DỰ BÁO TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI

Chia sẻ: Hoang Phuong | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:7

0
97
lượt xem
39
download

DỰ BÁO TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhận định của các chuyên gia trong và ngoài n ước v ề kh ả năng Ngân hàng Nhà n ước ti ếp t ục điều chỉnh tỷ giá USD/VND. - Nâng tỷ giá là bước đi đúng - Nâng biên...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: DỰ BÁO TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI

  1. DỰ BÁO TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI Nhận định của các chuyên gia trong và ngoài n ước v ề kh ả năng Ngân hàng Nhà n ước ti ếp t ục điều chỉnh tỷ giá USD/VND. - Nâng tỷ giá là bước đi đúng - Nâng biên độ tỷ giá - Một mũi tên trúng hai đích - Tỷ giá sẽ về vị trí cân bằng hơn? Nhiều hãng tin và tờ báo lớn trên thế giới đã đăng tải quan điểm c ủa các chuyên gia v ề đ ộng thái tăng tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà n ước Vi ệt Nam ngày 17/8. Theo tờ Wall Street Journal (WSJ) ngày 18/8, từ tháng 11/2009 tới nay, Ngân hàng Nhà n ước Việt Nam đã giảm giá tiền VND tổng c ộng 10%, nhưng đi ều này d ường nh ư v ẫn ch ưa phát huy tác dụng trong việc xoay chuyển tình hình cán cân thương mại. Tờ báo trích số liệu thống kê cho thấy, thâm hụt thương m ại tháng 7 c ủa Vi ệt Nam đã tăng lên mức 980 tỷ USD từ mức 742 triệu USD trong tháng 6. Trong 7 tháng đầu năm, kim ng ạch nhập khẩu đã vượt xuất khẩu 7,26 tỷ USD, cao gần gấp đôi so v ới m ức 3,65 t ỷ USD cùng kỳ năm trước, đồng thời đang tiến tới mục tiêu giới hạn thâm hụt cả năm ở m ức 12 t ỷ USD mà Chính phủ đề ra. Phát biểu trên WSJ, chuyên gia kinh tế độc lập Bùi Ki ến Thành nh ận xét, nhi ều m ặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có tỷ lệ đầu vào nhập khẩu cao, chẳng hạn như hàng d ệt may và giày dép sử dụng tới 70% nguyên liệu nhập nhẩu, nên việc tăng tỷ giá sẽ không có nhi ều tác dụng trong việc kiềm chế nhập siêu. WSJ cũng dẫn ý kiến của các nhà phân tích Euben Paracuelles và Yougesh Khatri thu ộc ngân hàng Nomura của Nhật Bản nhận định, với tốc độ gia tăng của thâm h ụt th ương m ại hi ện nay, Việt Nam còn có thể tiếp tục phải tính chuyện nâng tỷ giá USD/VND trong th ời gian t ới. Đồng tình với quan điểm này, phát biểu trên tờ Financial Times, chuyên gia kinh t ế Jonathan Pincus, thuộc Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright ở Tp.HCM, nhận đ ịnh: “Tôi không cho là việc giảm giá đồng nội tệ 2% có thể có nhiều tác động đối với thâm h ụt th ương m ại. Nhưng tôi cho rằng, tiền đồng vẫn đang được định giá cao hơn so v ới giá tr ị th ực và đây là một bước đi đúng hướng”. Trao đổi với Financial Times, ông Lê Đăng Doanh, nguyên Giám đ ốc Vi ện Qu ản lý kinh t ế Trung ương (CIEM), cũng cho rằng, lần giảm giá VND này chưa chắc đã là l ần đi ều ch ỉnh t ỷ giá cuối cùng trong năm nay. “Tôi không thấy có dấu hiệu nào v ề vi ệc các công ty s ẽ mua USD dễ hơn từ các ngân hàng. Việt Nam chưa cân bằng được nhu cầu USD. Đ ể cân b ằng được, Việt Nam cần một dòng vốn USD m ới đổ vào, mà đi ều này ch ưa x ảy ra”, ông Doanh nói. Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cho rằng, thúc đẩy xuất khẩu và tăng tr ưởng thông qua chính sách giảm giá đồng nội tệ như Việt Nam đang làm có tác d ụng ph ụ là dẫn t ới nguy c ơ gia tăng của lạm phát.
  2. Mục tiêu của Chính phủ Việt Nam năm nay là kiểm soát lạm phát ở m ức 8%, dù nhi ều ý ki ến cho rằng, đây là mục tiêu khó đạt. Tháng 7, lạm phát so với cùng kỳ năm ngoái là 8,19%, gi ảm so với mức 8,69% của tháng 6. Nhà phân tích Prakriti Sofat thuộc Barclays Capital khẳng đ ịnh, c ứ 1% tăng thêm trong t ỷ giá USD/VND sẽ đóng góp chừng 0,15% vào tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, cũng theo chuyên gia này, giá hàng hóa thế giới đang ở mức thấp, cộng với tình hình lạm phát không m ấy căng th ẳng ở Việt Nam hiện nay đã giúp cho việc điều chỉnh tỷ giá vừa qua c ủa Vi ệt Nam đ ược d ễ dàng hơn. Tuy vậy, bà Sofat cho rằng, ít có khả năng Vi ệt Nam sẽ ti ếp t ục gi ảm giá đ ồng n ội t ệ trong năm nay. Theo hãng tin tài chính Bloomberg, từ đầu năm 2010 tới nay, ti ền đồng của Vi ệt Nam đã m ất giá 5%, trở thành đồng tiền giảm giá mạnh nhất trong số 17 đ ồng ti ền mà hãng tin này theo dõi ở khu vực châu Á. Cùng với đó, từ đầu tháng 8 tính t ới ngày 17/8, ch ỉ s ố VN-Index c ủa th ị trường chứng khoán Việt Nam đã giảm 7,8%, mạnh nhất trong số 93 hàn thử bi ểu chứng khoán mà Bloomberg theo dõi trên toàn cầu. Hãng tin này đã dẫn một báo cáo từ ngân hàng Credit Suisse của Thụy Sỹ nhận xét, vi ệc Ngân hàng Nhà nước nâng mạnh tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng đã phản ánh nh ững thách thức mà kinh tế Việt Nam tiếp tục phải đối m ặt, đ ồng th ời cho r ằng, còn quá s ớm đ ể trở nên lạ c quan về thị trường chứng khoán Việt Nam. “Việt Nam vẫn chưa tìm ra điểm cân bằng chính xác gi ữa tăng tr ưởng và ổn đ ịnh vĩ mô. S ự kém độc lập của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã làm giảm ni ềm tin vào ti ền đ ồng và khiến nền kinh tế nước này thiên về tăng nhập khẩu và lạm phát”, các nhà phân tích Dan Fineman và Siriporn Sothikul của Credit Suisses vi ết trong báo cáo. Theo chuyên gia Pincus, động thái giảm giá tiền đồng là dấu hi ệu m ới nh ất v ề th ế “tam nan” tài chính mà Việt Nam phải đương đầu: Việt Nam cùng lúc muốn duy trì tỷ giá h ối đoái c ố định, chính sách tiền tệ độc lập, và một tài khoản vốn mở. Tờ WSJ thì nhận xét, động thái nâng tỷ giá USD/VND của Ngân hàng Nhà n ước cũng ph ản ánh sức ép đối với dự trữ ngoại hối của Vi ệt Nam - đi ều mà hãng đ ịnh m ức tín nhi ệm Fitch Ratings đã bày tỏ lo ngại khi hạ một bậc điểm tín nhiệm n ợ công c ủa Vi ệt Nam cách đây chưa lâu. Chiều 17/8, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng. Mức mới được áp dụng cho ngày 18/8/2010. Thông báo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, nhằm góp phần ki ềm chế nhập siêu, ngày 17/8/2010, cơ quan này thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng gi ữa đ ồng Vi ệt Nam với Đô la Mỹ áp dụng cho ngày 18/8/2010 từ mức 18.544 VND lên m ức 18.932 VND (tăng gần 2,1%). Trong khi đó biên độ tỷ giá giữ nguyên ở mức +/-3%.
  3. Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN áp dụng từ ngày 18/08/2010 có thể coi đó là quyết định hợp lý cả về thời điểm và mục tiêu. - Nâng tỷ giá là bước đi đúng - Tỷ giá sẽ về vị trí cân bằng hơn? - Giới chuyên gia dự báo xu hướng tỷ giá USD/VND Bài viết của TS. Nguyễn Minh Phong, Vi ện Nghiên c ứu phát tri ển Kinh t ế - Xã h ội Hà N ội, nêu ý kiến của ông về việc điều chỉnh tăng tỷ giá giữa đô la Mỹ và đ ồng Vi ệt Nam m ới đây. Việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam với đô la Mỹ áp dụng từ ngày 18-8-2010 từ mức 18.544 đồng lên mức 18.932 đồng/đô la Mỹ (tăng gần 2,1%) là động thái cần thiết và bình thường trong đ ời sống kinh t ế th ị tr ường. Đ ồng th ời, có thể coi đó là quyết định hợp lý cả về thời điểm và mục tiêu, bởi: Trước hết, về thời điểm, sự điều chỉnh tỷ giá diễn ra khi các sức ép lạm phát ở Việt Nam dường như đang giảm bớt, nhất là khi mức tăng chỉ s ố giá tiêu dùng (CPI) trong 3 tháng qua liên tiếp ở mức thấp so với trung bình mọi năm và cả so với c ảnh báo từ đầu năm; vì th ế tác động của điều chỉnh tăng tỷ giá đối với gia tăng l ạm phát đ ược gi ảm thi ểu. Thứ hai, sự cố định tỷ giá đồng Việt Nam với đô la Mỹ trong suốt gần n ửa năm qua đã khi ến đồng Việt Nam bị định giá cao hơn đô la Mỹ tới trên 13%. Nếu c ộng d ồn c ả nh ững đ ợt đi ều chỉnh tỷ giá và mức lạm phát so sánh hai nước trong 3 năm qua, thì m ức đ ắt đ ỏ th ực t ế c ủa đồng Việt Nam so với đô la Mỹ còn cao hơn nhiều, kèm theo những h ệ qu ả nhi ều m ặt c ủa nó. Thứ ba, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ giúp các ngân hàng cải thiện ngu ồn v ốn ngo ại t ệ và t ừ đó cải thiện tính thanh khoản ngoại tệ của mình. Thứ tư, sự điều chỉnh tỷ giá, không chỉ giúp tăng sức cạnh tranh c ủa hàng xu ất kh ẩu Vi ệt Nam, mà còn hạn chế nhập siêu, nhất là những sản phẩm trong n ước có th ể sản xu ất thay thế. Đặc biệt, sự điều chỉnh tỷ giá đã thu hẹp chênh lệch tỷ giá chính thức với tỷ giá trên th ị trường tự do, tức giúp cải thiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam do không phải gia tăng bán đô la Mỹ theo tỷ giá thấp, giảm bớt kỳ vọng đầu cơ và c ả ho ạt động buôn bán v ốn và ngo ại t ệ lòng vòng kiếm lời dựa trên chênh lệch giữa 2 tỷ giá. Điều này còn giúp tăng cường tập trung và quản lý kinh doanh ngo ại t ệ trên th ị tr ường có t ổ chức. Đồng thời, nó cũng giúp cho các doanh nghi ệp đ ược tính đúng, tính đ ủ chi phí v ốn ngoại tệ trong bảng hạch toán kinh doanh c ủa mình, mà tr ước đó th ường phái che gi ấu, h ợp lý hóa các khoản mua đô la Mỹ trên thị trường tự do với giá cao h ơn giá chính th ức. Đương nhiên, sự điều chỉnh tỷ giá lần này cũng không tránh khỏi những hệ lụy, nhất là có thể tạo ra cái gọi là rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh và tín d ụng c ủa nh ững doanh nghi ệp vay đồng Việt Nam lãi suất cao và phải nhập khẩu nguyên vật li ệu đầu vào s ản xu ất... Trong thời gian tới, cần tiếp tục xu hướng điều hành linh ho ạt t ỷ giá theo các tín hi ệu và
  4. nguyên tắc thị trường. Trong đó, lưu ý rằng, thực tế cho thấy cần tránh tín đi ều và kỳ v ọng đầu cơ gắn với xu hướng chỉ có điều chỉnh tăng một chiều tỷ giá và tăng v ới giá s ốc, biên đ ộ hẹp sau khi neo cố định tỷ giá kéo dài. Nói cách khác, cần điều chỉnh tỷ giá có lên, có xuống, thời gian ngắn và nhanh h ơn, v ới m ức điều chỉnh thấp hơn và biên độ giao dich có thể rộng hơn…thì bớt tạo sốc tỷ giá và những hệ lụy mặt trái của điều chỉnh tỷ giá hơn. Tỷ giá hối đoái và những nhân tố ảnh hưởng 16:42 | 19/06/2009 (ĐCSVN) - Trong cuộc sống hàng ngày, trên sách báo, trong ngân hàng hay trên các ph ương ti ện thông tin đại chúng, cụm từ “Tỷ giá hối đoái” hẳn không còn xa l ạ v ới m ỗi ng ười dân. V ậy t ỷ giá hối đoái là gì, nó được hình thành trên c ơ s ở nào và ảnh h ưởng b ởi các nhân t ố kinh t ế vĩ mô tới nó ra sao? Bài viết này xin được trả lời phần nào những câu h ỏi trên. Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về t ỷ giá h ối đoái, do cách ti ếp c ận v ấn đ ề khác nhau, đôi khi do cách diễn đạt khác nhau. Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền này đ ược tính theo m ột đ ồng ti ền khác. Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là tỉ lệ trao đ ổi gi ữa hai đ ồng ti ền c ủa hai qu ốc gia khác nhau. T ỷ giá hối đoái xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời, phát tri ển c ủa th ương m ại qu ốc t ế, nó đ ược gi ải thích bởi một hiện tượng đơn giản, hàng hoá không có biên gi ới qu ốc gia trong khi ti ền ch ỉ đ ược ch ấp nhận trên lãnh thổ quốc gia phát hành ra nó. Tỷ giá hối đoái, tức tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền cao hay thấp đ ựơc quy ết đ ịnh b ởi các l ực l ượng th ị trường, cung và cầu. Cung ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị tr ường mu ốn bán ra đ ể thu v ề n ội t ệ. C ầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn mua vào b ằng các đ ồng n ội t ệ. Giá c ả ngo ại t ệ, t ỷ giá hối đoái cũng được xác định theo quy luật cung cầu nh ư đ ối v ới các hàng hoá thông th ường. Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ sẽ làm cho giá ngoại tệ gi ảm, t ức t ỷ giá h ối đoái tăng. Ng ược l ại, khi c ầu ngoại tệ lớn hơn cung ngoại tệ giá ngoại tệ sẽ tăng, t ức t ỷ giá gi ảm. ở v ị trí cung ngo ại t ệ b ằng c ầu ngoại tệ xác định trạng thái cân bằng, không có áp l ực làm cho t ỷ giá thay đ ổi. Ta có th ể hình dung c ơ chế hình thành tỷ giá được hiểu thị rừ khi cú s ự khỏc nhau về cung và c ầu ngo ại t ệ. Khi cung ngo ại t ệ lớn hơn cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần bán ra nhi ều h ơn l ượng ngo ại t ệ c ần mua vào, khi đó có một số người không bán được sẽ s ẵn sàng bán với m ức giá th ấp h ơn và làm cho giá ngo ại t ệ trên thị trường giảm. Tư duy tương tự, khi cầu l ớn hơn cung, một s ố ng ười không mua đ ược ngo ại t ệ sẵn sàng trả giá cao hơn và gây sức ép làm giá ngoại t ệ trên th ị tr ường tăng. Khi cung ngo ại t ệ b ằng cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần mua đúng b ằng lượng ngoại t ệ c ần bán làm cho giá ngoại tệ không đổi, thị trường cân bằng. Chúng ta có thể th ấy, t ỷ giá h ối đoái trên th ị tr ường luôn thay đổi. Có rất nhiều nhân tố tác động gây ra sự bi ến động của t ỷ giá hối đoái v ới nh ững m ức đ ộ và c ơ ch ế khác nhau. Cán cân thương mại ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cấn cân th ương m ại c ủa m ột n ước là chênh l ệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu. Một nền kinh t ế khi xuất kh ẩu hàng hoá và d ịch v ụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất kh ẩu ph ải bán ngo ại t ệ l ấy n ội t ệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài. Trên thị tr ường cung ngo ại t ệ s ẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch v ụ, các nhà nh ập kh ẩu c ần ngo ại t ệ đ ể thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị tr ường. Hành đ ộng này làm c ầu ngo ại t ệ tăng, t ỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai hiện tượng trên là ng ược chi ều trong vi ệc hình thành t ỷ giá h ối đoái. T ỷ giá hối đoái cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào m ức đ ộ tác đ ộng m ạnh y ếu c ủa các nhân t ố, đó chính là cán cân thương mại. Nếu một nước có thặng d ư th ương m ại, cung ngo ại t ệ l ớn h ơn c ầu ngo ại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm h ụt th ương m ại, t ỷ giá h ối đoái s ẽ tăng, đ ồng nội tệ giảm giá. Đầu tư ra nước ngoài, cú ảnh hưởng tới tủ giỏ hối đoỏi cư dân trong n ước dùng ti ền mua tài s ản ở n ước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành l ập các doang nghi ệp...) hay đ ầu t ư gián ti ếp (mua cổ phiếu, trái phiếu...). Những nhà đầu tư này muốn th ực hi ện hoạt đ ộng kinh doanh trên c ần ph ải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngo ại t ệ ch ảy ra n ước ngoài, t ỷ giá h ối đoái s ẽ
  5. tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại t ệ ch ảy vào trong n ước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra n ước ngoài ròng là hi ệu s ố gi ữa lu ồng v ốn ch ảy ra và luồng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng d ương, luồng v ốn ch ảy vào trong n ước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,t ỷ giá hối đoái tăng. T ỷ giá h ối đoái s ẽ gi ảm trong tr ường h ợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật t ối ưu hoá, lu ồng v ốn s ẽ ch ảy đ ến n ơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh t ế s ẽ thu hút đ ược các lu ồng v ốn đ ến đ ầu t ư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận l ợi, nền chính trị ổn đ ịnh, các đ ầu vào s ẵn có v ới giá r ẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng l ớn, lãi su ất cao và s ự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ. Lạm phát ảnh hưỏng đến tỷ giá hối đoái. Khi m ột nước có lạm phát, s ức mua đ ồng n ội t ệ gi ảm, v ới t ỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong n ước đ ắt hơn trên th ị tr ường n ứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc. Theo quy lu ật cung c ầu, c ư dân trong n ước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ h ơn, nh ập khẩu tăng, c ầu ngo ại t ệ tăng, t ỷ giá h ối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài s ẽ dùng ít hàng nh ập kh ẩu h ơn. Ho ạt đ ộng xu ất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá h ối đoái tăng. Nh ư v ậy l ạm phát ảnh h ưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngo ại t ệ, tác đ ộng c ộng g ộp làm cho t ỷ giá h ối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, ng ười dân s ẽ chuy ển sang n ắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đ ẩy t ỷ giá h ối đoái tăng. Trong tr ường h ợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác đ ộng trên s ẽ ph ụ thu ộc vào t ỷ l ệ l ạm phát t ương đ ối gi ữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao h ơn, đ ồng nội t ệ qu ốc gia đó s ẽ m ất giá m ột cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng. Nhân tố cuối cùng và cũng là nhân tố quan trọng nh ất tác đ ộng đ ến t ỷ giá h ối đoái đó là tâm lý s ố đông. Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các t ổ ch ức kinh doanh ngo ại t ệ là các tác nhân tr ực ti ếp giao dịch trên thị trường ngoại hối. Hoạt động mua bán c ủa h ọ t ạo nên cung c ầu ngo ại t ệ trên th ị trường. Các hoạt động đó lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đ ồn cũng nh ư các kỳ v ọng vào t ương lai. Điều này giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ v ọng c ủa dân chúng trong t ương lai. Nếu mọi ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong t ương lai, m ọi ng ười đ ổ xô đi mua ngo ại t ệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện t ại; Mặt khác, giá ngoại t ệ r ất nh ậy c ảm v ới thông tin cũng nh ư các chính sách của chính phủ. Nếu có tin đồn rằng Chính ph ủ s ẽ hỗ trợ xuất kh ẩu, h ạn ch ế nh ập kh ẩu đ ể giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại t ệ và t ỷ giá h ối đoái s ẽ gi ảm nhanh chóng. Trong thực tế, tỷ giá hối đoái bị chi phối đồng thời b ởi t ất c ả các yếu t ố trên v ới m ức đ ộ m ạnh y ếu khác nhau của từng nhân tố, tuỳ vào thời gian và hoàn cảnh nh ất đ ịnh. Vi ệc tách r ời và l ượng hoá ảnh h ưởng của từng nhân tố là việc làm không thể. Các nhân t ố trên không tách r ời mà tác đ ộng t ổng h ợp, có th ể tăng cường hay át chế lẫn nhau, đến t ỷ giá hối đoái làm cho t ỷ giá h ối đoái luôn bi ến đ ộng không ngừng./. Sau một tuần điều chỉnh tỷ giá: Cung - cầu ngoại tệ ổn định 12:29 | 26/08/2010
  6. Cung - cầu ngoại tệ ở cả Ngân hàng thương mại và thị trường tự do đều ổn định. Ảnh: Khánh Nguyên Sau một tuần kể từ khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND với USD, từ 18.544 VND/USD lên 18.932 VND/USD, cung-c ầu ngoại tệ ở c ả ngân hàng thương mại (NHTM) lẫn thị trường tự do khá ổn định. Tỷ giá USD/VND thị trường tự do gần như tiệm cận với giá niêm y ết ở ngân hàng. Xét v ề dài h ạn, tác động kép của việc điều chỉnh tỷ giá chính là tăng đ ộng lực cho xu ất kh ẩu, nh ưng l ại là chi ếc "phanh hãm" đối với nhập khẩu, từ đó góp phần kiềm chế nhập siêu. Giải tỏa tâm lý kỳ vọng với giá USD… Với tỷ giá bình quân liên ngân hàng 18.932 VND/USD, biên đ ộ +/-3%, m ức tr ần mà NHTM có th ể niêm yết là 19.500 VND/USD, hiện nay, hầu hết NHTM đã đưa USD lên trần 19.500 VND/USD. T ại Vietcombank, mấy ngày gần đây, giá USD duy trì ở mức 19.475 VND/USD (mua vào) - 19.500 VND/USD (bán ra); ở VietinBank, tỷ giá t ương ứng là 19.480 VND/USD và 19.500 VND/USD. Trên th ị trường tự do, vào lúc 10h ngày 25-8, USD được giao dịch ở 19.500 VND/USD (mua vào)-19.530 VND/USD (bán ra). Như vậy, giá USD "chợ đen" chỉ nhỉnh hơn giá t ại ngân hàng kho ảng 30 VND/USD. Theo các chuyên gia, mức chênh lệch này là hợp lý, giúp ổn định tâm lý ng ười dân, c ải thi ện cung - c ầu ngoại tệ. Người dân sẽ không còn muốn giữ USD, mà sẽ bán cho ngân hàng. Đại diện các ngân hàng nhận định, động thái điều chỉnh t ỷ giá là k ịp thời, bởi tr ước đó, cung - c ầu ngo ại tệ có biểu hiện căng thẳng khi giá USD trên th ị trường t ự do tăng m ạnh, b ỏ xa giá ở NHTM. Hi ện, nhu cầu USD ở các NHTM khá lớn để đáp ứng cho doanh nghiệp (DN) xuất - nh ập kh ẩu t ừ nay đ ến cu ối năm. Do vậy, ngay khi NHNN tăng t ỷ giá, các NHTM đã đ ồng loạt đi ều ch ỉnh giá USD lên m ức tr ần cho phép. Thêm vào đó, áp lực đáo hạn các hợp đ ồng cho vay ngo ại t ệ khi ến DN ph ải xoay x ở tìm cách mua vào để trả nợ vì hợp đồng vay vốn ngoại tệ thường ng ắn h ạn khi ến nhu c ầu s ử d ụng USD càng lớn. Ghi nhận tại các NHTM một tuần qua cho thấy, s ố ng ười đến bán USD tăng m ạnh h ơn tr ước, cung ngoại tệ được cải thiện đáng kể. Xuất khẩu mừng, nhập khẩu lo Quyết định tăng tỷ giá đã được DN xuất khẩu đón nh ận khá h ồ h ởi. B ởi, khi t ỷ giá tăng, DN xu ất kh ẩu có thể thu thêm lợi nhuận. Lãnh đạo một DN dệt may cho bi ết, ngu ồn thu ngo ại t ệ d ự báo s ẽ tăng t ừ nay đến cuối năm. Thử tính bài toán đơn gi ản với kim ng ạch xuất kh ẩu c ủa c ả n ước ước đ ạt 6 t ỷ USD trong tháng 8, nếu tỷ giá quy đổi là 19.100 VND/USD, thì kim ng ạch xu ất kh ẩu là 114.600 t ỷ đ ồng; nhưng nếu tỷ giá là 19.500 VND/USD, số thu đ ược là 117.000 t ỷ đ ồng. DN có thêm m ột kho ản đáng k ể từ bài toán tăng tỷ giá. Trái ngược với DN xuất khẩu, DN nhập khẩu lại đau đ ầu. Mặc dù h ầu hết DN đ ều l ập qu ỹ bình ổn t ỷ giá để có thể kịp thời đối phó với s ự biến động của giá USD, song DN nh ập kh ẩu v ẫn không tránh kh ỏi lo lắng khi nhiều hợp đồng ký kết từ giữa năm với tỷ giá cũ. Giám đốc m ột DN chuyên v ề thi ết b ị công nghiệp cho hay, sự chênh lệch tỷ giá sẽ khiến công ty ph ải t ốn thêm hàng t ỷ đ ồng cho lô hàng nh ập khẩu trong tháng 9 tới. Để giảm bớt gánh nặng về t ỷ giá, một s ố DN đã tăng giá s ản ph ẩm. DN kinh doanh gas đã tăng giá bán 4.000-6.000 đồng/bình. Các DN s ản xu ất thép đang r ục r ịch tăng giá v ới lý do chi phí sản xuất tăng do giá xăng dầu tính theo t ỷ giá m ới. DN kinh doanh ô tô, đi ện l ạnh, đi ện t ử…. cũng áp dụng giá USD mới cho sản phẩm, với mức tăng 3-5% so với trước. Việc điều chỉnh tỷ giá có thể gây áp lực lên chỉ số giá tiêu dùng, bởi khi t ỷ giá tăng, giá m ột s ố lo ại hàng hóa có nguồn gốc nguyên liệu nhập khẩu sẽ tăng theo, kéo "r ổ" giá c ả tăng. Tăng t ỷ giá cũng ảnh hưởng tới dòng vốn ngước ngoài, vì nó đồng nghĩa với vi ệc đ ồng VND gi ảm giá so v ới USD, khi ến giá trị đầu tư của khối đầu tư nước ngoài quy đổi sang USD gi ảm. Nh ưng, giá đồng VND gi ảm khi ến giá c ổ
  7. phiếu rẻ hơn, kích thích khối đầu tư nước ngoài, giúp thị trường ch ứng khoán h ấp d ẫn h ơn. Theo giới chuyên gia, các cơ quan chức năng đã tính toán k ỹ bài toán tăng t ỷ giá cùng nh ững gi ải pháp để giảm bớt áp lực lên chỉ số giá tiêu dùng. Mới đây, TP Hà N ội đã tri ển khai 360 đi ểm bán hàng bình ổn giá, được đặt ở siêu thị, cửa hàng tiện ích, cửa hàng chuyên doanh, qu ầy hàng t ại m ột s ố ch ợ... Các DN cũng cam kết bảo đảm giảm giá tối thiểu 10% khi th ị trường có bi ến đ ộng v ề giá. Tuy nhiên, đó ch ỉ là một trong những biện pháp can thiệp. Về dài hạn, cần gi ải đ ược bài toán nh ập siêu, ổn đ ịnh kinh t ế vĩ mô, giảm chi phí vay vốn của DN, nâng cao năng l ực sản xuất trong n ước

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản