Dự án sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Chia sẻ: Thuy Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

1
280
lượt xem
97
download

Dự án sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội Khoá XII, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XII và năm 2008, theo phân công của Chính phủ, Bộ Tài chính đã thành lập Ban soạn thảo, thực hiện việc tổng kết đánh giá tình hình thực tế thi hành Luật thuế TNDN; nghiên cứu xây dựng Dự án Luật thuế TNDN sửa đổi. Ban soạn thảo tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành, đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Dự án sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

  1. TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ Về Dự án sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) ------------------------------------------------------- Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội Khoá XII, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XII và năm 2008, theo phân công của Chính phủ, Bộ Tài chính đã thành lập Ban soạn thảo, thực hiện việc tổng kết đánh giá tình hình thực tế thi hành Luật thuế TNDN; nghiên cứu xây dựng Dự án Luật thuế TNDN sửa đổi. Ban soạn thảo tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các Bộ, ngành, đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức và cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp,... theo quy trình xây dựng văn bản pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Trang thông tin điện tử Bộ Tài chính, Trang thông tin điện tử Chính phủ. Bộ Tài chính xin trình Chính phủ Dự án sửa đổi Luật thuế TNDN. I- SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT THUẾ TNDN Luật thuế TNDN hiện hành được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 17/6/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 để thay thế cho Luật thuế TNDN (1997) nhằm thực hiện đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; hạ mức thuế để thu hút đầu tư; đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn,... trên cơ sở đó bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN). Tổng kết, đánh giá qua 4 năm thực hiện cho thấy: Nhìn chung, Luật thuế TNDN hiện hành đã đạt được mục tiêu đề ra, đánh dấu bước phát triển quan trọng góp phần cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện hệ thống thuế để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn tới, Luật thuế TNDN đã bộc lộ những nhược điểm, hạn chế cần được nghiên cứu, xem xét, bổ sung và sửa đổi (Báo cáo tổng kết đánh giá trình kèm). Dưới đây là những nội dung chủ yếu: 1- Những kết quả đạt được - Thứ nhất, Luật thuế TNDN đã có tác động tích cực trong việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh: Luật thuế TNDN hiện hành đã hạ mức thuế từ 32% xuống 28% đồng thời bỏ thu thuế bổ sung đối với doanh nghiệp trong nước; bãi bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (3%, 5%, 7%) đối với nhà đầu tư nước ngoài để chuyển từ mức thuế TNDN 25% sang áp dụng chung mức thuế 28% như các doanh nghiệp trong nước. Việc điều chỉnh giảm mức thuế đối với doanh nghiệp trong nước không chỉ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp mới thành lập mà còn tạo thêm tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp đang hoạt động (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước) đổi mới thiết bị, bổ sung vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo số liệu thống kê năm 2006, chỉ tính riêng 45 Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, vốn kinh doanh đã được tích luỹ, bổ sung thêm gần 5.300 tỷ đồng, quỹ đầu tư phát triển tăng gần 13.000 tỷ đồng và quỹ dự phòng tài chính để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh tăng khoảng 2.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Luật thuế TNDN cũng áp dụng chung một chính sách ưu đãi trên cơ sở chọn mức ưu đãi thuế cao nhất trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Thực tiễn thi hành các quy định nói trên của Luật đã thực sự tạo ra một sân chơi bình đẳng, khắc phục sự khác biệt đối xử trong ưu đãi đầu tư, thúc đẩy đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng phát triển [1], góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cao trong những năm vừa qua. - Thứ hai, góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của NSNN: Mặc dù đã hạ mức thuế và áp dụng các mức ưu đãi cao nhưng số thu NSNN về thuế TNDN vẫn bảo đảm tăng trưởng do có tác động cải thiện môi trường đầu tư, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều phát triển về số lượng, quy mô và hiệu quả kinh doanh, mức thuế hợp lý tác động đến việc tự giác sự tuân thủ tốt hơn,... Trong giai đoạn 2004 – 2007, số thu thuế TNDN (không kể thu từ dầu khí) đạt mức bình quân trên 30 ngàn tỷ đồng/năm với mức tăng trưởng bình quân hàng năm gần 17%. Với kết quả này, Luật thuế TNDN đã góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng về đầu tư phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước. - Thứ ba, thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý thuế và ưu đãi đầu tư: Luật thuế TNDN áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự nộp thuế, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của số liệu đã kê khai thay cho cơ chế cơ quan thuế tính thuế, thông báo thuế, quyết toán thuế. Việc ban hành và thực thi Luật thuế TNDN đã đánh dấu một bước tiến về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế và đầu tư khi đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc lựa chọn, xác định điều kiện và mức ưu đãi thuế mà không cần giấy phép, giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Nhờ việc chuyển sang cơ chế mới, cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào công tác tuyên truyền, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát để giúp cho doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của pháp luật. 2- Về những hạn chế, tồn tại cần sửa đổi, bổ sung 2.1- Về mức thuế suất 28%: Thuế TNDN điều chỉnh thu nhập của doanh nghiệp, vì vậy, không những tác động đến môi trường kinh doanh trong
  2. nước mà còn ảnh hưởng đến việc cạnh tranh quốc tế về thu hút đầu tư nước ngoài. Tại thời điểm ban hành Luật thuế TNDN (2003), việc quy định mức thuế suất 28% đã được cân nhắc, tính toán kỹ nhằm bảo đảm được tính cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hầu hết các nước trong khu vực đều đang duy trì mức thuế tương đối cao như: Mã-lai-xi-a (32%), Thái Lan (30%), Phi-lip-pin (35%) In-đô-nê-xi-a (30%, riêng thuế suất đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác mỏ, dầu khí, thuỷ điện từ 30% đến 45%) và Trung Quốc (33%) . Tuy nhiên, do tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt hơn, cải cách thuế TNDN được các nước trên thế giới và các nước trong khu vực quan tâm nhiều hơn. Xu hướng gần đây cho thấy nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã giảm mức thuế TNDN nhằm thực hiện ưu đãi trên diện rộng cho cả nền kinh tế, tăng tính cạnh tranh quốc gia trong thu hút đầu tư. Nghiên cứu thông tin quốc tế cho thấy mức thuế TNDN hiện hành (28%) là cao hơn các nước trong khu vực có điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Ngay cả Singapo - nơi có môi trường đầu tư thuận lợi, đã quyết định hạ thuế suất thuế TNDN từ 20% xuống còn 19%; Philipin giảm từ 35% xuống 30%. Và mới đây nhất, Quốc vụ viện Trung quốc cũng đã quyết định giảm mức thuế suất thuế TNDN từ 33% xuống còn 25% để cạnh tranh với các nước trong thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế (xem Phụ lục đính kèm). Thực tế này đặt ra yêu cầu cần phải xem xét, cân nhắc kỹ hơn về mức thuế suất của ta đang áp dụng 28% . 2.2- Về các quy định ưu đãi thuế TNDN Các quy định về ưu đãi thuế trong Luật thuế TNDN hiện hành được tổng hợp từ tất cả các văn bản pháp luật ban hành từ lúc nền kinh tế nước ta mới mở cửa, môi trường đầu tư kém hấp hẫn, cơ sở hạ tầng còn khó khăn,... trên nguyên tắc chọn mức ưu đãi cao nhất, thuận lợi nhất để áp dụng chung. Vì vậy, Luật thuế TNDN có 3 thuế suất ưu đãi là 10%, 15% và 20% cùng với nhiều mức thời gian miễn, giảm thuế (tối đa là 4 năm miễn và 9 năm giảm 50%). Để được hưởng các ưu đãi này, Luật quy định nhiều tiêu chí khác nhau, vừa căn cứ vào ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi, vừa căn cứ vào địa bàn đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư. Qua thực hiện cho thấy các chính sách ưu đãi thuế trên ngày càng bộc lộ những nhược điểm là dàn trải, phức tạp [2], tác động của ưu đãi thuế đối với việc phân bổ nguồn lực trong đầu tư còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu về phát triển kinh tế theo vùng và lãnh thổ, nhất là thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Cụ thể, theo tiêu chí ngành nghề, lĩnh vực thì có tới 90% số lượng ngành kinh tế cấp II và 33% ngành kinh tế cấp III được hưởng ưu đãi thuế. Theo tiêu chí địa bàn thì có tới 32% địa phương thuộc diện ưu đãi và 24% số địa phương thuộc diện đặc biệt ưu đãi. Bên cạnh đó, còn có 154 Khu công nghiệp, Khu chế xuất, 10 Khu kinh tế, 23 Khu kinh tế cửa khẩu do Trung ương thành lập (bình quân mỗi tỉnh có 3 Khu) và hàng trăm khu công nghiệp nhỏ và vừa, cụm công nghiệp do địa phương thành lập (chưa kể các điểm công nghiệp) cũng thuộc diện ưu đãi. Theo số liệu thống kê năm 2007, tổng số doanh nghiệp được hưởng ưu đãi chiếm tới 70% tổng số doanh nghiệp đang kê khai, nộp thuế TNDN. Như vậy, ưu đãi về thuế TNDN là khá rộng và thể hiện sự dàn trải trong chính sách ưu đãi. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện cho thấy có nhiều dự án đầu tư theo nhiều hạng mục, ngành nghề, địa bàn khác nhau nên việc xác định điều kiện ưu đãi, mức ưu đãi, số thuế TNDN rất phức tạp, doanh nghiệp khó xác định đúng mức ưu đãi thuế TNDN được hưởng. Qua tổng kết đánh giá, có không ít doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo nhiều trường hợp khác nhau như: ưu đãi do mới thành lập, ưu đãi theo đầu tư mở rộng, ưu đãi do đáp ứng tỷ lệ xuất khẩu, ưu đãi do sử dụng lao động nữ, ưu đãi sử dụng lao động là người tàn tật, ưu đãi do thực hiện các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật phục vụ nông nghiệp...Ví dụ như, tại tỉnh Đồng Nai, có doanh nghiệp trong năm 2006 được hưởng ưu đãi về thuế TNDN theo 4 trường hợp (ưu đãi mới thành lập, ưu đãi theo đầu tư mở rộng, ưu đãi do đáp ứng tỷ lệ xuất khẩu, ưu đãi do sử dụng lao động nữ) dẫn đến doanh nghiệp gặp nhiều lúng túng trong việc tự xác định ưu đãi miễn, giảm. Số liệu thống kê năm 2007 cho thấy trong số những vướng mắc về thuế TNDN được gửi đến cơ quan thuế thì vướng mức về ưu đãi thuế TNDN đã chiếm tới 25%. Bên cạnh đó, thực tế quản lý cho thấy các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, tập trung chủ yếu vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất hoặc những địa bàn thuận lợi (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Vĩnh Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh). Như vậy, phát sinh vấn đề phân bổ nguồn lực chưa hợp lý, việc thu hút đầu tư vào các địa bàn khó khăn không đạt được mục tiêu đề ra do các địa bàn thuận lợi cũng được ưu đãi theo tiêu chí ngành nghề. Như đã báo cáo ở phần trên, thuế TNDN thường được các nước sử dụng làm công cụ để thu hút đầu tư. Qua tham khảo các nước trong khu vực cho thấy xu hướng gần đây của các nước trong chính sách ưu đãi thuế TNDN là chuyển từ ưu đãi theo ngành sang ưu đãi theo diện rộng, khuyến khích tổng thể nền kinh tế bằng chính sách điều tiết thuế TNDN hợp lý mà không cần ưu đãi nhiều (chỉ tập trung cho một số rất ít ngành mũi nhọn và vùng đặc biệt khó khăn để giảm bớt chi phí cho nhà đầu tư). Ví dụ: Trung Quốc bên cạnh việc hạ thuế suất thuế TNDN từ 33% xuống còn 25% thì đã xoá bỏ (theo lộ trình 5 năm) hầu hết các ưu đãi thuế, kể cả ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trước đây. Đối với lĩnh vực, Trung quốc chỉ còn ưu tiên cho doanh nghiệp có công nghệ cao đồng thời là công nghệ mới ; đối với địa bàn Trung quốc chỉ
  3. có ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng tự trị và khó khăn ở phía Tây. Thực tiễn nước ta trong thời gian vừa qua cũng như kinh nghiệm của các nước như đã nêu ở phần trên cho thấy: mặc dù chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam có mức ưu đãi hấp dẫn hơn so với nhiều nước nhưng nếu như không sửa đổi để thu hút đầu tư có lựa chọn thì hiệu quả thu hút đầu tư trong nước cũng như nước ngoài để khuyến khích phát triển nền kinh tế sẽ rất khó có thể đạt được theo định hướng của Nhà nước. Để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc hưởng ưu đãi đầu tư và thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tư nộp cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi các quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đảm bảo tránh phức tạp và dàn trải theo hướng: Có cơ chế ưu đãi minh bạch, thiết thực, phù hợp với xu thế chung về cải cách thuế của các nước trên thế giới ; chuyển từ ưu đãi theo diện hẹp (miễn, giảm thuế) sang cơ chế hạ mức thuế suất phổ thông xuống thấp hơn mức 28% hiện hành) để khuyến khích cả nền kinh tế, đồng thời sắp xếp lại ưu đãi (miễn, giảm thuế) tập trung vào một số lĩnh vực mũi nhọn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. 2.3- Các quy định về căn cứ tính thuế - Luật thuế TNDN quy định cả chi phí được trừ và chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Cách quy định này là phù hợp với thực tiễn khi ban hành vì có thể giúp cho doanh nghiệp đối chiếu để tự kê khai. Tuy nhiên, qua thực hiện ngày càng phát sinh nhiều vướng mắc, gây khó khăn, làm hạn chế quyền chủ động của doanh nghiệp trong kinh doanh. Nền kinh tế đang vận động, chuyển sang cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo xu hướng đa ngành, đa lĩnh vực, phát sinh nhiều khoản chi mới mà quy định hiện hành chưa bao quát được hết dẫn đến việc hiểu và vận dụng khác nhau giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước (thuế, thanh tra, kiểm toán), tạo cơ hội để sinh ra cơ chế “xin – cho” trong quá trình thực hiện. Để khắc phục hạn chế này, bảo đảm rõ ràng, tạo thuận lợi cho việc thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế theo quy định của Luật quản lý thuế một cách có hiệu quả, cần thiết sửa đổi theo hướng: quy định điều kiện để xác định khoản chi được trừ, liệt kê cụ thể các khoản không được trừ; những khoản không được liệt kê thì đương nhiên doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập. - Tại thời điểm đầu năm 2003, hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất của doanh nghiệp phát sinh lãi rất lớn do giá đầu ra tăng cao theo quy hoạch trong khi đất được giao tính thu tiền sử dụng đất theo mức giá thấp, vì vậy để điều tiết hợp lý, kịp thời đối với thu nhập này, Luật thuế TNDN có quy định thu thuế bổ sung đối với thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, để khuyến khích phát triển bất động sản, hạn chế quy hoạch “treo”, bỏ đất trống..., Luật thuế TNDN cũng đã quy định ưu đãi đối với bất động sản. Tuy nhiên, kể từ năm 2005, thực hiện quy định của Luật đất đai, các trường hợp được giao đất để kinh doanh bất động sản như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư nhà để chuyển nhượng đều phải thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất hoặc nộp theo giá đất do UBND địa phương quy định (giá đất đối với từng loại đường phố do UBND quy định phải được điều chỉnh hàng năm). Do thay đổi về cơ chế xác định giá đất theo giá thị trường, chính sách thu đối với đất đai đã điều tiết được các khoản lợi nhuận tăng do chênh lệch giá đất và giảm bớt lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, không cần thiết phải duy trì việc thu bổ xung đối với lợi nhuận từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh bất động sản đang chuyển sang theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp chuyển quyền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất dễ chuyển thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất sang thu nhập kinh doanh tài sản trên đất để tránh thuế TNDN bổ sung và được hưởng ưu đãi. Vì vậy, cần bãi bỏ việc thu thuế bổ xung đối với thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất và áp dụng chính sách thuế chung đối với thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và thu nhập từ kinh doanh bất động sản. 2.4 - Về quy định nơi nộp thuế TNDN. Luật thuế TNDN được ban hành trong điều kiện doanh nghiệp thường có trụ sở điều hành tại địa bàn địa phương nơi kinh doanh; Luật quản lý thuế quy định nộp thuế TNDN tại nơi đóng trụ sở chính đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hạch toán tập trung, điều hành. Tuy nhiên, trong thực tế, các doanh nghiệp thường có cơ sở kinh doanh tại nhiều địa phương khác và ở những nơi này, chính quyền địa phương phải cung cấp nhiều dịch vụ phục vụ cho sản xuất – kinh doanh như: bệnh viện, trường học, nhà ở công nhân, vệ sinh môi trường, trật tự trị an... nhưng không có nguồn thu vì thuế TNDN đã được nộp tại nơi đóng trụ sở chính. Để giải quyết tốt vấn đề này phù hợp trong giai đoạn hiện nay, cần thiết phải sửa đổi Luật thuế TNDN theo hướng tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách địa phương. 2.5- Về một số vấn đề khác - Các quy định về thuế TNDN liên quan đến cam kết quốc tế : Đến nay, ta đã tham gia nhiều cam kết ở cấp Chính phủ có liên quan đến thuế TNDN như: xác định nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp nước ngoài để bảo đảm quyền thu thuế của Việt Nam, và quy định về tránh đánh thuế hai lần,... Qua tổng kết, đánh giá cho thấy trong thời gian vừa qua các cam kết này đã được thực hiện ổn định và đi vào cuộc sống, nhưng chưa được thể hiện rõ trong Luật thuế TNDN. Vì vậy, cần phải đưa các nội dung cam kết này vào Luật thuế TNDN để đảm bảo tính minh bạch và pháp lý cao hơn. - Quy định về thuế đối với tổ chức hoạt động có thu nhập không chia : Hiện nay, ở nước ta đã có các tổ chức thuộc Hội khuyến nông, Hội khuyến học, Hội người cao tuổi, Hội bảo trợ người tàn tật.... và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam (Hội đồng Anh, Cộng đồng Pháp ngữ, Trung tâm giáo dục của Hội đồng Bộ trưởng các nước ASEAN,...). Đây là các tổ chức có tham gia tích cực vào một số lĩnh vực của đời sống xã hội, cung
  4. cấp một số dịch vụ công mang tính tự nguyện, từ thiện (đào tạo, tư vấn đời sống, pháp luật, hoạt động giao lưu, phát triển văn hoá, nghiên cứu khoa học...). Thu nhập từ hoạt động của các tổ chức này được sử dụng cho mục đích, tôn chỉ được pháp luật thừa nhận như nêu trên, mà không phân chia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước thường có những quy định đặc thù về thu nhập chịu thuế, chi phí được trừ khi tính thuế TNDN của các tổ chức này có khác với quy định áp dụng đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn hiện hành chưa có sự phân biệt giữa doanh nghiệp với các tổ chức này nên phần nào đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển các hoạt động này. Vì vậy, cần nghiên cứu, vận dụng những kinh nghiệm của các nước, phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của nước ta để quy định trong Luật thuế TNDN. - Về đối tượng nộp thuế và quản lý thu thuế TNDN: Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội cũng đã thông qua Luật thuế thu nhập cá nhân (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009), trong đó các đối tượng là cá nhân, hộ kinh doanh đang nộp thuế TNDN được chuyển sang thực hiện theo Luật thuế thu nhập cá nhân. Ngày 29/11/2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XI cũng đã thông qua Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007, trong đó các nội dung về đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm của thuế TNDN được thống nhất quy định tại Luật này. Những nội dung sửa đổi trong các văn bản Luật nêu trên cũng đặt ra yêu cầu phải sửa đổi Luật thuế TNDN để hạn chế sự chồng chéo, trùng lặp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật thuế. Tóm lại, những tồn tại, hạn chế của Luật thuế TNDN hiện hành cũng như những nội dung của Luật đã được sửa đổi, thay thế tại một số văn bản luật như đã phân tích trên đây đòi hỏi cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật này theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201/2004/QĐ- TTg ngày 06/12/2004, cụ thể là : “ hoàn thiện theo hướng giảm mức thuế suất, giảm diện miễn, giảm thuế ; thống nhất mức thuế suất và ưu đãi thuế giữa các thành phần kinh tế để khuyến khích đầu tư và đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh.” II- MỤC TIÊU, YÊU CẦU Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ, bảo đảm môi trường thuận lợi, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh”. Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, việc sửa đổi Luật thuế TNDN lần này cần đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu sau đây : Một là, Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh ; thực hiện giảm mức thuế suất chung theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 để khuyến doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích luỹ, tích tụ đổi mới thiết bị, đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh. Hai là, Sắp xếp ưu đãi thuế, bảo đảm tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư có chọn lọc, tác động tích cực đến phân bổ nguồn lực phát triển địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và một số lĩnh vực mũi nhọn đặc biệt quan trọng, đồng thời bảo đảm chính sách đơn giản, rõ ràng, minh bạch, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Ba là, Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. III- VỀ NỘI DUNG SỬA ĐỔI 1- Về phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 1) Như đã giải trình ở phần trên, Luật quản lý thuế do Quốc hội khoá XI ban hành đã bãi bỏ nội dung về quản lý thuế quy định tại các luật, pháp lệnh thuế. Vì vậy, Luật thuế TNDN sửa đổi lần này chỉ quy định về các nội dung chính sách để bảo đảm sự thống nhất về thể thức văn bản Luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật đề nghị bổ sung 01 điều quy định về phạm vi điều chỉnh, như sau : “ Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, đối tượng không thuộc diện nộp thuế, căn cứ tính thuế, cách tính thuế và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.” 2- Về đối tượng nộp thuế, đối tượng không thuộc diện nộp thuế TNDN (Điều 2 và Điều 3) - Theo Luật thuế TNDN hiện hành, đối tượng nộp thuế bao gồm cả tổ chức và cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Nay theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân đã được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 thì các đối tượng là cá nhân và hộ gia đình sẽ chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân từ ngày 1/1/2009. Vì vậy, đối tượng nộp thuế TNDN theo Dự thảo Luật này chỉ còn bao gồm doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. - Đồng thời, trong Dự thảo Luật cũng quy định phân biệt cụ thể giữa doanh nghiệp và tổ chức có hoạt động kinh tế, có thu nhập nhưng không chia lợi nhuận cho chủ sở hữu (đang thuộc diện điều chỉnh của Luật thuế TNDN) để áp dụng cơ chế đặc thù như đối với các tổ chức phi lợi nhuận đang được hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (tương tự như thông lệ
  5. quốc tế) - Ngoài ra, các quy định về quyền đánh thuế của nước ta đối với các tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam hiện hành đang được quy định tại các văn bản dưới luật nay cũng được đưa vào Dự thảo lần này. - Đối với cơ sở thường trú của các doanh nghiệp nước ngoài, Luật thuế TNDN hiện hành đang quy định tại Điều 4 “ Giải thích từ ngữ ”, nay Dự thảo Luật bỏ điều này và chuyển nội dung vào quy định trực tiếp tại Điều 2 “ Đối tượng nộp thuế .” Như vậy, nội dung cụ thể của Điều 2 Dự thảo Luật như sau : “ Điều 2.Đối tượng nộp thuế 1. Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm : Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư; liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã; tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ; tổ chức được thành lập và hoạt động theo luật pháp Việt Nam, tổ chức nước ngoài được hoạt động hợp pháp tại Việt Nam trong các lĩnh vực từ thiện, nhân đạo, văn hoá, giáo dục, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và các hoạt động xã hội khác vì mục tiêu hoà bình, hữu nghị, phát triển kinh tế - xã hội có thu nhập nhưng không chia (gọi tắt là tổ chức có thu nhập không chia); và các tổ chức khác có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, có thu nhập (dưới đây gọi chung là doanh nghiệp), trừ đối tượng quy định tại Điều 3 của Luật. 2. Nghĩa vụ nộp thuế đối với nguồn thu nhập phát sinh của doanh nghiệp được quy định cụ thể như sau : a) Doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài Việt Nam; b) Doanh nghiệp thành lập theo pháp luật nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam thông qua cơ sở thường trú ; c) Doanh nghiệp thành lập theo pháp luật nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam không liên quan đến cơ sở thường trú; d) Doanh nghiệp thành lập theo pháp luật nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam. 3. Cơ sở thường trú của doanh nghiệp thành lập theo pháp luật nước ngoài là cơ sở kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty nước ngoài tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm: a) Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu hoặc khí đốt hoặc bất cứ địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên nào ở Việt Nam; b) Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp; c) Cơ sở cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công cho mình hay một đối tượng khác; d) Đại lý cho công ty nước ngoài; đ) Đại diện ở Việt Nam trong các trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam. Trong trường hợp hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của hiệp định đó.” 4- Về thu nhập chịu thuế (Điều 5) Dự thảo Luật lần này kế thừa quy định hiện hành và có bổ sung 2 nội dung : thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (nộp thuế riêng) để thay thế cho quy định về thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất nhằm bao quát rộng hơn và thu nhập chịu thuế của tổ chức có thu nhập không chia, để thống nhất với quy định tại Điều 2 của Dự thảo Luật. Cụ thể như sau : “Điều 5.Thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế bằng tổng doanh thu trừ (-) các khoản chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, cộng (+) thu nhập khác nhận được từ các nguồn (kể cả thu nhập thu được ở nước ngoài), trừ (-) các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước. Thu nhập chịu thuế của tổ chức có thu nhập không chiakhông bao gồm thu nhập nhận được từ các khoản tài trợ cho hoạt động được pháp luật công nhận và ghi trong điều lệ của tổ chức. Doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhượng bất động sản thì phải xác định riêng thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản để kê khai nộp thuế riêng. Chính phủ quy định cụ thể thu nhập khác nhận được từ các nguồn và phương pháp xác định thu nhập chịu thuế. Trong trường hợp hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về phương pháp xác định thu nhập chịu thuế đối với cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của hiệp định đó.” 5. Về điều kiện xác định các khoản chi phí được trừ (Điều 7) và các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế (Điều 8) Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động trong hạch toán kinh doanh, thực hiện tốt cơ chế tự khai, tự nộp, tự xác định nghĩa vụ thuế, Dự thảo Luật quy định : Điều kiện để xác định những khoản chi được phép trừ khi xác
  6. định thu nhập chịu thuế (Điều 7); đồng thời liệt kê cụ thể những khoản chi không được trừ (Điều 8). Cụ thể như sau : “Điều 7.Điều kiện xác định các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế 1. Doanh nghiệp được trừ các khoản chi (trừ các khoản quy định tại Điều 9 của Luật này) nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: a) Các khoản chi hợp pháp, có đủ hoá đơn, chứng từ theo chế độ quy định; b) Các khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 2. Tổ chức có thu nhập không chia được trừ các khoản chi phí liên quan đến hoạt động của tổ chức được pháp luật công nhận và ghi trong điều lệ của tổ chức. Các khoản chi phí bằng ngoại tệ khi tính trừ phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh chi phí. Điều 8.Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế 1. Các khoản tiền phạt do vi phạm hành chính; 2. Các khoản chi được bù đắp bằng nguồn kinh phí khác; 3. Phần chi phí quản lý kinh doanh do công ty nước ngoàiphân bổ cho cơ sở thường trú ở Việt Nam vượt mức tính theo phương pháp phân bổ do pháp luật quy định; 4. Phần chi vượt mức theo quy định của pháp luật có liên quan về: trích lập dự phòng; tiền trang phục; tiền ăn giữa ca; 5. Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa vượt mức tiêu hao hợp lý và giá thực tế xuất kho. 6. Phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của đối tượng ngoài các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế vượt quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại tại thời điểm vay; 7. Trích khấu hao tài sản cố định không đúng quy định của pháp luật về khấu hao tài sản cố định; 8. Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi khi hết thời hạn quy định; 9. Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên công ty không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh; các khoản chi trả cho người lao động không được quy định trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể theo quy định của Bộ luật lao động; 10. Chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu; 11. Số thuế giá trị gia tăng nộp theo phương pháp khấu trừ; số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp hoặc tạm nộp. 12. Phần chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, chi tiếp tân, khánh tiết, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị; chi phí hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chi phí chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của các cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ vượt quá 10% tổng số chi phí được trừ không bao gồm các khoản chi thuộc diện khống chế nêu trên. Đối với hoạt động thương nghiệp, tổng số chi phí để xác định mức khống chế không bao gồm giá mua của hàng hoá bán ra. 13. Các khoản tài trợ, trừ khoản tài trợ cho giáo dục theo quy định của pháp luật. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.” 6- Cách tính thuế (Điều 11) Nội dung quy định tại Điều này kế thừa Luật thuế TNDN hiện hành về kỳ tính thuế, cách tính thuế đối với nhà thầu nước ngoài và phương pháp tránh đánh thuế hai lần đối với thu nhập được chuyển từ nước ngoài về Việt Nam. Cụ thể như sau: “ Điều 11. Cách tính thuế Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ được tính bằng thu nhập chịu thuế nhân (x) thuế suất, trừ (-) số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp ở nước ngoài tối đa không quá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quy định của Luật này. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm: năm dương lịch hoặc năm tài chính. Cách tính thuế đối với doanh nghiệp nêu tại điểm c và điểm d, khoản 2 Điều 2 của Luật này thực hiện theo quy định của pháp luật.” 7- Về nơi nộp thuế TNDN (Điều 12) Nhằm đảm bảo sự hài hoà mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp với các địa phương nơi doanh nghiệp mở các nhà máy, cơ sở sản xuất hoặc thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh gây tác động đến môi trường, xã hội, cơ sở hạ tầng,... Dự thảo Luật bổ sung một điều (Điều 12) quy định về nội dung này như sau : “ Điều 12. Nơi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Doanh nghiệp nộp thuế tại nơi có trụ sở chính. Trường hợp doanh nghiệp có đơn vị trực thuộc hoạt động kinh doanh tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với địa phương nơi có trụ sở chính thì số thuế thu nhập doanh nghiệp được tính theo nguyên tắc phân bổ giữa nơi kinh doanh và nơi có trụ sở chính. Chính phủ quy định chi tiết thi hành Điều này .” 8- Về thuế suất (Điều 10) và ưu đãi thuế (từ Điều 13 đến Điều 19) - Về thuế suất : Nhằm tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp có điều kiện tăng tích luỹ, tích tụ, tăng thêm nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng bảo đảm tăng tính cạnh tranh với thế giới và khu vực trong điều kiện các nước đã hạ mức thuế suất thuế TNDN để thu hút đầu tư, dự thảo Luật sửa đổi theo hướng sau : + Hạ mức thuế suất phổ thông từ 28% xuống 25%, đồng thời bỏ thu thuế bổ sung đối với thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất để khắc phục những hạn chế như đã phân tích ở phần trên, đồng thời cũng phù hợp với Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sau khi Bộ Chính trị đã
  7. có ý kiến. + Đồng thời khuyến khích doanh nghiệp có nguồn lực để chủ động đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị,... hàng năm doanh nghiệp được dành tối đa 10% thu nhập trước khi tính thuế để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ. - Về ưu đãi thuế : Như đã phân tích ở phần trên, thực hiện Chiến lược cải cách thuế và cũng là bảo đảm tạo chính sách thúc đẩy việc phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả theo định hướng đầu tư nhằm tạo sự phát triển đối với các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn ; thực hiện việc khuyến khích ưu đãi đầu tư có chọn lọc, có điều kiện theo nguyên tắc nâng dần chất lượng và hiệu quả đầu tư,... Dự thảo Luật quy định các ưu đãi thuế như sau : + Các doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động trong các lĩnh vực mũi nhọn như : công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, các lĩnh vực được xã hội hoá gồm : giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - nghệ thuật, thể thao và bảo vệ môi trường, được hưởng thuế suất 10% trong thời gian 15 năm, được miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% tối đa 9 năm. Đối với các trường hợp đặc biệt thì có thể được hưởng thuế suất 10% trong thời gian dài hơn theo quy định của Chính phủ. + Các doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn cũng được hưởng ưu đãi nhưng mức độ ưu đãi thấp hơn đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn : được hưởng thuế suất 20% trong thời gian 10 năm, được miễn thuế tối đa 2 năm và giảm 50% tối đa 4 năm. + Các trường hợp đầu tư mở rộng, đầu tư theo chiều sâu sẽ được trích khấu hao nhanh hơn so với mức thông thường thay thế cho việc giảm thuế hiện nay để bảo đảm tính khả thi và minh bạch. Xét về mặt tổng thể, việc thiết kế các ưu đãi thuế nêu trên đảm bảo duy trì (thậm chí còn cao hơn) so với các chính sách ưu đãi hiện hành, tạo được động lực khuyến khích mới cho toàn bộ nền kinh tế. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách ưu đãi này khắc phục được các hạn chế, tồn tại của chính sách hiện hành về tính phức tạp, dàn trải và hạn chế trong việc ưu tiên phân bổ nguồn lực cho vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, hệ thống ưu đãi này bảo đảm cải thiện được môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta phù hợp với xu thế của các nước trên thế giới và trong khu vực, nâng cao tính cạnh tranh cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế. Việc điều chỉnh giảm thuế suất và sắp xếp lại ưu đãi thuế như trên đây về cơ bản bảo đảm sẽ không ảnh hưởng đến số thu ngân sách. Tuy có giảm thuế do hạ thuế suất phổ thông từ 28% xuống 25% nhưng bù lại, với chính sách ưu đãi đồng bộ và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi hơn, cùng với việc tăng trưởng kinh tế sẽ tạo nên sự tăng trưởng nguồn thu một cách bền vững, ổn định trong tương lai. Kinh nghiệm thực tế trong đợt điều chỉnh mức thuế từ 32% xuống còn 28% như thể hiện trong Báo cáo tổng kết đánh giá và phân tích ở phần trên đã chứng minh việc bảo đảm thu NSNN. Ngoài ra, việc sửa đổi lần này còn bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch trong xác định chi phí được trừ, thu nhập chịu thuế, ưu đãi thuế cũng sẽ khuyến khích doanh nghiệp nâng cao tính tự giác trong kê khai nộp thuế, trên cơ sở đó bảo đảm tăng thu trong dài hạn. Nội dung sửa đổi cụ thể về thuế suất và ưu đãi thuế trên được quy định trong Dự thảo Luật như sau: “ Điều 10.Thuế suất 1. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%. 2. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tiến hành tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quí hiếm khác từ 25% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh. Chính phủ quy định chi tiết Điều này. Điều 13. Thuế suất ưu đãi 1. Doanh nghiệp mới thành lập thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thể thao, công nghệ cao, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước; doanh nghiệp mới thành lập hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao được áp dụng thuế suất 10% trong thời gian 15 năm. 2. Doanh nghiệp mới thành lập tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, Khu công nghiệp do Chính phủ quyết định thành lập được áp dụng thuế suất 20% trong thời gian 10 năm. 3. Đối với các dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư như các dự án có quy mô lớn và công nghệ cao, thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể dài hơn thời hạn quy định tại khoản 1 và 2, Điều này do Chính phủ quy định. Điều 14. Miễn thuế, giảm thuế 1. Doanh nghiệp mới thành lập thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thể thao, công nghệ cao, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học và công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm; doanh nghiệp mới thành lập hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao được miễn thuế tối đa không quá bốn (4) năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín (9) năm tiếp theo. 2. Doanh nghiệp mới thành lập tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, Khu công nghiệp do Chính phủ quyết định thành lập được miễn thuế tối đa không quá hai (2) năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá bốn (4) năm tiếp theo. Chính phủ quy định cụ thể thời gian miễn thuế, giảm thuế quy định tại Điều này. Điều 15.Ưu đãi đối với đầu tư mở rộng Doanh nghiệp đang hoạt động thực hiện đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất được trích khấu hao nhanh đối với tài sản cố định đầu tư theo quy định của Chính phủ. Điều 16. Miễn thuế, giảm thuế cho các trường hợp khác 1. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập của doanh nghiệp như sau: a) Phần thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời
  8. kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam; b) Phần thu nhập từ việc thực hiện các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp; c) Phần thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của cơ sở kinh doanh dành riêng cho lao động là người tàn tật; d) Phần thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội; đ) Thu nhập của hợp tác xã sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập thấp theo quy định của Chính phủ; 2. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà đầu tư góp vốn bằng bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật. 3. Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định của Chính phủ. 4. Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số theo quy định của Chính phủ; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số. Điều 17.Chuyển lỗ Hàng năm, trường hợp doanh nghiệp bị lỗ thì được chuyển lỗ sang năm sau, số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế. Thời gian được chuyển lỗ không quá năm năm.” Điều 18. Trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp [3] 1. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập và hoạt động theo pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được trích tối đa 10% trên thu nhập chịu thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp. 2. Trong thời hạn 5 (năm) năm kể từ khi trích lập, nếu Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không được sử dụng, hoặc sử dụng không hết 70%, hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp lại vào ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên khoản thu nhập đã trích lập Quỹ và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp dùng để tính số thuế thu hồi là thuế suất mà doanh nghiệp áp dụng trong thời gian trích lập Quỹ. Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần Quỹ không sử dụng hết là lãi suất trái phiếu kho bạc loại kỳ hạn 01 năm và thời gian tính lãi là 02 năm. Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần Quỹ sử dụng sai mục đích là lãi suất chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế và thời gian tính lãi là khoảng thời gian kể từ khi trích lập đến khi thu hồi. 3. Doanh nghiệp không được hạch toán các khoản chi từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ. 4. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp chỉ được sử dụng cho chi đầu tư khoa học và công nghệ tại Việt Nam.” 9. Về điều kiện ưu đãi thuế Để bảo đảm việc ưu đãi thuế được rõ ràng, bình đẳng, dễ thực hiện, Dự thảo Luật đề nghị bổ sung thêm 01 điều quy định về điều kiện ưu đãi thuế (hiện hành đang được quy định tại Nghị định của Chính phủ). Nội dung này được thể hiện tại Điều 19 của Dự thảo: “Điều 19.Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17 và Điều 18 Luật này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện đầy đủ sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ theo quy định của pháp luật. 2. Doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập của hoạt động kinh doanh được ưu đãi thuế quy định tại Điều 13, Điều 14, Điều 16 và Điều 17 của Luật này với thu nhập từ hoạt động kinh doanh không được ưu đãi thuế, kể cả thu nhập khác quy định tại Điều 9 của Luật này. Trường hợp doanh nghiệp không hạch toán riêng được thu nhập của hoạt động kinh doanh được ưu đãi thuế thì thu nhập của hoạt động kinh doanh được ưu đãi thuế được xác định theo tỷ trọng doanh thu của hoạt động kinh doanh được ưu đãi thuế trên tổng doanh thu của doanh nghiệp. 3. Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi, miễn thuế, giảm thuế được tính kể từ năm đầu tiên doanh nghiệp có doanh thu. 4. Việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Điều 13, Điều 14, Điều 15 và Điều 16 không áp dụng đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại Điều 6 của Luật này. Doanh nghiệp có lỗ từ chuyển nhượng bất động sản chỉ được chuyển lỗ vào thu nhập chịu thuế của hoạt động này trong thời gian chuyển lỗ quy định tại Điều 17, Luật này.” 10. Về hiệu lực thi hành và xử lý đối với các trường hợp đang được hưởng ưu đãi theo Luật hiện hành (Điều 20) - Để phù hợp với thời điểm thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân và cần có thời gian nghiên cứu, ban hành các văn bản hướng dẫn, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai thi hành Luật thuế TNDN (sửa đổi), xin đề nghị thời điểm có hiệu lực của Luật từ ngày 01/01/2009. - Nhằm bảo đảm quyền lợi cho các doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi theo Luật hiện hành khi chuyển sang áp dụng Luật mới, dự kiến quy định nội dung bảo lưu ưu đãi theo chính sách hiện hành được thể hiện trong Điều 20 của Dự thảo Luật. “Điều 20.Hiệu lực thi hành 1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. 2. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 17 tháng 6 năm 2003 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
  9. 3. Doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo các quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 17 tháng 6 năm 2003 và các quy định do Chính phủ ban hành trước đây tiếp tục được ưu đãi cho thời gian còn lại; khi hết thời gian hưởng ưu đãi thì thực hiện nộp thuế theo thuế suất quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 17 tháng 6 năm 2003 và các quy định do Chính phủ ban hành trước đây. Đối với doanh nghiệp thuộc diện hưởng thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 17 tháng 6 năm 2003 và các quy định do Chính phủ ban hành có hiệu lực trước đây mà chưa có thu nhập chịu thuế, thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ khi Luật này có hiệu lực thi hành. 4. Trong năm tính thuế 2009, doanh nghiệp thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được lựa chọn áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25% cùng với các ưu đãi thuế theo quy định tại Điều 11, Điều 13, Điều 14, Điều 15 và Điều 19 của Luật này cho thời gian còn lại hoặc tiếp tục nộp thuế theo quy định tại khoản 3, Điều này.” IV- NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU .... Trên đây là nội dung dự án sửa đổi Luật thuế TNDN. Bộ Tài chính kính trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến chỉ đạo để Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan hữu quan triển khai thực hiện./. Nơi nhận: BỘ TRƯỞNG - Như trên; - Văn phòng Chính phủ; Vũ Văn Ninh - Bộ Tư pháp; - Lưu: VT (2), CST (2). [1] Vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP năm 2003 đạt tỷ lệ là 35,5%, năm 2004 tăng lên 36,2%; năm 2005 là 39,8%; năm 2006 đạt 40,9%; dự kiến năm 2007 khoảng 40,4%. Trong đó, vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh năm 2003 chiếm tỷ trọng 29,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, năm 2004 tăng lên 30,9%, năm 2005 đạt 32,2%, năm 2007 … Vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng lên: năm 2004 đạt 4,6 tỷ USD; năm 2005 là 5,8 tỷ USD; năm 2006 là 10,2 tỷ USD; năm 2007 vốn đăng ký đạt trên 20 tỷ USD, trong đó công nghiệp là lĩnh vực thu hút lượng vốn lớn nhất, chiếm khoảng 50% vốn đăng ký. [2] Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính quốc tế thì ưu đãi thuế TNDN của nước ta hiện nay là phức tạp nhất thế giới. [3] Điều 45 Luật chuyển giao công nghệ quy định doanh nghiệp được trích một phần lợi nhuận trước thuế (thu nhập chịu thuế) theo mức do Quốc hội quyết định. Chính phủ đã có Tờ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 106/TTr-CP ngày 08/11/2007 ban hành Nghị quyết về mức trích lập quỹ và đã được Quốc hội đồng ý đưa vào nội dung sửa đổi Luật thuế TNDN tại Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21/11/2007 về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII và năm 2008. Trên cơ sở nội dung của Tờ trình số 106/TTr-CP, nội dung của dự thảo Nghị quyết được chuyển sang quy định tại Điều 18 Dự thảo Luật.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản