Dự án đầu tư-khái niệm và thuật ngữ_chương 1

Chia sẻ: Nguyễn Thị Giỏi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:23

2
1.361
lượt xem
515
download

Dự án đầu tư-khái niệm và thuật ngữ_chương 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong 1 thời gian dự án nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội - Quàn lý đầu tư xây dựng là quản lý Nhà nước về quá trình đầu tư và xd từ bước xác định dự án đầu tư để thực hiện đầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Dự án đầu tư-khái niệm và thuật ngữ_chương 1

  1. CHƯƠNG 1 DỰ ÁN ĐẦU TƯ - KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ I. ĐẦU TƯ 1. Khái niệm và thuật ngữ 2. Phân loại đầu tư 3. Các giai đoạn đầu tư II. CHI PHÍ 1. Chi phí và sản lượng 2. Chi phí thời cơ 3. Chi phí chìm 4. Chi phí tiền mặt và chi phí bút toán III. DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Khái niệm một dự án đầu tư 2. Phân loại 3. Các đặc điểm của dự án 4. Các yếu tố dẫn đến thành công cùa một dự án 5. Các năng lực của người điều hành dự án 6. Các bộ phận của dự án IV. NGHIÊN CỨU KHẢ THI 1. Phân tích thị trường 2. Phân tích kỹ thuật 3. Phân tích nhân lực và quản lý 4. Phân tích tài chánh hay ngân sách 5. Phân tích hiệu quả kinh tế 6. Phân tích hiệu quả xã hội V. NGHIÊN CỨU DỰ ÁN KHẢ THI VI. THIẾT KẾ CHI TIẾT VII. THỰC HIỆN DỰ ÁN VIII. ĐÁNH GIÁ SAU DỰ ÁN TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG “DỰ ÁN ĐẦU TƯ_KHÁI NIỆM và THUẬT NGỮ” PHỤ LỤC 1: NGHỊ ĐỊNH số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999 về việc ban hành Quy Chế Quản Lý và Đầu Tư Xây Dựng
  2. I. ĐẦU TƯ 1. Khái niệm và thuật ngữ - Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong 1 thời gian dự án nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội - Quàn lý đầu tư xây dựng là quản lý Nhà nước về quá trình đầu tư và xd từ bước xác định dự án đầu tư để thực hiện đầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định. - Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới , mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởngvề số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. - Vốn Nhà Nước là vốn thuộc sở hữu toàn dân hoặc có nguồn gốc toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý theo pháp luật. - Người có thẩm quyền quyết định đầu tư là tổ chức hoặc cơ quan Nhà nước được Chính phủ giao quyền hoặc ủy quyền quyết định đầu tư. - Chủ đầu tư là cá nhân hoặc tổ chức có tư cách pháp nhân được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng vốn đầu tư theo qui định của pháp luật. • Tổng mức đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản xuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án dược xác định trong quyết định đầu tư và chỉ được điều chỉnh theo qui định tại điều 25 (Điều 25 Phụ lục 1) 1. Tổng mức đầu tư bao gồm những chi phí cho việc chuẩn bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư và xây dựng, chi phí chuẩn bị sản xuất, lãi vay ngân hàng của chủ đầu tư trong thời gian thực hiện dầu tư, vốn lưu động ban đầu cho sản xuất (đối với dự án sản xuất), chi phí bảo hiểm, chi phí dự phòng. 2. Tổng mức đầu tư chỉ được điều chỉnh trong các trường hợp: a. Nhà nước ban hành những qui định mới được thay đổi mặt bằng giá đầu tư và xây dựng. b. Do thay đổi tỉ gia giữa đồng VN và đồng ngoại tệ, đối với phần phải sử dụng ngoại tệ cuả dự án c. Do trường hợp bất phản kháng 3. Bộ kế hoạch đầu tư hướng dẫn nôi dung chi tiết tổng mức đầu tư * Tổng dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình thuộc dự án, được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Tổng dự toán công trình bao gồm các khoản chi phí có liên quan đến khảo sát, thiết kế, xây lắp, mua sắm thiết bị, chi phí sử dụng đất đai, đền bù và giải phóng mặt bằng, chi phí khác vá chi phí dự phòng.
  3. * Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đã ký kết, đảm bảo đúng chế độ kế toán của Nhà nước và được kiểm toán khi có yêu cầu của Người có thẩm quyền quyết định đầu tư. * Tiêu chuẩn xây dựng là các tiêu chuẩn kỹ thuật được qui định để thực hiện các công việc khảo sát, thiết kế, xây lắp, nghiệm thu đảm bảo chất lượng công trình, áp dụng cho từng loại chuyên ngành xây dựng do Nhà nước hoặc các Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành ban hành. * Quy chuẩn xây dựng là văn bản qui định các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi hoạt động xây dựng và các giải pháp tiêu chuẩn xây dựng được sử dụng để đạt các yêu cầu do Bộ Xây Dựng thống nhất ban hành. - Đấu thầu là quá trình lựu chọn nhà thầu, đáp ứng được yêu cầu của Bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu. - Xét thầu là quá trình phân tích, danh giá các hồ sơ nhận thầu, để xét chọn bên trúng thầu. - Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư, có dự án cần đấu thầu. - Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ điều kiện và tư cách pháp nhân để tham gia đấu thầu.. Nhà thầu có thể là cá nhân, trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn. - Gói thầu là một phần công việc của dự án đầu tư được chia theo tính chất hoặc trình tự thực hiện dự án; có quy mô hợp lý và đảm bảo tính đồng bộ của dự án; để tổ chức lựa chọn nhà thầu. - "Gói thầu" cũng có thể là toàn bộ dự án. - Tư vấn dầu tư và xây dựng là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn cho bên mời thầu, trong việc xem xét quyết định kiểm tra quá trình đầu tư và thực hiện đầu tư. - Sơ tuyển là bước lựa chọn các nhà thầu có đủ tư cách và năng lực dể tham dự dấu thầu. - Nộp thầu là thời hạn nhận hồ sơ dự thầu, được quy dình trong hồ sơ mới thầu. - Mở thầu là thời điểm tổ chức mở các hồ sơ dự thầu, được quy định trong hồ sơ mời thầu - Danh sách ngắn là danh sách thu hẹp các nhà thầu được lựa chọn qua các buộc đánh giá hồ sơ dự thầu. 2. Phân loại đầu tư a) Đầu tư trực tiếp
  4. Đầu tư trực tiếp là loại đầu tư mà người đầu tư vốn (chủ đầu tư) và người sử dụng vốn là 1 chủ thể • Đầu tư nước ngoài trực tiếp FDI (Forein Direcông trình Investment): người đầu tư và vốn là nước ngoài • Đặc điểm FDI Nhìn sang các nước châu Á lân cận, ta thấy họ ngày càng nhận thức vai trò quan trọng của FDI trong xu thế toàn cầu hoá, đang ra sức tạo điều kiện để thu hút FDI hơn nữa. Các nước này với quá trình phát triển và thu hút FDI trong nhiều thập kỷ đã xây dựng được một nền công nghiệp vững mạnh hơn Việt Nam rất nhiều. Có thể nói trình độ kỹ thuật, công nghệ, bề dày của tri thức quản lý kinh doanh tại các nước này đã tăng nhanh và phụ thuộc nhiều vào độ lớn của FDI được tích luỹ (FDI stock). Là một nước đi sau, FDI được tích luỹ của Việt Nam quá nhỏ so với các nước lân cận là đương nhiên. Nhưng vấn đề đáng quan tâm ở đây là dòng chảy hàng năm (flow) của FDI vào Việt Nam cũng quá nhỏ so với Thái Lan, Philippines. Tại các nước châu á khác, FDI qua mấy chục năm không những tích luỹ về lượng mà còn về chất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và tạo dựng một nền tảng công nghiệp ngày càng vững chắc. Đặc biệt, từ giữa thập niên 1980, FDI của Nhật tại châu Á ngày càng nghiêng về các ngành chế tạo máy móc và linh kiện như xe hơi, sản phẩm đi ện và điện tử, máy công cụ, máy dùng trong nông nghiệp, trong xây dựng. . . Tỷ lệ của các ngành sản xuất máy móc và linh kiện trong tông vốn FDI thuộc lĩnh vực chế tạo của Nhật tại châu A trong ba thập niên trước năm 1980 chỉ có 24%, nhưng tỷ lệ này đã tăng lên 45% trong hai thập niên 1980 và 1990. Tính riêng về ngành điện và điện tứ, tỷ lệ này tăng từ 12% đến gần 27% trong thời gian trên. Ngoài Nhật, các công ty Âu Mỹ và Đài Loan cũng đầu tư nhiều trong lĩnh vực này. Hiệu quả tích tụ và phản ứng dây chuyền của các ngành này rất !ớn. Khi đã có một số công ty đầu tư sản xuất nhiều linh kiện, bộ phận điện tử vào một địa điểm nào đó (do những điều kiện ưu đãi về thuế, về cơ sở hạ tầng...) thường kéo theo những đầu tư mới để lắp ráp các linh kiện, bộ phận đó, hoặc để sản xuất những sản phẩm trung gian cung cấp cho những công ty đã đầu tư trước. Do hiệu quả tích tụ và phản ứng dây chuyền này, sau nhiều năm tích cực thu hút FDI, hiện nay Malaysia đã trở thành một trong những trung tâm lớn của thế giới sản xuất ti- vi màu, máy quay video, đầu máy DVD và nhiều sản phẩm điện tử khác. Thái Lan đã trở thành trung tâm sản xuất xe hơi và các bộ phận liên hệ (lớn thứ ba ở châu á, sau Nhật và Hàn Quốc) . Trong thập niên 1990, nhờ cải thiện môi trường FDI, Philippines đã thành công trong việc tăng sức cạnh tranh trong công nghệ điện tử, nâng tỷ lệ của các sản phẩm điện tử và chất bán dẫn trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ 17% vào năm 1990 lên tới 53 % vào năm 1998 FDI được tích luỹ của Nhật tại Việt Nam còn quá ít: chỉ bằng 1/11 của Thái Lan và 1/7 của Malaysia, chưa nói đến những nước như Indonesia, Trung Quốc. Ngay cá Philippines là nước phát triển chậm nhất trong các nước ASEAN trong 30 năm qua nhưng FDI được tích luỹ của Nhật tại đây cũng lớn hơn Việt Nam 4,5 lần
  5. Nhưng như đã nói ở trên, sự cách biệt này không quan trọng lắm vì Việt Nam mơl bắt đầu có chính sách thu hút FDI từ cuối năm 1987 và Nhật chỉ thực sự bắt đầu đầu tư ở Vlệt Nam từ năm 1993. • Tình hình FDI tại VN Ba đặc trưng của FDI tại Việt Nam Thứ nhất, vốn đăng ký của các dự án FDI giám liên tục từ năm 1997. Đặc biệt vốn đăng ký năm 1999 chỉ bằng 40% năm trước và tụt xuống trở lại mức năm 1991. Vốn đăng ký năm 2000 đạt 19 tỉ USD, tăng 21% so với nam trước và do đó về hình thức đã chấm dứt được khuynh bướng giảm liên tục vừa đề cập Tuy nhiên, trong năm 2000 có dự án khai thác khí đốt Nam Côn Sơn rất lớn, chỉ một dự án nầy đã chiếm hơn phân nứa toàn bộ vốn đăng ký của năm này. Do đó, về thực chất, chưa cỏ một sự xoay chiều trong FDI tại Việt Nam. So sánh vốn thực hiện của FDI tại các nước châu á (xem báng) cho thấy vốn thực hiện FDI tại Việt Nam mấy năm gần đây chưa giảm nhiều vì nhờ kết quả của vốn đăng ký trong những năm trước đó nhất là những năm từ 1996 trở vế trước: Tuy nhiên, với khuynh hướng giám nhanh và liên tục trong vốn đăng ký những năm gần đấy, vốn thực hiện trong những năm sau sẽ giảm trầm trọng. "Trong bản dự tháo Báo cáo chính tri của Đại hội IX sắp tới: trong kế hoạch năm năm lần thứ bảy (200l-2005), Việt Nam dự kiến sẽ cần mỗi năm 11,2 ti USD vốn FDI, bằng 18 – 19 % tổng vốn đầu tư (tý lệ này tương đương với tỷ lệ của mấy năm gần đây). Với tình huống vừa đề cập, Việt Nam rất có khả năng không đạt được mục tiêu này. Thứ hai, FDI vào Việt Nam cho đến nay tập trung vào. các ngành khai thác dầu khí, xây dựng, bất động sản (khách sạn nhà cao tầng...), du lịch..., còn các dự án phát triển công nghiệp thì còn ít. Tính đến cuối tháng 6-2000, công nghiệp chỉ chiếm 30% trong tống kim ngạch FDI đã được đăng kỷ cho đến thời điểm đó, và hơn nữa trong đó hơn hai phần ba là các ngành công nghiệp nặng là những ngành cần được bảo hộ, chú yếu sán xuất cho thị trường trong nước và ít tạo ra công ăn việc làm (xem bảng). Trong thời kỳ đầu của quá trình thu hút FDI, khuynh hướng tập trung vào các ngành phi công nghiệp cũng thấy có ở kinh nghiệm tại các nước khác như Trung Quốc. Lý do là các nhà đầu tư nước ngoài muốn nhanh chóng thu hồi vốn trong một thị rường còn rủi ro, chưa ổn định về hành lang pháp lý và cơ sở hạ tầng. Một lý do nữa là trong giai đoạn đầu có nhiều nhu cầu đầu tư vào các ngành khách sạn, dịch vụ, thông tin đề xây dựng cơ sớ hạ tầng phục vụ cho phát triển sán xuất kinh doanh (mà có thể gọi chung là business infrastructure- Bảng 2: Dòng chảy FDI vào các nước Châu á
  6. đây, FDI tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa chuyền sang giai đoạn tập trung vào ngành công nghiệp. Thời kỳ FDI tập trung vào business infrastructure tại Việt Nam có thể nói là chấm dứt khoáng năm 1995-1996, nhưng sau đó thay vì FDI triển khai mạnh mẽ sang các ngành công nghiệp, nhất là các ngành phát huy được lợi thế so sánh của Việt Nam, thì ngược lại, như đã thấy ở trên, FDI giảm mạnh và liên tục. Trước nhu cầu cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, đế thú hút lao động dư thừa hiện nay và trước nhu cầu cần du nhập nhiều công nghệ, vốn và tri thức quản lý, kinh doanh đề ngày càng có nhiều hàng công nghiệp cạnh tranh được trên thị trường thế giới, tình hình gần đây là đáng lo ngại vì sẽ ảnh hưởng đến chiến lược công nghiệp hoá sắp tới nếu không sớm có biện pháp đề khởi động một sự chuyển dịch cá lượng và chất của FDI tại Việt Nam. Đặc trưng thứ ba cửa FDI tại Việt Nam gần đây là ngày càng có nhiều dự án 100 % vốn nước ngoài, và các dự án liên doanh thì ngày cảng ít đi. Nếu chia 13 năm (1988-2000) thu hút FDI thành 3 giai đoạn thì thấy như sau: Nếu trong giai đoạn 1988-1992, số dự án 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 12% tổng số dự án được cấp giấy phép, thì tý lệ này táng lên 38% trong giai đoạn 1993- 1996 và !ên tới 64% trong giai đoạn gần đây nhất. Riêng trong năm 2000, tỷ lệ này là 78%, số dự án án 100% vốn nước ngoài lên tới con số 286, gấp 4, 5 lần số dự án liên doanh.(tác giả tính từ tư liệu của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư): Ngoài ra, nhiều dự án nguyên là liên doanh đã xin chuyển sang hình thức 100 % vốn nước ngoài. Các trường hợp này bắt đầu từ năm 1997 (chi tính đen cuối tháng 4- 1999 đã có 39 dự án như vậy) và tăng nhanh trong những năm gần đây. * Liên doanh (Joint Venture) : người đầu tư và vốn là nước ngoài hợp tác với cơ quan Nhà nước, người đầu tư và vốn trong nước. * Đầu tư trực tiếp trong nước : người đầu tư và vốn là nước trong nước. b) Đầu tư gián tiếp
  7. Đầu tư gián tiếp là loại đầu tư mà người đầu tư vốn và người sử dụng vốn không là 1 chủ thể • Viện trợ phát triển chính thưc ODA ( Official Development Assistant) ODA là nguồn vốn hổ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoảng viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triểnđược các các cơ quan chính thức của chính phủ trung ương và điạ phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hổ trợ vốn ký kết.Hiệp định ký kết hổ trợ nầy được chi phối bởi công pháp quốc tế. Theo cách thức hoàn trả ODA có ba loại: + Viện trợ không hoàn lại Là loại ODA mà bên nước nhận không phải hoàn lại, nguồn vốn nầy nhằm để thực hiện các dự án ở nước nhận vốn ODA, theo sự thoả thuận trước giữa các bên. Có thể xem viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu ngân sách của nhà nước, dược cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Viện trợ không hoàn lại chiếm 25% tổng số ODA trên thế giới và được ưu tiên cho những dự án về các lãnh vực như y tế, dân số, giáo dục, môi trường... + Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi) Vốn ODA với một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ thích hợp, tín dụng ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thê giới. Nó không được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường mà thường được sử dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lãnh vực giao thông vân tãi, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng...làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế. Các điều kiện ưu đãi bao gồm: • Lãi suất thấp • Thời gian trả nợ dài • Có khoảng thời gian không trả lãi hoặc trả nợ + ODA cho vay hỗn hợp Là loại ODA kết hợp hai dạng trên, bao gồm một phần không hoàn lại và tín dụng ưu đãi. * Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao BOT (Built-Operation-Transfer) Do thiếu vốn nên Chính Phủ có thể kêu gọi các công ty bỏ vốn xây dựng trước (Built) thông qua đấu thầu, sau đó khai thác vận hành một thời gian (Operation) và sau cùng là chuyển giao (Transfer) lại cho nhà nước sở tại. Hình thức nầy cũng được sử dụng ở VN, nhưng sau một thời gian có nhười ta có chung một nhận xét là thường các dự án dạng BOT giá thành thường được đẩy lên cao hơn thực tế
  8. nhiều do phía đầu tư biết rằng bên đối tác thiếu vốn để xây dựng để phát triển cơ sở hạ tầng và có quá nhiều nước đang phát triển cần vốn. c) Các phân loại đầu tư khác • Phân theo nhóm Dựa vào vốn đầu tư, ngành nghề kinh tế mà các dự án đầu tư có thể phân thành ba nhóm A B C (chi tiết xem phần phụ lục trong phụ lục1) • Phân loại theo trình tự lập và trình duyệt dự án Theo trình tự lập và trình duyệt dự án được phân ra làm 2 loại: + Nghiên cứu tiền khả thi (xem phần IV của chương nầy) + Nghiên cứu tiền khả thi (xem phần V của chương nầy) Tùy theo qui mô của đầu tư mà phải tiến hành nghiên cứu hai hoặc một bước trong trình tự nầy. 3. Các giai đoạn đầu tư a) Chuẩn bị đầu tư Nội dung công tác đầu tư bao gồm các bước sau : 1. Nghiên cưú sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư 2. Tiến hành tiếp cận, thăm dò thị trường trong và ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm. Xem xét các khả năng có thể huy động nguồn vốn đề đầu tư và lựa chọn hình thức để đầu tư 3. Lập dự án đầu tư 4. Thẩm định dự án để quyết định đầu tư b) Thực hiện đầu tư Nội dung thực hiện dự án đầu tư bao gồm: 1. Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả mặt nước, mặt biển, thềm lục điạ) 2. Chuẩn bị mặt bằng xây dựng 3. Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật, ước tính khối lượng công trình 4. Thẩm định thiết kế công trình 5. Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp 6. Xin giấy phép xây dựng và khai thác tài nguyên (nếu có) 7. Ký kết hợp đồng với Nhà nước để thực hiện 8. Thi công xây lắp công trình 9. Theo dõi việc thực hiện, kiểm tra các hợp đồng
  9. c) Đưa dự án vào khai thác sử dụng Nội dung công việc phải thực hiện khi kết thúc xây dựng bao gồm : 1. Bàn giao công trình 2. Kết thúc xây dựng 3. Bảo hành công trình 4. Vận hành dự án II. CHI PHÍ Chi phí liên quan trực tiếp đến giá thành, lãi lổ của dự án và đôi khi nó là yếu tố quyết định đến qui mô dự án. Chi phí không phải luôn được biểu thị qua giá cả thị trường mà có lúc nó còn mang một ý nghĩa khác 1. Chi phí và sản lượng Trong chi phí và sản lượng chúng ta có các dạng chi phí sau : - Chi phí cố định (fixed cost) là chi phí mà xí nghiệp nhất thiết phải tiêu tốn ngay cả khi không sản xuất gì cả. Ví dụ như nhà xưởng, tiền thuê đất .... - Chi phí biến đổi (variable cost) là loại chi phí tăng lên cùng với mức tăng của sản lượng - Tổng chi phí (total cost) bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi - Chi phí tới hạn (marginal cost) là luợng chi phí gia tăng để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm 2. Chi phí thời cơ Chi phí thời cơ (opportunity cost) là giá trị kinh tế thật sự của một tài nguyên dùng để sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó . Giá trị đó biểu thị bằng lợi ích thu được nếu ta đem tài nguyên trên để sản xuất ra một loại hàng hóa khác. Ví dụ như thay vì sản xuất ra một chiếc xe hơi chúng ta lại làm ra một máy công cụ chẳng hạn. Trong ước tính chi phí thời cơ, cần phải phân ra 2 loại tài nguyên : tài nguyên có thể thay thế được và tài nguyên không thể thay thế được Có thể phân thành 2 nhóm gía thời cơ: giá có thị trường và giá không có thị trường. * Giá thời cơ có thị trường là giá cả của thị trường trong một thị trường canh tranh. Ví dụ người mua trả giá cho một tấn than là 1.50; 1.51; 1.52 triệu $, thì người bán sẽ chọn giá 1.52 triệu $ (giá cao nhất) để bán. Trong trường hợp nầy giá thời cơ cho 1 tấn than (cơ hội tốt thứ hai đã bỏ qua) là 1.51 triệu $ * Giá thời cơ không có thị trường là giá cả được tính toán cho loại tài nguyên thứ 2. Ví dụ một sinh viên nếu đi làm thay vì đi học thì có thể thu được là 2 triệu $ /năm, nhưng nếu đi học thì sẽ tốn 1 triệu $ /năm. Như vậy chi phí thời cơ cho việc đi học là 3 triệu $ /năm. * Chi phí thời cơ và việc sử dụng vốn
  10. Việc sử dụng vốn cũng được xem như là một giá thời cơ khi đem vốn dùng trong các dự án khác nhau, người ta thường dùng một giá thời cơ để so sánh 3. Chi phí chìm Chi phí chìm (sunk cost) là những chi phí không thu lại được do những quyết định sai lầm trong quá khứ. Loại chi phí nầy không được đưa vào trong tính toán dự án. 4. Chi phí tiền mặt và chi phí bút toán Chi phí tiền mặt (cash cost) bao gồm tiền phải chi trả và số nợ gia tăng Chi phí bút toán (book cost) là loại chi phí chỉ ghi trong sổ sách chớ không có trong thực tế. Ví dụ các khỏan tính khấu hao cho đầu tư vốn dùng trong việc tính thuế. III. DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Khái niệm 1 dự án đầu tư - Dự án đầu tư : là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới , mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởngvề số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. Một dự án có thể xác định theo nhiều cách. Các dự án có thể là do các bộ ngành hữu quan đề xuất , có thể bắt nguồn từ quá trình xây dựng các kế hoạch kinh tế quốc gia hay các doanh nghiệp tư nhân hoặc nhà nước cũng có các dự án đòi hỏi chính phủ phải trợ giúp hoặc phê chuẩn trước khi thực hiện . Khi thực hiện một dự án bao giờ cũng có sự mâu thuẩn tiềm ẩn giữa về lợi ích giữa những người thực hiện dự án và toàn xã hội. Lý do là lợi ích của dự án và các chương trình công cộng chỉ tập trung cho một bộ phận dân chúng. Chẳng hạng như, một đập thủy lợi chỉ giúp ích cho một nhóm hộ nông dân trong vùng ảnh hưởng của đập mà thôi. Nói một cách khác một dự án đầu tư chỉ giúp ích cho một bộ phận cộng đồng nào mà thôi. Những đối tượng do nhận biết lợi ích do dự án mang lại cho mình nên có xu hướng ủng hộ mạnh mẽ. Đồng thời nếu các chi phí của dự án được cung cấp phần lớn bằng tiền ngân sách chung của chính phủ, là kinh phí được phân bố rộng rãi cho toàn xã hội, thì sẽ không có một nhóm người nào thấy mình phải chịu phần lớn gánh nặng chi phí của dự án. Kết quả có thể đoán trước được là những người được hưỡng lợi từ dự án có xu hướng tạo thành một nhóm lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ dự án, trong khi có nhóm người thua thiệt (là những người gánh chịu chi phí dự án) lại quá phân tán và những mất mát cá nhân trong số họ quá nhỏ , nên họ không thể trở thành đối trọng có hiệu quả để chống lại nhóm đối tượng hưởng lợi mang tính tập trung cao. Nói cụ thể 1 dự án có thể chi phí cao 100% trong khi mức lợi ích chỉ là 50% nếu xét trên toàn xã hội, nhưng nếu nhóm hưởng lợi chỉ chiụ 5% mức tổng chi phí của dự án, họ sẽ thấy đó là 1 dự án vô cùng tốt và sẽ gây áp lực mạnh mẽ để dự án
  11. được thực hiện. Chính vì vậy mà chúng ta cần sớm có hệ thống thẩm định dự án tốt nhằm bảo vệ tốt lợi ích của cả quốc gia. Tuy nhiên câu chuyện không chỉ dừng tại đó bởi trong thực tế cũng có các áp lực ủng hộ dự án và các chương trình phát sinh từ chính trong bộ máy chính quyền . Các bộ ngành chức năng thường đệ xuất các dự án và việc họ coi trọng các dự án mà họ nghĩ là phục vụ cho lợi ích chung, cũng là một điều tự nhiên và phù hợp. Tuy nhiên sự hăng hái của các quan chức nầy chưa đủ bảo đảm là các dự án mà họ đề xuất thực sự có hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội. Chúng ta cần các qui trình thẩm định chính thức, vì hệ thống nầy sẽ giúp chúng ta tránh được những lưạ chọn đầu tư sai lầm. Chỉ có những suy nghĩ ảo tưởng mới khiến chúng ta cho rằng nhiệt tình của các cơ quan trong chính quyền, của các quan chức đối với dự án mà họ xây dựng và đệ trình lại không là nguyên nhân đáng kể có thể đưa đến sai lầm 2. Phân loại Các dự án đầu tư có thể phân loại dựa theo các căn cứ sau đây : 1. Căn cứ nguồn tài lực khan hiếm của dự án 2. Số vốn đầu tư 3. Sự tác động của các dự án đầu tư khác đến lợi ích thu được tư dự án đầu tư được xem xét. Một số dự án có thể tự đứng vững 1 cách độc lập. Loại dự án khác chỉ có thể thành công khi có thêm các dự án đầu tư khác yểm trợ. Loại thứ 3, các dự án vô tác dụng nếu có các dự án cạnh tranh khác được thông qua. * Dự án đầu tư phụ thuộc và dự án đầu tư độc lập - Dự án độc lập về mặt kinh tế Dự án đầu tư A không phụ thuộc (độc lập) dự án B về mặt kinh tế khi thoả 2 điều kiện : 1. Dự án A phải có tính khả thi về mặt kỹ thuật mặc dù dự án B có được chấp thuận hay không 2. Lợi ích thần dự kiến của dự án A không bị chi phối bổi sự chấp thuận dự án B hay không - Dự án phụ thuộc về mặt kinh tế Nếu do việc thực hiện dự án 2 mà lợi ích dự kiến của dự án 1 tăng lên thì dự án 2 được coi như là bổ sung cho dự án1. Nếu do việc thực hiện dự án 2 mà lợi ích dự kiến của dự án 1 giảm xuống thì dự án 2 được coi như là thay thế cho dự án 1 - Dự án loại trừ nhau Trường hợp dự án 1 bị loại hoàn toàn khi dự án 2 được thông qua thì 2 dự án được gọi là loại trừ nhau 4. Hình thức lợi ích thu được
  12. 5. Các lợi ích gia tăng do chi phí thấp (tăng hiệu quả) 6. Bộ phận chức năng liên quan chặt chẻ đến dự án đầu tư. Ví dụ: công ty dầu mỏ có thể phân loại dự án đầu tư theo các hoạt động : tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển ... 7. Phân loại ngành nghề theo lãnh vực kinh doanh 8. Múc độ cần thiết của dự án * Phân loại theo qui mô (Xem phần Phụ lục cuả Phụ lục 1) Tuỳ theo tính chất, hình thức, quy mô người ta phân thành 3 nhóm chính : A, B, C và qui định quyền hạn, và cấp chính quyền xét duyệt * Dự án tạo thu nhập Mục tiêu chính của dự án nầy là tạo ra lợi nhuận * Dự án phát triển Mục tiêu chính của loại dự án nầy là tạo ra sự phát triển của 1 vùng, 1 miền hoặc của 1 quốc gia 3. Các đặc điểm của dự án Các đặc điểm cuả một dự án như sau: • Dự án là một công việc không thường kỳ Bảng 1: So sánh dự án với công việc thường nhật Dự án Công việc định kỳ Điều ngoại lệ của các chức năng thơng Định rò trong công việc thường kỳ thường Các hoạt động cuả dự án có liên quan Các hoạt động không liên quan nhau nhau Mục tiêu và hạn chót là cụ thể Mục tiêu và hạn chót là chung chung Kết quả (output) phải rỏ ràng Không có kết quả nào được định rỏ • Các hoạt động cuả dự án có liên quan nhau Các hoạt động cuả dự án phải liên quan với nhau theo một trật tư thời gian nhất định, chẳng hạn như một công việc chỉ có thể bắt đầu khi một số công việc khác đã kết thúc hoặc có những mốc thời gian của các giai đoạn chính cuả dự án. • Mục tiêu và hạn chót là cụ thể Một dự án phải có một mục tiêu rỏ ràng và cụ thể, hơn nữa nó phải có hạn chót (deadline) • Kết quả (output) phải rỏ ràng Các kết quả phải thể hiện rỏ những mục tiêu cuả dự án Ba điều kiện ràng buộc cuả dự án là ngân sách; kết quả; thời hạn
  13. H.1: Ba điều kiện ràng buộc cuả một dự án Kết quả Ngán saïch Thåìi hạn 4. Các yếu tố dẫn đến thành công cuả một dự án Hai thành phần dẫnđến thành công cuả một dự án là xác định và giám sát Xác định bao gồm: • Mục đích Bao gồm các ý nghiã sau: Điều mong đợi là gì; tại sao phải thực hiện dự án nầy và các kết quả đạt được phải là như thế nào? • Nhiệm vụ Các dự án lớn có thể chia nhỏ ra nữa không, nhiệm vụ cuả các thành viên trong dự án là như thế nào, việc phối hợp các thành viên như thế nào? • Lịch trình Hạn chót là thời điểm nào? Với hạn chót là mhư thế, hàng loạt các hạng mục nhỏ hơn nữa phải được sắp xếp, duy trì và lập lịch trình như thế nào? Công tác lập lịch trình hợp lý hàng tuần cho các công việc là điều then chốt cho việc đáp ứng cho hạn chót dài hạn. • Ngân sách Dự án nầy cần phải chi phí bao nhiêu? Liệu có phải đầu tư tiền vào nghiên cứu, thiết bị sản xuất, khuyến mâi hoặc thăm dò thị trường hay không? Cần lập kế hoạch cho khoản chi tiêu nào và cần dành bao nhiêu tiền dự phòng để dự án kết thúc thành công. Giám sát bao gồm: • Đội ngũ Là nhà quản lý dự án bạn phải thiết lập một đội ngũ như thế nào cho phù hợp với công việc. Bạn không thể xây dựng đội ngũ cho dự án khi bạn chưa biết mục đích, lịch trình và ngân sách cuả dự án đó.
  14. • Điều phối Một dự án theo đúng bản chất cuả nó, đòi hỏi một sự quản lý thống nhất. Một hội đồng hay một ủy ban sẽ không hoạt động tốt được nếu hội đồng hay ủy ban đó quá dân chủ. Cho nên với tư cách là nhà quản lý dự án, bạn có trách nhiệm điều phối các hoạt động cuả từng thành viên cuả đội ngũ dự án. • Theo dõi Lịch trình và ngân sách cuả bạn chỉ có thể hoàn thành nếu bạn có khả năng phát hiện những vấn đề nảy sinh và khắc phục chúng; giao việc cho người khác hoặc thiết lập hệ thống giám sát vẫn chưa đủ. Còn phải theo dõi các chỉ số đẻ có thể giúp bạn theo dõi dự án có theo đúng lịch trình hay đúng ngân sách hay không và liệu mục đích trong toàn bộ dự án có đạt được hay không. • Hành động Nếu thấy các vấn đề nảy sinh, bạn phải có hành động khắc phục chúng. Chẳng hạn như nếu đội ngũ dự án không thực hiện đúng lịch trình, bạn phải đẩy mạnh tiến độ cuả lịch trình. Nếu ngân sách bị vượt trội thì các khoản chi cần được khống chế và mức dộ bội chi trong tương lai không thể xảy ra hoặc phải giảm xuống. Điều đó chỉ có thể có được nếu bạn bám sát các vấn đề trước khi chúng vuột khỏi tầm tay bạn • Hoàn tất Ngay cả khi một dự án được quản lý tốt và giữ đúng lịch trình đến 99% thời hạn mà không có bước cuối cùng này thì bạn cũng không thực hiện đúng hạn chót. Đôi khi một dự án được điều hành tốt cũng trở nên khó hoàn tất. Báo cáo cuối cùng, kết luận cuối cùng, các cam kết trên giấy tờ thường là phần khó khăn nhất cuả dự án. H.2 Tóm tắt các năng lực của người điều hành dự án 5 Các năng lực của người điều hành dự án a. Kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo b. Có khả năng tiếp xúc với các nguồn cần thiết c. Có năng lực điều phối các nguồn đa dạng d. Kỹ năng truyền đạt và thủ tục e. Năng lực giao phó và theo dõi công việc f. Độ tin cậy a) Kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo Khi tìm kiếm môt nhà quản lý dự án có khả năng, người ta thường tìm người có năng lực biểu lộ được năng lực tổ chức và lãnh đạo những người khác. Người được chọn sẽ thành công trong việc chọn một dự án phức tạp, vì ông ta đã biểu lộ những kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết. b) Có khả năng tiếp xúc với các nguồn cần thiết
  15. Với một dự án lớn cần phải tiếp xúc với nhiều nguồn, cơ quan khác nhau. Nếu người quản lý dự án có khả năng tiếp xúc, có mối quan hệ tốt thì công việc sẽ tiến triển tốt đẹp hơn. c) Có năng lực điều phối các nguồn đa dạng Là một nhà quản lý có khả năng bạn phải có năng lực giao và theo dõi những công việc không chỉ quen thuộc với bạn mà còn những công việc xa lạ khác nữa. d) Kỹ năng truyền đạt và thủ tục Một nhà quản lý dự án giỏi phải biết cách truyền đạt thông tin cho các thành viên đội ngũ dự án và thu nhận thông tin từ họ, ngay cả khi quan điểm cụ thể cuả họ khác mình. e) Năng lực giao phó và theo dõi công việc Khi giao việc cho mỗi thành viên cuả dự án, nhà quản lý dự án theo dõi sao cho việc đó theo đúng lịch trình và nằm trong khuôn khổ ngân sách. Một nhà thầu xây dựng một ngôi nhà phải hiểu các công đoạn do mỗi phụ thầu phụ trách, thậm chí công đoạn đó mang tính chuyên môn hoá cao. Nhà quản lý dự án cũng thế, nếu chỉ thuần tuý giao công việc, hoàn thành đúng lịch trình và theo ngân sách vẫn chưa đủ. Giao và theo dỏi công việc chỉ có hiệu quả nếu bạn có khả năng giám sát và đánh giá tiến độ. f) Độ tin cậy Độ tin cậy cuả bạn chỉ có thể được kiểm nghiệm bằng cách: giao cơ hội và trách nhiệm cho bạn để bạn xoay sở. Một khi đã giành được uy tín như một giam đốc (theo nghiã người có khả năng và đáp ứng được điều mong mõi) thì bạn đã sẳn sàng đảm nhận được một dự án Bản câu hỏi cần đặt ra của một nhà quản lý dự án 1. Mục đích của dự án nầy là gì ? Vấn đề đặt ra là phải thông suốt mục tiêu của dự án để khỏi đi chệch hướng trong các công việc kế tiếp. 2. Kết quả cuối cùng sẽ ra sau ? Bạn cần biết chính xác người ta muốn thấy được cái gì khi kết thúc dự án. Chẳng hạn phải có tổ chức báo cáo không? Phải đưa các chi tiết nào vào trong báo cáo? 3. Sẽ gặp phải vấn đề gì và cần giải quyết như thế nào? Hãy luôn cho rằng một dự án phải xác định và giải quyết một loạt vấn đề cụ thê mà tự bạn phải liệt kê ra và phải giải quyết nó. 4. Trách nhiệm của tôi là gì ? Phải thấy rỏ trách nhiệm bạn được giao và giới hạn những trách nhiệm đó 5. Chức trách của tôi là gì ? 6. Ngân sách của tôi là bao nhiêu ? 7. Hạn chót là khi nào ?
  16. 6. Các bộ phận của dự án Các bộ phận của dự án bao gồm các phần sau : 1. Nghiên cứu tiền khả thi 2. Nghiên cứu khả thi 3. Thiết kế chi tiết 4. Thực hiện dự án 5. Đánh giá hậu dự án IV. NGHIÊN CỨU TIỀN KHẢ THI (PHÂN TÍCH KINH TẾ KỸ THUẬT) NCTKT là nổ lực đầu tiên nhằm đánh giá triển vọng chung của dự án. Để thực hiện giai đoạn nầy, điều quan trọng là phải cố gắng duy trì một mức độ chính xác ngang nhau cho những phần phân tích khác nhau, đồng thời phải nhận thức rằng mục đích của NCTKT là để có được những ước tính phản ảnh đúng (có định lượng) của các biến số để chứng tỏ rằng dự án có đủ hấp dẫn để tiến hành nghiên cứu sâu hơn (bước NCKT). Để tránh những ước tính quá lạc quan về lợi ích và chi phí, chúng ta nên sử dụng những ước tính thiên lệch về hướng làm giảm bớt của dự án trong khi làm tăng cao mức ước tinh vế chi phí. Nếu những dự án vẫn hấp dẫn sau khi đã tiến hành NCTKT, thì rất có nhiều khả năng dự án sẽ đứng vững trong những bước nghiên cứu kế tiếp. Một dự án đầu tư công cộng thướng bao gồm 6 lãnh vực được tóm tắt như sau : 1. Phân tích thị trường Mức cung và giá cả về hàng hoá và dịch vụ hay các nhu cầu tương đối về dịch vụ xã hội được ước tính, định lượng hoá và lý giải chứng minh. 2. Phân tích kỹ thuật Các thông số nhập lượng của dự án được xác định một cách chi tiết và các ước tính vế chi phí được xây dựng 3. Phân tích nhân lực và quản lý Nhu cầu nhân lực cần thiết cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án được xác định một cách chi tiết , và nguồn nhân lực được xác định với số lượng cụ thể 4. Phân tích tài chánh hay ngân sách Chi và thu tài chính được phân tích cùng với việc đánh giá các phương án tái trợ khác nhau 5. Phân tích hiệu quả kinh tế Các dữ liệu tài chính được điều chỉnh thành các dữ liệu kinh tế. Chi phí và lợi ích của dự án được tính từ quan điểm của cả nền kinh tế
  17. 6 Phân tích hiệu quả xã hội Dự án được tính theo quan điểm của những đối tượng được hưởng lợi từ dự án và từ những đối tượng phải chịu chi phí cho dự án. Ta nên định lượng hóa mức lợi ích được hưởng và chi phí phải chịu của các nhóm nầy ở những chổ nào có thể làm được. V. NGHIÊN CỨU KHẢ THI Nội dung của nghiên cứu khả thi, gần giống như NCTKT, tuy nhiên việc nhiên cứu sẽ chi tiết hơn. NCKT bao gồm các bước sau : 1. Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư Bao gồm các vấn đề sau : - Các căn cứ pháp lý để xây dựng dự án - Tính hợp lý của dự án - Phân tích các yếu tố cần thiết để xây dựng dự án 2. Lựa chọn hình thức đầu tư Các hình thức đầu tư có thể xảy ra như sau (xem I.2. Phân loại đầu tư) 3. Các mục tiêu và sản phẩm của dự án Bao gồm các bước : - Mục tiêu phát triển dài hạn - Mục tiêu ngăn hạn - Sản phẩm dự án 4. Phân tích đặc điểm khu vực của dự án Bao gồm các vấn đề sau : - Diện tích sử dụng và vị trí lắp đặt : gồm một số phương án về địa điểm - Vận chuyển và kết cấu hạ tầng - Khí tượng thuỷ văn của khu vực dự án - Địa hình và địa chất công trình - Các yếu tố cần thiết khác - Một số thông số kỹ thuật của dự án 5. Phân tích sự lựa chọn công nghệ 6. Các phương án và giải pháp xây dựng Bao gồm các bước sau : - Phương án bố trí mặt bằng - Các giải pháp xây dựng - Khối lượng xây dựng và chi phí xây dựng - Tổ chức thi công xây lắp
  18. - Tiến độ thi công xây lắp 7. Phân tích tài chính Bao gồm các bước sau : - Căn cứ phân tích tài chính - Bảng dự trù doanh thu hằng năm - Vốn lưu động - Bảng dự trù chi phí sản xuất hằng năm - Bảng dự trù lãi lỗ hằng năm - Bảng dự trù cân đối thu chi - Bảng tóm tắt cân đối tái sản - Các chỉ số đánh giá hiệu quả tài chính * Tỉ số B/C * Hiện gía thuần NPV * Tỉ suất thu hồi nội bộ IRR * Điểm hòa vốn * Thời gian hòa vốn - Phương án trả nợ vay - Phân tích độ nhạy 8. Phân tích kinh tế xã hội Bao gồm : - Phân tích định tính - Phân tích định lượng VI. THIẾT KẾ CHI TIẾT Bao gồm các bản vẽ thiết kế chi tiết đủ chính xác cho việc thi công VII. THỰC HIỆN DỰ ÁN Việc thực hiện dự án bao gồm các hình thức sau : * Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án Chủ đầu tư trực tiếp tuyển chọn trực tiếp ký hợp đồng với hoặc nhiều tổ chức tư vấn để thực hiện công tác khảo sát, thiết kế công trình, soạn thảo hồ sơ gọi thầu, tổ chức đấu thầu hoặc chỉ định thầu. Sau khi chủ đầu tư ký hợp đồng với nhà thầu xây lắp, nhiệm vụ giám sát, quản lý quá trình thi công đảm bảo tiến độ và chất lượng công trình vẫn do tổ chức tư vấn đã được lưạ chọn đảm nhận.
  19. * Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án 1. Chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và trình cấp có thẩm quyền quyết định tổ chức tư vấn thay mình làm ChủNhiệm điều hành dự án, chịu trách nhiệm giao dịch ký kết hợp đồng với các tổ chức khảo sát, thiết kế, cung ứng vật tư thiết bị xây lắp để hoàn tất quá trình thực hiện dự án, đồng thời chịu trách nhiệm giám sát quản lý toàn bộ quá trình thực hiện dự án. 2. Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án chỉ áp dụng đối với những dự án có qui mô lớn • Hình thức chìa khóa trao tay 1. CĐ đầu tư tổ chức đấu thầu dự án để lựa chọn 1 nhà thầu thực hiện toàn bộ dự án C đầu tư chỉ trình duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng. Tổng thầu xây dựng có quyền giao lại 1 số phần việc cho các nhà thầu phụ. 2. Hình thức chìa khóa trao tay được áp dụng trong công trình nhà ở, công trình dân dụng và công trình sản xuất kinh doanh có qui mô n
  20. • Hình thức tự làm 1. Chủ đầu tư sử dụng lực lượng được phép hành nghề xây dưng của mình để thực hiện khối lượng xây lắp 2. Hình thức tự làm chỉ áp dụng đối với công trình sửa chữa, cải tạo qui mô nhỏ, công trình chuyên ngành đặc biệt (xây dựng công nông lâm nghiệp và các công trình tự đầu tư xd cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp xây dựng) VIII. ĐÁNH GIÁ HẬU DỰ ÁN Phần lớn công sức đều được bỏ ra trong khâu thiết lập dự án hơn là khâu đánh giá các dự án đã thực hiện được. Để thực hiện công tác đánh giá nầy chúng ta cần tiến hành đánh giá khâu quản lý hành chánh của dự án ngay khi dự án đi vào giai đoạn vận hành. Các cán bộ quản lý giai đoạn vân hành phải hiểu rỏ rằng việc thẩm định kỹ lưỡng các kết quả cuả dự án phải được tiến hành trong suốt thời giai hoạt động của nó. Bằng cách nầy, các dữ liệu cần thiết có thể được xây dựng thông qua các hoạt động tài chánh và kiểm soát thông thường, tạo điều kiện cho việc thẩm định được thực hiện với chi phí thấp nhất. Việc nầy còn cho chúng ta thấy các biến số quan trọng nhất trong việc thiết kế và thực hiện dự án, nó đã quyết định sự thành công hoặc thất bại cuả dự án, để sao cho những kinh nghiệm thành công được lập lại và những kinh nghiệm thất bại được loại trừ. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG “DỰ ÁN ĐẦU TƯ_KHÁI NIỆM và THUẬT NGỮ” Glenn P. Jenkins và Arnold C. Harberger Phân tích Chi Phí và Lợi Ích cho các quyết định đầu tư (Tập I), tuyển tập bài giảng Chương Trình Thẩm Định và Quản Lý Dự Aïn – Viện Phát Triển Quốc Tế ĐH Harvard-TP Ho Chi Minh 2-1995 Hà thị Ngọc Oanh

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản