số lượng tiêu chí chỉ có từ một đến hai và cao nhất là ba chỉ
tiêu. Điều này được thể hiện một cách cụ thể dưới bảng 1.1 như sau:


Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại SME ở các nước APEC.


Nước Tiêu chí phân loại
Australia Số lao động
Canada Số lao động; Doanh thu
Hongkong Số lao động
Indonesia Số lao động; Tổng giá trị tài sản; Doanh thu
Japan Số lao động; Vốn đầu tư
Malaysia Số lao động; Tỷ lệ góp vốn
Mexico Số lao động
Philippines Số lao động; Tổng giá trị tài sản; Doanh thu
Singapore Số lao động; Tổng giá trị tài sản
Taiwan Vốn đầu tư; Tổng giá trị tài sản; Doanh thu
Thailand Số lao động; Vốn đầu tư
USA Số lao động



Nguồn: Ban thương mại và đầu tư, tiểu ban kinh doanh vừa
và nhỏ của các nước APEC, 2001.

Ở Indonesia; Tổng cục thống kê nước này phân loại dựa vào số lao động:
Doanh nghiệp có dưới 19 lao động được coi là nhỏ, doanh nghiệp có trên 20 lao
động được coi là vừa và lớn. Bộ công nghiệp xác định SME dựa trên vốn đầu tư
vào máy móc: dưới 70 triệu rupi và tính bình quân trên một lao động có dưới
4
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


625 nghìn rupi là doanh nghiệp nhỏ. Còn Ngân hàng Indonesia coi doanh nghiệp
có tài sản dưới 100 triệu rupi là SME.

Ở Hồng kông, doanh nghiệp có lao động dưới 200 người là SME. Ở Hàn
Quốc; tiêu thức phân loại doanh nghiệp chủ yếu dựa vào số lao động và phân
biệt theo hai lĩnh vực sản xuất và dịch vụ: trong lĩnh vực sản xuất dưới 1000 lao
động, trong lĩnh vực dịch vụ dưới 20 lao động là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ở Đài Loan doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người và vốn đầu tư
dưới 1,5 triệu USD là SME. Ở Malaysia; doanh nghiệp có vốn cổ đông dưới 500
nghìn USD hay tài sản ròng dưới 200 nghìn USD, số lao động dưới 20 người,
doanh nghiệp có vốn cổ đông hay tài sản ròng từ 0,5- 2,5 triệu USD, lao động
dưới 100 người là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở Thái Lan; doanh nghiệp có số
lao động tối đa 250 người và vốn đầu tư không quá 99.500 USD là SME.
Theo các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì
SME là những công ty hạch toán độc lập không phải là các Công ty con của các
Công ty lớn; tuyển dụng ít hơn một số lượng lao động đã được quy định. Số
lượng này khác nhau giữa các hệ thống thống kê quốc gia. Giới hạn trần phổ
biến nhất là 250 lao động tại các nước thuộc liên minh Châu Âu (EU). Tuy
nhiên, một số nước đặt ra giới hạn ở mức 200 lao động, trong khi Mỹ coi SME
bao gồm các Công ty có ít hơn 500 lao động.1

2. Các yếu tố tác động đến phân loại SME.
Sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, vừa, nhỏ hoàn toàn mang tính
tương đối phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao
thì chỉ số các tiêu chí càng tăng lên. Như vậy, ở một số nước có trình độ phát
triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loại SME sẽ thấp hơn
so với các nước phát triển. Chẳng hạn, ở Nhật Bản, doanh nghiệp có 300 lao
động và 1 triệu USD tiền vốn là SME, còn doanh nghiệp có quy mô như vậy ở
Thái Lan lại là doanh nghiệp lớn.

1
Nguồn: Tổ chức lao động Quốc tế (ILO-SAAT): Chính sách vĩ mô và công nghiệp nhỏ-Bài
học từ Châu Á và Châu phi, New Delhi, 2001.
5
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


- Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành nghề, có ngành sử
dụng nhiều lao động (như dệt, may), có ngành sử dụng nhiều vốn ít lao động
(như hoá chất, điện). Do đó, cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối
chứng trong phân loại SME giữa các ngành khác nhau. Chẳng hạn: các ngành
sản xuất có tiêu chí thường cao hơn, còn các ngành dịch vụ có tiêu chí thấp hơn.
- Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển giữa các vùng khác nhau nên số
lượng và quy mô doanh nghiệp cũng khác nhau. Chẳng hạn, một doanh nghiệp ở
thành phố được coi là nhỏ nhưng ở vùng miền núi, nông thôn lại được coi là lớn.
Do đó, cần tính đến cả hệ số vùng để đảm bảo tính tương thích trong việc so
sánh quy mô doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau.
- Tính chất lịch sử: một doanh nghiệp trước đây được coi là lớn, nhưng
với quy mô như vậy, hiện tại hoặc tương lai có thể là nhỏ hoặc vừa. Chẳng hạn,
ở Đài Loan năm 1967, trong ngành công nghiệp, doanh nghiệp có quy mô
dưới130.000 USD (5 triệu đô la Đài Loan là doanh nghiệp vừa và nhỏ khi đó,
năm 1989 tiêu chí này là 1,4 triệu USD (hay 40 triệu đô la Đài Loan).
- Phụ thuộc vào mục đích phân loại: khái niệm SME sẽ có sự khác nhau
tuỳ thuộc vào mục đích phân loại. Chẳng hạn, nếu mục đích phân loại để hỗ trợ
các doanh nghiệp yếu, mới ra đời, sẽ khác với mục đích là để làm giảm thuế cho
các công nghệ sạch, hiện đại, không gây ô nhiễm môi trường.


II- VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG SỰ
NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ.

Trên thế giới, người ta đã thừa nhận rằng khu vực SME đóng một vai trò
quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi nước. Tuỳ theo trình độ
phát triển kinh tế mỗi nước mà vai trò cũng thể hiệ47n khác nhau.
Đối với các nước công nghiệp phát triển cao như CHLB Đức, Nhật Bản,
Mỹ,... Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò hết sức quan trọng. Ở CHLB Đức,
SME vẫn có vai trò quan trọng trên nhiều mặt. Ở Nhật Bản người ta coi SME là
một nguồn lực bảo đảm cho sức sống của nền kinh tế, là bộ phận quan trọng của
cơ cấu quy mô nhiều tầng của các doanh nghiệp.
6
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển thì ngoài vai trò là bộ
phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng
trưởng kinh tế, SME còn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tiến hành công nghiệp hoá đất nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn
đề xã hội.
Đối với các nước ở Châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippin,
Inđônêsia, SME có vai trò tích cực trong việc chống đỡ các tiêu cực của cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ, góp phần đáng kể vào sự ổn định kinh tế - xã hội
và từng bước khôi phục nền kinh tế.
Vai trò của SME được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: SME chiếm tỷ trong cao về số lượng trong tổng số các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh của các nước: Theo tiêu chí xác định SME thì số
doanh nghiệp này ở các nước chiếm tỷ lệ từ 90-99% tổng số doanh nghiệp của
các nước. Cụ thể: Nhật Bản: 99,1%, các nước Tây Âu: 99% (riêng Đức: 99,7%),
Mỹ và lãnh thổ Đài Loan : 98%, Singapore: 90%, Thái Lan, Malaysia,
Indonesia: 95-98%.
Thứ hai: Thu hút lượng lao động của toàn xã hội. Tuy số doanh nghiệp
của khu vực SME chiếm tỷ trọng cao nhưng do số lượng lao động của từng
doanh nghiệp không nhiều, nên tổng số lao động làm trong SME không nhiều,
nhưng vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể, từ 50-80%.
Thứ ba: Đóng góp phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân và tăng
trưởng kinh tế. Theo tính toán của các nước thì SME góp phần quan trọng vào sự
gia tăng thu nhập quốc dân của các nước.
Sở dĩ SME có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước vì nó có
tính linh hoạt cao, thích ứng với sự biến động của thị trường, khả năng thay đổi
mặt hàng, mẫu mã nhanh theo thị hiếu người tiêu dùng. Bên cạnh đó, nhu cầu
đầu tư vốn ít và sử dụng nguyên liệu, vật liệu có ở địa phương, ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật - công nghệ nhanh nhạy hơn, đào tạo người lao động và người quản
lý ít tốn kém hơn, yêu cầu về quản lý kinh doanh không đòi hỏi quá cao.



7
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Nhìn chung trên đây là những vai trò quan trọng của SME trong mỗi nền
kinh tế các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, ngoài các chỉ tiêu quan trọng cơ
bản nói trên, vai trò của SME còn thể hiện ở một vài chỉ tiêu khác như: gieo
mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh, góp phần giảm bớt chênh lệch trong
xã hội, tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương, cải thiện mối quan
hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau.


III- NHỮNG BIỆN PHÁP HỖ TRỢ XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC.

1- Các biện pháp hỗ trợ:
Trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển hướng ngoại, đẩy mạnh
xuất khẩu trở thành phương hướng chủ yếu của chính sách ngoại thương.
Trong xu thế hiện nay, việc hỗ trợ đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cho
SME nói riêng và các doanh nghiệp kinh doanh khác nói chung là vấn đề cấp
bách đối với các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển nhằm đẩy mạnh tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhìn chung có một số biện pháp chính để hỗ trợ
xuất khẩu cho SME như sau:
1.1- Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng để thực
hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu. Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu nói riêng chịu ảnh hưởng của cả tỷ giá hối đoái chính thức
(TGHĐCT) và tỷ giá hối đoái thực tế (TGHĐTT).
Tỷ giá hối đoái chính thức là tỷ giá do Nhà nước công bố tại một thời
điểm nhất định như: TGCT giữa VND và USD ngày 23/3/2001 là 14.527
VND/USD. Nhưng tỷ giá hối đoái thực tế thì không phải như vậy mà còn phụ
thuộc vào tỷ lệ lạm phát trong nước và tỷ lệ lạm phát của các nước có quan hệ
thương mại. TGHĐTT và TGHĐCT có mối quan hệ như sau:


TGHĐCT x Chỉ số giá trong nước

8
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


TGHĐTT = -------------------------------------------
Chỉ số giá cả nước ngoài
Việc đưa ra chỉ số giá cả nước ngoài vào tính toán tỷ giá thực tế cần phải
được cân nhắc kỹ bởi vì, một nước có quan hệ thương mại với nhiều nước khác.
Để sử dụng có hiệu quả chính sách tỷ giá hối đoái có thể phải tính tỷ giá hối đoái
song phương đối với từng bạn hàng thương mại quan trọng.
TGHĐTT thay đổi ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh xuất khẩu của
SME nói riêng. Do đó, nó có thể gây tác động thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động
xuất khẩu. Điều này thể hiện: nếu TGHĐTT quá cao có nghĩa là đồng bản tệ có
giá trị tăng lên so với đồng ngoại tệ thì hàng nhập khẩu trở nên rẻ tương đối so
với sản phẩm nội địa mà chúng chịu chi phí tăng do lạm phát nhưng các nhà xuất
khẩu trở nên kém sinh lợi do ngoại tệ thu được phải bán với tỷ giá chính thức cố
định thấp. Nếu các nhà xuất khẩu tăng giá xuất khẩu để bù đắp chi phí thì sẽ gặp
rất nhiều khó khăn trong vấn đề chiếm lĩnh thị trường. Như vậy, khi tỷ giá thực
tế tăng so với tỷ giá chính thức thì sẽ khuyến khích nhập khẩu nhưng lại kìm
hãm xuất khẩu.
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt thúc
đẩy xuất khẩu, Nhà nước cần có biện pháp giảm lạm phát, ổn định giá trị đồng
tiền nội địa và có tỷ giá chính thức hợp lý, phù hợp với mục tiêu chung trong
chiến lược phát triển hướng ngoại.


1.2. Thực hiện các biện pháp tài chính tín dụng:
Việc Nhà nước áp dụng các biện pháp tài chính tín dụng nhằm mở rộng
xuất khẩu là rất quan trọng, nhất là đối với các nhà xuất khẩu có quy mô vừa và
nhỏ. Để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, thị trường mà ở đó cạnh tranh cực kỳ
khốc liệt, nhà xuất khẩu phải thực hiện việc bán chịu, trả chậm, hoặc dưới hình
thức tín dụng hàng hoá với lãi suất ưu đãi cho người mua. Trong trường hợp này,
sự hỗ trợ của nhà nước là rất cần thiết đối với SME. Sự hỗ trợ trong việc đảm
bảo tài chính tín dụng được thể hiện qua các hình thức:



9
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


1.2.1- Thực hiện biện pháp cấp tín dụng xuất khẩu:
Vốn bỏ ra cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu thường rất lớn. Người
xuất khẩu phải có vốn trước và sau khi giao hàng để thực hiện hợp đồng xuất
khẩu. Nhiều khi người xuất khẩu cần phải có vốn để kéo dài khoản tín dụng ngắn
hạn dành cho khách hàng. Đặc biệt đối với SME vấn đề vốn đang là vấn đề rất
khó khăn nên cần có sự cung cấp tín dụng của nhà nước với lãi suất ưu đãi. Cấp
tín dụng trực tiếp cho SME không chỉ đơn thuần là trợ giúp để thực hiện xuất
khẩu mà còn giúp đỡ doanh nghiệp giảm chi phí về vốn cho hàng xuất khẩu và
giảm giá thành xuất khẩu. Tín dụng xuất khẩu có hai hình thức chủ yếu:
Thứ nhất: Tín dụng trước khi giao hàng. Trước khi giao hàng SME cần có
một lượng vốn nhất định để trả cho phần nhập khẩu nguyên vật liệu và các đầu
vào trung gian trong nước, các bộ phận cấu thành trong nước khác như: tiền
lương, lãi vay, địa tô cần thiết cho sản xuất hàng xuất khẩu và tồn kho thành
phẩm xuất khẩu thông thường được chấp nhận dựa theo đơn đặt hàng xuất khẩu
và được cung trong thời gian nhất định. Nhiều khi SME phải bỏ ra một số vốn
lớn để ứng cho nhà sản xuất hàng xuất khẩu. Lãi suất tín dụng xuất khẩu là yếu
tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của SME. Lãi suất thấp cho phép SME bán được
giá thấp để cạnh tranh với hàng khác, đặc biệt là các nhà xuất khẩu nước ngoài
như Thái Lan, Trung Quốc...
Thứ hai: Tín dụng sau khi giao hàng. Đây là hình thức mua hối phiếu xuất
khẩu hoặc tạm ứng theo chứng từ hàng hoá của Ngân hàng đối với SME. Loại
tín dụng này thường để trả các khoản tín dụng trước khi giao hàng.


1.2.2. Biện pháp bảo lãnh tín dụng:
Trong điều kiện cho phép, để chiếm lĩnh thị trường một số SME đã thực
hiện bán chịu - trả chậm cho nước ngoài. Việc bán chịu như vậy thường có rủi ro
dẫn đến mất vốn. Trong trường hợp này, để hỗ trợ xuất khẩu cho SME Nhà nước
cần phải phát huy cao hơn hiệu quả của dịch vụ bảo hiểm xuất khẩu nhằm thực
hiện đền bù vốn đã mất của SME cũng như các nhà kinh doanh khác để họ yên
tâm hoạt động và giảm được rủi ro. Tuy nhiên, bản thân SME cũng sẽ quan tâm

10
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


đến việc kiểm tra khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu và thu tiền bán hàng
khi hết thời hạn tín dụng.
Việc bảo lãnh tín dụng ngoài việc thúc đẩy xuất khẩu còn nâng cao hiệu
quả xuất khẩu vì: Nếu có vốn SME có thể thực hiện việc bán chịu mà giá bán
chịu bao gồm cả giá cả bán trả ngay công với phí tổn đảm bảo lợi tức.


1.3- Biện pháp trợ cấp xuất khẩu:
Mục đích của việc trợ cấp xuất khẩu là giúp SME tăng thu nhập nâng cao
khả năng cạnh tranh hàng hoá xuất khẩu. Do đó đẩy mạnh được xuất khẩu. Có
hai loại trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp trực tiếp và trợ cấp gián tiếp.
Thứ nhất: Trợ cấp trực tiếp là áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng xuất
khẩu, miễn hoặc giảm thuế đối với các nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng
hoá xuất khẩu, cho nhà sản xuất được hưởng giá ưu đãi đối với các yếu tố đầu
vào của sản xuất (như điện nước, vận tải, thông tin liên lạc, trợ giá xuất khẩu...).
Đối với SME hình thức này rất có tác dụng và có hiệu quả.
Thứ hai: Trợ cấp gián tiếp là hình thức trợ cấp của nhà nước thông qua
việc Nhà nước dùng ngân sách của mình để giới thiệu, triển lãm, quảng cáo ...
tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch xuất khẩu hoặc Nhà nước trợ giúp về kỹ
thuật và đào tạo chuyên gia. Trong điều kiện cạnh tranh cả trong lẫn ngoài nước
như hiện nay nhất là cạnh tranh ngoài nước, SME rất cần sự giúp đỡ của Chính
phủ trong việc nghiên cứu thị trường, cung cấp các thong tin về thị trường, giới
thiệu triển lãm và quảng cáo mặt hàng xuất khẩu. Những vấn đề này, bản thân
SME không có khả năng làm hoặc nếu làm thì không có hiệu quả cao. Việc trợ
giúp kỹ thuật và chuyên gia, không ai khác ngoài Nhà nước phải đảm nhận. SME
cần có sự giúp đỡ về đào tạo chuyên gia, về cả nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu
và cả về chuyên gia sản xuất.




11
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


1.4- Biện pháp hỗ trợ về thể chế - tổ chức:

Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu bằng việc áp dụng các
biện pháp thâm nhập thị trường và tạo điê kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng
hoá ở nước ngoài. Điều này thường được thể hiện như sau:
- Lập các trung tâm cung cấp thông tin cho nhà xuất khẩu.
- Đào tạo cán bộ, chuyên gia giúp các nhà xuất khẩu.
- Lập các cơ quan Nhà nước ở nước ngoài để nghiên cứu tại chỗ tình hình
thị trường hàng hoá, thương nhân và chính sách của chính phủ nước sở
tại.
- Nhà nước đứng ra ký kết các Hiệp định thương mại, Hiệp định hợp tác
kỹ thuật, vay nợ, viện trợ trên cơ sở thúc đẩy xuất khẩu.


2- Kinh nghiệm hỗ trợ xuất khẩu cho SME của một số nước.
Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra những thách thức lớn
cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung đặc biệt là SME nói riêng trong mọi
lĩnh vực và quan trọng nhất là lĩnh vực xuất khẩu. Với những khó khăn đó, SME
sẽ phải quyết tâm rất lớn, bên cạnh đó thì sự hỗ trợ của Nhà nước trong là một
điều rất cần thiết đối với họ.
Một trong những biện pháp có ý nghĩa lúc này là những kinh nghiệm
thành công cũng như thất bại của các nước đi trước có thành tựu lớn trong phát
triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá nhanh, có điều kiện lịch sử, kinh tế,
văn hoá tương đồng với chúng ta. Sau đây tác giả xin trình bầy kinh nghiệm của
một số nước trong khu vực Châu Á.


2.1. Các biện pháp hỗ trợ của Đài Loan.
Đài Loan là một quốc gia điển hình có nhiều SME. Sự thần kỳ của kinh tế
Đài Loan cũng gắn với mức tăng trưởng cao và sự phồn vinh của SME. Quá
trình phát triển này cũng gắn liền với nỗ lực của các xí nghiệp nhỏ và vừa trong
sản xuất, tiết kiệm nhằm tăng sức cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu.
Sự phát triển kinh tế Đài Loan luôn gắn chặt với hoạt động ngoại thương.
Ngoại thương thực sự là động lực thúc đẩy các ngành sản xuất vươn lên, đáp ứng

12
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


nhu cầu phong phú và đa dạng. Do nhận thức được những giới hạn của thị
trường nội địa, từ những năm 60 Đài Loan đã coi mở rộng xuất khẩu như một
chính sách chỉ đạo, một phương châm chiến lược. Ngay trong những năm đầu
thực hiện chiến lược "hướng về xuất khẩu", ngành ngoại thương Đài Loan đã trở
thành lực lượng nâng đỡ và nuôi dưỡng các ngành công nghiệp.
Cuối những năm 50, công nghiệp tư nhân của Đài Loan đã phát triển khá
mạnh, thị trường nội địa đã tới mức bão hoà, công nghiệp Đài Loan chuyển từ
"thay thế nhập khẩu" sang "đẩy mạnh xuất khẩu". Lúc này khu vực tư nhân đã có
cơ sở khá vững, chính quyền Đài Loan đã khuyến khích họ phát triển ngoại
thương, xâm nhập thị trường quốc tế qua hàng loạt các biện pháp cải cách kinh
tế như chuyển thống nhất tỷ giá hối đoái, nới lỏng những hạn chế nhập khẩu...
Năm 1965 Đài Loan đã mở "khu chế biến xuất khẩu" với nhiều ưu đãi về ngoại
thương. Đồng thời các biện pháp tăng cường thực lực kinh tế và khả năng cạnh
tranh, chính sách bảo hộ mậu dịch cũng dần được thay thế bằng chính sách tự do
mậu dịch.
Trong những năm cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60, Đài Loan đã áp dụng
phương châm "hy sinh thuế cao, đẩy mạnh kinh tế, bồi dưỡng nguồn thuế", liên
tục ban hành các pháp lệnh "khuyến khích đầu tư", "đầu tư Hoa Kiều"...Với
nhiều ưu đãi dành cho SME thực hiện tái sản xuất mở rộng và đổi mới thiết bị.
Chẳng hạn, Chính phủ miễn thuế 5 năm cho các xí nghiệp mới xây dựng, miễn
thuế 4 năm cho các xí nghiệp đổi mới thiết bị tính từ lúc bắt đầu bán sản phẩm.
Bên cạnh đó, Đài Loan còn thực hiện biện pháp "hạn chế lập xưởng", nghĩa là
trên cơ sở đánh giá thị trường, chính quyền hạn chế khắt khe đầu tư vào một số
ngành nào đó để đảm bảo có thị trường cho SME trọng điểm, tránh tình trạng sản
xuất trùng lặp, gây lãng phí tiền lương, lao động và vốn.
Trong thời gian 1970-1977 Đài Loan đã miễn giảm thuế, việc giảm thuế
đã kích thích đầu tư. Do đó, số SME mới không ngừng tăng nên, SME cũ không
ngừng gia tăng tài sản, khiến cho mức thuế cơ bản tăng lên, và giá trị tuyệt đối
của thuế cũng không ngừng tăng lên. Cho tới những năm 80, Chính quyền Đài
Loan ban hành một hệ thống chính sách tổng hợp hỗ trợ SME và ngay lập tức đã

13
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của khu vực này, tạo nên một làn sóng
phát triển SME. Hệ thống chính sách hỗ trợ SME của Đài Loan từ năm 2000 đến
nay bao gồm:
1. Chính sách hỗ trợ về tài chính tín dụng
2. Chính sách hỗ trợ về công nghệ
3. Chính sách nghiên cứu và phát triển
4. Chính sách về kiểm soát chất lượng sản phẩm
5. Chính sách quản lý đào tạo
6. Chính sách an toàn công nghiệp
7. Chính sách hỗ trợ nghiên cứu thị trường quốc tế
8. Chính sách trợ giúp SME hợp tác lẫn nhau cùng phát triển
9. Chính sách trợ giúp SME thích ứng với hệ thống pháp luật
Với hệ thống chính sách này, Đài Loan đã thành công trong phát triển
SME . Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đài Loan đóng góp bình quân mỗi năm
tới 40% GNP, 60% kim ngạch xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho khoảng
68% lực lượng lao động cả nước.2
Ngoài những điểm nêu trên, về các phương tiện khai thác thăm dò tài
nguyên, cung ứng nguyên liệu, mở rông thị trường, chuyển giao công nghệ,
chính quyền Đài Loan đều căn cứ vào nhu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh
tế, trực tiếp tham gia dẫn dắt, nâng đỡ khu vực SME ở các khu vực khác nhau.
Về ngoại thương, Đài Loan tổ chức đặt trụ sở và mạng lưới mậu dịch ở
hơn 50 nước và khu vực. Đồng thời còn tham gia triển lãm, hội trợ quốc tế,
thường xuyên mời khách nước ngoài và các nhà kinh doanh đến Đài Loan tham
quan, cử người đi nước ngoài để chào hàng. Để mở rộng mạng lưới mậu dịch
quốc tế, Đài Loan đã xây dựng các trạm "phục vụ mậu dịch quốc tế"cung cấp
cho SME các đường dây điện thoại và khuyến khích các cơ sở SME đặt đại lý ở
nước ngoài…
Với những biện pháp nâng đỡ điển hình như trên, trong hoàn cảnh quốc tế
thuận lợi, kết hợp với sự nỗ lực của bản thân SME, viện trợ của Mỹ... đã góp

2
Nguồn: vụ kinh tế Ngân hàng Đài Loan, 2002
14
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


phần giúp Đài Loan đạt được những thành tựu lớn trong ngoại thương. Cụ thể
xin xem dưới bảng 1.2 sau:


BẢNG 1.2: TỶ LỆ XUẤT KHẨU CỦA SME Ở ĐÀI LOAN THỜI KỲ 1996-2001.
Đơn vị:%
Thời kỳ Doanh nghiệp lớn SME Tổng số
1996 43,2 56,8 100
1997 41,8 58,2 100
1998 40,9 59,2 100
1999 40,2 59,8 100
2000 33,3 66,7 100
2001 25,2 74,8 100

Nguồn:Vụ nghiên cứu kinh tế ngân hàng Đài loan, 2002
Nhìn vào bảng trên ta nhận thấy xuất khẩu của SME ở Đài Loan có vai trò
to lớn trong thương mại của công cuộc thực hiện chiến lược "hướng về xuất
khẩu".
2.2. Các biện pháp hỗ trợ của Hàn Quốc.
Xem xét quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc từ cuối thập kỷ 50 đến
nay, có thể nhận thấy nổi lên 3 giai đoạn phát triển với những ưu điểm phát triển
khác nhau. Giai đoạn thứ nhất kéo dài cho đến thập kỷ 70 và trọng tâm ưu tiên
phát triển là khuyến khích và thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu. Giai đoạn thứ
hai kéo dài trong suốt thập kỷ 80, trong đó ưu tiên phát triển được dành cho công
nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất. Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ đầu thập kỷ 80
mà trọng tâm của nó đã chuyển sang khu vực SME.
Các biện pháp khuyến khích và ưu đãi đầu tư ở Hàn Quốc đã thay đổi theo
từng giai đoạn phát triển và nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển trong từng
giai đoạn.
Để thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu cho đến đầu thập kỷ 70, Chính phủ
Hàn Quốc đã thực hiện chiến lược thúc đẩy xuất khẩu hơn là thay thế nhập khẩu.
Chính phủ Hàn Quốc đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các nhà xuất khẩu, với nhiều biện


15
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


pháp khác nhau, gồm đối sử ưu đãi trong cấp vốn tín dụng và trong chế độ thuế
khoá.
Hệ thống cấp vốn tín dụng xuất khẩu đã đóng vai trò rất quan trọng nhằm
hỗ trợ xuất khẩu cho đến giữa những năm 80 khi có được thặng dư về cán cân
vãng lai. Bản chất của hệ thống này là chính sách tái chiết khấu của hệ thống
ngân hàng để cung cấp tín dụng với lãi suất thấp thông qua các ngân hàng
thương mại cho SME đã nhận được tín dụng thư. Các khoản cho vay chiết khấu
của ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cũng được mở rộng cho xuất khẩu trước
khi giao hàng nhằm hỗ trợ cho việc mua nguyên liệu và các sản phẩm trung gian
để sản xuất hàng xuất khẩu.
Trước những năm 1980 lãi suất cho vay đối với xuất khẩu từ 6-10%/ năm,
trong khi mức lãi suất chung là 17-23%/năm. Từ cuối những năm 1980, sự
chênh lệch lãi suất mới được xoá bỏ. Nếu xem xét mức lãi suất trên thị trường tài
chính phi chính thức tại thời điểm đó vào khoảng hơn 30%, thì sự ưu đãi đối với
xuất khẩu qua tín dụng lãi suất thấp thật lớn. Hầu như mọi khoản tín dụng xuất
khẩu đều được hỗ trợ thông qua cơ chế tạo tiền của Ngân hàng Trung ương dưới
hình thức chiết khấu. Trong khoảng thời gian từ 1976-1986 tỷ lệ tín dụng của
Ngân hàng Hàn Quốc trong tổng số khoản vay của Ngân hàng nội địa là 79,4%,
đặc biệt vào những năm 1973-1981 tỷ lệ này lên tới 90,1%.
Ngoài ra còn có rất nhiều biện pháp hỗ trợ khác của Chính phủ đối với
hoạt động xuất khẩu của SME như chiết khấu thuế ra khỏi giá mua thiết bị và
phương tiện đầu tư để sản xuất; trợ cấp cho việc cải tiến đóng gói và mẫu mã sản
phẩm, mở rộng các phương tiện cung cấp dịch vụ kiểm tra hàng xuất khẩu, mở
các trung tâm đào tạo tiếng nước ngoài, gửi các đoàn đến hội trợ triển lãm ở
nước ngoài, tổ chức các cuộc triển lãm ở nước ngoài, tổ chức các cuộc triển lãm
thương mại tại Hàn Quốc.
Chính phủ Hàn Quốc cũng theo dõi chặt chẽ kết quả hoạt động xuất khẩu
và hàng tháng hoặc hàng quý cung cấp các thông tin về các vấn đề kinh tế trong
nước, về xu hướng của thị trường nước ngoài. Thông qua các cuộc họp thường
kỳ do Tổng thống làm chủ tọa với sự tham dự của các quan chức cấp cao của

16
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Chính phủ để thực hiện xem xét kết quả hoạt động xuất khẩu. Nếu kết quả hoạt
động xuất khẩu là yếu kém, thì Tổng thống sẽ thúc giục các quan chức có liên
quan của Chính phủ và các nhà ngân hàng phải cung cấp hỗ trợ mạnh mẽ hơn
nữa đối với xuất khẩu nhằm đạt được khối lượng xuất khẩu đề ra theo kế hoạch.
Bằng cách đó, những cản trở đối với xuất khẩu được xoá bỏ một cách kịp thời
phục vụ cho việc hỗ trợ SME.
Một đặc điểm khác trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Chính phủ
Hàn Quốc là sự hỗ trợ của Chính phủ cho xuất khẩu căn cứ vào kết quả xuất
khẩu thực sự đạt được. Các nhà xuất khẩu được quyền nhận hỗ trợ chỉ là những
doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu hàng năm vượt một mức nhất định. Để
nhận được sự ưu đãi lớn hơn, các nhà xuất khẩu phải làm việc chăm chỉ và
chuyên cần hơn, để cạnh tranh với nhau và với nước ngoài. Chiến thuật buộc các
doanh nghiệp Hàn Quốc phải cạnh tranh với các công ty nước ngoài đã mang lại
những lợi ích lớn trong việc đẩy mạnh sự học hỏi, tiếp thu kiến thức mới qua làm
việc, qua đó rút ngắn thời gian cần thiết cho học tập.
Chính sách hỗ trợ xuất khẩu toàn diện nói trên đã đóng vai trò cơ bản để
SME của Hàn Quốc được mở rộng nhanh chóng và thu được kết quả mong
muốn.
Trên đây là những kinh nghiệm hỗ trợ cho SME trong hoạt động kinh
doanh xuất khẩu của một số nước trong khu vực Châu Á. Tuy nhiên, khi đưa ra
những chính sách hỗ trợ xuất khẩu cho SME, quốc gia nào cũng khó có có khả
năng áp dụng những chính sách, biện pháp hỗ trợ công khai khi muốn hoà nhập
với nền kinh tế trong khu vực và thế giới. Do vậy, các chính sách hỗ trợ xuất
khẩu đưa ra phải phù hợp với thông lệ quốc tế, nếu không sẽ gây ra phản ứng đối
phó từ phía các đối tác. Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm của các nước đã
trình bày ở trên, có thể làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình
hỗ trợ xuất khẩu cho SME trong điều kiện hiện nay, tuy nhiên, chúng ta áp dụng
những bài học này một cách có chọn lọc không dập khuân máy móc.




17
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương




CHƯƠNG II: DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM
I- KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Ở VIỆT NAM.
1. Khái niệm về các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, trước đây, khái niệm SME đã được sử dụng để phân loại
doanh nghiệp nhà nước với mục đích xác định mức cấp phát trong cơ chế bao
cấp, xác định mức lương cho các giám đốc doanh nghiệp: Doanh nghiệp cấp 1,
Doanh nghiệp cấp 2, Doanh nghiệp cấp 3. Tiêu thức phân loại chủ yếu là số lao
động trong biên chế và theo phân cấp Trung ương - địa phương. Hiện nay, khi
chuyển sang cơ chế thị trường, mục đích, cách thức, tiêu thức phân loại và đối
tượng cũng khác trước. Phương pháp phân loại thường được sử dụng theo các
tiêu chí: lao động, vốn (pháp định, cố định và lưu động), doanh thu. Trong đó hai
tiêu chí được thống nhất chung là số lao động và vốn để xác định SME. Trước
yêu cầu thực tiễn kinh doanh, vấn đề này đã được giải quyết tạm thời bằng Công
văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/6/1998, theo đó doanh nghiệp nhỏ và vừa


18
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ
đồng (tương đương 387.000USD)3. Tiêu chí này được xác định nhằm xây dựng
một bức tranh chung về các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam phục vụ cho
việc hoạch định chính sách. Trên thực tế, tiêu chí này không cho phép phân biệt
doanh nghiệp nhỏ hay doanh nghiệp cực nhỏ, và nhất là đối với hộ kinh doanh cá
thể hiện đang cần lưu tâm đặc biệt.
Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/11/2001, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ được xác định như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là
những cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người”. Thông qua Nghị định này, Nhà nước ta
đã thể hiện sự nhìn nhận tích cực về vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy vậy, cần có thời gian để đánh giá chính sách này và cần chuẩn bị các biện
pháp kế hoạch cụ thể cho việc thực hiện chính sách. Chính sách hỗ trợ này
không đi theo phương thức can thiệp trực tiếp vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa
để tránh tình trạng SME phụ thuộc quá nhiều vào sự hỗ trợ của Nhà nước, mà
phải khuyến khích tinh thần tự lực của SME.
2. Khái quát thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Như chúng ta đều biết, sự tồn tại và phát triển của khu vực tư nhân mới
được chính thức thừa nhận từ năm 1990, khi luật doanh nghiệp và luật công ty
được thông qua. Các bộ luật này đã được thay thế bởi Luật doanh nghiệp, có
hiệu lực từ ngày 1/01/2000. Luật doanh nghiệp đưa ra 4 hình thức pháp lý cơ bản
của doanh nghiệp: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần và công ty hợp danh. Phần lớn các doanh nghiệp đăng ký dưới hình thức
doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
Cho đến nay, việc phân loại các doanh nghiệp theo quy mô vẫn chưa được
thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Những tiêu chí phân loại quy mô đôi khi cũng
rất khác nhau khiến cho việc tổng hợp số liệu chưa thực hiện được một cách có



3
Theo tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Đôla Mỹ tại thời điểm ngày 20/06/1998.
19
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


hệ thống. Dưới đây là một số bảng phân loại doanh nghiệp theo quy mô từ nhiều
nguồn khác nhau:
Bảng 2.1: Phân loại doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chính thức
theo số lượng lao động, 2001:
Đơn vị:%
Chỉ tiêu 1-100 lao động Trên 100 lao động Tổng cộng
Số lượng 25.399 622 26.021
Số phần trăm 97,6 2,4 100
Nguồn: Tổng cục thống kê: Kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp ngoài quốc doanh
năm 2001, Nxb Thống kê, 2002
Bảng 2.2: Phân loại cơ sở kinh doanh phi nông nghiệp tại các vùng
nông thôn theo quy mô (bao gồm các hộ kinh doanh cá thể)
Đơn vị: %
Chỉ tiêu 1-10 11-50 51-100 Trên 100 Tổng
lao động lao động lao động lao động cộng
Cơ sở kinh doanh 52,7 37,2 4,6 4,5 100
Hộ KD phi nông nghiệp 98,7 1,2 0,6 - 100
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Các ngành nghề nông thôn Việt
Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2002
Xét về ngành nghề kinh doanh, thì các đơn vị kinh doanh thuộc khu vực
kinh tế tư nhân chủ yếu hoạt động trong ba ngành: (I) dịch vụ thương nghiệp,
sửa chữa xe động cơ, mô tô xe máy 46%; (II) trong công nghiệp chế biến (22%);
và (III) khách sạn nhà hàng (13%). Điều đáng lưu ý là có 21% doanh nghiệp tư
nhân hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản và 26% công ty cổ phần hoạt động trong
lĩnh vực tài chính tín dụng, riêng trong lĩnh vực công nghiệp chế biến có tới
37,3% số SME hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, 11%
trong ngành dệt, may, da và 18,6% trong ngành sản xuất các sản phẩm kim loại.
Biểu đồ 2.1sẽ chứng minh về cơ cấu ngành nghề kinh doanh của SME.




20
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương

BIỂU ĐỒ 2.1 CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CỦA SME:


1
13%
4 2
46% 19%



3
22%



Chú thích:
1: Khách sạn, nhà hàng
2: Các ngành khác
3: Công nghiệp chế biến
4: Dịch vụ thương nghiệp
Nguồn: Chương trình phát triển dự án Mêkông (MPDF): Chuyên đề nghiên cứu
kinh tế tư nhân số 10: Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trên đường tiến tới
phồn vinh, Leila Webster, Hà Nội, 2002.
Xét về doanh thu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực kinh tế
tư nhân, thì cá nhân và nhóm kinh doanh chỉ chiếm 40% tổng doanh thu của khu
vực kinh tế tư nhân. Như vậy, về khía cạnh này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đăng ký chính thức, gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, chiếm phần quan trọng hơn (khoảng 57%). Điều này có thể có
khần do cá nhân và nhóm kinh doanh không khai báo đúng mức doanh thu của
họ, mà khai báo thấp hơn thực tế là điều có thể xảy ra. Tuy vậy, nó phản ánh một
thực tế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đăng ký chính thức có quy mô kinh
doanh lớn hơn. Và nếu muốn kinh doanh quy mô lớn thì chắc chắn phải chuyển
sang hình thức doanh nghiệp đăng ký chính thức, hoạt động theo nguyên tắc luật
lệ của cơ chế thị truờng.
Doanh thu của khu vực SME được thể hiện chi tiết dưới bảng sau:



21
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương

BẢNG 2.3:DOANH THU CÁC CƠ SỞ KINH TẾ
THEO VÙNG LÃNH THỔ.
Đơn vị:%
Loại hình doanh
nghiệp
Phân theo vùng lãnh thổ DNTN Công ty Công ty Hợp Kinh tế
TNHH cổ phần tác xã cá thể
1.Vùng núi và trung du 2,90 1,34 0,26 4,68 4,97 3,12
2.Đồng bằng sông hồng 2,97 15,89 7,48 12,90 12,07 11,73
3.Khu bốn cũ 4,38 0,62 0,12 25,39 4,48 3,05
4.Duyên hải miền Trung 6,19 4,37 1,34 9,03 7,91 6,12
5.Tây nguyên 1,98 1,85 0,05 4,53 3,22 2,43
6.Đông nam Bộ 41,44 68,05 86,01 31,98 38,96 51,46
7.Đồng bằng sông Cửu Long 40,14 7,43 4,73 11,49 28,39 22,08
Tổng số 100 100 100 100 100 100


Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM), 2002

Theo bảng 2.3, điều đáng chú ý là doanh thu của khu vực miền Đông Nam
Bộ, gồm cả thành phố Hồ Chí Minh, chiếm 51,46% tổng doanh thu của khu vực
SME trên cả nước. Tiếp đến là Vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 22,08%,
và Vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 11,73%. Như vậy, xét theo doanh thu, thì
hoạt động của khu vực SME ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở miền Nam Việt
Nam.
Vốn đầu tư thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam được thực hiện
dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ
trọng đáng kể. Tổng số vốn đang ký của hai loại hình doanh nghiệp này chiếm
khoảng 60% tổng số vốn đăng ký của kinh tế tư nhân. cá nhân và nhóm kinh
doanh chiếm khoảng 30%. Điều đáng chú ý là gần 50% vốn đăng ký của khu
vực kinh tế tư nhân ở đồng bằng sông Hồng được thưc hiện dưới hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn, trong khi đó khoảng 60% vốn đăng ký ở Đồng bằng
sông Cửu Long được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân.



22
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Nhìn vào bảng 2.4 dưới đây ta có thể thấy rằng vốn đầu tư phân bổ chủ
yếu vào các ngành kinh tế như thương nghiệp, sửa chữa xe động cơ, mô tô chiếm
38,38% trong tổng số vốn đầu tư vào các ngành kinh tế của khu vực SME. Tiếp
đến là ngành công nghiệp chế biến chiếm 26,98%, vận tải kho bãi và thông tin
liên lạc chiếm 9,41%, ngành thuỷ sản chiếm 6,79%, xây dựng chiếm 6,17%.
Như vậy, tổng số vốn đầu tư vào ngành thuỷ sản còn rất thấp trong khi kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản của khu vực này chiếm tỷ lệ rất lớn cụ thể trong giai
đoạn 1998-2002 chiếm tỷ trọng 25,1% trong kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của
cả nước. Để tăng kim ngạch xuất khẩu hải sản trong thời gian tới cần phải chú ý
đến việc đầu tư vốn cho khu vực này nhiều hơn.
Sự phân bố vốn của khu vực kinh tế nhìn chung được thể hiện dưới bảng
sau:




Bảng 2.4: Vốn các loại hình kinh doanh phân theo ngành kinh tế
(đến ngày 31/12/2002)
Đơn vị: %
Phân theo Loại hình doanh nghiệp


23
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương

ngành kinh tế DNT Công ty Công ty Hợp Kinh tế
N TNHH cổ phần tác xã cá thể
1. Nông nghiệp 0,04 0,27 0,09 0,18 0,22 0,17
2. Thuỷ sản 15,25 0,47 0,61 0,78 5,58 6,79
3. Công nghiệp khai 0,13 0,31 0,00 1,61 0,17 0,26
thác mỏ
4. Công nghiệp chế 30,41 26,51 23,03 26,71 24,38 26,98
biến 0,04 0,06 0,00 0,19 0,02 0,04
5. SX, phân phối điện,
khí đốt và nước 3,48 15,57 7,94 3,98 0,10 6,17
6. Xây dựng 42,38 43,51 7,33 15,73 37,85 38,38
7. Thương nghiệp, sửa
chữa xe động cơ mô 5,48 2,89 1,49 0,18 5,60 4,33
tô 0,53 3,83 0,69 47,49 20,24 9,14
8. Khách sạn
9. Vận tải kho bãi và 0,02 0,03 55,89 3,05 0,01 3,02
thông tin liên lạc 0,00 0,08 0,00 0,00 0,00 0,02
10. Tài chính tín dụng
11. Hoạt động khoa học 2,05 0,42 0,00 0,02 1,4 1,2
và công nghệ
12. Hoạt động phục vụ 0,19 6,04 2,94 0,08 4,42 2,44
cá nhân và cộng
đồng
13. Ngành nghề khác
Tổng số 100 100 100 100 100 100



Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM), 2002.


Khu vực SME là nơi tạo ra nhiều việc làm trong nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, sự phân bố lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phụ
thuộc vào phân bố địa lý của nước ta. Cụ thể xin xem thêm dưới bảng sau:




24
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương

BẢNG 2.5: LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ PHÂN
THEO VÙNG LÃNH THỔ ( CÓ ĐẾN 31/12/2002).
Đơn vị: %
Loại hình doanh nghiệp
Phân theo vùng lãnh thổ DNTN Công ty Công ty Hợp Kinh tế
TNHH cổ phần tác xã cá thể
1. Vùng núi và trung du 7,43 4,03 0,06 5,34 7,40 6,98
2. Đồng bằng sông Hồng 7,49 23 12,15 34,99 19,06 19,38
3. Khu bốn cũ 4,71 2,54 0,18 9,49 11,86 10,52
4. Duyên hải miền Trung 17,17 6,13 2,96 14,81 10,95 11,01
5. Tây nguyên 2,95 1,09 0,10 3,17 2,93 2,77
6. Đông Nam Bộ 28,68 58,62 75,95 26,35 22,57 26,40
7. Đồng bằng sông Cửu 31,57 4,59 8,60 5,84 25,24 22,94
Long
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế TW (CIEM ),2002

Như vậy theo bảng 2.4 thì khoảng gần một nửa (49,34%) số lao động của
khu vực SME làm việc ở vùng miền Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông
Cửu Long. Tiếp đó là vùng đồng bằng sông Hồng (19,38%), Duyên hải miền
Trung (11%), và vùng Khu Bốn cũ(10,52%). Trong đó, số lao động làm việc
trong loại hình kinh tế cá thể chiếm 81,21%, tiếp đến là các công ty TNHH
chiếm 7,98%, DNTN chiếm 5,54%.
Từ quá trình xem xét thực trạng khu vực SME ở Việt Nam, như trình bày
ở trên đây, có thể rút ra một số nhận xét tổng quát như sau:
Một là, xét trên tất cả các tiêu chí, phần lớn hoạt động của khu vực SME
ở Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung ở miền nam Việt Nam, đặc biệt là vùng
Đông Nam Bộ (gần 50%).
Hai là, xét về ngành nghề kinh doanh, thì hoạt động của khu vực SME ở
Việt Nam hiện nay hoạt động chủ yếu trong hai ngành. Đó là thương mại, dịch
vụ sửa chữa và công nghiệp chế biến (cả hai ngành này chiếm 69% tổng số
doanh nghiệp).



25
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Ba là, có thể nói, người Việt Nam vẫn chưa ưa chuộng sử dụng các hình
thức doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn. Hình thức doanh nghiệp trách nhiệm
hữu hạn năm 1997 chỉ chiếm 0,48% trong tổng số doanh nghiệp , trong khi đó
hình thức kinh tế cá thể chiếm 98%. Điều này có thể xuất phát từ các nguyên
nhân sau đây:
- Phần nhiều trong số những người kinh doanh đều là người tự tìm việc
làm cho mình. Họ khởi sự kinh doanh chỉ đơn giản là nhằm mục đích kiếm sống
cho bản thân và gia đình họ, mà chưa suy nghĩ đến tương lai phát triển, cũng
chưa có mục tiêu phát triển một cách rõ ràng.
- Quy mô nhỏ, phạm vi giao dịch, quy mô giao dịch, số lượng giao dịch và
tính chất của các giao dịch của họ cũng đơn giản; và bản thân người kinh doanh
chưa có yêu cầu nhận biết và không nhận biết các rủi ro liên quan kinh doanh.
- Hoạt động của họ chủ mang tính phi hình thức, vì vậy họ không có yêu
cầu phải sử dụng luật lệ của nhà nước. Trong môi trường đó, sự tin cậy lẫn nhau,
quen biết nhau là trên hết và chủ yếu.
- Cho đến nay, kỹ năng và hiểu biết về quản trị kinh doanh của người Việt
Nam mới bắt đầu xây dựng. Sự đào tạo về quản lý doanh nghiệp tại các trường
đại học tập trung nhiều hơn vào các kiến thức chuyên môn quản lý bậc trung cho
các công ty lớn, đặc biệt là nghiệp vụ kế toán, thống kê, quản lý tiền lương…Các
sinh viên có ít cơ hội được đào tạo thực tiễn về lập kế hoạch kinh doanh cũng
như khuyến khích phát triển những kỹ năng quản trị như kỹ năng bán hàng, tiếp
thị, quản trị nhân sự… Nhiều doanh nghiệp hoạt động theo cách suy đoán của
riêng họ.
Có thể nói, trên đây là những vấn đề chung nhất về tình hình hoạt động
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Phần tiếp theo chúng ta sẽ nghiên
cứu các vai trò của khối doanh nghiệp này.




26
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


3. Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong xuất khẩu và
sự nghiệp phát triển kinh tế.
3.1- Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong sự nghiệp phát
triển kinh tế:
Ở nước ta SME có diện rộng, phổ cập chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số
doanh nghiệp và có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội.
Cùng với kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn, SME được xem như là
những nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, tạo việc
làm và thu nhập cho người lao động, khai thác tận dụng hiệu quả tiềm năng về
vốn, tay nghề và những nguồn lực tiềm ẩn trong dân cư. Nó còn góp phần phân
bố công nghiệp trên các địa bàn khác nhau; giữ vai trò bổ sung cho công nghiệp
lớn; bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống, thể hiện bản sắc văn hoá
dân tộc.
Bảng 2.6 cho thấy phần đóng góp vào GDP của doanh nghiệp tư nhân
chính thức thường xuyên giữ ở mức 7,5%. Phần đóng góp của hộ kinh doanh cá
thể và trang trại vào GDP giảm một ít từ 36% năm 1997 xuống còn 33,18% năm
2001. Phần đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước tăng lên 41,4% năm 1999 và
giảm xuống 41% năm 2001. Đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài tăng từ 7% lên hơn 10% GDP trong 5 năm cuối. Thực tế phần đóng góp
40,5% vào GDP của hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân chính thức
(năm 2001) bao gồm phần đóng góp của các trang trại nông nghiệp và hộ kinh
doanh nông nghiệp. Ước tính phần đóng góp của hộ kinh doanh phi nông nghiệp
là 19% GDP4. Do vậy, toàn bộ khu kinh tế tư nhân đóng góp 26,31% GDP.
Bảng 2.6: Đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế trong giai
đoạn 1997-2001 (so sánh 1996)
Đơn vi: %
Các thành phần Kinh tế 1997 1998 1999 2000 2001
Khu vực quốc doanh 40,1 40,8 41,4 41,3 41,1
Khu vực ngoài quốc doanh 59,9 59,2 58,6 58,7 58,9

4
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Điều tra về các doanh nghiệp nhỏ và
vừa”,2002.
27
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


-Trong nuớc 53,2 51,9 50,4 49,5 48,9
-Hộ KD cá thể và trang trại 35,9 35,0 34,2 33,4 33,1
-Tư nhân chính thức 7,75 7,7 7,5 7,5 7,2
-Tập thể 9,7 9,1 8,7 8,5 8,6
-Đầu tư nước ngoài 6,7 7,3 8,2 9,2 10,4
Tổng cộng 100 100 100 100 100
Nguồn: Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê 2001, NXB. Thống kê, Hà
Nội, 2002

Do số lượng SME tăng nhanh nên mặt hàng phong phú, đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu của xã hội, tính cạnh tranh tăng lên làm cho chất lượng
hàng hoá và dịch vụ được nâng cao, thị trường sôi động hơn. SME còn góp phần
khai thác tiềm năng của đất nước để phát triển kinh tế như tài nguyên, lao động,
vốn thị trường, đặc biệt là tay nghề tinh xảo và truyền thống dân tộc.
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong
vấn đề tạo công ăn việc làm, hiện nay khu vực này hầu hết là doanh nghiệp nhỏ
và vừa với số lượng ước tính khoảng 70.000 doanh nghiệp có đăng ký (Trong số
này bao gồm các loại hình như: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, công ty
cổ phần và công ty hợp danh) và 2,1 triệu hộ kinh doanh51. Một thức tế tồn tại là
những quy chế, chính sách không rõ ràng, khó khăn trong tiệp cận vốn, công
nghệ và thị trường đã hạn chế tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân. Vì vậy,
đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam vào việc tăng số lượng
việc làm mang ý nghĩa rất quan trọng, vì khoảng 64,8% tổng số lao động được
trả lương (không kể lao động trong các tổ chức hành chính, sự nghiệp) được tạo
ra bởi khu vực này. Con số này thật đáng kể nếu so với con số 22,5% lao động
được tạo ra bởi khu vực kinh tế nhà nước (Xem biểu đồ 2.2).




5
Nguồn: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam,2002

28
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


BiÓu ®å 2.2: Tû lÖ lao ®éng ®−îc tr¶ l−¬ng trong khu vùc s¶n xuÊt n¨m
1993 - 1998 (%)


80 74.61

70
60
47.3
50

40

30
1993
22.5
17.3 17.5 1998
20 12.5
10 7.1
0.19 0.24 0.8
0
SOE Hîp t¸c x· Doanh nghiÖp t− Hé kinh doanh Doanh nghiÖp cã
nh©n vèn ®Çu t− n−íc
ngoμi



Nguồn: Tổng cục thống kê: Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998, Nxb
Thống kê, Hà Nội, 2001.
Nếu xét từ góc độ tạo việc làm trên tổng số lao động thì hộ kinh doanh cá
thể chiếm ưu thế trong khu vực kinh tế tư nhân (30,4%), nhưng đóng góp của
chúng có xu hướng giảm vì số việc làm được tạo bởi cơ sở kinh doanh thuộc loại
hình này rất ít. Tuy đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân chính thức vào GDP
còn thấp (khoảng7.31% tập trung chủ yếu vào khối công nghiệp và dịch vụ),
nhưng khu vực này lại tiềm tàng khả năng tạo nhiều công ăn việc làm hơn. Số
liệu thống kê sơ bộ về thực trạng lao động ở Việt Nam năm 2001 cho thấy xu thế
tương tự khi phân nhóm dân số từ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên theo
ngành kinh tế và khu vực thành phần kinh tế (xem bảng 2.7):


Bảng 2.7: Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên chia theo
ngành kinh tế và khu vực thành phần kinh tế (năm 2001):


Ngành kinh tế Đ.vị Tổng số Thành phần kinh tế
quốc dân Vốn
N.nước Tập thể Tư nhân và Cá thể
Đ.tư
hỗn hợp
N.ngoài


29
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương

Tổng số Người 3.769.151 6.144.862 1.361.376 26.048.291 353.750
-Trong đó: % 100 10 16,31 3,61 69,14 0,94
1. N.nghiệp, lâm Người 23.654.058 279.478 5.916.336 165.396 17.279.805 13.026
nghiệp và thuỷ sản % 62,78 0,74 15,70 0,44 45,86 0,03
2. Các ngành nghề Người 13.880.937 3.488.976 226.114 1.173.101 8.652.566 340.189
khác(phi N.nghiệp) % 37,22 9,26 0,61 3,17 23,28 0,91
Tỷ lệ LĐ ngành % 100 24,8 1,65 8,55 62,55 2,45
nghề phi N.nghiệp


Nguồn: Ban chỉ đạo điều tra việc làm Trung ương: Báo cáo sơ bộ kết quả điều
tra lao động – việc làm, ngày 1/7/2001.
Một vai trò nữa rất quan trọng của SME là làm cho nền kinh tế năng động
và có hiệu quả hơn. Do số lượng doanh nghiệp tăng lên rất lớn nên động lực
cạnh tranh làm cho nền kinh tế thêm năng động và hiệu quả. Hơn nữa, các doanh
nghiệp này có khả năng thay đổi mặt hàng, công nghệ và hướng kinh doanh một
cách nhanh chóng. Ngoài ra, do có nhiều doanh nghiệp cùng kinh doanh một số
mặt hàng nên sẽ giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế: khi một doanh nghiệp
đổ vỡ thì có các doanh nghiệp khác thay thế.
Mặc dù khái niệm “Doanh nghiệp nhỏ và vừa” mới được xuất hiện ở Việt
Nam sau thời kỳ đổi mới (năm 1986) song khu vực này đã phát triển với số
lượng rất nhanh (Từ một số lượng không đáng kể là 4.000 doanh nghiệp có đăng
ký chính thức lên tới trên 70.000 doanh nghiệp trong vòng
một thập kỷ)6, đóng góp đáng kể cho GDP nói chung và ngành xuất khẩu nói
riêng.
Phát triển SME, làm cho số lượng doanh nghiệp tăng lên, làm tăng tính
cạnh tranh, giảm bớt mức độ rủi ro, đồng thời tăng số lượng chủng loại hàng
hoá, thoả mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Nhà nước ta chủ trương
thực hiện công nghiệp hoá, coi trọng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn;
SME với mạng lưới rộng khắp đã có truyền thống gắn bó với nông nghiệp và
kinh tế xã hội nông thôn sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nông thôn
6
-Nguồn: Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam : “Tạo việc làm tốt bằng các chính
sách phát triển doanh nghiệp nhỏ” (TS.Phạm Thị Thu Hằng)

30
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


phát triển, sẽ hình thành những tụ điểm, cụm công - nông nghiệp để tác động
chuyển hoá sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Với vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế như vậy, trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế để góp phần cải thiện cán cân thương mại Việt
Nam trong thời gian qua, SME đã không ngừng tham gia kinh doanh xuất khẩu
nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cho khu vực này nói riêng
và cả nước nói chung. Để đạt được những kết quả đó, là sự nỗ lực của mỗi bản
thân các doanh nghiệp, kết quả đó được thể hiện dưới đây.
3.2-Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đối với ngành xuất khẩu
Tuy gặp phải những cản trở không nhỏ trong việc thực hiện mở rộng hoạt
động kinh doanh xuất khẩu, nhưng SME cũng đóng góp một phần tích cực vào
sự nghiệp phát triển ngoại thương Việt Nam. Từ năm 1997- 2001, xuất khẩu của
SME tăng rất nhanh và nhanh hơn rất nhiều so với các DNNN, trong hai năm
1998-1999, xuất khẩu không phải dầu thô của các DNNN tăng là 4,6%, thì SME
tăng 72,5%. Do đó, mặc dù quy mô nhỏ, nhưng khu vực SME trong nước đã
chiếm tỷ lệ 39,1% tăng trưởng xuất khẩu không phải dầu thô của giai đoạn này.
Cụ thể sự đóng góp của SME vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được thể
hiện dưới đây:
BẢNG 2.8:TỶ LỆ ĐÓNG GÓP CỦA SME VÀO TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU
KHÔNG KỂ DẦU THÔ GIAI ĐOẠN 1997-2001.


1997 2001 Tăng XK Tỷ lệ đóng góp
Tr USD Tr USD của 2 năm vào tăng trưởng
(%) XK(%)
DNNN 5.207 5.260 4,6 13,7
DN FDI 1.790 2.590 44,7 47,2
(khu chế xuất) 292 581 98,8 17
SME 915 1.578 72,5 39,1
Tổng số 7.732 9.428 21,9 100

Nguồn: Kết quả hoạt động xuất khẩu và dự báo năm tiếp theo. Theo báo cáo không chính
thức của Ngân hàng thế giới, TP Đà Lạt, 2002.

31
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Xuất khẩu của khu vực SME tăng mạnh mặc dù đầu tư năm 1997 giảm
mạnh (xem sơ đồ 2.3), theo các nhà quản lý của SME định hướng xuất khẩu,
điều này đạt được là do đầu tư trong những năm qua 1996-1997 đã dẫn đến việc
dư thừa công suất vào năm 1998-1999, khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Châu Á nổ ra. Do đó, tăng xuất khẩu trong những năm 1999 một phần lớn là do
mức sử dụng công suất hiện có cao hơn. Các công ty cũng cho biết đã chuyển
hướng khỏi việc xuất qua trung gian sang xuất khẩu trực tiếp (FOB) với giá trị
tăng cao hơn hẳn. Xuất khẩu FOB tăng từ 30% trong tổng xuất khẩu năm 1998
lên 50% năm 1999. Hầu hết số xuất khẩu trực tiếp này là sang các thị trường mới
thường là Châu Mỹ-Lating và Đông Âu. Giá trị gia tăng theo xuất khẩu FOB cao
hơn hẳn so với xuất khẩu theo hình thức gia công, nhưng rủi ro cũng cao hơn do
SME phải tự tìm kiếm khách hàng cho mình. Như đã trình bày ở trên tình hình
đầu tư trong những năm qua đối với khu vực SME giảm rất mạnh vào năm 1997
(giảm 3,7%) và tăng dần vào những năm tiếp theo 1998 (2,5%) năm 1999
(2,4%). Điều này được thể hiện một cách rõ nét nhất dưới sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 2.3: TỐC ĐỘ TĂNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG KHU VỰC SME NĂM 96-99


6.00%
4.00% 3.90%
2.00% 2.50% 2.40%

0.00%
-2.00%
-4.00% 1996 -3.70% 1999
1997 1998
-6.00%


Nguồn: Theo báo cáo không chính thức của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam,
6/2000

Bên cạnh đó, những cải cách nhằm mở rộng quyền thương mại và khả
năng tiếp cận với thị trường xuất khẩu cho phép SME của Việt Nam đã có tác


32
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


dụng tăng xuất khẩu trong thời gian qua. Nếu tiếp tục có những cải cách nhằm
hỗ trợ tự do hoá khu vực SME và nếu khả năng tiếp cận bình thường với tất cả
các thị trường trên thế giới được mở rộng, SME sẽ tiến hành đầu tư giúp duy trì
tăng trưởng xuất khẩu cao cho Việt Nam.
Hiện nay, SME tuy không chiếm một tỷ lệ lớn trong giá trị xuất khẩu,
nhưng lại có một vị trí không kém phần quan trọng trong hoạt động xuất khẩu
thông qua vai trò cung cấp nguồn hàng cho các công ty kinh doanh xuất khẩu,
tạo ra công ăn việc làm đáng kể trong lực lượng lao động nhàn rỗi.

Về cơ cấu hàng hoá xuất khẩu. Nhìn vào cơ cấu của các thành phần kinh tế
trong GDP, có thể thấy các mặt hàng xuất khẩu chính của SME hiện nay bao
gồm chủ yếu các loại hàng, nhóm hàng sau:
- Hàng nông lâm, thuỷ hải sản chế biến và chưa chế biến.
- Hàng thủ công, mỹ nghệ (đồ gỗ trạm, khắc, hàng thêu ren, mây tre, hàng
mỹ nghệ, lụa tơ tằm...)
- Hàng công nghiệp nhẹ (giày dép, may mặc, thảm...)

Thật vậy, tuy chưa có sự thống kê riêng rẽ về tỷ lệ xuất khẩu các ngành
hàng xuất khẩu của khu vực SME nhưng để chứng minh cho điều đó tôi xin
được sử dụng số liệu của cuộc điều tra khảo sát được tiến hành thực hiện giữa
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Chương trình phát triển
Dự án Mêkông (MPDF). Qua số liệu điều tra tại 457 SME đã chỉ ra rằng các
doanh nghiệp này xuất khẩu chiếm 3/4 sản lượng của mình (xem bảng 2.9). Điều
này có nghĩa là SME đã định hướng xuất khẩu mạnh hơn các DNNN.


BẢNG 2.9: CƠ CẤU HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU CỦA CÁC SME.


Hàng hoá xuất khẩu Tỷ lệ xuất khẩu/tổng
số lượng (%)
Các sản phẩm da 85
Hàng may mặc 80,5
Chế biến gỗ 75,1
Cao su nhựa 75

33
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Các sản phẩm phi kim loại 73,2
Thực phẩm đồ uống 63,2
Các sản phẩm hoá chất 20
Các sản phẩm khác 74,4


Nguồn:Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM),2002


Mặc dù, với số lượng 475 doanh nghiệp được chọn làm mẫu chiếm tỷ lệ
không lớn so với số lượng SME trong khu vực hiện nay, nhưng kết quả thông
qua cuộc khảo sát đã phản ánh phần nào về cơ cấu hàng hoá kinh doanh xuất
khẩu của SME ở Việt Nam.
Điều đáng lưu ý trong trường hợp hải sản có thể coi là đại diện cho những
ngành hàng xuất khẩu của SME. Bảng 2.10, cho thấy rằng về hải sản khu vực
quốc doanh chiếm phần lớn 73% xuất khẩu năm 2001 nhưng xuất khẩu của khu
vực này lại tăng chậm hơn khu vực SME: 14% so với trên 50% của khu vực
SME. Điều đó khẳng định rằng mặt hàng kinh doanh xuất khẩu của SME ngày
càng có hiệu quả trong công tác xuất khẩu.


BẢNG 2.10: XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA SME GIAI ĐOẠN 1999 - 2002


Loại hình Doanh Gia tăng xuất Xuất khẩu Tỷ trọng
nghiệp khẩu (%) tăng trưởng(%) 1999(%)
DNNN 50,6 14,6 73,0
DN FDI 3,4 50 1,9

SME 46 50,7 25,1
Tổng số 100 22,5 100
Nguồn: Theo báo cáo không chính thức của Ngân hàng thế giới,
TP Đà Lạt, 2002


Nhìn chung, hàng hoá mà SME kinh doanh xuất khẩu hiện nay chủ yếu là
những mặt hàng cần ít vốn và công nghệ đơn giản, nhưng cần nhiều lao động.
Giá trị gia tăng của một số mặt hàng không cao, nhưng điều quan trọng là việc


34
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


sản xuất và tiêu thụ những mặt hàng này đã mang lại công ăn việc làm và thu
nhập cho người sản xuất, mà phần lớn là các hộ kinh tế gia đình.
Những mặt hàng do SME sản xuất có đặc điểm chung là sản phẩm của quy
trình sản xuất nhỏ, sử dụng máy móc, kỹ thuật lạc hậu, thô sơ, tốn nhiều sức lao
động. Gần đây nhờ quá trình cải cách kinh tế mở cửa, SME đã có mặt hàng sản
xuất mang tính công nghiệp, nhưng thuộc loại công nghệ chưa thật cao và còn sử
dụng nhiều lao động. Nhưng số SME có khả năng tiếp cận với loại hình này còn
ít. Do vậy, trừ những mặt hàng sản xuất theo quy trình công nghiệp như dệt may,
giày dép...Thì quy cách phẩm chất của các hàng hoá nhìn chung không đồng đều,
không ổn định, đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mang tính chất nghệ
thuật dân gian.
Đặc điểm của hàng hoá, sản phẩm của khu vực SME tạo ra thường kém
sức cạnh tranh trên thị trường, chi phí sản xuất cao, khó có thể thay đổi mẫu mã
thường xuyên. Bản thân SME cũng khó thu thập thông tin về hàng hoá trên thị
trường. Còn đối với những hàng hoá sản xuất công nghiệp như dệt may, giày dép
thì hàng hoá thay đổi nhanh chóng theo mẫu mốt và thay đổi theo thị hiếu người
tiêu dùng, mà các doanh nghiệp lại thiếu nguồn thông tin và cơ hội tiếp xúc với
thị trường bên ngoài, hoặc là thiếu những kỹ năng thiết kế hàng hoá hiện đại.
Nhưng loại hàng này, họ thường thụ động sản xuất theo mẫu mã, quy cách phẩm
chất do khách hàng đưa ra.
Với những đặc điểm trên đã làm cho hàng hoá của SME có khả năng cạnh
tranh kém trên thị trường quốc tế, các mặt hàng có khả năng cạnh tranh kém là
đó là những mặt hàng chế biến thực phẩm, hàng may mặc, sản phẩm nhựa, hàng
nội thất, sản phẩm làm từ gỗ, đồ da và đồ gốm. Nói cách khác, tính cạnh tranh
xem ra rất kém ở những ngành hàng đòi hỏi công nghệ cao, điều này phản ánh
một hiện thực là phần lớn SME vẫn chưa sẵn sàng cạnh tranh với các doanh
ngiệp nước ngoài một khi các doanh nghiệp này tham gia hội nhập khu vực và
toàn cầu.
Tin tưởng vào khả năng kinh doanh của người trực tiếp sản xuất, tin tưởng
vào khả năng hợp tác, đoàn kết của họ trong hiệp hội mang tính tự nguyện để

35
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


xoá bỏ cơ chế xuất khẩu có thể sẽ tạo điều kiện cho SME tăng cường khả năng
xuất khẩu của mình nói riêng và cải thiện cán cân thương mại Việt Nam nói
chung.


II- LỢI THẾ VÀ THỰC TRẠNG HỖ TRỢ XUẤT KHẨU CỦA CÁC SME Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Những lợi thế của SME so với các doanh nghiệp khác ở Việt Nam trong
hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả
mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử
dụng nhiều lao động với trình độ kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là sự mềm
mại và nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và sự thay đổi của kinh tế thị
trường. SME có thể bước vào những thị trường mới mà không thu hút sự chú ý
của các doanh nghiệp lớn. Nó sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, hoặc ở
những khoảng trống vừa và nhỏ của thị trường, nơi mà các doanh nghiệp lớn
thường không mấy quan tâm, bởi vì các doanh nghiệp lớn này thường chỉ chú ý
đến marketing với khối lượng lớn. SME là loại hình sản xuất lấy quyền sở hữu
phân tán thay cho địa điểm sản xuất tập trung, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ,
do vậy nó có nhiều điểm mạnh:
- Dễ dàng khởi sự và năng động nhạy bén với thị trường: SME chỉ cần
một số vốn hạn chế, một mặt hàng nhỏ hẹp đã có thể khởi sự doanh nghiệp.
Vòng quay sản phẩm nhanh do đó có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè,
người thân dễ dàng, tổ chức quản lý gọn nhẹ dễ quyết định, khi nhu cầu thị
trường thay đổi hoặc doanh nghiệp gặp khó khăn, thì dễ dàng thay đổi tình thế
nội bộ dễ thống nhất.
- Dễ phát huy bản chất hợp tác: SME thường chỉ tiến hành một vài công
đoạn của quá trình sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh, mà công đoạn sản xuất thì
cần phải kết hợp với nhau để tạo thành một sản phẩm hoàn chỉnh mới có thể xuất
khẩu ra thị trường nước ngoài. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến
SME phải cung ứng đầu vào cho các doanh nghiệp lớn để sản xuất hàng xuất


36
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


khẩu, do đó, để tham gia xuất khẩu trực tiếp SME phải tự hoàn thiện bản thân
mình và phải tiến hành hợp tác sản xuất, nếu không sẽ bị đào thải.
- Thu hút nhiều lao động, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.:
SME do nguồn vốn ít, vì vậy đầu tư vào tài sản cố định cũng ít, họ thường tận
dụng lao động thay thế cho vốn, đặc biệt là ở những nước có lực lượng lao động
dồi dào và giá nhân công thấp như ở nước ta, để tiến hành sản xuất kinh doanh
phục vụ dân sinh, và họ thường đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Khai thác được
lợi thế so sánh của đất nước đã tạo điều kiện cho SME hạ giá thành sản phẩm,
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Có thể duy trì tự do cạnh tranh: SME thường không có tình trạng độc
quyền, họ dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh. Tự do cạnh tranh là
con đường tốt nhất để phát huy mọi tiềm lực, nâng cao chất lượng sản phẩm để
tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho SME tham
gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Có thể phát huy tiềm lực thị trường trong nước: Phát triển SME ở giai
đoạn đầu là phương thức tốt nhất để sản xuất một số mặt hàng thay thế nhập
khẩu với mức chi phí và vốn đầu tư thấp, phù hợp với sức mua của khách hàng
trong nước cũng như quốc tế. SME còn có khả năng tận dụng lợi thế so sánh về
giá nhân công rẻ để lắp ráp, chế biến, gia công, sản xuất hàng xuất khẩu, ở
những mặt hàng và lĩnh vực mà SME có khả năng xuất khẩu.
- Dễ dàng tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng và sự năng động
trong kinh doanh xuất khẩu: SME có thể phát triển ở khắp mọi nơi, mọi vùng
của đất nước, lấp vào khoảng trống và thiếu vắng của các doanh nghiệp lớn, tạo
nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng, tận dụng được lợi thế so sánh về tài
nguyên, vị trí địa lý, lao động của đất nước, tạo ra sự năng động trong nền kinh
tế phù hợp với tiến trình hội nhập trong thời gian tới. Đây là một chiến lược kinh
tế xã hội quan trọng của đất nước.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi đào luyện các nhà doanh nghiệp, và là
cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển thành doanh nghiệp lớn hoạt động xuất khẩu.
Qua thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh, một mạng lưới SME trên khắp mọi

37
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


miền của đất nước đã đào tạo và sàng lọc các nhà doanh nghiệp. Có thể nói đây
là trường đào tạo nhà doanh nghiệp hữu hiệu nhất. Mặt khác, quá trình phát triển
SME cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm mở mang thị trường...để phát triển
thành doanh nghiệp lớn hoạt động có hiệu quả hơn trong kinh doanh xuất khẩu.
Nhìn lại lịch sử, hầu hết các doanh nghiệp lớn ở các nước phát triển đều trải qua
quy mô nhỏ và vừa, trừ một số doanh nghiệp lớn của nhà nước.
Với những lợi thế trên đây, hy vọng rằng trong tương lai SME ngày một
phát triển và trở thành những doanh nghiệp lớn không ngừng tăng kim ngạch
xuất khẩu cho đất nước phục vụ thành công con đường công nghiệp hoá mà
Đảng và nhà nước đã đề ra.
2. Thực trạng hỗ trợ xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam hiện nay.

Trong hệ thống thống kê của Việt Nam hiện nay chưa có thống kê chi tiết
các hoạt động của SME trong nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như trong
hoạt động ngoại thương nói riêng. Mặc dù thống kê chưa cho phép tách biệt
hoạt động thương mại giữa hai khu vực quốc doanh và (chủ yếu là các doanh
nghiệp SME, nhưng thực tế cho thấy các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hiện
vẫn chiếm ưu thế trong hoạt động xuất khẩu. Bởi chế độ độc quyền ngoại thương
trước đây đã tồn tại trong một thời gian dài trong nền kinh tế đã phần nào cản trở
SME tham gia vào các hoạt động xuất khẩu. Hơn nữa, các DNNN vẫn có ưu thế
trong các ngành xuất khẩu, xuất phát từ những ưu thế về vốn, kỹ thuật, lao động
và kinh nghiệm maketing.

Ngày 31/7/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định 57/NĐ-CP hướng dẫn
thi hành chi tiết Luật thương mại. Theo Nghị định này, kể từ ngày 1/9/1998 các
doanh nghiệp Việt Nam được kinh doanh xuất khẩu theo nội dung Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh mà không bị yêu cầu phải có giấy phép xuất khẩu hoặc
nhập khẩu. Tuy vậy, vẫn có nhiều SME phải tiến hành các hoạt động xuất khẩu
thông qua các DNNN.




38
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Việc ban hành nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 (sau đây
được gọi tắt là Nghị định 90) nhằm trợ giúp phát triển cho các doanh nghiệp nhỏ
và vừa đã đáp ứng kịp thời cho sự phát triển của khối doanh nghiệp này. Nghị
định được xây dựng với một loạt biện pháp hỗ trợ như: Khuyến khích đầu tư,
thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ mặt bằng sản xuất, hỗ trợ thị trường và
tăng khả năng cạch tranh, hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu, hỗ trợ về thông tin, tư vấn
đào tạo nguồn nhân lực. Về tổ chức xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,
Nghị định 90 quy định việc thành lập 3 cơ quan của Chính phủ: Cục xúc tiến
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, trung tâm hỗ trợ kỹ thuật tại Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hội đồng khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa
với sự tham gia của đại diện cơ quan nhà nước, các tổ chức đại diện doanh
nghiệp và các chuyên gia. Hội đồng này có nhiệm vụ tư vấn cho Chính phủ về
cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Nghị định doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay chỉ đưa ra biện pháp khuyến
khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chung, mà chưa ra biện pháp , mô hình
hỗ trợ cụ thể, đòi hỏi việc tiếp tục đầu tư nghiên cứu và thử nghiệm.

Mặc dù mới được ban hành nhưng công việc chuẩn bị soạn thảo Nghị định
này cũng có những động tác nhất định đến sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Cho đến nay, phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều tỏ ra lạc quan về
kết quả kinh doanh trong tương lai. Kết quả điều tra cho thấy, có 85,1% số doanh
nghiệp nhỏ và vừa được điều tra hy vọng công việc kinh doanh của mình sẽ ở
mức tạm được hoặc tốt. Trong số 25,5% các doanh nghiệp hy vọng công việc sẽ
tốt và rất tốt có 47,4% ý kiến nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trường
kinh doanh tốt nói chung 7. Nghị định doanh nghiệp nhỏ và vừa thể hiện quyết
tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc tạo một môi trường kinh doanh thuận
lợi cho các thành phần kinh tế nói chung và với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói
riêng.




7
Điều tra của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam,2002
39
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


2.1- Khó khăn chính mà SME gặp phải trong hoạt động xuất khẩu.

Qua các chính sách, biện pháp hỗ trợ của Chính phủ cho SME trong thời
gian qua kết hợp với tình hình xuất khẩu được trình bày ở trên, có thể rút ra
những khó khăn chính mà SME gặp phải như sau:
a) Khó khăn về vốn hoạt động:
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn gặp khó khăn về vốn, đặc biệt là vốn
để đổi mới công nghệ, cơ sở vật chất, vốn để thực hiện hợp đồng xuất khẩu đã ký
kết. Mặc dù việc xây dựng chính sách tín dụng của Nhà nước ta phần nào đã dựa
trên nhận thức vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ, song kết quả các cuộc khảo
sát gần đây cho thấy khó khăn về vốn vẫn SME coi là cản trở cơ bản trong phát
triển doanh nghiệp. Những cản trở chính cho việc cung cấp tín dụng đó là:
Trước hết, theo luật định mọi khoản vay đều phải có yêu cầu về tài sản thế
chấp. Đối với SME đây là khó khăn hàng đầu trong quá trình tiếp cận các nguồn
tín dụng. Tại tỉnh Thừa thiên- Huế, số doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng chiếm
98% tổng số, nhưng tỷ lệ này chỉ còn lại 57,6%khi yêu cầu có tài sản thế chấp1.
Để giải quyết vấn đề tài sản thế chấp cho SME, Ngân hàng Công thương Việt
Nam và tỉnh Bắc Giang đã tiến hành thí điểm “Quỹ tín dụng cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ”. Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về SME đã
quyết định thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho SME, Quy chế hoạt động của
Quỹ này được ban hành bằng Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày
20/12/2001.
Thứ hai, hoạt động có hiệu quả là nguyên tắc của bất cứ Ngân hàng
thương mại và các tổ chức tín dụng nào. Theo nguyên tắc đó, các ngân hàng
thương mại thường ngần ngại trước các khoản tín dụng của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Một phần do ngân hàng phải gánh chịu chi phí giao dịch mà họ cho
rằng không tương xứng khi cho SME vay so với khi cho các doanh nghiệp lớn
vay, mặt khác rủi ro trong kinh doanh của SME cũng khá cao.
Thứ ba, trong khi ưu tiên dành cho SME còn rất hạn hẹp thì những quy
định về đảm bảo tiền vay lại có khuynh hướng hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước
– Những doanh nghiệp có quy mô lớn, hơn là hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân
40
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


đa số có quy mô nhỏ. Các doanh nghiệp nhà nước nếu được cơ quan chủ quản
bảo lãnh sẽ được phép vay tiền mà không cần tài sản thế chấp, do vậy họ sẽ được
các tổ chức tín dụng quan tâm nhiều hơn. Nguồn tín dụng ưu đãi dành cho SME
giải ngân qua các ngân hàng thương mại, do vậy lượng tín dụng này được đổ vào
các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả nhưng có quan hệ tốt với nhân viên
ngân hàng và cơ quan quản lý. Mặt khác, do không được khuyến khích cũng như
không bị bắt buộc phải cho SME vay, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
không có những nỗ lực tuyên truyền kinh doanh để tăng những khoản vay cho
SME. Trong thời gian gần đây, một số ngân hàng đã nhận thức được tiềm năng
của khối doanh nghiệp này nên đã bước đầu xây dựng chương trình tín dụng
riêng cho khu vực này (Ví dụ: Tháng 10/2001, Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam đã quyết định thành lập Chương trình tín dụng cho SME với tổng số vốn là
500 tỷ đồng).
Ví dụ thực tiễn: Vụ án Minh phụng là một vụ án tham nhũng trong đó một
tập đoàn tư nhân lớn và một số cán bộ tín dụng của một số ngân hàng thương
mại nhà nước thông đồng với nhau để nhận những khoản vay bất hợp pháp mặc
dù doanh nghiệp đang trong tình rạng không có khả năng chi trả.
Vụ án đã gây thiệt hại trên 4000 tỷ đồng – Một khoản tiền đủ để cung cấp
khoản tín dụng mơ ước 100.000.000 đồng cho 40.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Mức độ nghiêm trọng của vụ án còn được nhân lên gấp nghìn lần bởi nó đã diễn
ra trong bối cảnh:
- Tại thời điểm xảy ra vụ án, sau 10 năm đổi mới (1998), trên cả nước
Việt Nam chỉ có 40.000 doanh nghiệp tư nhân có đăng ký chính thức.
- Chỉ có 58% các doanh nghiệp tư nhân được thành lập sau năm 1990 có
vốn đầu tư ban đầu trên 100.000.000 đồng.
- Chỉ có 6% số doanh nghiệp vừa và nhỏ vay được vốn đầu tư ban đầu từ
ngân hàng.

- Mọi khoản vay trên 3.000.000 đồng trong chương trình xoá đói giảm
nghèo đều được yêu cầu phải có tài sản thế chấp.


41
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Cuối cùng, một trong những điều kiện của bất kỳ khoản vay nào là doanh
nghiệp phải có luận chứng khả thi. Trong khi khả năng xây dựng luận chứng khả
thi của SME còn yếu thì dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh ở Việt Nam lại
chưa
được phát triển. Các nhân viên tín dụng thường chỉ chú ý vào tài sản thế chấp đã
tạo nên thói quen coi thường chất lượng của luận chứng khả thi.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng khó tiếp cận với việc vay vốn từ các
nguồn tài chính do những khó khăn và chi phí cho những thủ tục không rõ ràng,
những quy định ngặt nghèo của chính sách tín dụng. Những chi phí đó có thể là:
- Chi phí cơ hội
- Chi phí công chứng tài sản thế chấp
- Giá trị tài sản thế chấp bị ngân hàng đánh giá thấp so với giá thị trường.
Điều này khiến cho SME không vay đủ số tiền cần thiết và phải tìm nguồn vay
khác, do đó phải chi phí nhiều hơn cho các thủ tục thêm nay. Trong trường hợp
mất khả năng thanh toán, khi phát mại, giá của tài sản thế chấp còn bị ép xuống
tiếp gây thêm thiệt hại không nhỏ cho SME.
- Ngân hàng không chịu các khoản “môi giới tín dụng” . Các khoản này
do doanh nghiệp phải chịu, mặc dù trên nguyên tắc SME là khách hàng, người
đã mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
- Các khoản chi phí tư vấn lập luận chứng khả thi
- Các khoản phí bồi dưỡng cán bộ của các tổ chức tín dụng khi thanh tra
tình hình hoạt động của doanh nghiệp và tiến độ trả nợ.

Mặc dù lãi suất hàng tháng hiện nay khoảng từ 0,8-1,0% song các chi phí
tín dụng khác không chính thức khác cộng lại đã vượt quá mức chịu đựng của
SME. Điều này đã dẫn đến việc doanh nghiệp thường hạn chế hoạt động kinh
doanh trong phạm vi số vốn của mình. Đối với SME nguồn vốn từ bạn bè và gia
đình dường như là phổ biến và dễ tiếp cận hơn cả (Xem bảng 2.11). Điều này
càng cho thấy sự không tin tưởng của SME vào khả năng thành công khi tiếp cận
các nguồn tài chính từ các ngân hàng. Mặt khác nó cũng cho thấy sự bất cập của
chính sách tín dụng đối với sự phát triển của SME.

42
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương




Bảng 2.11: Nhu cầu tín dụng và khả năng tiếp cận các nguồn tài chính
Đơn vị: %
Các nguồn vốn nói chung: 54,5% Tỷ lệ DN thử tiếp Tỷ lệ DN thành
Trong đó: cận nguồn vốn công khi tiếp cận
1- Ngân hàng nhà nước và tư nhân 24,7 20,2
2- Quỹ tín dụng của Chính phủ 8,7 7,1
3- Dự án quốc tế 1,9 1,3
4- Bạn bè và gia đình 38,8 38,5
5- Cá nhân cho vay lấy lãi 11,2 10,6
6- Các nguồn khác 2,6 1,9
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Báo cáo điều tra doanh
nghiệp nhỏ và cực nhỏ năm 2001.


Dường như các doanh nghiệp cực nhỏ dễ tiếp cận hơn với các khoản tín
dụng trong chương trình xoá đói giảm nghèo. Nhưng trong các chương trình này,
các đối tượng đi vay phần lớn là những hộ nghèo chứ không phải là các hộ kinh
doanh . Sự hiện diện của Quỹ tạo việc làm cũng rất lu mờ. Chỉ có 6,7% số doanh
nghiệp có quan hệ với quỹ này, trong đó các yếu tố về thời gian, thông tin, chi
phí và yêu cầu báo cáo có ảnh hưởng tiêu cực hơn cả so với các yếu tố khác.
Theo báo cáo, 2/3 nguồn quỹ này được phân bổ chủ yếu cho nông thôn với các
hoạt động chăn nuôi, tiểu thủ công - Điều tra các doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ
của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2001 cho thấy: Tỷ lệ
SME có đăng ký với Quỹ chỉ chiếm 1,7% số SME ở nông thôn, trong khi ở
thành phố tỷ lệ này là 9,7%.

b) Khó khăn về tìm kiếm thị trường xuất khẩu.
Đa phần các doanh nghiệp xuất khẩu đều phải tự tìm kiếm thị trường xuất
khẩu. Trong khi đó, Nhà nước mới bắt đầu hình thành một hệ thống xúc tiến
thương mại hoàn chỉnh, mang tính quốc gia để hỗ trợ doanh nghiệp từ khâu
nghiên cứu phong tục, tập quán kinh doanh đến việc xúc tiến bán hàng tại các thị

43
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


trường trên thế giới. Hệ thống chuyên cung cấp thông tin về thị trường trong và
ngoài nước phục vụ cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu do Nhà nước
cung cấp hiện nay còn mang tính chất rời rạc, không đáp ứng được nhu cầu của
SME kinh doanh xuất khẩu. Qua số liệu điều tra của Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam vừa qua ở Hà Nội, Hải Phòng và Đồng Nai thì có tới 26,4% số
doanh nghiệp tư nhân và công ty tư nhân trong tổng số doanh nghiệp và 37,6%
số công ty tư nhân trong tổng số công ty tư nhân gặp khó khăn về thị trường.
Còn ở miền Đông Nam Bộ, theo điều tra của Bộ Lao động- Thương binh và xã
hội thì có 44,4% số doanh nghiệp nhỏ và 29,2% số doanh nghiệp vừa gặp phải
khó khăn về thị trường.
Trong định hướng phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2010 của Bộ
Thương mại (tháng11/2000) đã đưa ra nhận định: Bước vào thời kỳ 2001-2010,
đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng và năng lực sản
xuất được cải thiện đáng kể, thị trường xuất khẩu được mở rộng. Tuy nhiên,
trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp, GDP bình quân đầu người năm
2000 mới đạt gần 400 USD. Cơ cấu kinh tế và trình độ công nghệ nhìn chung
còn lạc hậu, khả năng còn thấp ở cả cấp độ quốc gia, doanh nghiệp lẫn sản
phẩm. Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, ngành hàng chưa bám sát được thị
trường thế giới nên nhiều sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Khả năng cạnh
tranh của nhiều hàng hoá còn thấp do giá thành cao, chất lượng còn kém, mẫu
mã chưa phù hợp với nhu cầu thị trường. Đầu tư vào khâu nâng cao khả năng
cạnh tranh và khả năng tiêu thụ chưa thoả đáng. Tỷ trọng hàng thô và sơ chế
biến trong khâu suất khẩu còn khá cao. Trong số sản phẩm chế biến, hàng gia
công còn chiếm tỷ trọng lớn. Tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí
tuệ cao còn rất nhỏ. Xuất khẩu dịch vụ còn thấp xa so với tiềm năng. Sự hiểu
biết về thị trường ngoài còn hạn chế. Nhà nước chưa cung cấp được thông tin
đầy đủ cho các doanh nghiệp. Đối với một số thị trường, hàng xuất khẩu của
SME còn phải qua một số khâu trung gian. Việc hội nhập vào kinh tế khu vực và
thế giới còn không ít lúng túng. Cho tới nay chúng ta vẫn chưa hình thành được



44
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


chiến lược tổng thể, chưa có lộ trình giảm thuế và hàng rào phi quan thuế dài
hạn.
c) Khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin.
Việc SME không thể tiếp cận với thông tin đang là một trở ngại chính đối
với các hoạt động kinh doanh của họ. Như vậy, về cơ bản, thông tin về thị
trường và đối tác cạnh tranh vẫn do SME tự chủ động tìm kiếm thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, tạp chí, Hiệp hội sản phẩm, mạng
Internet. Mức độ phổ cập của mạng Internet khiến tỷ trọng của thương mại điện
tử tăng nhanh, qua đó thay đổi hẳn phương thức kinh doanh (theo số liệu của
UNCTAD thì năm 1995, giá trị thương mại điện tử mới có 100.000 USD thì năm
1999 đã là 130 tỷ USD và năm 2002 lên tới khoảng 1.234 tỷ USD). Tuy nhiên,
đa số SME của Việt Nam vẫn chưa khai thác được tiềm năng to lớn của lĩnh vực
này. Số doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ về thông tin của các tổ chức nhà nước
như Bộ Thương mại và Sở Thương mại chiếm tỷ lệ nhỏ, vả lại nội dung thông
tin nghèo nàn, giá trị thấp, không cập nhật thường xuyên và lạc hậu so với sự
biến động của thị trường, thêm vào đó là Nhà nước chưa thực sự quan tâm đến
việc cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp xuất khẩu , chỉ chú trọng phục vụ
đối tượng là các DNNN.
d) Sự cản trở của các chính sách thương mại.
Các chính sách thương mại trong thời gian qua đã thông thoáng hơn rất
nhiều, nhưng một điều dễ nhận thấy rằng các quy chế này mới chỉ thông thoáng
đối với các DNNN, còn SME nằm ngoài sự hỗ trợ này. Cũng có những tiến bộ
nhất định trong quá trình nhận thức về vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
phát triển kinh tế qua quá trình hình thành chính sách thương mại. Trong một
thời gian dài trước năm 1998 để thực hiện kinh doanh xuất khẩu, doanh nghiệp
phải có vốn pháp định trên 200.000 USD, có cán bộ có đầy đủ trình độ nghiệp vụ
về xuất nhập khẩu vv… quy định này được bãi bỏ đã tạo điều kiện huy động
nguồn lực của các doanh nghiệp nhỏ và thúc đẩy phát triển thương mại trong
nước cũng như quốc tế.



45
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Tuy vậy, các nhà hoạch định chính sách thương mại còn chưa nhận thức
được vai trò của các doanh nghiệp vùa và nhỏ, điều đó thể hiện các ưu đãi chỉ
danhc cho các doanh nghiệp lớn của Nhà nước. Khối doanh nghiệp này thường
nhận được trợ cấp và tín dụng từ rất nhiều các quỹ khác nhau, trong khi đó các
quỹ này được hình thành từ nguồn thuế đóng góp của tất cả các doanh nghiệp
không phân biệt doanh nghiệp lớn hay nhỏ, doanh nghiệp nhà nước hay doanh
nghiệp tư nhân. Tình trạng như vậy cũng đã xảy ra với cơ chế khen thưởng xuất
khẩu dành cho các doanh nghiệp có thu nhập xuất khẩu đạt 100.000 USD đối với
mặt hàng mới hoặc thị trường mới mà các doanh nghiệp khác không thực hiện
được. SME rất khó có thể đạt được mức doanh thu này với vốn nhỏ và năng lực
hạn hẹp của mình.
Mặc dù nhà nước cho phép tất cả các doanh nghiệp được tham gia hoạt
động xuất nhập khẩu, nhưng do năng lực quá hạn chế vì quy mô nhỏ nên cho đến
nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như vẫn đứng ngoài hoạt động này. Cơ
chế cấp hạn ngạch xuất khẩu hiện hành ở Việt Nam, hiện đang được thực hiện
bằng cách phân phối trực tiếp cho một số doanh nghiệp hoặc qua đấu thầu
(khoảng 20 đến 30% hạn ngạch xuất khẩu được phân bố theo hình thức đấu
thầu). Tuy nhiên, cho dù được phép tham gia đấu thẩu thì khả năng thắng thầu
đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có, nếu như không có
sự hỗ trợ để nâng cao năng lực trước khi tham gia đấu thầu.
e) Hạn chế trong các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu của Nhà nước.
Các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu của Nhà nước đối với SME trong thời gian qua
còn rất nhiều hạn chế (hỗ trợ về tài chính, trợ cấp xuất khẩu, các chính sách hỗ
trợ về thuế, quy chế thương mại …..), việc thực hiện các biện pháp này còn
nhiều vướng mắc, các thủ tục hành chính còn phức tạp, nội dung hỗ trợ chưa
phong phú nên đa số các doanh nghiệp chưa được hưởng các biện pháp hỗ trợ
này.
Trong thực hiện các chính sách ưu đãi và hỗ trợ còn thiếu thống nhất giữa
các cơ quan Nhà nước dẫn đến nhiều thủ tục gây phiền hà cho SME. Nguy hiểm
hơn là chưa có sự phối hợp và thống nhất giữa cơ quan chức năng trong việc giải

46
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


quyết cho SME được nhận hỗ trợ. Điều này gây tâm lý hoang mang, không tin
vào các biện pháp hỗ trợ do nghĩ rằng chi phí để nhận được sự hỗ trợ còn cao
hơn.


g) Khó khăn trong chuyển giao công nghệ:
Ngày 1/7/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/1998/NĐ-CP quy
định chi tiết về chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên , chính sách chuyển giao công
nghệ dường như vẫn chỉ tập trung vào việc quản lý hoạt động chuyển giao công
nghệ của các doanh nghiệp nhà nước. Quy định về các giá ghi trong hợp đồng
theo một khung giá nhất định chỉ phù hợp với các doanh nghiệp nhà nưóc dùng
kinh phí từ ngân sách để phục vụ hoạt động chuyển giao công nghệ. Doanh
nghiệp nhỏ và vừa yêu cầu tính linh hoạt cao hơn. Hơn nữa, khi hệ thống chứng
từ và sổ sách kế toán ở các các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất nghèo nàn thì những
quy định về căn cứ để áp dụng khung giá là không khả thi. Mô hình hiện tại
trong chính sách về công nghệ về cơ bản chỉ tạo điều kiện cho việc ký kết hợp
đồng chuyển giao công nghệ theo chiều ngang – theo đó, hoạt động chuyển giao
công nghệ được tiến hành giữa các chủ thể kinh doanh bình đẳng về năng lực tài
chinhs cũng như trình độ tiếp nhận, sử dụng công nghệ. Do đó, công nghệ được
chuyển giao chủ yếu từ doanh nghiệp lớn cho doanh nghiệp lớn. Các doanh
nghiệp nhà nước dường như vẫn nhận được sự ưu ái hơn là các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh. Điều này có ảnh hưởng bất lợi không nhỏ đối với khả năng
cạnh tranh của SME Việt Nam trên thị trường thế giới.
h) Khó khăn về trình độ kiến thức và kinh nghiệm ngoại thương của SME:
Ngoài các khó khăn đã nêu trên thì trình độ kiến thức và kinh nghiệm về
ngoại thương còn thấp cũng là một nguyên nhân quan trọng kìm hãm xuất khẩu
của SME ở Việt Nam hiện nay. Trong giai đoạn trước đây xuất khẩu chủ yếu do
các Tổng công ty đảm nhận, SME chỉ đảm nhận khâu sản xuất, do vậy họ không
đủ thông tin về thị trường quốc tế cũng như thiếu hẳn kiến thức và đội ngũ nhân
viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất khẩu. Để có thể từng bước nắm được
kinh nghiệm, nhiều doanh nghiệp đã phải trả giá trong việc giao dịch thương mại

47
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


hoặc thuê các chuyên gia hoặc phải trả khoản chi phí cao cho các công ty môi
giới. Điều này làm cho tình hình tài chính của SME đã khó khăn lại càng thêm
khó khăn.
Trên đây là những đánh giá, nhận xét sơ bộ về khó khăn trong công tác
xuất khẩu của SME trong thời gian qua. Những hạn chế trên, làm cho kết quả
xuất khẩu của SME còn rất khiêm tốn, nhỏ bé so với tiềm năng và triển vọng
đang mở ra đối với SME . Sự cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ và mở rộng quy
mô xuất khẩu là đòi hỏi cấp bách và có thể thực hiện được, nếu trong thời gian
tới, Nhà nước có những biện pháp hỗ trợ tích cực cho SME để tháo gỡ những
khó khăn trên, tạo ra một môi trường thông thoáng cho hoạt động xuất khẩu.


2.2- Các chính sách hỗ trợ xuất khẩu đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Việt Nam:
2.2.1. Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đối với SME.
a) Chính sách hỗ trợ tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung:
Qua hơn 10 năm đổi mới với chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế
nhiều thành phần, SME ở nước ta đã được Nhà nước quan tâm hỗ trợ về nhiều
mặt, trong đó có sự hỗ trợ về tín dụng.
Giống như rất nhiều nước đang phát triển trên thế giới, ở Việt Nam thị
trường vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường được phân ra hai kênh cơ
bản: đó là kênh tài chính chính thức và kênh tài chính phí chính thức.
Luật Ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng cho phép đa dạng hoá các tổ
chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Cho đến thời điểm hiện nay, hệ
thống các tổ chức tín dụng này bao gồm các loại hình như: ngân hàng thương
mại quốc doanh, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài chính, công ty thuê tài chính. Các
ngân hàng quốc doanh gần như thống trị thị trường vốn vay.
Bên cạnh việc mở rộng các kênh tiếp cận nguồn vốn do các tổ chức tín
dụng huy động, Nhà nước còn tập trung nguồn vốn ODA và ngân sách Nhà nước



48
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


để hình thành nên các Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khuôn khổ các
chương trình mục tiêu Nhà nước.
Thông thường, khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các loại hình doanh nghiệp khác phải tuân
thủ những quy định do Luật Ngân hàng và Luật Các tổ chức tín dụng quy định.
Nhưng quy định này khá rõ ràng và cụ thể mà các doanh nghiệp có thể xác định
ngay là mình có thể vay được từ nguồn vốn này hay không. Trong nhiều trường
hợp doanh nghiệp hầu như không có nỗ lực gì vì họ biết là họ không có hy vọng
tiếp cận được các nguồn vốn đó. Chẳng hạn những quy định như: doanh nghiệp
phải có uy tín với ngân hàng ( điều này không thể có đối với doanh nghiệp lần
đầu đi vay) hay điều kiện tiên quyết đó là doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp.
Một mặt, doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc thế chấp tài sản ở
Việt Nam do thị trường bất động sản kém phát triển. Mặt khác, việc xác định giá
trị tài sản thế chấp hoàn toàn phụ thuộc vào phía ngân hàng do không có cơ quan
nào có khả năng đánh giá giá trị của tài sản thế chấp do vậy tạo điều kiện thuận
lợi cho ngân hàng hạ thấp giá trị của tài sản thế chấp so với giá trị thực trên thị
trường.
Chính sách tín dụng ở Việt Nam phần nào đã cũng có sự quan tâm đến vai
trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một loại quỹ hỗ trợ được thiết lập phục vụ
các chương trình quốc gia cho thấy sự ưu đãi khác nhau xét theo quy mô, mặc dù
tiêu chí để nhận ưu đãi còn có sự không rõ ràng và lẫn lộn. Các quỹ đó là:
- Quỹ xoá đói giảm nghèo.
- Quỹ tạo công ăn việc làm.
- Quỹ hồi hương Việt - Đức.
- Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ( SME DF).
- Quỹ hỗ trợ phát triển.
- Quỹ bảo lãnh tín dụng
Các chương trình nói trên được triển khai bởi nhiều cơ quan khác nhau
nên mỗi cơ quan đưa ra một tiêu chí khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các
trình tự vay vốn, cũng như các quy định để tiếp cận nguồn vốn này cũng khác
nhau.
49
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME DF) của Liên minh châu Âu
đặt tiêu chí cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được vay vốn là: có số công nhân là từ
10 đến 500 người và có vốn đăng ký từ 50.000 USD đến 300.000 USD tại thời
điểm đăng ký8. Tiền được cho vay qua một số ngân hàng có cam kết đồng cung
cấp tín dụng với Quỹ. Như vậy, ngay trong việc cung cấp tín dụng từ một quỹ,
các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể phải vay những lãi suất khác nhau do lãi
suất cho vay của các Ngân hàng đồng cấp tín dụng nói trên khác nhau.
Quỹ hồi hương của Đức được giải ngân thông qua Ngân hàng Công
thương Việt Nam, đưa ra tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có
số lao động dưới 500 người, giá trị tài sản dưới 10 tỷ đồng, số dư vốn lưu động
dưới 8 tỷ đồng và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng9.
Con đường mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến với các nguồn tín dụng
còn khá gian nan. Không có những ưu đãi riêng biệt nào so với các doanh nghiệp
nhỏ và vừa về mặt thủ tục. Để tiếp cận các nguồn tín dụng, thông thường các
doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tiến hành những thủ tục tối thiểu do pháp luật quy
định, bao gồm các bước cơ bản sau:
- Lập kế họach kinh doanh (dưới dạng luận chứng khả thi)
- Xác nhận doanh nghiệp thuộc đối tượng ưu đãi (nếu như có nhu cầu
tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi)
- Công chứng tài sản thế chấp
- Định giá tài sản thế chấp
- Lập hồ sơ vay vốn
- Hoàn thành thủ tục giải ngân
Để hỗ trợ về vốn cho các các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2001 “Về việc ban
hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bão lãnh tín dụng cho các
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ”. Quỹ bảo lãnh tín dụng do Uỷ ban nhân dân các

(8) -Nguồn: Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam : “Tạo việc làm tốt bằng các chính
sách phát triển doanh nghiệp nhỏ” (TS.Phạm thị Thu Hằng),2002.
9- Nguồn: Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam : “Tạo việc làm tốt bằng các chính
sách phát triển doanh nghiệp nhỏ” (TS.Phạm thị Thu Hằng),2002.

50
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập và quản lý để cấp bảo lãnh tín
dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quỹ được miễn nộp thuế và các khoản
nộp Ngân sách nhà nước đối với hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Trong quy chế này cũng quy định rõ: Quỹ bảo lãnh tín dụng
là một tổ chức tài chính hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo hoàn
vốn và bù đắp chi phí. Quỹ bảo lãnh tín dụng có tư cách pháp nhân, có vốn điều
lệ, có bảng cân đối, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước,
các ngân hàng thương mại trong nước. Quỹ bảo lãnh tín dụng cấp bảo lãnh tín
dụng cho các khách hàng là những đối tượng sau:
1/ Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được xếp vào loại các
doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp luật.
2/Các hợp tác xã, liên hợp tác xã.
3/ Các hộ gia đình kinh doanh cá thể theo quy định tại Nghị định số
02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.
4/ Các chủ trang trại, các hộ nông dân, ngư dân… thực hiện dự án nuôi
thủy sản, đánh bắt xa bờ, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi…
Điều kiện được bảo lãnh tín dụng :
- Có dự án đầu tư, phương án kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả
vốn vay.
- Có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng theo quy
định của pháp luật tối thiểu bằng 30% giá trị khoản vay.
- Không có các khoản nợ đóng thuế, nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng
hoặc các tổ chức kinh tế khác.
Như vậy, việc thành lập các Quỹ bảo lãnh tín dụng đã đáp ứng được phần
nào nhu cầu cấp bách về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay.
b) Các chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ:
Để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài , nhiều doanh nghiệp thực hiện việc
bán chịu và trả chậm, hoặc dưới hình thức tín dụng hàng hoá với lãi xuất ưu đãi
đối với người mua hàng nước ngoài. Việc bán hàngnhư vậy thường có những rủi

51
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


ro ( rủi ro do nguyên nhân kinh tế hoặc chính trị) dẫn đến sự mất vốn. Trong
trường hợp đó, để khuyến khích cac doanh nghiệp mạnh dạn xuất khẩu hàng
băng cách bán chịu, Nhà nước đứng ra bảo lãnh, đền bù nếu như mất vốn. Tỷ lệ
đền bù có thể lên đến 100% vốn bị mất, nhưng thường thì tỷ lệ đền bù khoảng 60
– 70% khoản tín dụng để các nhà xuất khẩu phải quan tâm dến việc kiểm tra khả
năng thanh toán của các nhà nhập khẩu và quan tâm đến việc thu tiền bán hàng
sau khi hết thời hạn tín dụng.
Hiện nay ở VIệt Nam, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh
tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp .
Nhà nước đứng ra bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, ngoài việc thúc đẩy xuất
khẩu, còn nâng được giá bán hàng vì giá bán chịu bao gồm cả giá bán trả tiền
ngay và phí tổn đảm bảo lợi tức. Đây là một hình thức khá phổ biến trong chính
sách ngoại thương của nhiều nước để mở rộng xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường.
Nhà nước thực hiện cấp tín dụng xuất khẩu:
Nhà nước trực tếp cho nước ngoài vay tiền với lãi suất ưu đãi để nước vay
sử dụng số tiền do mua hàng của nước cho vay. Nguồn vốn cho vay thường lấy
từ ngân sách Nhà nước. Việc cho vay này thường kèm theo các điều kiện kinh tế
và chính trị cho nước cho vay.
Hình thức này có tác dụng:
- Giúp cho doanh nghiệp thúc đẩy mạnh xuất khẩu vì có sẵn thị trường.
- Các nước cho vay thường là những nước có tiềm lực kinh tế. Hình thức
Nhà nước cấp tín dụng cho nước ngoài trên khía cạnh nào đó giúp các
nước này giải quyết tình trạng dư thừa hàng hoá ở trong nước.
Nhà nước ta chưa có vốn để cho nước ngoài vay với khối lượng lớn. Tuy
nhiên, khi có điều kiện, Chính phủ không nên bỏ qua hình thức cấp tín dụng gắn
với việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của ta. Một vấn đề cần lưu ý ở đây là:
nếu tiếp nhận vay của nước ngoài mà phải mua hàng của họ thì phải cân nhắc
đến việc bảo hộ sản xuất nội địa, không vì mua hàng bằng vốn đi vay dẫn tới
phá hoại sản xuất trong nước và những ràng buộc chính trị bất lợi.
Nhà nước cấp tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp trong nước:

52
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Vốn bỏ ra cho việc sản xuất và thực hiện các hợp đồng xuất khẩu thường
là rất lớn. Người xuất khẩu cần có được một số vốn cả trước khi giao hàng và
sau khi giao hàng để thực hiện một số hợp đồng xuất khẩu. Nhiều khi người xuất
khẩu cũng có thêm vốn để kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạn mà họ dành cho
người mua nưóc ngoài. Đặc biệt, khi bán hàng theo phương thức bán chịu thu
tiền hàng xuất khẩu sau thì việc cấp tín dụng xuất khẩu trước khi giao hangf hết
sức quan trọng.
Nhiều chương trình phát triển xuất khẩu không thể thiếu được việc cấp tín
dụng của Chính phủ theo những điều kiện ưu đãi. Điều đó càng giảm được các
chi phí xuất khẩu. Các Ngân hàng thường hỗ trợ cho các chương trình xuất khẩu
bằng cách cung cấp tín dụng ngắn hạn trong giai đoạn trước khi giao hàng.
Để đánh giá kết quả của chính sách hỗ trợ tín dụng dưới đây tôi xin lấy
một vài thông tin từ cuộc điều tra khảo sát của CIEM (Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế TW). Mặc dù là số liệu điều tra khảo sát nhưng phần nào phản được kết
quả của hoạt động tín dụng hỗ trợ SME.
Thứ nhất: Mối quan hệ giữa SME với Ngân hàng trong hoạt động tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu.
Hiện nay, để tiến hành hoạt động xuất khẩu SME qua điều tra đều có
quan hệ với Ngân hàng, trong đó Ngân hàng quốc doanh vẫn là ngân hàng chiếm
ưu thế, có số lượng SME quan hệ hơn hẳn các loại ngân hàng khác, điều đó được
thể hiện dưới biểu đồ 2.4 sau:
BIỂU ĐỒ 2.4: TỶ LỆ MỐI QUAN HỆ GIỮA SME VỚI CÁC NGÂN HÀNG TRONG HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG HỖ TRỢ XUẤT KHẨU (% Doanh nghiệp trả lời qua điều tra của
CIEM có quan hệ với các ngân hàng)




53
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương



80%
70% 75%
Ng©n hμng quèc doanh
60%
50%
Ng©n hμng ngoμi quèc doanh 40% 19%
30%
Ng©n hμng liªn doanh 20% 8%
10%
0%



Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM), 2001

Tuy nhiên, có điều đáng lưu ý là tỷ lệ số doanh nghiệp được hưởng các
loại hình dịch vụ do ngân hàng quốc doanh hỗ trợ ở mức không đáng kể, điều đó
được thể hiện trong biểu đồ 2.5 như sau:



BiÓu ®å 2.5: C¸c dÞch vô ng©n hμng mμ SME th−êng
sö dông (% doanh nghiÖp tr¶ lêi ®−îc sù hç trî cña
ng©n hμng qua ®iÒu tra cña CIEM )

60.00% 51.50%
50.00%
40.00%
30.00% 21.30%
20.00% 14.20%
10.00% 4.40% 3.80%
0.00%
1 2 3 4 5




Nguồn: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM),2001


Thứ hai: Đánh giá hoạt động tín dụng
Qua cuộc điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM) và
Chương trình phát triển dự án Mêkông (MPDF), số doanh nghiệp cho biết có

54
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


được hưởng tín dụng xuất khẩu và tín dụng ưu đãi chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ là
25% trong tổng số doanh nghiệp được điều tra.
Theo các báo cáo đánh giá tổng kết về chính sách hỗ trợ tín dụng đối với
SME trong những năm đổi mới thì SME đã được sự hỗ trợ về nhiều mặt của Nhà
nước, của các tổ chức quốc tế, trong đó có sự hỗ trợ về vốn tín dụng của các
ngân hàng thương mại. Nhưng nếu so với nhu cầu phát triển của SME thì sự hỗ
trợ đó còn ít và chưa đem lại hiệu quả cao. Quan hệ giữa các ngân hàng thương
mại với SME thuộc thành phần kinh tế , cá thể trong những năm gần đây đã
được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của SME. Các ngân
hàng thương mại quốc doanh không muốn hoặc rất e ngại khi cho SME thuộc
khu vực kinh tế vay vốn. Điều đó vừa tác động xấu đến hoạt động của ngân
hàng, vừa không hỗ trợ được SME và gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế.
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của mình, SME thường phải
vay vốn chủ yếu từ thân nhân, bè bạn hoặc từ các tổ chức phi tài chính. Đôi khi
SME phải trả cho các chủ nợ phi chính thức khoản lãi suất cao hơn gấp 3 đến 6
lần so với lãi suất chính thức. Một phần, đó là do SME còn gặp khó khăn rất
nhiều trong việc tiếp cận các khoản tín dụng từ các ngân hàng và tổ chức tín
dụng khác.


2.2.2. Chính sách thuế trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trong hơn mười năm thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, chính sách
thuế luôn là một trong những vấn đề trung tâm. Một trong những đạo luật đầu
tiên được ban hành và áp dụng khi chuyển sang cơ chế thị trường trong điều kiện
mở cửa thương mại là luật thuế (năm 1990). Hệ thống thuế có sự cải cách cơ bản
chuyển từ ba hệ thống thu sang một hệ thống thuế thống nhất cho tất cả những
thành phần kinh tế, làm cho thuế trở thành một công cụ chính trong việc thực
hiện hỗ trợ các doanh nghiệp nói chung và SME nói riêng, làm công cụ khuyến
khích các ngành nghề phát triển.
Việc hỗ trợ SME trong hoạt động xuất khẩu của chính sách thuế trong thời
gian qua được thể hiện như sau:

55
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Một là, chính sách thuế trong việc khuyến khích đầu tư trong sản xuất
kinh doanh xuất khẩu. Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 1998, đã sửa
đổi theo hướng dành những ưu đãi cao cho sản xuất hàng xuất khẩu. Theo luật
này, các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu được hưởng
thêm một trong các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Được giảm 50% số thuế phải nộp cho phần thu nhập có được do xuất khẩu
của năm đầu tiên thực hiện xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu mặt hàng mới, xuất
khẩu ra thị trường mới.
Được giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp cho phần thu nhập tăng thêm
do xuất khẩu trong năm tài chính đối với nhà đầu tư có doanh thu xuất khẩu năm
sau cao hơn năm trước.
Được giảm 20% thuế thu nhập phải nộp cho phần thu nhập có được do
xuất khẩu trong năm tài chính đối với trường hợp: có doanh thu xuất khẩu đạt tỷ
trọng trên 50% tổng doanh thu và duy trì thị trường ổn định liên tục trong ba
năm trước đó.
Hai là, tuỳ từng trường hợp, từng ngành nghề mà trong thời gian qua Nhà
nước đã hỗ trợ cho doanh nghiệp như hoàn thuế giá trị gia tăng, không thu thuế
thu nhập doanh nghiệp, kéo dài thời hạn nộp thuế, miễn thuế, áp dụng mức thuế
thấp nhất. Cụ thể trong trường hợp ngành dệt may xuất khẩu, để tạo vốn đầu tư
cho doanh nghiệp dệt may, Nhà nước hỗ trợ miễn giảm thuế doanh nghiệp, thuế
giá trị gia tăng, cho vay vốn ưu đãi từ 12 đến 15 năm, ghi nợ thuế xuất khẩu từ 3
đến 9 tháng; thoái thu thuế nhập khẩu nguyên liệu gia công. Đối với ngành chế
biến thuỷ sản xuất khẩu thì chính sách thuế hỗ trợ thuế khấu trừ 5% đối với đầu
vào nguyên liệu, không thu thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung đối với doanh
nghiệp nếu xuất khẩu trên 50% sản phẩm hoặc có giá trị xuất khẩu chiếm 50%
doanh thu.
Ba là, hoàn thuế doanh thu cho doanh nghiệp sản xuất ra nguyên vật liệu,
phụ liệu và bán thành phẩm cho các đơn vị khác để sản xuất ra hàng xuất khẩu.




56
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Bốn là, kéo dài thời hạn nộp thuế nhập khẩu vật tư, nguyên vật liệu, phụ
liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu (hiện nay thời hạn là 9 tháng). áp dụng
thuế suất thấp nhất (0%) cho một số mặt hàng.
Tuy nhiên, chính sách thuế ưu đãi ở Việt Nam vẫn chủ yếu hướng vào
vùng, sản phẩm và thành phần kinh tế. Chính sách này không khuyến khích theo
quy mô doanh nghiệp, và như vậy hoàn toàn chưa khuyến khích được SME.
Thuế xuất khẩu còn chiếm tỷ trọng tương đối cao đã làm cho tổng thu ngân sách
lệ thuộc quá nhiều vào kim ngạch xuất khẩu. Khi thị trường thế giới biến động,
nguồn thu ngân sách giảm, một mặt ảnh hưởng đến nguồn lực hỗ trợ SME đồng
thời, mặt khác các cơ quan tài chính sẽ tìm cách để tăng thuế hoặc thêm các hình
thức thu mới, làm cản trở các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là SME. Bên
cạnh đó, theo Luật Thuế GTGT, mọi hàng hoá nhập khẩu đều phải nộp thuế
GTGT trong vòng 30 ngày sau khi nhập cảng. Mặc dù, về nguyên tắc Thuế
GTGT là loại thuế thu trước, song trong tình hình hiện nay, khi các doanh
nghiệp, đặc biệt là SME, đang khó khăn về vốn thì cùng một lúc phải thanh toán
tiền mua hàng, thuế nhập khẩu và thuế GTGT là một trở ngại hết sức lớn cho
công cuộc kinh doanh xuất khẩu của SME. Trong suốt thời gian thực hiện Luật
Thuế GTGT vừa qua, một trong những khó khăn lớn nhất đối với SME là công
tác hoàn thuế. Trước hết, nhiều SME đã gặp khó khăn trong việc có được hoá
đơn thuế GTGT khi nhập khẩu. Việc này đã được Bộ tài chính xử lý bằng cách
khấu trừ 3% giá trị vật tư đầu vào10. Tuy vậy, thời gian khấu trừ quá dài, gây khó
khăn về vốn cho SME. Một khó khăn nữa là, trong khi các doanh nghiệp khác,
đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được miễn thuế nhập
khẩu trang thiết bị thì SME , vốn đã ít nhưng vẫn phải nộp thuế nhập khẩu trang
thiết bị cho đổi mới công nghệ. Như vậy, chính sách thuế trong thời gian vừa qua
vẫn chưa hỗ trợ SME khuyến khích đổi mới công nghệ. Một điều dễ nhận thấy
rằng trong thời gian vừa qua Chính phủ Việt Nam ưu đãi các DNNN hơn là SME
ngoài quốc doanh . Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, để khuyến khích
SME xuất khẩu thì một sự hỗ trợ về chính sách thuế là rất cần thiết.

10
Nguồn: Theo Thông tư số 106/1999/TT-BTC
57
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương



2.2.3. Trợ cấp xuất khẩu.

Trợ cấp xuất khẩu là những khoản hỗ trợ của Chính phủ (hoặc một cơ
quan công cộng) cho các khoản thu hay giá cả trực tiếp hoặc gián tiếp có tác
động làm tăng xuất khẩu một sản phẩm xuất khẩu.
Mục đích của trợ cấp xuất khẩu là giúp xuất khẩu tăng thu nhập nâng cao
khả năng cạnh tranh của hàng hoá, do đó đẩy mạnh xuất khẩu.
Ở Việt Nam ngày 27/09/1999 (Quyết định 195/1999/QĐ-TTg) Chính phủ
đã thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu. Quỹ được lập ra để khuyến khích và hỗ trợ
xuất khẩu dưới hình thức: bù lãi suất dự trữ hàng hoá xuất khẩu, cấp bù lỗ khi
cần thiết, thưởng tìm kiếm thị trường và mở rộng thị trường xuất khẩu. Quỹ hỗ
trợ xuất khẩu đã đi vào hoạt động, góp phần hỗ trợ cho các doanh nghiệp đẩy
mạnh xuất khẩu.
Ví dụ: Năm 1999, Chính phủ đã quyết định trợ cấp cho Tổng công ty
Chăn nuôi Việt Nam 11.200 Triệu đồng từ nguồn Quỹ hỗ trợ xuất khẩu để bù
đắp thiệt hại do xuất khẩu thị lợn đông lạnh sang Nga trong năm 1998, bao gồm
cả lô hàng để lại tiêu thụ trong nước không xuất khẩu được do giá xuất khẩu
giảm. Và để nâng cao khả năng bán hàng của Tổng công ty Mía đường II, ngày
10/05/2000 Ngân hàng đã cho Tổng công ty vay 200 tỷ đồng trong 8 tháng để
xuất khẩu 50.000 tấn đường trắng trong năm 2000. Quỹ hỗ trợ xuất khẩu hỗ trợ
100% lãi ngân hàng cho vay trên trong 8 tháng. Tuy nhiên, mức hỗ trợ này
không vượt quá 13 tỷ đồng.
Việc xét thưởng 2 lần trong năm đã kích thích các doanh nghiệp tìm kiếm
mở rộng thị trường nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Số tiền thưởng tuy
không nhiều nhưng lợi ích mà các doanh nghiệp thu được không nhỏ. Đó là hình
thức quảng bá cho doanh nghiệp, cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị
trường.


2.2.4. Các biện pháp hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu.


58
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Để khuyến khích xuất khẩu, các doanh nghiệp chuyên trách quảng cáo của
Bộ Thương mại đã tiến hành các cuộc hội trợ triển lãm ở Việt Nam và ở nước
ngoài nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và SME nói riêng
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Có rất nhiều các đơn vị tổ chức hội trợ triển lãm,
các tổ chức làm dịch vụ quảng cáo, các văn phòng quảng cáo của nước ngoài tại
Việt nam và các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, các vụ hợp tác quốc
tế...Thông qua các tổ chức này, doanh nghiệp đã tiếp nhận được các dịch vụ như
triển lãm sản phẩm của mình, tham gia trao đổi thông tin tại các cuộc hội thảo,
xúc tiến đầu tư, liên doanh, liên kết để tìm cơ hội xúc tiến xuất khẩu giúp cho đối
tác nước ngoài nắm bắt được thông tin về doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy hợp tác
và mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, so với các nước ASEAN khác, Việt
Nam vẫn còn yếu kém trong lĩnh vực này.
Trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và
SME nói riêng đang cố gắng tham gia vào các đoàn xúc tiến thương mại và các
hội trợ thương mại ở nước ngoài nhưng vẫn còn ở phạm vi hạn chế. Sự tham gia
dưới các hình thức như vậy trong hầu hết các trường hợp chủ yếu là các doanh
nghiệp nhà nước, sự tham gia của SME còn gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh
khó khăn về tài chính và những thủ tục hành chính khác, những vướng mắc trong
khâu xuất nhập cảnh cũng cản trở nhiều cho SME .
Nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu, các nhà xuất khẩu Việt Nam hiện
đang tích cực tìm kiếm thị trường mới và trao đổi thông tin với các tổ chức
thương mại nước ngoài tại Việt Nam và bước đầu thu được những kết quả khá
tốt. Hiện nay, có khoảng 10 tổ chức thương mại như vậy của nước ngoài, trong
đó có Tổ chức Xúc tiến Thương mại của Nhật Bản (JETRO), Tổ chức Xúc tiến
Thương mại của Hàn Quốc (KOTRA)và Tổ chức Xúc tiến Thương mại của Đài
Loan (CETRA). Các tổ chức thương mại của nước ngoài tại Việt Nam đã tạo ra
mối liên kết giữa các doanh nghiệp nói chung và SME nói riêng với các doanh
nghiệp ở nước ngoài như Australia, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, EU...
Như vậy, một số tổ chức tham gia hỗ trợ cho việc mở rộng các mối quan
hệ với bạn hàng cho SME đang cung cấp các dịch vụ của mình. Tuy nhiên, tình

59
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


hình hiện nay cho thấy công tác xúc tiến xuất khẩu hỗ trợ các doanh nghiệp còn
lúng túng và bị động, hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài chưa làm tốt
vai trò tìm kiếm, giới thiệu thị trường và bạn hàng để cung cấp thông tin kịp thời
hỗ trợ cho SME kinh doanh xuất khẩu. Do đó, SME vẫn đang dựa vào chủ yếu
mạng lưới các nhân viên của mình để tìm thị trường xuất khẩu. Vì vậy, nhiều
SME tham gia vào các hoạt động xuất khẩu do không tự mở rộng quan hệ với
các khách hàng nước ngoài nên họ phải bán sản phẩm của mình cho các công ty
thương mại của nước ngoài và cũng chỉ có cách này họ mới có thể xuất khẩu sản
phẩm của mình cho các thị trường trên thế giới.
Có thể nói ở Việt Nam hiện nay, công tác xúc tiến xuất khẩu hỗ trợ các
doanh nghiệp nói chung và SME nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế. Để thực hiện
mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế thì một trong những vấn đề cấp bách là
phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện một hệ thống xúc tiến xuất khẩu toàn diện,
các chính sách và biện pháp đồng bộ của nhiều ngành, nhiều cấp và của từng
doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của các cấp các ngành và mỗi doanh
nghiệp. Nhưng chắc chắn rằng trong xu hướng đổi mới kinh tế hiện nay ngoại
thương thực sự là sức mạnh tổng hợp, thì hoạt động xúc tiến xuất khẩu hỗ trợ các
doanh nghiệp càng chứng tỏ vai trò quan trọng của nó trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế.


2.2.5. Chính sách thị trường sản phẩm hỗ trợ SME


Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thay đổi đáng kể trong nhận thức của mình
về những yếu tố mang tính chất quyết định sự phát triển của doanh nghiệp.
Không như những năm đầu của thời kỳ đổi mới 1992 – 1997, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ thường coi vốn sản xuất là yếu tố quan trọng trong sản xuất kinh
doanh11, nhưng năm gần đây yếu tố thị trường được doanh nghiệp vừa và nhỏ coi
là là ảnh hưởng mạnh nhất tới các quyết định của doanh nghiệp, đặc biệt là



11
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: Doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam, Hà Nội, 1998.
60
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


những quyết định liên quan đến số lượng lao động và chất lượng lao động (xem
bảng 2.12).

Thực vậy, những doanh nghiệp đánh giá cao yếu tố thị trường cũng lại là
những doanh nghiệp có doanh thu đáng kể trong thời gian qua. Trong số các
doanh nghiệp có doanh thu tăng, có đến 40,9% nhấn mạnh đến yếu tố thị trường,
25% nhấn mạnh đến yếu tố vốn, số còn lại nhấn mạnh đến các yếu tố khác. Song
quan trọng hơn cả là doanh nghiệp có doanh thu tăng đã có những cải thiện đáng
kể chất lượng việc làm cho người lao đông, chẳng hạn như có 71,2% doanh
nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp có tăng doanh thu đã tăng lương cho công
nhân, trong khi tỷ lệ này chỉ chiếm 58,8% ở nhóm doanh nghiệp có doanh thu
không thay đổi. Tương tự, đối với vấn đề an toàn lao động, có 66,7% doanh
nghiệp thuộc nhóm có doanh thu tăng đã thực hiện bảo đảm an toàn lao động,
trong khi nhóm có doanh thu không thay đổi con số này chỉ 50,5%.




Bảng 2.12: Ảnh hưởng của các yếu tố tới các quyết định liên quan đến
Số lượng lao động và điều kiện lao động.
Đơn vị:%
Số lượng lao động Điều kiện lao động
Các yếu tố Ảnh hưởng Ảnh hưởng Ảnh hưởng Ảnh hưởng
rất mạnh mạnh rất mạnh mạnh
Thị trường 56,7 29,2 40,7 32,1


61
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Địa điểm kinh doanh 10,3 10,3 15,4 40,7
Chi phí lao động 7,7 18,3 8,3 15,4
Tiếp cận tài chính 4,5 22,1 3,2 17,6
Các quy định về lao động 0,6 6,4 4,2 23,1
Tiếp cận các nguồn lực 4,5 13,5 4,5 17,9
Xuất khẩu đi nước khác 1,6 3,8 2,2 2,6
Thuế 2,2 11,9 2,2 12,2
Chính sách của nhà nước 1 11,2 1,9 11,5
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Báo cáo điều tra doanh
nghiệp vừa và nhỏ năm 2001


Từ những tác động của các chính sách ưu đãi hỗ trợ SME trong hoạt
động xuất khẩu và những khó khăn chính mà SME gặp phải nói riêng thì chương
3 của khoá luận này tôi xin được trình bày một số giải pháp để hỗ trợ SME trong
hoạt động xuất khẩu hiện nay.




62
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HỖ TRỢ XUẤT KHẨU
CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM.


Trên cơ sở trình bày, phân tích tình hình xuất khẩu của SME ở Việt Nam
hiện nay và đưa ra một số kinh nghiệm của Đài Loan và Hàn Quốc trong việc hỗ
trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp. Khoá luận tốt nghiệp trình bày một số giải
pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cho SME ở Việt Nam như sau:


I. NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SME VIỆT NAM TRONG XU
HƯỚNG HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI:


Để đạt được những định hướng nêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, tháng 11/2000, Bộ Thương Mại đã xây
dựng Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2010.

Từ nay đến năm 2005, ở nước ta với xu hướng hội nhập kinh tế khu vực
và kinh tế thế giới, mở rộng xuất khẩu và tăng cường nhập khẩu nhằm phát huy
nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế là con đường thực hiện thành công
công nghiệp hoá đất nước, ngoài những khó khăn chung, SME phải đương đầu
với những thách thức:

Một là, hệ thống quota xuất khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế có dự
kiến sẽ bãi bỏ vào ngày 01/01/2005 theo thoả thuận của ngành dệt của tổ chức
WTO.

Hai là, Việt Nam sẽ xoá bỏ hàng rào thương mại phi thuế quan và giảm
thuế nhập khẩu xuống 5% hoặc thấp hơn cho phù hợp với quy định của AFTA
vào ngày 01 tháng 01 năm 2006, hạn chế định lượng và kiểm soát ngoại hối, mở
rộng hơn con đường tiếp cận của bên ngoài và thị trơừng nội địa. Do đó công
nghiệp thay thế nhập khẩu, chủ yếu là các doanh nghiệp được nhà nước bảo hộ
sẽ chịu những tác động lớn.

Ba là, khi Việt nam trở thành thành viên của WTO, chúng ta bắt buộc phải
tuân thủ theo những hướng dẫn của WTO vào năm 2010 hoặc sau đó. Do vậy,
Nhà nước cần tạo ra những cơ hội kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp
63
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau. Điều đáng chú ý là các lợi ích mà hiện
nay một số doanh nghiệp được độc quyền lúc đó sẽ bị xoá bỏ.

Bốn là, thách thức lớn nhất đối với SME là các doanh nghiệp này còn non
trẻ làm thế nào để cạnh tranh trong điều kiện hội nhập để tồn tại và phát triển.
Nói một cách cụ thể hơn, trong điều kiện thiếu vốn, công nghệ cũ kỹ, trình độ
chuyên môn, tay nghề trình độ quản lý thấp phải chống chọi với sự phát triển
như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của
thương mại điện tử, của công nghệ thông tin là một thử thách to lớn đối với SME
.

Như đã nêu ở trên, nếu SME bị bỏ lại đằng sau thì các doanh nghiệp nước
ta khó có thể gánh vác được trọng trách của nó trong nền kinh tế Việt Nam vào
năm 2005 và sau đó, khi mà các thử thách khốc liệt bắt đầu. Do đó, sự quan tâm
hỗ trợ của nhà nước trong việc hoàn thiện một số chính sách cụ thể nhằm khuyến
khích, hỗ trợ, phát triển SME như thị trường thông qua hợp đồng phụ, tăng sức
cạnh tranh trên thị trường quốc tế, khuyến khích xuất khẩu, mở rộng các quỹ bảo
lãnh tín dụng để khắc phục tình trạng thiếu vốn, ưu đãi về thuế đối SME mới
khởi sự hoặc hoạt động trong lĩnh vực được khuyến khích trong điều kiện hội
nhập kinh tế là một việc hết sức cần thiết.


II- TRIỂN VỌNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ.


Với việc ban hành Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 ở
Việt Nam, sự tồn tại của các doanh nghiệp ở Việt nam chính thức được pháp
luật thừa nhận. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp (hầu hết là SME) đã được hình
thành, phát triển và đóng góp một phần đáng kể cho sự tăng trưởng nền kinh tế
Việt Nam trong suốt thập kỷ qua. Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều nhà kinh
tế, SME hiện nay chưa phát huy được hết tiềm năng của mình, còn gặp nhiều
khó khăn trong sản xuất kinh doanh đặc biệt là kinh doanh xuất khẩu với điều
kiện hội nhập hiện nay. Hiện tượng này, một phần là do bản thân SME chưa có
nhiều kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu trong nền kinh tế thị

64
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


trường, chưa đủ năng động và sáng tạo trong kinh doanh, mặt khác, quan trọng
hơn, là do chưa có một khuôn khổ chính sách rõ ràng của Nhà nước trong việc
đưa ra những biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho SME phát huy hết khả năng
của mình trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu.

Những ưu thế của loại hình SME không chỉ được đưa ra trong lý luận mà
còn dược thể hiện một cách rõ ràng và thuyết phục trong thực tiễn ở nhiều nước
trên thế giới. Theo nhìn nhận của một số chuyên gia, khu vực SME ở Việt Nam
sẽ trở thành một động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế trong thời gian tới.
Nếu được Nhà nước hỗ trợ một cách thoả đáng, khu vực này sẽ có một vai trò
quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội ở Việt Nam.

Hiện nay, trong thống kê vẫn chưa phân biệt được kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của SME nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng.
Do đó, không có số liệu cụ thể nhưng sự tăng trưởng xuất khẩu của khu vực này
trong những năm qua không thể phủ nhận được. Mặc dù không có số liệu cụ thể
để nói nên triển vọng xuất khẩu của khu vực SME , nhưng những số liệu do cuộc
khảo sát của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM) và Chương trình phát
triển Dự án Mêkông (MPDF) tiến hành vừa qua đối với 457 SME cũng phản ánh
phần nào sự định hướng xuất khẩu của khu vực này trong thời gian tới. Theo số
liệu của cuộc khảo sát thì khoảng 2/3 doanh nghiệp cho rằng đến năm 2005 trị
giá xuất khẩu của họ sẽ tăng từ 10-20%. Các ngành chế biến thực phẩm, may
mặc, nội thất và sản phẩm từ gỗ dự liệu xuất khẩu hơn 80%, thậm chí là 100%
giá trị sản lượng của mình. Không có gì phải ngạc nhiên khi các ngành đòi hỏi
"công nghệ kỹ thuật cao" và nhiều vốn như máy móc, dụng cụ, ôtô dự kiến tăng
trưởng xuất khẩu vào nhóm 40%.

Trong thời kỳ 2001-2005, thị trường xuất khẩu chủ yếu của SME là Châu
Âu, thị trường tiếp đến là thị trường Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng kông và
Singapo. Điều này có nghĩa là xuất khẩu sang thị trường các nước phương tây sẽ
chiếm ưu thế hơn so với thị trường Châu Á. Theo kết quả điều tra của CIEM và
MDPF về SME khảo sát thì tỷ lệ xuất khẩu sang các thị trường trong thời kỳ
2001-2005 như sau:



65
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương




BẢNG 3.1: THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA SME 2001-2005.


Tỷ trọng (%)
1. Thị trường Châu Âu 24,6
2. Thị trường Mỹ 22
3. Thị trường Nhật Bản 12,4
4. Thị trường Đài Loan 10
5. Thị trường Hồng kông 5
6. Thị trường singapo 5
7. Thị trường Châu Á khác 21
Nguồn: Cải cách các doanh nghiệp vừa và nhỏ – CIEM,2002


Nhìn chung, nếu có sự hỗ trợ thích hợp của nhà nước trong công tác thúc
đẩy hoạt đông kinh doanh xuất khẩu cho SME thì khu vực này sẽ duy trì tốc độ
tăng trưởng thương mại trong thời gian tới.


III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HỖ TRỢ XUẤT KHẨU CHO
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
1. Đổi mới hoạt động tín dụng hỗ trợ xuất khẩu cho SME.
Trong những năm vừa qua, hoạt động hỗ trợ tín dụng đã đạt được những
kết quả đáng mừng. Tuy nhiên, trong thời gian sắp tới, cần chú ý một số giải
pháp đổi mới chính sách tín dụng nhằm hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển của SME
nói chung và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Chính sách tín dụng trong việc giải quyết khó khăn về vốn
trong việc sản xuất kinh doanh xuất khẩu.
Bên cạnh khó khăn về thông tin, SME cũng đang gặp khó khăn rất lớn về
vốn để sản xuất kinh doanh xuất khẩu cũng như thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Theo “Báo cáo điều tra doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ năm 2001” của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì 38,8% SME dựa vào nguồn tiết kiệm
của mình hoặc vay từ bạn bè người thân. Điều này đồng nghĩa với lãi suất lớn

66
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


hơn lãi suất của ngân hàng, trong khi đó quỹ hỗ trợ xuất khẩu của Nhà nước
chưa đáp ứng được nhu cầu này từ các doanh nghiệp. Vì vậy, nhằm giúp SME
tiếp cận được nguồn vốn trung hạn và dài hạn bằng cách tạo ra một "sân chơi
bình đẳng" để tất cả các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn tín dụng hỗ trợ này đều
tuân thủ những thể lệ giống nhau cần xem xét để: sửa đổi và ban hành các Luật,
các quy định nhằm xây dựng một khung pháp luật toàn diện và hiện đại tạo điều
kiện dễ dàng hơn cho SME vay tín dụng ưu đãi như vấn đề thực hiện và thực thi
tài sản cầm cố thế chấp. Ngoài ra, để hỗ trợ tín dụng cho SME trong hoạt động
xuất khẩu, Nhà nước có thể yêu cầu các Ngân hàng thương mại dành từ 20-25%
tiền hoạt động tín dụng của mình để cho SME vay.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khó khăn hàng đầu trong quá trình
tiếp cận các nguồn tín dụng là theo luật định, mọi khoản vay đều phải có yêu cầu
về tài sản thế chấp. Để giải quyết vấn đề tài sản thế chấp cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, một số Ngân hàng đã thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho khối
doanh nghiệp này theo định hướng của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày
23/11/2001. Ví dụ: Quỹ Bảo lãnh tín dụng của Ngân hàng Công thương Việt
Nam và tỉnh Bắc Giang đã hình thành thí điểm “Quỹ bảo lãnh tín dụng cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Quỹ này được trích từ Quỹ Bảo lãnh tín dụng của
Ngân hàng Công thương Việt Nam. Năm 1993, Ngân hàng cân đối Đức (DTA)
và Ngân hàng Công thương Việt Nam đã thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng trong
khuôn khổ chương trình hồi hương Việt Đức. DTA đã trợ cấp một triệu DM để
làm tài sản của Quỹ và Ngân hàng Công thương Việt Nam điều hành Quỹ độc
lập. Đối tượng được bảo lãnh: tất cả các doanh nghiệp Việt Nam – ưu tiên cho
những người hồi hương từ Đức có nhu cầu vay vốn của chương trình và không
có đủ tài sản thế chấp. Tính đến nay, trong số 420 dự án được bảo lãnh mới có 3
dự án với tổng số là 64 triệu đồng xảy ra thất thoát và được quỹ đền bù.
Bảo lãnh tín dụng là một công cụ tài chính thích hợp hỗ trợ việc tiếp cận
tín dụng của những doanh nghiệp có uy tín hoặc những người muốn thành lập
doanh nghiệp với các dự án khả thi mà không đủ tài sản thế chấp. Bảo lãnh tín
dụng là một trong các giải pháp cho các vấn đề mà SME gặp phải chứ không
phải là giải pháp cho tất cả các vấn đề.



67
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Tại Cộng hoà Liên bang Đức, hệ thống bảo lãnh tín dụng hoạt động mang
tính chất phi tập trung và trong mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức đại diện
doanh nghiệp như: Phòng Thương mại và Công nghiệp, Hiệp hội các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, ngân hàng và công ty bảo hiểm.
Hiện tại nước ta mới có Quy chế bảo lãnh tín dụng hay ngân hàng bảo
lãnh. Dự án thử nghiệm về Quỹ Bảo lãnh tín dụng tại Ngân hàng Công thương
Việt Nam cho thấy tính khả thi của một hệ thống bảo lãnh tín dụng ở Việt Nam,
song mô hình hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng theo quy chế mới ban hành
chưa được thử nghiệm trên thực tế. Do vậy cần có những vận dụng hợp lý và
sáng tạo khi thực hiện Quy chế mới này.


Thứ hai: Hoạt động hỗ trợ tín dụng thương mại cho SME.
Việc mở thư tín dụng thương mại bị hạn chế do yêu cầu phải đặt cọc trước
một khoản tiền 0-80% trị giá L/C đã gây ra khó khăn không nhỏ trong hoạt động
xuất khẩu. Chính vì vậy, cần phải có hoạt động tín dụng thương mại trong việc
hỗ trợ xuất khẩu. Tuy nhiên, cũng cần phải xác định rõ từng loại hàng hoá xuất
khẩu, từng loại hình doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất khẩu để có biện
pháp hỗ trợ tín dụng thương mại phù hợp.
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (được ban hành ngày 22 tháng 6
năm 1994) sửa đổi ngày 20 tháng 5 năm 1998. Luật sửa đổi có hiệu lực ngày 1
tháng 1 năm 1999.
Luật khuyến khích đầu tư trong nước đưa ra những ưu đãi cho doanh
nghiệp khi đầu tư mới và khi mở rộng sản xuất. Những doanh nghiệp nhận được
những ưu đãi đầu tư phải là những doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực
khuyến khích phát triển hoặc ở những vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó
khăn. Luật khuyến khích đầu tư trong nước cũng khuyến khích đầu tư tạo nhiều
công ăn việc lảm, trước tiên là cho công nhân ở địa phương. Luật khuyến khích
đầu tư trong nước đưa ra một loạt các ưu đãi dành cho nhưng doanh nghiệp
thoả mãn các điều kiện khuyến khích đầu tư, trong đó có ưu đãi về cấp tín dụng
và hỗ trợ lãi xuất tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển.
Quỹ hỗ trợ phát triển được hình thành phục vụ các đối tượng mà theo
Luật đầu tư trong nước được hưởng hỗ trợ theo quy định cụ thể trong Nghị định

68
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


51/1999/NĐ-CP. Bên cạnh đó, Nhà nước còn lập một loạt các quy khác như
Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ hỗ trợ khoa học công nghệ để hỗ trợ nhóm đối tượng
của nhóm này.
Trên thực tế, có nhiều doanh nghiệp cho rằng họ không nhận được ưu đãi,
cụ thể là do Nghị định 43/1999/NĐ-CP của Chính phủ về quỹ tín dụng từ Quỹ
hỗ trợ phát triển đẫ thu hẹp nhóm đối tượng được vay từ Quỹ. Có nghĩa là chỉ có
một số ngành nghề được nhận tín dụng ưu đãi này. Được vay từ Quỹ hỗ trợ phát
triển là một hình thức ưu đãi hấp dẫn nhất cho nhà đầu tư trong nước, điều này
một lần nữa cho thấy sự bức xúc trong vấn đề tiếp cận tín dụng của các doanh
nghiệp Việt Nam.
Cho đến nay nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa được biệt nhiều về
luật khuyến khích đầu tư trong nước. Chỉ có 58% doanh nghiệp (khu vực chính
thức) biết đến chính sách này. Chỉ có 18 trường hợp trong tổ số 292 doanh
nghiệp được khoả sát nộp hồ sơ và đến nay có 3 trường hợp nhận được giấy
chứng nhận ưu đãi đầu tư12.
Những doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tìm kiếm ưu đãi về vốn đầu tư đã nêu
ra những khó khăn sau:
- Định nghĩa “ doanh nghiệp mới thành lập” không rõ ràng nên một số
hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Luật Doanh nghiệp không được coi
là đủ tiêu chuẩn”mới” để hưởng ưu đãi đầu tư.
- Luật Khuyến khích đầu tư trong nước yêu cầu giấy chứng nhận ưu đãi
đầu tư do Uỷ ban nhân dân cấp, nhưng cơ quan thuế địa phương lại yêu
cầu có xác nhận của cục thuế, yếu cầu hoá đơn và các mẫu đặc biệt.
- Hiện nay cơ quan thuế cấp ưu đãi đầu tư theo cơ chế “xin - cho”. Các
doanh nghiệp đề nghị các cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận ưu
đãi ngay khi đăng ký kinh doanh.
Để khuyến khích đầu tư cho SME có hàng xuất khẩu, cần triển khai áp
dụng các biện pháp sau:
+ Thống nhất việc phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan liên quan đến thực
hiện các chính sách khuyến khích đầu tư xuất khẩu cho SME: Sở Kế hoạch và
Đầu tư, Sở Tài chính, Quỹ hỗ trợ phát triển.
12
MPDF: chuyên đề nghiên cứu kinh tế tư nhân số 12 – kinh doanh theo Luật Doanh Nghiệp mới. Trần Phương
Quỳnh Trang và Công ty trách nhiệm hữu hạn Concentti, Hà Nội, 2001.
69
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


+ Tuyên truyền phổ biến Luật Khuyến khích đầu tư đến SME tại các địa
phương thông qua câu lạc bộ doanh nghiệp và các phương tiện thông tin đại
chúng.
+ Xác định rõ trách nhiệm của những người liên quan trực tiếp đến thực
hiện chính sách.
+ Vận dụng linh hoạt để tránh các quy định không hợp lý của Luật nhằm
giảm các khâu trong thủ tục hành chính, giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
chỉ cần đi qua một cửa để nhận được giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư.
+ Tăng cường và mở rộng hoạt động của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu hơn nữa
với sự tham gia của các thành phần kinh tế và các cơ quan nhà nước nhằm hỗ trợ
về vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
+ Thiết lập liên minh giữa các tổ chức cung cấp tín dụng và các tổ chức
cung cấp dịch vụ phi tài chính nhằm nâng cao năng lực cho SME cũng như cán
bộ tín dụng để giảm những khoản nợ khó đòi.
+ Các chính sách ư đãi đầu tư hàng xuất khẩu cho SME cần đưa ra những
tiêu chí thực tế để SME có thể dễ dàng tiếp cận. Đổi mới các thủ tục hành chính,
xây dựng tinh thần phục vụ doanh nghiệp cho các cán bộ tín dụng cũng như cán
bộ nhà nước để phát huy tinh thần kinh doanh là những vấn đề cần được các nhà
hoạch định chính sách quan tâm.
Thứ ba: Mở rộng, phát triển thị trường thuê mua.
Trong điều kiện hiện nay, trong việc hỗ trợ SME thúc đẩy xuất khẩu, thì
Nhà nước mở rộng hình thức tín dụng thuê mua hỗ trợ cho các doanh nghiệp
này. Loại hình tín dụng thuê mua này là biện pháp thay thế vốn ngân hàng. Tín
dụng thuê mua có đặc điểm của hoạt động tín dụng, nhưng SME ít vốn có thể
vay vốn tín dụng mà không phải thế chấp để tiến hành ký kết các hợp đồng xuất
khẩu cũng như sản xuất hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó, các tổ chức thuê mua sẽ
hỗ trợ, đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật cho người thuê để đạt được hiệu quả cao
trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Tóm lại, hỗ trợ tín dụng, đặc biệt là tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đối với SME
là một yêu cầu khách quan, rất cấp bách hiện nay, nhưng để hoạt động có hiệu
quả, đòi hỏi sự tác động đồng bộ của các loại chính sách hỗ trợ khác. Cần có sự



70
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


phân loại, tập trung hỗ trợ cho SME thuộc khu vực có tính hiệu quả và thiết
thực, tạo ra một môi trường thuận lợi cho SME hoạt động.


2. Tiếp tục đổi mới chính sách thuế theo hướng hỗ trợ cho SME.
Mặc dù, chính sách thuế trong thời gian qua đã có sự hỗ trợ tích cực cho
các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và SME nói riêng. Nhưng thực sự vẫn
chưa khuyến khích SME. Trong thời gian tới chính sách thuế tiếp tục đổi mới
đảm bảo sự công bằng bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, không phân biệt
kinh tế với kinh tế quốc doanh.
Chính sách thuế phải xác định đúng đối tượng được ưu đãi, cho đến nay,
trong các chính sách thuế của Nhà nước, loại đối tượng được ưu đãi thường
mang tính chính sách xã hội như: ưu đãi các doanh nghiệp ở miền núi, hải đảo,
một số doanh nghiệp trong ngành chế biến nông sản. Trong chính sách thuế,
chưa quan tâm ưu đãi theo quy mô, chưa tạo điều kiện để SME vượt lên sự yếu
ớt của họ để đứng vững và kinh doanh có hiệu quả. Do đó, trong chính sách thuế
ưu đãi hỗ trợ cho các doanh nghiệp cần xác định đúng đối tượng và tiêu thức ưu
đãi, thực hiện theo quy mô để hỗ trợ cho SME kinh doanh xuất khẩu.
Tăng mức ưu đãi cho SME, trong thời gian qua, mức ưu đãi còn rất dè dặt,
chỉ miễn giảm thuế cho SME 1- 2 năm (trong khi các nước khác trong khu vực
như Inđônêxia, Đài Loan là 4-5 năm.
Hệ thống thuế của nước ta được cho là khá phức tạp với nhiều ưu đãi,
miễn thuế và nhiều mức thuế suất (đặc biệt là thuế xuất nhập khẩu) nên các
thông tin về chính sách thuế không phải lúc nào cũng sẵn có và đến kịp thời tới
các doanh nghiệp. Do ranh giới giữa các tiêu chí để áp dụng mức thuế không rõ
ràng nên việc áp dụng mức thuế này hay mức thuế khác đối với cùng loại sản
phẩm hay nhóm sản phẩm, thậm chí giữa các loại hình doanh nghiệp phụ thuộc
vào đánh giá chủ quan của cán bộ thuế, tính không rõ ràng về thuế là một trong
những khe hở lớn gây nên tình trạng tham nhũng, thông đồng giữa cán bộ thu
thuế với người nộp thuế, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước. Mặt khác,
không có phán quyết mang tính trọng tài nên nhiều doanh nghiệp phải “ngậm
đắng nuốt cay”. Theo thống kê của Tổng Cục thuế năm 2001, trong giai đoạn
1991-2000, tốc độ tăng thuế của khu vực các doanh nghiệp tư nhân tăng gấp 4,5
lần, tăng bình quân khoảng 40-50%/năm, trong khi đó mức tăng GDP của khu

71
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


vực kinh tế này chỉ khoảng 15-20%/năm. Các cơ quan thu thuế còn ấn định giá
trị đầu vào sản xuất, kể cả tiền lương nhằm cố gắng thu tối đa thuế thu nhập
doanh nghiệp . Đây cũng là một lý do tại sao các doanh nghiệp nhỏ và vừa
không dám trả lương có cho công nhân.
Ngoài chi phí trực tiếp, các doanh nghiệp thường phải trả những chi phí
gián tiếp vô hình như:
- Bồi dưỡng không chính thức cho cán bộ thuế.
- Thời gian hoàn thuế giá trị gia tăng kéo dài dẫn đến chiếm dụng vốn
của doanh nghiệp. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đối với SME.
- Thời gian phát hành các giấy chứng nhận để nhận thuế ưu đãi kéo dài.
- Sự thay đổi đột ngột của chính sách thuế (đặc biệt là thuế xuất nhập
khẩu) gây ra những thất thoát không dự tính khi ký hợp đồng.
Bên cạnh đó, nhà nước cần điều chỉnh chính sách thuế để nâng cao hàm
lượng nội địa và tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu. Hàm lượng nội địa
không chỉ làm tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu mà còn có ý nghĩa
quyết định khi xác định xuất xứ để hưởng các ưu đãi thuế quan trong các định
chế song biên và đa biên.
Một trong những lý do khiến hàm lượng nội địa trong sản phẩm xuất khẩu
tăng chậm là do nếu dùng nguyên liệu ngoại nhập để sản xuất hàng xuất khẩu,
doanh nghiệp được nộp chậm thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng trong vòng
270 ngày, nhiều trường hợp còn được khách hàng cho nợ tiền nguyên liệu khi
xuất khẩu mới quyết toán và khâú trừ. Trong khi đó, nếu đi mua nguyên liệu
trong nước phải trả tiền và nộp thuế giá trị gia tăng ngay từ lúc mua vaò. Điều
này giải thích tại sao một số doanh nghiệp gia công đến cả bao bì nilon, thùng
carton, móc treo quần áo cũng nhập khẩu. Các doanh nghiệp sản xuất nguyên
liệu cho xuất khẩu , nhưng không có hợp đồng với nước ngoài, hoặc không có
hợp đồng 3 bên tham gia xuất khẩu mà chỉ đơn thuần làm vệ tinh cho doanh
nghiệp xuất khẩu vẫn chưa được ưu đãi theo Quyết định 908/QĐ-TTg ngày
26/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy, Bộ Tài chính cần khẩn trương có
những chính sách điều chỉnh về vấn đề này.
Trong nhưng năm qua chính sách thuế nước ta có nhiều bước tiến đáng kể
song những quy định về mức thuế, cách tính thuế vẫn còn cồng kềnh phức tạp
và nghĩa vụ thuế đang chở thành gánh nặng cho các doanh nghiệp nhất là đối vơi
doanh nghiệp vừa và nhỏ kể cả mặt chi phí lẫn thủ tục nộp thuế. Miễn, giảm thuế
72
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


thường là hình thức để được cung cấp theo theo quy định hiện hành, xong doanh
nghiệp vừa và nhỏ hiếm khi nhận được ưu đãi này, do vậy cũng không dễ dàng
khi nhận được ưu đãi về thuế.
Do đó, cần có biện pháp tích cực hơn để hỗ trợ trong thời gian tới. Giảm
đáng kể các mức thuế suất cao, làm lành mạnh hoá trong cơ cấu thuế theo hướng
giảm dần tỷ trọng thuế xuất khẩu và tăng dần tỷ trọng thuế trực thu, nhất là thuế
thu nhập cá nhân. Chính sách thuế đổi mới phải đảm bảo tính ổn định trong một
thời gian tối thiểu là hai năm, ngoài ra còn cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các
cơ quan hải quan và các cơ quan tài chính nhằm tránh tình trạng xấu xảy ra trong
công tác hoàn thuế (Một ví dụ cụ thể: Do việc trao đổi thông tin giữa cơ quan
thuế và cơ quan hải quan kém, nên nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là SME đã nộp
thuế nhưng vẫn bị các cơ quan hải quan "cưỡng chế nhầm" vì cơ quan tài chính
vẫn chưa thông báo cho hải quan biết doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ
thuế13. Khi có các thay đổi trong chính sách thuế, cơ quan Thuế cần thông báo
rỗng rãi kịp thời đến các doanh nghiệp thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng, bằng văn bản ….Cơ quan thu thuế cũng cần đặt ra thời gian hoàn thuế giá
trị gia tăng hợp lý tránh tình trạng chiếm dụng vốn, nhất là đối với SME.
Nhìn chung, chính sách thuế đối với SME cần được đặt trong hệ thống
chính sách hỗ trợ SME nói chung, tạo nên sự tổng hợp thúc đẩy sự phát triển của
SME trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu ở nước ta.


3. Tăng cường hoạt động của các Quỹ hỗ trợ SME trong hoạt động kinh
doanh xuất khẩu.
Hiện nay tại Việt Nam, tài trợ xuất khẩu vẫn chưa được quan tâm đúng
mức, các hệ thống bảo hiểm thương mại và tín dụng xuất khẩu chưa hoạt động
một cách có hiệu quả. Do vậy, khu vực SME vẫn phải phụ thuộc vào thư tín
dụng trả chậm và hoạt động tài trợ thông thường. Để mở rộng các cơ hội xuất
khẩu, cần phải có sự bảo đảm về tài trợ xuất khẩu và quỹ phục vụ nhu cầu về
vốn.Trong năm 1999, Bộ tài chính và Ngân hàng nhà nước đã công bố đề xuất
thành lập Quỹ tín dụng xuất khẩu. Căn cứ vào Nghị định 51/NĐ-CP ban hành
vào tháng 7/1999, việc thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu đã được công bố. Ngày
23/11/2001, Nghị định số 90/2001/NĐ_CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển

13
Theo báo cáo của MECANIMEX SAIGON trong buổi gặp mặt với thủ tướng Chính phủ (3/2000)
73
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đã đưa ra việc thành lập thêm các cơ quan hỗ trợ
như: Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, Cục Phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa, Hội đồng khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng Quỹ hỗ trợ xuất khẩu đối với SME
vẫn gặp nhiều khó khăn: có doanh nghiệp làm đơn xin vay từ Quỹ tín dụng xuất
khẩu, sau 14 tháng chờ đợi, vẫn không có hồi âm gì14. Do vậy, trong thời gian tới
Nhà nước nên triển khai hoạt động của các quỹ hỗ trợ SME như:
Thứ nhất: Triển khai rộng rãi mô hình "Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh
nghiệp nhỏ và vừa" nhằm hỗ trợ cho SME có điều kiện tiếp cận với các ngân
hàng và vay bảo lãnh ở ngân hàng. Quỹ này giúp cho SME không đủ tài sản thế
chấp vay vốn của các tổ chức tín dụng, và hoạt động không vì mục đích lợi
nhuận trên nguyên tắc bảo toàn vốn, tự bù đắp chi phí và được miễn các khoản
thuế. Thực tế cho thấy Quỹ bảo lãnh tín dụng SME được thực hiện thành công ở
một
số nơi mà điển hình là Quỹ Bảo lãnh tín dụng của Ngân hàng Công thương Việt
Nam và tỉnh Bắc Giang đã hình thành thí điểm “Quỹ bảo lãnh tín dụng cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Chúng ta cần nhân rộng thêm mô hình hoạt động của
Quỹ này trong toàn quốc.
Thứ hai: Nhà nước có thể thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm hỗ trợ SME
trong việc tiếp cận các nguồn vốn đầu tư giúp SME trong việc sản xuất kinh
doanh xuất khẩu. Hiện đã có 6 Quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động ở Việt Nam với
tổng vốn đầu tư là 68 triệu USD. Tuy nhiên, các quỹ này mới chi hỗ trợ 18 triệu
USD cho SME. Đó là các quỹ Beta, Veil, Vietnam Frontier, và Quỹ Việt Nam,
còn hai Quỹ Lazard và Templeton đã chuyển trọng tâm hoạt động sang các nước
trong khu vực. Ngoài ra, Chính phủ cần có biện pháp nhằm tạo điều kiện về mặt
tài chính cho SME như trợ cấp vốn không hoàn lại cho các dự án của SME ở các
vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, các lĩnh vực độc hại...
Thứ ba: Trong điều kiện hiện nay thành lập Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cho
SME là cực kỳ cần thiết.
Hầu hết các quốc gia bên xuất khẩu đều có hệ thống bảo hiểm xuất khẩu
do Chính phủ bảo trợ mà trong đó bên xuất khẩu có thể mua bảo hiểm rủi ro tín

14
Theo thời báo Sài Gòn, số 13-1999 ngày 25/3/1999, trang11
74
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


dụng và các rủi ro khác của bên nhập khẩu và ngược lại. Các nghiệp vụ bảo hiểm
cần được nghiên cứu áp dụng bao gồm: bảo hiểm xuất khẩu toàn diện, trong đó
bên xuất khẩu được bảo hiểm từ khi ký kết hợp đồng xuất khẩu đến khi thanh
toán xong; bảo hiểm hoá đơn xuất khẩu, các tổ chức bảo hiểm sẽ bảo vệ quyền
lợi của bên xuất khẩu khi bên nhập khẩu không chịu thanh toán.
Thứ tư: Nhà nước có thể triển khai và khuyến khích các hiệp hội ngành
nghề với sự hỗ trợ từ các Quỹ hỗ trợ xuất khẩu. Quỹ này sẽ cấp tín dụng ưu đãi
hoặc bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp đã có hợp đồng xuất khẩu. Nhà
nước cũng có thể tổ chức riêng Ngân hàng phát triển SME, mọi hoạt động của
Ngân hàng này nhằm đáp ứng hỗ trợ cho SME trong sản xuất kinh doanh xuất
khẩu.
Triển khai, tăng cường mở rộng hoạt động của các Quỹ hỗ trợ xuất khẩu
nhằm hỗ trợ cho SME trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là rất
cần thiết mà Nhà nước cần quan tâm chú ý đến.


4. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại nói chung, đối với SME nói
riêng.

Đây là một hoạt động thiết thực, ý nghĩa nhất trong tình hình thương mại
Việt nam hiện nay, nhờ nó SME có thể có được cơ hội thu thập thông tin các loại
cần thiết cho mình về thị trường, giá cả, cung cầu, mẫu mã, chất lượng, chủng
loại sản phẩm hàng hoá, cả trong lẫn ngoài nước. Xúc tiến thương mại là một
điều kiện quan trọng để hỗ trợ cho SME hoạt động xuất khẩu một cách có hiệu
quả. Xúc tiến thương mại được thực hiện bằng nhiều phương thức quy mô khác
nhau. Hiện nay, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã đảm nhận lĩnh
vực này. Đó là:

- Hỗ trợ và tạo điều kiện cho SME ra nước ngoài, kể cả các đoàn cấp cao
của Đảng, Nhà nước để thâm nhập thị trường, tiếp cận cơ hội xuất khẩu, phát
triển kinh doanh;

- Phối hợp và hỗ trợ SME thực hiện chiến lược maketing cho từng ngành
hàng, mặt hàng quan trọng và tham gia các hội trợ, triển lãm và các hoạt động
xúc tiến thương mại khác ở nước ngoài.

75
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


- Có cơ chế tiếp xúc và tham vấn định kỳ giữa Bộ thương mại và các
doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề về các vấn đề có liên quan đến xuất khẩu.

- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến
thương mại cho các Sở thương mại và các doanh nghiệp. Mở rộng các quan hệ
hợp tác đa phương và song phương với nước ngoài trong công tác xúc tiến
thương mại.

- Mở rộng và khai thác thương mại điện tử, tổ chức đào tạo nhân lực trong
lĩnh vực này.
Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và đặc biệt là SME nói riêng tiến
hành xuất khẩu đã gặp phải không ít những khó khăn về thị trường nước ngoài,
về đối tác nước ngoài,...do đó, hỗ trợ SME đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương
mại là vô cùng cần thiết và cấp bách.


5. Xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ xuất khẩu.
Thông tin thị trường là một trong những nhân tố quan trọng đối với hoạt
động xuất khẩu. Cho đến nay, tại Việt Nam vẫn còn ít những trung tâm thông tin
hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp. Việc tìm hiểu các thông tin về thị trường,
luật pháp của các nước khác đối với SME là điều hoàn toàn khó khăn. Hệ thống
thương vụ của Việt Nam tại các quốc gia hoạt động chưa có hiệu quả để cung
cấp những thông tin thị trường và quy định thương mại của nước đó.
Việc xây dựng và khuyến khích thành lập các trung tâm thông tin hỗ trợ
xuất khẩu một cách thông suốt từ các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước
ngoài, Bộ thương mại đến các Sở thương mại và các doanh nghiệp là việc mà
Nhà nước nên xem xét xúc tiến khẩn trương trong thời gian tới. Biện pháp này sẽ
được thay thế đắc lực và hiệu quả cho biện pháp định hướng sản phẩm xuất
khẩu, trợ giá xuất khẩu mà Nhà nước vẫn thực hiện cho đến nay. Các trung tâm
này có thể do một hiệp hội ngành nghề hoặc do Tổ chức chức phi chính phủ
thành lập, Nhà nước có thể hỗ trợ một phần tài chính, đặc biệt trong thời gian
đầu, phần còn lại là thu lệ phí từ các doanh nghiệp.
Các trung tâm này tổ chức tốt việc thu thập, xử lý và cung cấp định kỳ
hàng năm, hàng quý các ấn phẩm về thị trường hàng hoá thế giới cho các doanh
nghiệp. Ngoài việc cung cấp thông tin theo phương thức hỗ trợ của nhà nước cho
76
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


các doanh nghiệp, cần thực hiện thương mại hoá thông tin và áp dụng các
phương thức linh hoạt khác nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể, kịp thời cho SME.


6. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với thị trường thế giới.
Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với thị trường thế giới là biện pháp cần thiết
để giúp doanh nhiệp tìm kiếm và mở rộng thị trường của mình. Không có sự hỗ
trợ của Nhà nước, SME khó có thể có điều kiện để tham dự những hội trợ, triển
lãm ở nước ngoài. Cho đến nay, thông qua một số dự án, Nhà nước đã hỗ trợ một
phần tài chính cho doanh nghiệp trong việc tham gia các cuộc triển lãm, hội trợ
quốc tế.
Tuy vậy, biện pháp này cần được mở rộng cả về phạm vi lẫn hình thức hỗ
trợ. Ví dụ: hỗ trợ thêm một phần tài chính nếu doanh nghiệp ký kết được hợp
đồng cho sản phẩm mới hoặc thị trường mới, khấu trừ một phần thuế thu nhập
doanh nghiệp theo một tỷ lệ nhất định với chi phí tham dự triển lãm, hội trợ ở
nước ngoài.
Bên cạnh đó, Nhà nước có thể khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp
xây dựng ở nước ngoài mạng lưới đại lý, phân phối hàng, kho ngoại quan, trung
tâm trưng bày sản phẩm; áp dụng các phương thức mua bán linh hoạt như gửi
bán, thanh toán chậm, đổi hàng phù hợp với từng mặt hàng, từng thị trường..
Đây là biện pháp đối với khả năng của SME hiện nay là cực kỳ khó khăn, nhưng
cũng nên áp dụng dần dần để sau này sẽ hiệu quả hơn trong việc hỗ trợ các
doanh nghiệp này xuất khẩu.


7. Tiếp tục đổi mới chính sách thương mại trong việc hỗ trợ xuất khẩu cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, SME không chỉ cần sự hỗ trợ về mặt
vật chất hoặc các yếu tố sản xuất, mà còn cần sự hỗ trợ về thể chế, đặc biệt là
cần một quy chế thương mại rõ ràng và thuận lợi cho các hoạt động xuất khẩu
của mình.
Ở nước ta, quy chế và thể chế của chính phủ tuy không có chủ đích phân
biệt đối xử giữa doanh nghiệp lớn và SME . Nhưng trong thực thi lại rất rõ sự



77
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


phân biệt đó. Sự phân biệt đó được thể hiện rất rõ trong các chính sách thương
mại.
Nhìn chung, SME vừa chịu bất lợi về chính sách, về thể chế của chính
phủ. Chính phủ đưa ra quy định về bảo hộ đặc biệt cao trong những ngành có tỷ
trọng SME thấp; Chính phủ tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp lớn; những
hạn chế có tính chất "vô hình" trong quy chế của chính phủ như: về thị trường
xuất khẩu, năng lực kinh doanh, các tiêu chuẩn quy định chất lượng...không phù
hợp với SME. Do vậy, để thúc đẩy SME tham gia mạnh mẽ vào công cuộc hội
nhập kinh tế quốc tế thì Nhà nước phải có chính sách thương mại phù hợp hỗ trợ
cho SME, tạo điều kiện thông thoáng hơn cho SME thúc đẩy xuất khẩu.
Để tiếp tục theo đuổi những nỗ lực quan trọng của Chính phủ nhằm mở
rộng thị trường quốc tế cho tất cả các doanh nghiệp, kể cả SME. Để khắc phục
sự hạn hẹp do cách ghi ngành hàng cụ thể trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh hiện hành nghiên cứu bãi bỏ quy định chỉ cho xuất khẩu theo ngành hàng
đã đăng ký kinh doanh, cho phép doanh nghiệp tự do xuất khẩu những mặt hàng
mà Nhà nước không cấm hoặc không hạn chế xuất khẩu. Đồng thời cần xem xét
sửa đổi để đẩy nhanh quá trình cấp mã thuế.
Trong thời gian tới, quy chế thương mại cần có sự thay đổi như: xoá bỏ
đầu mối xuất khẩu đối với một số mặt hàng như gạo xuất khẩu, và nhập khẩu đối
với phân bón; sử dụng có hiệu quả các công cụ bảo hộ nhằm tạo điều kiện cho
SME chủ động hơn trong việc tìm kiếm đối tác xuất khẩu. "Đầu mối xuất khẩu"
nếu có, cũng chỉ nên thông qua một hiệp hội xuất khẩu do các thành viên tham
gia hoàn toàn một cách có tự nguyện, thực hiện tiến tới đấu thầu toàn bộ lượng
quota xuất khẩu (ví dụ đối với may mặc).
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thương mại theo
hướng xoá bỏ thủ tục phiền hà, thay đổi căn bản về phương thức quản lý xuất
khẩu, đơn giản hoá thủ tục xuất khẩu. Ngoài ra, trong thời gian tới, Chính phủ
cần quan tâm hơn nữa về vấn đề thủ tục hải quan, đây là vấn đề mà các doanh
nghiệp trong thời gian qua gặp phải khó khăn rất lớn. Đơn giản hoá thủ tục xuất
nhập cảnh sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho doanh nghiệp đặc biệt là SME trong tìm kiếm
thị trường, chuyển gia công nghệ, tạo điều kiện cho các nhân viên SME đi ra
nước ngoài dự các hội trợ triển lãm,..

78
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Nhìn chung, việc đổi mới các quy chế thương mại ở Việt Nam cần chú ý
và quan tâm sát sao hơn đối với SME tránh tình trạng tạo ra sự phân biệt giữa
DNNN và SME .


8. Tăng cường hỗ trợ khả năng cạnh tranh cho SME trên thị trường thế
giới.
Khả năng cạnh tranh là mối quan ngại đầu tiên của tất cả những ai quan
tâm đến sự phồn vinh của nền kinh tế nước nhà, đặc biệt là khả năng cạnh tranh
trên thị trường xuất khẩu có vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế. Trong
khi SME vẫn chưa sẵn sàng cạnh tranh với các hãng nước ngoài một khi Việt
Nam tham gia quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá. Điều đáng lưu ý là cạnh
tranh hiện nay là một trong những vấn đề lớn nhất, không chỉ đối với những
hãng lớn mà còn đối với các hãng nhỏ.
Nói đến khả năng cạnh tranh người ta thường nói đến năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm, giá cả...xem xét trong mối tương quan so sánh với các
doanh khác. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập
kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào khả năng cạnh tranh. Vì vậy, nâng cao khả năng
cạnh tranh phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam
nói chung và SME nói riêng.
SME trông chờ vào khả năng cạnh tranh xuất khẩu sẽ tăng lên nhờ cắt
giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất
khẩu, một số doanh nghiệp cũng có ý kiến cho rằng sẽ không ảnh hưởng gì do
cạnh tranh mạnh trong nước hoặc do mối quan hệ lỏng lẻo giữa xuất khẩu và
nhập khẩu với các nước ASEAN.
Trong thời gian tới, Nhà nước có thể tăng cường hỗ trợ khả năng cạnh
tranh cho SME bằng việc khuyến khích hỗ trợ cải tiến công nghệ và trang thiết
bị thông qua trợ giúp xúc tiến nghiên cứu và phát triển kỹ thuật. Tuy nhiên, nếu
chỉ cải tiến công nghệ, trang thiết bị thì chưa đủ bởi vì với những trang thiết bị
như nhau nhưng hai doanh nghiệp vẫn có thể có năng suất lao động khác nhau,
hay nói cách khác là khả năng cạnh tranh khác nhau. Do đó, bên cạnh sự hỗ trợ
đó thì Nhà nước cần phải quan tâm đến vấn đề hỗ trợ tổ chức đào tạo đội ngũ
cán bộ sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ đào tạo cán bộ kinh

79
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


doanh xuất khẩu giúp SME, hỗ trợ tư vấn quản lý cho SME. Sự hỗ trợ này sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho SME tiến hành áp dụng phương thức quản lý theo tiêu
chuẩn ISO 9000, và các tiêu chuẩn khác. Bởi vì đây chính là giấy thông hành
cho SME đưa sản phẩm của mình ra thị trường thế giới trong thời gian tới.
Ngoài ra, chính sách hỗ trợ sản phẩm và sản phẩm xuất khẩu giúp đỡ SME
nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của mình trên thương trường. Trong thời
gian qua, các sản phẩm xuất khẩu của SME mới chỉ dựa trên lợi thế cạnh tranh
"tĩnh". Hầu như SME ở Việt Nam mới đang dừng lại ở chỗ có gì gọi là thế
mạnh đem chào bán. Vì thế, chính sách sản phẩm trong thời gian tới cần có sự
quan tâm sát sao nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu
là phải tạo ra lợi thế cạnh tranh "động" cho các mặt hàng xuất khẩu.
Nói tóm lại, trên đây là những giải pháp chính nhằm hỗ trợ cho SME ở
Việt Nam trong thời gian tới phù hợp với tiến trình hội nhập khu vực và thế giới.
Tất nhiên, còn rất nhiều những biện pháp mà Nhà nước cần phải hỗ trợ cho SME
như việc hỗ trợ SME thầu phụ các doanh nghiệp lớn, hỗ trợ lãi suất đầu tư, hỗ
trợ cơ sở hạ tầng, hình thành "vườn ươm" cho SME ( Một loại hình hỗ trợ SME
đang có xu hướng phát triển ở các nước trên thế giới, song chưa thực sự phát huy
tác dụng ở nước ta. Một mô hình rất mới đối với Việt Nam). Tuy nhiên, để thúc
đẩy phát triển xuất khẩu cho SME bên cạnh sự hỗ trợ từ bên ngoài thì các cố
gắng nỗ lực của bản thân doanh nghiệp là một nhân tố quyết định. Nếu các
doanh nghiệp không tự cố gắng thúc đẩy sự phát triển của chính mình thì không
có ai có thể thay thế họ, mọi sự hỗ trợ về chính sách và cơ chế của Nhà nước,
của tổ chức hỗ trợ khác...chỉ là tạo điều kiện thuận lợi hơn cho SME phát triển
sản xuất kinh doanh xuất khẩu. Vì vậy, để gia tăng kim ngạch xuất khẩu của khu
vực SME này cần phải có sự kết hợp đồng bộ giữa công tác hỗ trợ của Nhà
nước và sự nỗ lực của bản thân từng doanh nghiệp.




80
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương




KẾT LUẬN

Thành quả đất nước ta đạt được qua những năm đổi mới - nhất là 10 năm
gần đây, đã tạo thế và lực mới; công cuộc đổi mới kinh tế xã hội đã có những
bước tiến cơ bản; các mặt xã hội, trình độ dân trí, chất lượng nguồn lực và tính
năng động trong xã hội được nâng lên; tình hình chính trị xã hội cơ bản được ổn
định. Mặc dù khái niệm “Doanh nghiệp vừa và nhỏ” mới được xuất hiện sau thời
kỳ đổi mới (năm 1986) song khu vực này đã phát triển với tốc độ rất nhanh kể cả
về số lượng, đóng góp đáng kể cho GDP và thu hút một số lượng lớn lao động
trong xã hội. Những thành quả kinh tế nước ta đều có sự đóng góp không nhỏ
của SME trong đó có hoạt động xuất khẩu. Tỷ trọng của khu vực này trong xuất
khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam đã lên tới 48,5% vào năm 2002,
xấp xỉ bằng khu vực quốc doanh. Đặc biệt có những ngành hàng mà sự tham gia
của khu vực SME chiếm tỷ trọng lớn như xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, sản
phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, rau quả chế biến…

81
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ quan trọng trong
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Những biện pháp hỗ trợ của nhà nước có thể khuyến khích và tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát huy được tính chủ động,
nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực,
mở rộng các mối liên kết với các laọi hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả
kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất kinh
doanh , tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay để phát huy vai trò của
SME thì sự hỗ trợ của Chính phủ đối với khu vực đóng một vai trò cực kỳ quan
trọng. Qua phân tích thực trạng và tác động của các chính sách kinh tế đến hoạt
động của SME ở Việt Nam trong thời gian vừa qua có thể thấy được những tác
động tích cực của những giải pháp mà Chính phủ đề ra. Tuy nhiên, trong thời
gian tới, nhà nước cần có những biện pháp chính sách hỗ trợ tích cực hơn nữa
trong hoạt động xuất khẩu giữa các loại hình doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt
Nam, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập kinh tế với
khu vực và thế giới. Vì vậy, việc tiếp tục cải tạo và đổi mới các chính sách kinh
tế nhằm hỗ trợ SME đối với hoạt động xuất khẩu là một vấn đề cấp bách hiện
nay.

Do giới hạn về mặt thời gian và những hạn chế về bản thân nên khoá luận
tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo và bạn đọc để khoá luận này được
hoàn thiện hơn.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TH.S Phạm Thị Hồng Yến
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành Khoá luận tốt nghiệp này.




82
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


DANH MỤC BẢNG


Bảng số Nội dung Trang
1.1 Tiêu chí phân loại SME ở các nước APEC 04
1.2 Tỷ lệ xuất khẩu của SME ở Đài Loan thời kỳ 1996 - 2001 14
2.1 Phân loại doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chính thức theo 19
số lượng lao động, 2001
2.2 Phân loại cơ sở kinh doanh phi nông nghiệp tại các vùng nông 19
thôn theo quy mô (bao gồm các hộ kinh doanh cá thể)
2.3 Doanh thu các cơ sở kinh tế theo vùng lãnh thổ 21
2.4 Vốn các loại hình kinh doanh phân theo ngành kinh tế 23
2.5 Lao động trong SME phân theo vùng lãnh thổ 24
2.6 Đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế trong giai đoạn 26
1997 – 2001 (so sánh 1996)
2.7 Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên chia theo 28
ngành kinh tế và khu vực thành phần kinh tế (năm 2001)
2.8 Tỷ lệ đóng góp của SME vào tăng trưởng xuất khẩu không kể dầu 30
thô giai đoạn 1997 – 2001
2.9 Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 32
2.10 Xuất khẩu thuỷ sản của SME giai đoạn 1999 – 2002 33
2.11 Nhu cầu tín dụng và khả năng tiếp cận các nguồn tài chính 41
2.12 Ảnh hưởng của các yếu tố tới các quyết định liên quan đến số 59
lượng lao động và điều kiện lao động
3.1 Thị trường xuất khẩu của SME 2001- 2005 62




83
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương




DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001: Về trợ giúp phát triển các
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2. Báo cáo chuyên đề: Một số vấn đề về định hướng và giải pháp phát triển
xuất khẩu năm 2003, Bộ Thương mại, ngày 6/02/2003.
3. Đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển thị trường nội địa góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế xã hội năm 2003, Báo cáo của Bộ Thương mại tại Hội nhị
thương mại toàn quốc ngày 20- ngày 22 tháng 02 năm 2003.
4. Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2010, Công văn số
3936/TM-XNK của Bộ Thương mại, tháng 11/2000.
5. Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 của Thủ tướng Chính
phủ: Về việc ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo
lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
6. Thông tư số 42/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 07/05/2002: Hướng
dẫn một số điểm quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín
dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, (ban hành kèm theo Quyết định số
193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ).
7. Chương trình phát triển dự án Mêkông (MPDF): Chuyên đề nghiên cứu
kinh tế tư nhân số 10: Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trên đường tiến tới
phồn vinh, Leila Webster, Hà Nội, 2002.
8. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Điều tra về các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, 2002.
9. Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê 2001, NXB. Thống kê, Hà Nội,
2002
10. Tổng cục thống kê: Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998, Nxb
Thống kê, Hà Nội, 2001.
11. Ban chỉ đạo điều tra việc làm Trung ương: Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra
lao động – việc làm, ngày 1/7/2001.

84
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


12. Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam : Tạo việc làm tốt bằng các
chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ (TS.Phạm Thị Thu Hằng)
13. Kết quả hoạt động xuất khẩu và dự báo năm tiếp theo - Báo cáo không
chính thức của Ngân hàng thế giới, TP Đà Lạt, 2002.
14. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Báo cáo điều tra doanh
nghiệp nhỏ và cực nhỏ năm 2001.
15. Cải cách các doanh nghiệp vừa và nhỏ – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
TW (CIEM),2002
16. Chương trình phát triển Dự án Mêkông (MPDF): Chuyên đề nghiên cứu
kinh tế tư nhân số 12 – kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp mới. Trần Phương
Quỳnh Trang và Công ty trách nhiệm hữu hạn Concentti, Hà Nội, 2001.
17. Báo cáo của MECANIMEX SAIGON trong buổi gặp mặt với Thủ tướng
Chính phủ (3/2000)
18. Thời báo Sài Gòn, số 13-1999 ngày 25/3/1999, trang11
19. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế TW: Kết quả điều tra hoạt động xuất
khẩu của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam và một số giải pháp thúc đẩy
xuất khẩu,2001
20. FES - Hội Hữu Nghị Việt Đức TW, Các tập kỷ yếu hội thảo về SME
21. Nguyễn Cúc: Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển SME ở Việt
Nam đến năm 2005, NXB Chính trị Quốc gia, 2000
22. Phạm Thái Quốc: Kinh tế Đài Loan - tình hình và chính sách, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội,2001.
23. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có "sự tiếp" sức cần thiết - Tạp chí
Thương Mại số 57/2000
24. Hỗ trợ tài chính cho SME của Đài Loan - Tạp chí Kinh tế và Phát triển,
Hà Nội,2001
25. Quỹ đầu tư và thành lập quỹ đầu tư tại Việt Nam- Tạp chí Ngân hàng,
2002
26. Các giải pháp về kinh tế- tài chính để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát
triển - Tạp chí Cộng sản số 19.

85
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương


27. Doanh nghiệp tư nhân cái nhìn bi quan- Thời báo ngân hàng, Hà Nội,
1/2000
28. Tín dụng xuất khẩu hình thức áp dụng vào Việt Nam- Tạp chí thị trường
tài chính - tiền tệ Hà Nội.
29. Bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu- làm gì để tăng thị phần, Báo thương mại,
Hà Nội 5/2000.
30. Nguyễn Đình Cung, Trần Kim Hào, Lê Viết Thái, Tô Đình Thái, Hoàng
Văn Thành: Doanh nghiệp nhỏ và vừa – Hiện trạng và những kiến nghị giải
pháp, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2000.
31. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế vĩ mô và
đổi mới các thủ tục hành chính nhằm thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, ấn phẩm của Dự án US/VIE/95/004, Hà Nội,
1999.
32. Bộ Lao động, Thương binh và xã hội: Số liệu thống kê Việt Nam: Lao
động – Việc làm ở Việt Nam 1996 – 2000, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2001.
33. UNIDO: Tài liệu hành động số 5, Hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Việt Nam, Vienne, 2000
34. Chương trình phát triển Dự án Mêkông (MPDF): Chuyên đề nghiên cứu
kinh tế tư nhân số 8: Động lực, tăng trưởng chưa đủ lớn của Việt Nam, kết
quả điều tra 95 doanh nghiệp sản cuất tư nhân lớn, Leila Webster, Markuss
Taussig, Hà Nội, 1999).
35. UNTAC: Chiến lược phát triển và dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp
nhỏ và vừa: các tài liệu của bốn cuộc họp quốc tế giữa các chuyên gia, UN,
New york và Geneva, 2000.




86
Khoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương




87

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản