Du lịch Việt Nam

Chia sẻ: quoctung1712

Du lịch thế giới đã dịch chuyển từ Âu sang Á. Trong hơn 15 năm qua, khu vực châu Á - Thái Bình Dương trở thành điểm đến ưa chuộng của xu thế dịch chuyển này. Đặc biệt, khu vực Đông Á đã nổi lên, đạt tốc độ tăng trưởng du lịch cao, trở thành nơi có sức hút mạnh mẽ nhất đối với du khách toàn cầu. Nắm bắt xu hướng dịch chuyển này, các nước ở khu vực Đông Á, Đông Nam Á đã đầu tư mạnh cho phát triển du lịch. Du lịch Việt Nam cũng tự...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Du lịch Việt Nam

Du lịch Việt Nam hụt hơi - Bài 1: Tour rẻ “vẽ... tiền” khách Việt
16:08:45 08/08/2011
Du lịch thế giới đã dịch chuyển từ Âu sang Á. Trong hơn 15 năm qua, khu vực châu Á
- Thái Bình Dương trở thành điểm đến ưa chuộng của xu thế dịch chuyển này.
Đặc biệt, khu vực Đông Á đã nổi lên, đạt tốc độ tăng trưởng du lịch cao, trở thành
nơi có sức hút mạnh mẽ nhất đối với du khách toàn cầu. Nắm bắt xu hướng d ịch
chuyển này, các nước ở khu vực Đông Á, Đông Nam Á đã đầu tư mạnh cho phát
triển du lịch. Du lịch Việt Nam cũng tự hào với những bước tiến về phía tr ước,
nhưng so ra vẫn còn chậm hơn nhiều nước trong khu vực.
Từ tháng 6-2011 đến nay, tour du lịch đến Thái Lan luôn kín chỗ, các công ty lữ hành
phải từ chối nhận khách vì không còn khả năng phục vụ. Hướng dẫn viên tour Thái
bay như con thoi giữa Việt Nam - Thái Lan. Du khách Việt đã và đang đổ xô đ ến
Thái. Du lịch trong nước đang bất lực nhìn dòng tiền đổ ra nước ngoài. Điều gì đã
tạo nên sức hút của ngành du lịch Thái Lan?
Đụng đầu bên đất Thái




Du khách Việt Nam tham quan vườn thú Safari World (Thái Lan).
Trong những ngày này, đến các điểm dừng chân ở Pattaya, Bangkok của Thái Lan
như vườn thú Safari World, Hoàng cung, chùa Phật hoàng… du khách Việt có cảm
giác như ở quê nhà vì có thể nghe tiếng Việt đủ giọng Nam, Trung, Bắc. Cờ dẫn
đoàn của các công ty du lịch Việt Nam dày đặc, từ các công ty tên tuổi đ ến nh ững
công ty mới thấy lần đầu! Người Việt đụng đầu bên đất Thái.
Thái Lan đang trở thành điểm đến khá “nóng” không chỉ của riêng du khách châu Á
mà cả thế giới. Hơn 12 giờ đêm, sân bay Suvarnabhumi ở Bangkok - Thái Lan vẫn
nhộn nhịp đón khách từ khắp nơi đổ về. Nhìn khu vực làm thủ tục nhập cảnh ở đây,
hầu hết lượng khách đến Thái Lan trên những chuyến bay đêm đều đến từ những thị
1
trường châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam… Những chuyến bay đêm
cũng đồng nghĩa với giá rẻ, du lịch Thái Lan đang hút khách vì giá rẻ.
Trong suốt mùa du lịch hè từ tháng 6-2011 đến nay, hầu hết tour khởi hành đến Thái
đều đầy khách. Hiện nay, trung bình mỗi tuần, một công ty du lịch đ ưa 35 - 50
khách/đoàn đi Thái. Nhiều công ty du lịch lớn có thể đưa 2 - 3 đoàn/tuần. Ngoài các
hãng hàng không quen thuộc khai thác đường bay từ Hà Nội, TPHCM đi Bangkok như
Thai Airways, Vietnam Airlines... Turkish Airlines của Thổ Nhĩ Kỳ mới mở đường
bay tại thị trường Việt Nam vài tháng nhưng cũng điều chỉnh tăng tần suất chuyến
bay giữa TPHCM - Bangkok từ 4 chuyến/tuần lên 7 chuyến/tuần. Các công ty du lịch
cho biết, lượng khách đi trong dịp hè là gia đình nên số lượng người đi tour khá
nhiều, khách phải đặt trước cả tháng mới hy vọng còn chỗ. Dù có ham khách cỡ nào,
các công ty cũng đành từ chối vì không lo được vé máy bay.
Theo ước tính của các chuyên gia du lịch, trong gần 800 doanh nghiệp khai thác l ữ
hành quốc tế tại Việt Nam hiện nay, ít nhất một nửa doanh nghiệp nói trên có khai
thác tour đến Thái. Ở giai đoạn “nóng”, trung bình mỗi tuần có khoảng 14.000 khách
Việt đến Thái du lịch.
Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Giám đốc Truyền thông – đối ngoại của Fiditour cho biết,
chuẩn bị đón mùa du lịch hè từ thị trường Việt Nam, ngành du lịch Thái Lan đã tung ra
nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn, tăng thêm nhiều dịch vụ cho tour đi trong 6
ngày 5 đêm nhưng giá trọn gói chỉ khoảng 8 triệu đồng/khách. Do vậy, lịch tour đi
Thái luôn kín chỗ trong suốt thời gian từ tháng 6 đến nay, dự kiến lượng khách đ ến
Thái trong hè năm nay tại Fiditour tăng khoảng 30% so với cùng kỳ. Và với sự bùng
nổ này, lượng khách từ Việt Nam đến Thái Lan du lịch trong 6 tháng đ ầu năm 2011
đã đạt khoảng 245.000 khách, tăng gần 40% so với cùng kỳ năm 2010.
Ngành du lịch Campuchia cũng thành công trong việc thu hút khách du lịch từ Việt
Nam trong 3 năm lại đây. Ông So Mara, Quốc vụ khanh Bộ Du lịch Campuchia cho
biết, với chính sách không tăng giá trong nhiều năm qua, mục tiêu thu hút khách Việt
Nam đến Campuchia đã thành công. Năm 2009, lượng khách Việt Nam đã vượt qua
Hàn Quốc để trở thành thị trường khách quốc tế dẫn đầu tại Campuchia. Đến
Angkor (Siêm Riệp) ở bất cứ thời điểm nào trong năm, khách Việt cũng chiếm số
đông. Và suốt 3 năm qua, khách du lịch Việt Nam luôn dẫn đầu tại thị tr ường này,
với tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức hai con số. Tour du lịch từ TPHCM đi
Campuchia đến Siêm Riệp, Phnôm Pênh trong 4 ngày 3 đêm giá không vượt quá 200
USD. Ngoài ra, Singapore, Malaysia cũng là những điểm đến hấp dẫn, thu hút đông
lượng khách từ Việt Nam.
Tiền “chảy” ra nước ngoài


2
Dân mình có tiền và xuất ngoại để biết đây biết đó là điều đáng mừng. Và cũng bởi
vì đi đây đi đó nên hay so sánh cái được hơn để nhận diện mình rõ hơn. Ngẫm l ại
thấy xót ruột! Không xót sao được khi ở bất cứ quốc gia nào, bài toán doanh thu du
lịch cũng đều tính dựa trên cơ sở của tổng lượng khách đến, số ngày lưu trú, mức chi
tiêu của du khách. Nhìn vào 3 tiêu chí trên, du lịch Việt Nam chỉ có thể tự tin v ề s ố
lượng khách đến dựa trên số liệu báo cáo có tăng trưởng ở hai con số. Còn s ố ngày
lưu trú và mức chi tiêu của du khách tại Việt Nam, từ lâu nay vẫn đang chờ s ự thay
đổi của ngành du lịch để có thể giữ chân và “moi” túi tiền du khách. Và đây cũng là
vấn đề cốt lõi để du lịch Việt Nam phát triển bền vững hơn.




Các sản phẩm du lịch Việt Nam còn đơn điệu.
Thái Lan, Campuchia chọn chiến lược bán tour giá rẻ và họ đã thành công. Lượng lớn
du khách Việt Nam vẫn đổ xô đến Thái, Campuchia, dòng tiền trong nước tiếp tục
đổ ra nước ngoài ngày một nhiều hơn. Trong khi đó, chúng ta vất vả trong việc kiếm
từng đồng ngoại tệ từ lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Chúng ta đã từng ca thán,
có một lượng lớn tiền của Việt Nam đổ vào 32 sòng bài lớn nhỏ dọc biên giới Vi ệt
Nam - Campuchia. Và những sòng bài này ở phía bạn như những vòi hút tiền từ Việt
Nam. Vì hiện nay, kinh doanh casino vẫn còn hạn chế tại Việt Nam. Trong khi đó,
casino là loại hình dịch vụ giải trí hái ra tiền, đóng góp lớn vào doanh thu du l ịch.
Malaysia - đất nước Hồi giáo, họ có thế mạnh trong khai thác du lịch sinh thái nhưng
họ vẫn có casino. Singapore - được biết đến với thương hiệu xanh, sạch nhưng họ
cũng làm cho du lịch phong phú hơn, tìm cách giữ lại nguồn tiền khi l ượng khách t ừ
Singapore sang Malaysia chơi casino ngày một tăng. Với việc đưa vào khai thác hệ
thống casino mới đây, quốc đảo này hy vọng sẽ có tăng trưởng 60% lượng khách
quốc tế trong năm nay.


3
Số lượng khách đến ít đột phá và chúng ta cũng không có nhiều “thủ thuật” đ ể moi
tiền du khách vì các sản phẩm du lịch, dịch vụ, mua sắm vẫn còn thiếu và yếu. Giá
điện, xăng dầu ở Campuchia cao hơn Việt Nam gấp nhiều lần, nhưng bao năm qua,
giá tour du lịch đến Campuchia vẫn không tăng giá! Giám đốc một công ty du lịch chia
sẻ, giá tour du lịch trọn gói 6 ngày 5 đêm đến Thái Lan hiện nay trung bình ở khoảng
hơn 350 - 370 USD. Trong đó, riêng tiền vé máy bay khứ hồi và thuế phi tr ường
khoảng hơn 220 - 250 USD, tất cả các dịch vụ còn lại như xe di chuyển, vé tham
quan, ăn ở khách sạn trong 5 ngày trên đất Thái chỉ gói gọn trong khoảng 80 - 100
USD còn lại! Chỉ 80 - 100 USD làm sao lo được chừng ấy thứ! Nghe qua đã thấy lỗ,
nhưng vì sao họ vẫn làm được và thành công?
Bài 2: Lời giải nào cho bài toán Du lịch Di sản?
Thứ Bay, 30.7.2011 | 08:18 (GMT + 7)
̉
Chọn Năm du lịch 2012 với chủ đề là “Du lịch Di sản”, nhưng một thực trạng
cho thấy, du lịch di sản ở Việt Nam vẫn là một bài toán khó tìm lời giải – đi ều
đó xuất phát từ chính những sự thống nhất không đồng đều trong cơ cấu quản
lý, triển khai thực hiện của mô hình nhiều tiềm năng này.
Du lịch Di sản: Tiềm năng còn bị bỏ ngỏ
Chưa đầu tư bảo tồn, bảo tồn lại chưa quy củ
Việc khai thác và khai thác thế nào cho tốt tiềm năng sẵn có về du lịch di sản ở Việt
Nam không phải là chưa bao giờ được đặt ra. Vấn đề này đã được đưa ra khá lâu với
nhiều tranh cãi, định hướng khác nhau. Tuy nhiên, sau đó, du lịch di sản dường như
vẫn bị rơi vào sự rối rắm khi không biết phải bắt đầu từ đâu và triển khai như thế
nào.
Cũng chính vì thế, không ít những di tích sau khi được công nhận đã rơi vào tình
trạng hoang hóa, hoặc chưa được phát huy, bảo tồn giá trị đúng cách. Đã không ít lần,
các phương tiện thông tin đại chúng cho hay về những di tích lịch sử cấp tỉnh, cấp
quốc gia hẳn hoi chưa có một sự đầu tư đúng hướng để bảo tồn, hoặc bảo tồn chưa
đúng cách, làm mất đi nhiều giá trị vốn có của di tích. Đây là một th ực tr ạng đáng
buồn của hệ thống bảo tồn các di sản ở Việt Nam.




4
Những Di sản ở Việt Nam chưa có một sự đầu tư bảo tồn đúng
mực
Đơn cử như khi Di sản Khu di tích Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội vừa được công
nhận là Di sản văn hóa vật thể của nhân loại vào đầu tháng 8 năm ngoái, sau đó đã có
rất nhiều tranh cãi xung quanh việc có nên khai quật, mở rộng tiếp không gian cũng
như để tìm kiếm thêm nhiều giá trị khác ở khu di tích này. Đã có những ý kiến cho
rằng, đó là một việc nên làm để mở rộng và làm phong phú hơn nữa những giá tr ị
của Hoàng thành Thăng Long, nhưng cũng lại không ít người thì nói, nên giữ nguyên
hiện trạng như khi được công nhận để bắt tay vào khai thác về mặt thăm quan, du
lịch. Cả hai ý kiến này đều có những lý lẽ riêng thuyết phục.
Nhưng rồi cũng lại vừa có một tin mới vào đầu tháng 4 vừa rồi cho hay, vì vi ệc thi
công những công trình lân cận đã khiến cho Di tích Hoàng thành Thăng Long bị sụt
lún nghiêm trọng, nhiều người còn ngần ngại đặt ra câu hỏi rằng, rồi di tích này s ẽ
có nguy cơ không còn nguyên vẹn nữa!? Dù sau đó, ban quản lý di tích cũng đã t ổ
chức cuộc họp thống nhất và đưa ra ý kiến xử lý nhưng câu chuyện này một lần nữa
cho thấy sự không quy củ trong quy hoạch, đầu tư, phát triển và bảo tồn di tích
Hoàng thành Thăng Long và cả với phần lớn Di sản ở Việt Nam.




5
Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) có nguy cơ không còn nguyên vẹn do bị sụt lún
Trong thời gian vừa qua, một điều đáng mừng là đã có rất nhiều động thái của Bộ
VHTT&DL phối hợp cùng các đơn vị có liên quan tổ chức nhiều chương trình, hội
thảo, triển lãm nhằm xem xét, bàn bạc và tìm phương hướng cũng như thúc đẩy phát
triển du lịch di sản nói riêng và phát triển ngành du lịch nói chung.
Làm mới du lịch di sản từ những cái cũ
Cần phải nói ngay rằng, làm mới du lịch di sản không có nghĩa là tất c ả di s ản phải
được làm mới (trùng tu, tôn tạo, xây dựng mới) mà đó chính là phải có những sự đầu
tư mới, chính sách hoạch định mới cũng như nhiều dự án mới tập trung khai thác tốt
tiềm năng du lịch di sản.
Rất nhiều ý kiến được đưa ra trong các cuộc hội thảo, triển lãm nhằm xây dựng,
định hướng một cách đúng đắn nhất lời giải cho bài toán du lịch di sản ở Việt Nam.
Hầu hết các ý kiến đều tập trung vào các giải pháp thuộc về lĩnh vực con người,
nhân lực của ngành du lịch di sản. Các hoạt động tuyên truyền, tổ chức hội thảo, tập
huấn góp phần nâng cao nhận thức bảo tồn cho chính cộng đồng địa phương ở khu
vực di sản là điều thiết yếu, nó giúp cho chính những người dân nơi có di sản biết
quý trọng, nâng niu và có cách làm phù hợp để phát triển những tiềm năng này. Th ứ
nữa, vấn đề nhân lực cho nghành du lịch di sản cũng đang là một vấn đề đau đầu khi
có quá ít người thực sự am hiểu về di sản, giá trị về văn hóa, lịch s ử c ủa các di s ản
ngay cả khi nhận trách nhiệm trùng tu, tôn tạo hay đơn giản chỉ từ người chịu trách
nhiệm hướng dẫn viên du lịch trong một mô hình du lịch di sản cụ thể.




6
CẦn đào tạo nguồn nhân lực cho nghành du lịch di sản, bắt đầu từ những hướng dẫn
viên du lịch
Một yếu tố quan trọng thứ hai mà nhiều ý kiến của các Giáo sư, Tiến sĩ đ ầu ngành
đưa ra đó là sự cần thiết đầu tư vào các giải pháp, hoạch định cụ thể, đúng đắn cho
mô hình phát triển du lịch di sản. Các giải pháp cụ thể: Hoàn thiện, nâng cao chất
lượng các dịch vụ du lịch tại các di sản văn hóa thế giới; Đ ẩy mạnh nghiên c ứu c ải
tiến, làm mới các sản phẩm cũ; Xác định sản phẩm định vị thương hiệu cho các di
sản; Tăng cường liên kết để phát triển sản phẩm du lịch; Phát động sự tham gia của
cộng đồng…
Ông Trương Minh Tiến - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội –
nơi được coi là có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch di sản ở Việt Nam cũng
cho biết, mặc dù 2012 được chọn là năm Du lịch di sản ở khu vực các tỉnh duyên hải
Bắc miền Trung - Huế, nhưng Hà Nội với nhiều di tích lịch sử, và 3 di s ản l ớn là
Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Hội Gióng (Di sản VHTG) và Bia tiến sĩ ở Văn
Miếu Quốc Tử Giám (Di sản Ký ức thế giới) đã đưa ra nhiều phương án để đẩy
mạnh phát triển du lịch di sản trong năm 2012, tạo ra một mô hình xuyên suốt trong
du lịch di sản ở cả nước.
Thái Anh
Du lịch Di sản: Tiềm năng còn bị bỏ ngỏ
Thứ Năm, 28.7.2011 | 15:04 (GMT + 7)
Với 5 di sản văn hóa vật thể đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế
giới, Việt Nam hoàn toàn có thể khai thác mạnh vào mô hình du lịch Di sản. Vậy
nhưng, tiềm năng này vẫn đang bị bỏ ngỏ một cách đáng tiếc!
Cùng với việc ngày càng có nhiều danh thắng, địa danh của Việt Nam có mặt trong
danh sách di sản thế giới, việc phát triển du lịch di sản đang là một vấn đ ề nhận
7
được nhiều quan tâm của dư luận, đặc biệt là việc làm sao để phát triển được dòng
du lịch vốn nhiều tiềm năng này tại Việt Nam.
Những “mỏ vàng” của ngành “công nghiệp không khói”
Kể từ tháng 12.1993, khi Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO quyết đ ịnh ghi tên
quần thể di tích Cố đô Huế vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới, cho tới nay
nước ta đã có 7 di sản văn hóa vật thể và thiên nhiên được nhận vinh dự đó. Trong số
này có 5 Di sản Văn hóa vật thể là: Quần thể di tích Cố đô Huế, Khu phố cổ Hội An,
Khu di tích Mỹ Sơn, Trung tâm Khu Di tích Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, và
mới đây nhất, ngày 27.6 vừa qua Thành nhà Hồ cũng được công nhận là Di sản văn
hóa vật thể của nhân loại.




Thành Nhà Hồ - thêm một di sản vừa được công nhận là Di sản văn hóa thế
giới
Có lẽ, không cần phải nói thêm gì về giá trị của những Di sản này bởi nó đã được cả
thế giới công nhận, về những giá trị lịch sử, văn hóa mà nó mang theo.
Không chỉ có những di sản văn hóa đã được thế giới công nhận, theo thống kê mới
nhất của Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL), hiện nay trên cả nước có khoảng trên 4
vạn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh. Trong đó, có hơn 3 nghìn di tích
được xếp hạng cấp quốc gia, hơn 5 nghìn di tích xếp hạng cấp tỉnh.Cộng thêm vào
đó là gần 1 nghìn di sản phi vật thể được sưu tầm nghiên cứu, lưu trữ…
Với sự phong phú đa dạng như vậy của các di sản văn hóa ở Việt Nam, dễ thấy rằng
bên cạnh việc bảo tồn các di sản thì việc đưa những di sản này vào khai thác, và phát
triển về du lịch là một điều cần thiết. Bởi văn hóa là yếu tố nội sinh của du lịch, nên
những di sản phong phú, nhiều giá trị về văn hóa chính là thế mạnh nội lực giúp Việt


8
Nam có thể đẩy mạnh phát triển “ngành công nghiệp không khói” - du lịch trên cơ sở
những di sản có sẵn.




Hoàng thành Thăng Long cũng vừa được công nhận năm ngoái với những giá tr ị l ịch
sử và văn hóa mà nó mang theo
2011 sẽ là năm Du lịch Di sản!
Với một con số có thể gọi là “khổng lồ” về các di sản văn hóa tại Việt Nam, việc
đưa Di sản vào phát triển du lịch là một điều cần thiết. Trước nhất là đối với sự phát
triển của du lịch, tiềm năng di sản không thể bị… bỏ ngỏ mãi. Thứ nữa, việc phát
triển du lịch cũng tạo nhiều cơ sở để việc bảo tồn, phát huy các giá tr ị của di sản
như lịch sử, văn hóa được thực hiện một cách quy củ, nề nếp và đúng đắn nhất.
Xác định được tầm quan trọng của việc phát triển Du lịch di sản, mới đây, Bộ
VHTT&DL vừa chính thức gọi tên Năm Du lịch quốc gia 2012 là "Năm Du lịch quốc
gia các tỉnh duyên hải Bắc miền Trung - Huế 2012" với chủ đề "Du lịch di sản".
Không khó để nhận ra, khu vực Duyên hải Bắc miền Trung – Huế đã có ít nhất 2 trên
5 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận. Chưa kể đến những Di
sản còn lại đều nằm ở những vùng lân cận. Việc phát triển thành một mô hình du
lịch di sản trong năm cũng như trong một chuỗi không gian nhất định được coi là một
sự định hướng đúng đắn.




9
2011 sẽ là năm "Du lịch Di sản" với điểm chính ở khu vực Bắc miền Trung -
Huế
Nói về sự phát triển du lịch trong quan hệ với bảo tồn và phát huy các giá tr ị di s ản
văn hóa, nhiều Giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành cũng đã khẳng định về vai trò và những
lợi thế của Việt Nam khi đưa Di sản vào phát triển Du lịch. Viện phó Viện phát triển
Du lịch Việt Nam, ông Phạm Trung Lương còn cho rằng, việc nước ta có sự phong
phú về Di sản (đã được công nhận và chưa được công nhận) chính là một thế mạnh
để cạnh tranh với các mô hình du lịch khác, và thậm chí là với ngành du l ịch c ủa các
nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Chọn Năm du lịch 2011 với chủ đề là “Du lịch Di sản”, nhưng một thực trạng cho
thấy, Du lịch Di sản ở Việt Nam vẫn là một bài toán khó tìm lời giải – điều đó xuất
phát từ chính những sự thống nhất không đồng đều trong cơ cấu quản lý, triển khai
thực hiện của mô hình nhiều tiềm năng này.
(Còn nữa)
Du lịch Việt Nam: Bài toán 31% hay 85%
Tags: Thái Bình Dương, Du lịch Việt Nam, khách du lịch, toàn thế giới, quốc tế, 2
năm, điểm đến, bài toán, thu hút, tiếp theo, 31%, ngành, 85%, hội




10
Theo công bố của Tổ chức VISA và Hiệp hội du
lịch khu vực châu Á-Thái Bình Dương (PATA),
trong cuộc khảo sát vừa thực hiện trên 5.000 khách
du lịch quốc tế từ 10 thị trường du lịch trọng điểm
trên toàn thế giới có 31% cho biết, Việt Nam sẽ là
điểm đến tiếp theo của họ trong vòng 2 năm tới.
Việt Nam nằm trong 10 Đó là một con số khả quan, có thể mang đến cho ngành
điểm đến hấp dẫn nhất du lịch nước nhà nhiều cơ hội phát triển, đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng lượng khách quốc tế đến Việt Nam từ
năm 2007.
mục tiêu đạt 4,4 triệu lượt khách trong năm 2007, lên 6
triệu lượt khách vào năm 2010.
Tuy nhiên, những cơ hội đang đến cũng đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam rất nhiều
khó khăn. Cơ sở hạ tầng, phòng ở khách sạn thiếu trầm trọng, sản phẩm du l ịch
nghèo nàn vẫn là vấn đề nan giải với ngành du lịch nước nhà, không chỉ trong thời
điểm hiện tại mà ít nhất còn kéo dài thêm vài năm nữa.
Nếu vấn đề trên được cải thiện thì ngành du lịch Việt Nam mới có thể đón thêm
31% khách du lịch “mới” và hy vọng giảm bớt tỷ lệ 85% khách quốc tế đ ến Việt
Nam “một đi không trở lại” vì không để lại ấn tượng tốt trong du khách.
Ngành du lịch Việt Nam đã có nhiều hướng giải quyết, đầu tư để thu hút khách quốc
tế trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, nhưng sẽ không có nhiều thay đ ổi khi mà
các dự án đầu tư vẫn ì ạch, chưa thể hoàn thành.
Ngay cả TPHCM, một TP lớn đi đầu về phát triển kinh tế, nhiều dự án đầu tư phục
vụ mục tiêu thu hút du lịch trong giai đoạn đến năm 2010 vẫn chưa khả thi, còn thiếu
sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, chưa tạo ra thêm một sản phẩm du lịch mới
nào cho 2 - 3 năm tới.
TPHCM muốn mở rộng, phát triển sản phẩm, tăng việc tham quan, mua sắm cho
khách du lịch nhưng lại thiếu bãi đỗ xe; chưa chọn được địa điểm để quy hoạch
thành khu phố đi bộ ở quận 1; tour du lịch tham quan khu phố Đông y quận 5 kết hợp
với nhà hàng thực dưỡng, chương trình nghệ thuật văn hóa dân tộc phục vụ du khách
ở rạp Kim Châu vẫn chưa thể hoàn thành, dù đã khởi động cách đây nhiều năm. Việc
nâng cấp, mở rộng các khách sạn cao cấp như Rex, Kim Đô, Grand, Majestic cũng
phải chờ 2,3 năm nữa mới hoàn thành.
Khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang là “tâm điểm” của thế giới, thu hút 60%
lượng khách trên toàn cầu. Việt Nam đang có lợi thế, là một trong những điểm đ ến
của khách quốc tế trong những năm tới. Rõ ràng đây là một yếu tố thuận lợi, một cơ
hội không dễ có cho ngành du lịch Việt Nam. “Thiên thời” đã có, chúng ta còn thiếu
chất xúc tác tạo ra “địa lợi, nhân hòa” để phát triển du lịch thật sự.

11
Con số 31% khách “mới” sẽ đến Việt Nam trong 2 năm tới theo khảo sát, có thể xem
đó như là một xu thế khám phá du lịch nhưng chưa có cơ sở để khẳng định rằng, du
lịch Việt Nam đã thật sự thu hút khách quốc tế.
Trong 2 năm tới, ngành du lịch Việt Nam có thể tạo ra sự thay đổi gì, để tiếp đón và
chiêu đãi khách? Chúng ta mời khách đến nhưng không có gì để “đãi” khách, đó là
một thực tế buồn, đã chứng minh bằng con số 85% khách quốc tế đến Việt Nam
không trở lại lần hai, như trong những năm qua.
31% khách mới sẽ đến Việt Nam trong 2 năm tới có trở lại trong những lần tiếp
theo? Đó là một câu hỏi mà cũng là thách thức đang đặt ra cho ngành du l ịch Việt
Nam.
Năm 2016, VN nằm trong 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới
Tags: Du lịch Việt Nam, nghiên cứu công nghiệp, nhất thế giới, ngành công nghiệp,
vào danh sách, bản báo cáo, hấp dẫn, nằm trong, của ngành, tăng trưởng, cơ hội,
năm, điểm, 10
Trong bản báo cáo vừa công bố “Các cơ hội của ngành
công nghiệp du lịch Việt Nam (2007 - 2009)”, Hãng
nghiên cứu công nghiệp toàn cầu RNCOS dự báo Việt
Nam sẽ lọt vào danh sách 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất
thế giới vào năm 2016.
Theo tính toán của RNCOS, trong 5 năm tới (2007 -
2011), tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp du
Sapa một địa điểm du lịch
lịch Việt Nam luôn đạt mức trên 14%. Báo cáo cho
thu hút nhiều khách nước
biết: “Việt Nam là một trong những nền kinh tế thể
ngoài
hiện sự tăng trưởng ấn tượng nhất ở châu Á.
Nước này đã đón khoảng 3,6 triệu khách du lịch quốc tế năm 2006, so với 2,1 triệu
người năm 2000. Doanh thu từ du lịch đạt 2,4 tỷ USD (chiếm 3,9% GDP), so với 1,2
tỷ USD năm 2000”.
Các chuyên gia kinh tế của RNCOS khẳng định, nhờ sự bùng nổ của ngành công
nghiệp du lịch, sẽ có thêm nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho người dân và
tăng sức mua.
Ngành du lịch cũng sẽ đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế
Việt Nam. Giao thông, y tế và các ngành công nghiệp liên quan khác cũng sẽ đ ược
hưởng lợi từ sự bùng nổ của du lịch.
Báo cáo nhấn mạnh: “Du lịch nằm trong số những ngành công nghiệp tăng tr ưởng
nhanh nhất tại hầu hết các nước trên thế giới.
Tại các nước châu Á, Việt Nam nằm trong số những điểm du lịch đạt tỷ lệ tăng
trưởng cao nhất. Trong những năm gần đây, Việt Nam chào đón khách du lịch đến từ

12
nhiều nước, nhiều khu vực”.
Trí Đường
Cơ hội cho Du lịch Việt Nam
Tags: Thái Bình Dương, Hội An, Quảng Nam, Năm APEC, Tourism Working Group,
Hàn Quốc, phát triển nguồn nhân lực, Du lịch Việt Nam, Di sản Thế giới, đánh giá
chất lượng, nền kinh tế, trong khu vực, tạo điều kiện, Đảo Thái Bình, tăng cường,
nhằm
- Với chủ đề “Thúc đẩy hợp tác du lịch APEC vì sự thịnh vượng chung”, Hội nghị
Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ 4 đã chính thức diễn vào ngày 12/10 đến ngày 18/10
với sự tham dự của hơn 200 bộ trưởng và quan chức thuộc ngành du lịch của 21 nền
kinh tế thành viên APEC cùng với 3 tổ chức quan sát viên APEC: ASEAN, Hội đồng
hợp tác kinh tế các quốc đảo Thái Bình Dương (PECC), Hội đồng các quốc đảo Thái
Bình Dương (PIF), và một số tổ chức du lịch khu vực và thế giới (PTA, WTO,
WTTC)…

Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ 4 là cơ hội để các thành viên đánh giá tính
hiệu quả của các dự án trong khuôn khổ 4 mục tiêu chính sách của Hiến chương du
lịch APEC đã được thông qua từ năm 2000 của Hội nghị lần thứ nhất tại Hàn Quốc.
Theo đó, sau 6 năm, nhiều dự án đã được triên khai thực hiện các mục tiêu trên. Tuy
nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch toàn cầu hiện nay, cần thiết phải
có nhiều hơn nữa các đề xuất từ các nền kinh tế thành viên nhằm nâng cao hiệu quả
của dự
các án.

Tại Hội nghị, báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá chất lượng, hiệu quả dự án của
Nhóm công tác du lịch TWG (Tourism Working Group) về những vấn đề đang đặt ra
đối với du lịch APEC như bảo đảm an ninh cho du khách, chính sách phát tri ển du
lịch, các biện pháp nhằm đảm bảo phát triển du lịch bền vững, tạo điều kiện đi lại
thuận lợi trong khu vực, đẩy mạnh trao đổi về du lịch, giữ gìn bản sắc văn hóa nhằm
phát triển du lịch bền vững.v.v. sẽ là cơ sở để đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng
cường hợp tác du lịch APEC cùng với việc thảo luận và thông qua nội dung triển
ưu của về lịch.
khai tiên Năm APEC 2006 du

Bên cạnh đó, Hội nghị cũng sẽ thảo luận một số sáng kiến của các nền kinh tế thành
viên về tăng cường hợp tác du lịch APEC trong đó Việt Nam đóng góp một số sáng
kiến như: Tổ chức Hội chợ du lịch APEC hàng năm, tổ chức diễn đàn đầu tư du lịch
APEC, mở các tuyến đường bay trực tiếp nối liền các di sản thế giới của các nước
thành viên.

13
Hội nghị cũng sẽ thông qua “Tuyên bố Hội
An về tăng cường hợp tác Du lịch APEC”,
khẳng định quyết tâm của các bộ trưởng
trong thúc đẩy hợp tác du lịch, coi du lịch là
một trong những lĩnh vực ưu tiên hợp tác của
APEC, khuyến khích các nền kinh tế thành
viên tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực phát
triển nguồn nhân lực du lịch, tiêu chuẩn hóa
dịch vụ, sớm áp dụng tài khoản vệ tinh du
lịch, tăng cường phối hợp giữ khu vực nhà
nước và tư nhân trong phát triển du lịch, chia
sẻ thông tin.v.v.

Tác động của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ 4 (TMM) đ ến du l ịch Vi ệt
Nam hết sức to lớn, bởi hầu hết các thị trường nguồn du l ịch Việt Nam đ ều nằm
trong khu vực APEC. Việc tổ chức TMM sẽ tạo điều kiện củng cố, thúc đẩy và tăng
cường hợp tác du lịch song phương và đa phương với các nền kinh tế thành viên
APEC, tạo cơ sở khai thác tốt hơn nữa nguồn lức bên ngoài phục vụ phát triển du
lịch.

Đây cũng là dịp để tăng cường quảng bá hình ảnh du lịch Quảng Nam - “Một điểm
đến hai di sản thế giới”, góp phần tạo nên hình ảnh đậm nét về một nước Việt Nam
năng động cởi mở, mến khách và là một điểm đến an toàn, hấp dẫn với du khách khu
vực và quốc tế. Mặt khác, đây cũng là cơ hội tốt để du lịch Việt Nam nâng cap chất
lượng dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực du lịch, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, tăng
sức cạnh tranh thu hút du khách trong hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sau khi
Việt nam gia nhập WTO.
Nhân lực cho ngành du lịch : Bài toán quá khó ?




Việt Nam nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi có tốc độ tăng tr ưởng
về lượng khách quốc tế đến cao nhất thế giới. Nhưng nguồn nhân lực phục vụ

14
ngành du lịch vẫn còn "đuối sức" so với tốc độ tăng trưởng khi hiện chỉ có 30% lao
động trong ngành du lịch được qua đào tạo.
Làm thế nào để đạt mục tiêu 80% nhân lực qua đào tạo trong năm 2015 đang là bài
toán đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam .
Cầu vượt xa cung
Du lịch đã được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam với mục tiêu
đạt 6 triệu khách du lịch quốc tế, 25 triệu khách nội địa, doanh thu du lịch đạt 4 - 4,5
tỷ USD trong năm 2010. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, trong
giai đoạn từ năm 1990-2007, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp 17 lần,
từ 250.000 lượt của năm 1990 lên 4,2 triệu lượt trong năm 2007. Theo đó, l ực l ượng
lao động trong ngành cũng tăng cao, từ 20.000 lao động của năm 1990 lên hơn 1 triệu
hiện nay.
Theo dự báo, đến năm 2015, du lịch Việt Nam cần khoảng 1,5-2 triệu lao động. Hiện
cả nước có khoảng 40 trường đại học có khoa du lịch, 83 trường cao đ ẳng và trung
cấp du lịch, hàng năm đào tạo hàng chục ngàn học sinh và sinh viên làm vi ệc trong
ngành du lịch. Tuy nhiên, phần lớn chỉ được đào tạo ở phần nổi, chưa đi sâu vào
chuyên ngành, thiếu thực tiễn vì công tác đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế về cơ sở
vật chất, tài liệu và đội ngũ giảng dạy.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam thừa
nhận, nguồn nhân lực phục vụ du lịch Việt Nam vẫn còn yếu, hiện chỉ có 30% nhân
lực làm trong ngành du lịch được qua đào tạo bài bản, chất lượng sản phẩm du l ịch
của Việt Nam vẫn còn thua xa nhiều nước trong khu vực. Đây là thách thức l ớn c ủa
ngành du lịch Việt Nam trong "cuộc chiến" cạnh tranh thị phần. Nếu không xây dựng
được sản phẩm du lịch và dịch vụ có chất lượng thì sẽ rất khó cạnh tranh v ới các
nước.
Ngành du lịch Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trong năm 2015: 80% lao đ ộng
phục vụ du lịch được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; 100% cơ sở đào tạo có chương
trình đáp ứng yêu cầu thực tiễn, với 100% giáo viên được đào tạo và chuẩn hóa…
Những con số quá lớn này dường như là những mục tiêu "quá sức" với ngành du lịch
Việt Nam trong 7 năm tới.
Bài học từ các nước
Thực tế hiện nay, trong đào tạo nhân lực cho ngành du lịch, các trường đào tạo tại
Việt Nam thiếu cơ sở vật chất để học viên thực tập, điều này làm cho học viên thiếu
nhiều kỹ năng khi ra thực tế. Trong thời gian gần đây, một số trường đã hướng đầu
tư vào cơ sở vật chất để nâng cao đào tạo.
Trong đó, Saigontourist đã có đề án xây dựng khách sạn, làm nơi thực tập cho học
sinh Trường Trung học Nghiệp vụ Du lịch Khách sạn TPHCM. Ông Hà Thanh Hải,

15
Phó Tổng Giám đốc khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội ( thuộc tập đoàn quản lý
khách sạn Accor của Pháp ) nhận xét, với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện
nay, vấn đề tuyển dụng và đào tạo nhân viên lao động cho khách sạn càng trở nên
cấp thiết.
Đây là một thách thức lớn không chỉ riêng với Sofitel Metropole Hà Nội mà cho nhiều
khách sạn cao cấp khác ở Hà Nội, nhất là khi nhiều khách sạn cao c ấp đang đ ược
đẩy nhanh xây dựng tại Hà Nội, TPHCM. Ông Hải cho biết, Sofitel Metropole Hà
Nội xác định đào tạo tại chỗ, đến các trường đào tạo nói chuyện, định hướng công
việc cho học viên, "săn" người từ lúc các học viên còn ở trường. Theo quy đ ịnh c ủa
tập đoàn Accor, mỗi cán bộ, nhân viên của khách sạn phải được đào tạo, nâng cao
kiến thức 4 giờ/tháng.
Tham dự hội nghị Đảm bảo chất lượng phát triển nguồn nhân lực du lịch, vừa diễn
ra tại TPHCM vào đầu tháng 11-2008, tiến sĩ Steven Chua, Chủ tịch Học viện đào
tạo du lịch, khách sạn SHATEC (Singapore) đánh giá "Du lịch ở các nước châu Á
đang phát triển nhanh chóng, rất nhiều quốc gia đã đưa ra nhiều chương trình cũng
như chiến lược phát triển du lịch. Nhưng với tốc độ phát triển nhanh như "nấm mọc
sau mưa" hiện nay, các chương trình đào tạo nguồn nhân lực không thể theo kịp.
Nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn thiếu".
Theo nhận định này thì vấn đề nguồn nhân lực cho ngành du lịch không phải là vấn
đề của riêng Việt Nam, mà nó cũng là vấn đề "nóng" của nhiều nước, ngay cả
những nước phát triển như Singapore, Nhật Bản. Thực tế việc đầu tư cơ sở hạ tầng
chỉ cần một thời gian ngắn, nhưng xây dựng đội ngũ phải cần thời gian dài. Khi phát
triển du lịch, ngành du lịch phải trải qua một số thách thức trong ngắn hạn, đó là
người lao động có thể làm nhiều giờ hơn, với mức lương thấp và khách hàng khó
tính hơn. Tiến sĩ Steven Chua lưu ý, phải đào tạo từng yếu tố nhỏ thành kỹ năng cho
học viên. Ở Học viện SHATEC, ông cho biết có cả việc dạy cho học viên cách bóc,
gọt từng loại trái cây.
Lấy ví dụ từ Malaysia, ông Alex Rajakumar, Giám đốc Trung tâm Du lịch khối thịnh
vượng chung (CTC) (Malaysia) cho rằng, Chính phủ nước này giữ vai trò đ ầu tàu
trong sự thúc đẩy để ngành du lịch cất cánh! Với 26 triệu dân, Malaysia không có
nhiều di sản văn hóa cũng như thắng cảnh đẹp như Việt Nam, nhưng trong 2 năm trở
lại đây, Malaysia đã xây dựng một chiến lược quốc gia về phát triển du lịch; kết quả
của chiến dịch đầu tư này, Malaysia đón khoảng 20 triệu khách quốc tế trong năm
2007 .
Du lịch Việt Nam hụt hơi - Bài 2: Như “chim cánh cụt”
15:08:08 09/08/2011


16
Sau khi trừ chi phí giá vé máy bay, thuế phi trường, nhà cung ứng dịch vụ tour tại
Thái Lan chỉ còn trong tay khoảng 100 USD/khách để lo tất tật mọi thứ trong hành
trình phục vụ khách Việt Nam tại Thái Lan 5 ngày. Tự thân một công ty du lịch Thái
Lan không thể làm được nhưng cả ngành du lịch Thái có thể làm được điều đó. Và bù
vào khoản chênh này là tiền thu được từ các dịch vụ, mua sắm mà du khách phải “tự
nguyện” bỏ ra.
Phối hợp nhịp nhàng
Trên hành trình tour đến Thái vào cuối tháng 7 vừa qua, anh hướng dẫn viên du l ịch
vui tính, nói rành tiếng Việt và am hiểu về Việt Nam đã giới thiệu cho khách đi đoàn
rằng: Tôi là người ủng hộ phe “áo đỏ”, nhưng xe đang chở các bạn đi là của phe “áo
vàng”.
Tại Thái Lan, du lịch là một ngành kinh tế quan trọng, là thuốc thử số 1 được mang ra
đong đếm hiệu quả trong chính sách phát triển kinh tế của đảng nắm quyền điều
hành đất nước. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, Chính phủ Thái Lan hỗ trợ doanh
nghiệp 1/3 chi phí tour cho khách quốc tế. Đây là động lực lớn nhất để doanh nghiệp
đầu tư, phát triển du lịch.
Và điều này có thể lý giải vì sao chỉ có 100 USD/khách, nhưng các doanh nghiệp
(DN) của Thái vẫn đón, phục vụ khách chu đáo. Ở Thái Lan, tất cả các điểm du lịch
đều do tư nhân đầu tư, khai thác, kết hợp với ngành du lịch để cùng có lợi.




Đền Angkor Wat (Campuchia) thu hút đông khách du lịch VN tham quan.
Qua câu chuyện của anh hướng dẫn viên, chúng tôi ngạc nhiên hơn khi biết rằng,
một công ty tư nhân kinh doanh đá quý của Thái có cả ngàn chiếc xe chở khách du
lịch, dù họ không phải công ty khai thác tour du lịch! Đơn giản, họ sẽ chở khách cho
công ty nào đưa khách vào tham quan, mua sắm ở công ty đá quý của họ! Các DN du
lịch Việt Nam thán phục bởi cách phối hợp chặt chẽ của các DN Thái. Mỗi DN được

17
phân công một nhiệm vụ, “trên bảo, dưới nghe” và đó là thế mạnh của ngành du lịch
Thái.
Campuchia tự hào với di sản Angkor, cả quần thể Angkor ở Siêm Riệp cũng được
giao cho tư nhân khai thác. Những ai đã đến Angkor sẽ không chê vào đâu được khi
nhìn thấy cách làm du lịch rất chuyên nghiệp ở đây. Sạch sẽ, thân thiện với môi
trường, “ăn xin” cũng lịch sự và ngồi đúng chỗ! Áp dụng tiêu chuẩn quản lý ISO
14001, dù Angkor ở trong rừng nhưng trên đường đi và tại các ngôi đền luôn có
người quét lá cây, dọn dẹp sạch sẽ.
Còn ở Việt Nam, trong nhiều năm nay, mỗi lần họp bàn giải quyết khó khăn cho DN,
các công ty du lịch đều đề xuất nhà nước không đánh thuế nhập khẩu xe phục v ụ
cho du lịch. Lãnh đạo Saigontourist đã nhiều lần bức xúc, tiền mua một chiếc xe giá
chỉ có 1 tỷ đồng, nhưng DN phải chi 2 tỷ đồng để mua vì mất thêm tiền thuế nhập
khẩu 100%. Số tiền đầu tư đội lên cao, vòng quay khấu hao sẽ lâu hơn, dẫn đến
việc xe kém chất lượng, kém cạnh tranh.
Hiện tại, chỉ có những DN du lịch lớn mới dám bỏ tiền ra đầu tư mua xe, chủ yếu để
làm thương hiệu hơn là kinh doanh. Không có nhiều sự ủng hộ từ chính sách khuyến
khích của nhà nước, hầu hết DN du lịch Việt Nam phải tự thân vận động. Với kiểu
“mạnh ai nấy làm”, “trên bảo, dưới không nghe” là hệ quả tất yếu của sự phát triển
ì ạch, giậm chân tại chỗ của ngành.
Ông Nguyễn Văn Mỹ, Giám đốc Công ty Dã ngoại Lửa Việt, bức xúc, Việt Nam
không thua các nước trong khu vực về danh lam thắng cảnh, thậm chí còn đa dạng
hơn, nhưng ta không thể chuyển được thành thế mạnh, hấp dẫn. Cách làm du lịch
của Việt Nam như du lịch “chim cánh cụt” - chúng ta bất lực nhìn các nước xung
quanh tung cánh bay lên.
“Đặc sản” và cách moi tiền du khách
Khi dẫn đoàn đến Pattaya - thành phố vui chơi về đêm ở phía Đông Nam c ủa Thái
Lan, anh bạn hướng dẫn viên nói trên so sánh khiêm tốn, biển Pattaya không bằng
Nha Trang của Việt Nam, nhưng ở đây có những cái lạ! Đó là sex tour, những màn
biểu diễn hoành tráng, sinh động có một không hai của những người chuyển đổi giới
tính. Quả thật, không cần nhiều, chỉ bấy nhiêu đó cũng đã tạo nên thương hiệu, “đặc
sản” cho ngành du lịch Thái.
Những đặc sản mới nghe qua có gì đó không phù hợp với đất nước có đ ến 95% dân
số theo Phật giáo như Thái Lan. Nhưng Thái Lan đã tách bạch được giữa văn hóa và
kinh doanh. Và họ nổi tiếng khắp thế giới với “đặc sản” này, buộc khách khi đ ến
phải khám phá để biết “đặc sản” như thế nào? Đặc sản không có trong chương trình
tour. Ngành du lịch Thái đã đưa bạn đến Thái với một cái giá quá rẻ, muốn xem “đặc
sản” bạn phải bỏ tiền túi với giá không rẻ, khoảng 50 - 60 USD/khách/show.

18
Những ai đã đến Thái du lịch đều thừa nhận, các dịch vụ từ nhỏ đến lớn đ ều biết
cách moi tiền du khách. Chương trình tour đưa khách đi tắm biển nhưng khách phải
trả tiền thuê ghế để ngồi. Bạn muốn chụp hình với người chuyển giới, với chim,
cọp, voi… đều phải trả tiền, với giá khá mềm, khoảng 50 bath/người/lần (35.000
đồng). Du khách bị móc túi, nhưng trên tinh thần tự nguyện!
Shopping là một trong những điểm nhấn để du khách xài tiền, trong chương trình tour
có hẳn 1 ngày để du khách tự do mua sắm, khám phá Bangkok. Thái Lan đã thành
công với tên gọi “Thiên đường mua sắm” qua những chiến dịch và các tháng bán hàng
khuyến mãi giá rẻ trong năm. “Đã đến Thái phải mua - đã mua phải mua nhiều”, du
khách đều phấn khởi chi tiền ra mua quần áo, túi xách, quà cáp với số tiền nhiều hơn
tiền mua tour.
Chị Kim Tuyến (quận 4, TPHCM) cho biết, vào trung tâm mua sắm MBK, chị như bị
bỏ bùa mê, hút vào các gian hàng quần áo, túi xách vì giá khá rẻ so với Việt Nam. Sau
hơn nửa ngày lang thang ở MBK, chị đã chi hơn 10 triệu đồng để mua quần áo, túi
xách làm quà tặng cho gia đình.
Nếu phát triển tốt du lịch sinh thái, thắng cảnh mà không kèm theo các sản phẩm,
dịch vụ, giải trí như mua sắm, casino thì ngành du lịch chưa thể moi tiền c ủa du
khách và bài toán doanh thu du lịch sẽ chịu tác động mạnh từ yếu tố này. Du lịch Việt
Nam đang thiếu các dịch vụ giải trí, mua sắm hàng tiêu dùng giá rẻ đ ể du khách xài
tiền.


Du lịch mua sắm đóng góp rất lớn vào kinh tế Thái Lan. Theo kết quả nghiên
cứu của MasterCard Worldwide, du lịch mua sắm ở Bangkok không còn là
mua sắm giá rẻ mà nâng lên mức cao hơn. Theo ước tính, trung bình mỗi du
khách đến Bangkok chi tiêu 1.250USD. Còn tại Việt Nam hiện nay, mức chi
tiêu của du khách nước ngoài ở mức khá thấp, trung bình dưới 700USD cho
tour 7 ngày ở Việt Nam.

Liên kết giữa các địa phương: Điểm yếu của du lịch
14:08:13 12/08/2011
"Bắt tay" làm du lịch một cách bài bản, chuyên nghiệp và hiệu quả giữa các đ ịa
phương đã được bàn đến từ lâu, không ít văn bản hợp tác đã được ký. Thế nhưng,
thời gian cứ trôi còn những lời cam kết hợp tác vẫn chỉ ở trên giấy.
"Thân ai nấy lo"
Mới đây, tại TP Đà Nẵng, hội thảo "Liên kết phát triển 7 tỉnh duyên hải miền Trung"
được tổ chức. Với lợi thế bờ biển trải dài cùng nhiều di sản thế giới, các điểm đến
hấp dẫn, một lần nữa vấn đề hợp tác phát triển du lịch giữa các tỉnh miền Trung lại

19
được bàn luận. Không phải đến bây giờ mà đã từ lâu, các tỉnh có tiềm năng phát triển
ngành "công nghiệp không khói" ở miền Trung đã ngồi lại với nhau, "hứa" sẽ phối
hợp để đưa du lịch lên tầm cao mới. Hàng chục cuộc họp đ ược tổ chức, nhiều b ản
ký kết đã ra đời nhưng triển khai lại chưa được bao nhiêu.
Theo Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), mỗi năm miền Trung đón hàng
triệu lượt khách quốc tế nhưng thời gian lưu trú trung bình của du khách t ại Th ừa
Thiên Huế, Đà Nẵng, Hội An chỉ là 1,5 - 2,5 ngày với mức chi tiêu trung bình
76USD/khách/ngày. Lý giải vì sao tiềm năng du lịch của miền Trung lớn mà lại
không hấp dẫn du khách, các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp cho rằng, do
thiếu một chiến lược phát triển mang tính liên vùng cao. Mặc dù hiện nay các đ ịa
phương đều có quy hoạch định hướng phát triển du lịch nhưng sự gắn kết vùng,
miền còn hạn chế và quan trọng hơn là thực hiện chưa tốt những cam kết về liên
kết. "Mỗi tỉnh vẫn cứ làm du lịch theo cách "thân ai nấy lo, mạnh ai nấy làm". Chỉ
riêng trong hai tháng 6 và 7 vừa qua, cùng lúc cả 4 tỉnh là Khánh Hòa, Đà Nẵng, Thừa
Thiên Huế và Ninh Thuận đều tổ chức lễ hội du lịch biển. Hình thức tổ chức na ná
nhau vào cùng một thời điểm không chỉ khiến cho du khách nhàm chán mà còn gây ra
sự lãng phí, trong khi hiệu quả thu được lại chẳng như mong muốn, khách du lịch bị
san sẻ ra bốn nơi. Nếu biết cách tổ chức các lễ hội theo hình thức khác nhau, vào
thời gian hợp lý và điểm đến này quảng bá tích cực cho điểm đến kia thì chắc chắn
lượng khách sẽ tăng lên nhiều lần", đại diện một hãng lữ hành tại Hà Nội nhận xét.




Mở rộng, thúc đẩy hơn nữa sự liên kết giữa các địa phương sẽ
tạo nên thế mạnh, giúp ngành du lịch phát triển bền vững.
Trong ảnh: Du khách bơi thuyền khám phá Vịnh Hạ Long.
Không chỉ miền Trung mà ngay khu vực được mệnh danh là tam giác kinh tế, việc
kết nối giữa 3 tỉnh, thành phố là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh cũng rơi vào tình
20
trạng trên. Từ năm 2001-2002, việc liên kết hợp tác giữa 3 tỉnh, thành phố này đ ược
ví như "đầu tàu" làm động lực kéo theo sự phát triển du lịch của các tỉnh phía Bắc đã
được ngành chức năng thống nhất. Sau 10 năm, sự liên kết giữa 3 bên chỉ ở cấp đ ộ
song phương Hà Nội - Hải Phòng, Hải Phòng - Quảng Ninh hay Hà Nội - Quảng
Ninh, chứ chưa có sản phẩm du lịch mang tính liên kết chung. Nếu có chăng cũng chỉ
là sản phẩm do doanh nghiệp lữ hành tự xây dựng. Mặt khác, giá cả các dịch v ụ du
lịch, điểm vui chơi, mua sắm, ăn, nghỉ mỗi nơi một kiểu và chênh lệch nhau quá lớn.
Đánh giá về thực trạng hoạt động liên kết phát triển du lịch, PGS.TS Phạm Trung
Lương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch cho rằng, những cam
kết vẫn chỉ mang tính chung chung, hứa hẹn, không phân công nhiệm vụ cho từng địa
phương và không thống nhất được cách thức hoạt động, điều hành sản phẩm. Khi
chương trình du lịch chỉ nằm trọn trong một địa phương, thiếu đi sự đa dạng, s ản
phẩm kém hấp dẫn, thì hậu quả là thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách đều
hạn chế.
Không chỉ là lời hứa
Sự liên kết hợp lý giữa các địa phương sẽ tạo nên chuỗi du l ịch hấp dẫn, không ch ỉ
hạn chế được tình trạng nhàm chán về hoạt động du lịch mà còn tạo thành khu du
lịch mạnh về địa điểm, dịch vụ, cơ sở hạ tầng, từ đó giảm được giá tour và du khách
có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn điểm đến. Đây là việc làm không mới đối với
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đơn cử như tại một số nước "láng giềng"
như Thái Lan, để hút khách theo tour đến các điểm du lịch nhà vườn miền Đông, khi
du khách mua vé cùng lúc (trọn gói) sẽ được giảm giá hay ở Singapore, các địa điểm
du lịch vườn chim dù nằm ở các quận khác nhau nhưng khi du khách mua vé cùng lúc
ở 3 điểm sẽ được giảm giá 30%...
Để những lời hứa cam kết hợp tác không chỉ trên giấy, theo ý kiến của nhiều doanh
nghiệp lữ hành, Tổng cục Du lịch phải đảm nhiệm vai trò "nhạc trưởng" điều khiển,
kết nối cũng như hỗ trợ, tạo điều kiện để các địa phương, các doanh nghiệp tham
gia nhiều hơn nữa các đoàn khảo sát thị trường và giới thiệu tiềm năng du lịch của
địa phương mình. Sự liên kết cần những nỗ lực chung và quyết tâm từ các đ ịa
phương, sự vào cuộc của doanh nghiệp cùng làm du lịch để lợi ích sẽ tăng và đ ược
chia đều cho các bên, góp phần cho nền du lịch nước nhà phát triển bền vững.
Làm thế nào để đánh thức tiềm năng?
11:08:57 30/08/2011
ĐBP - Như mọi người đều biết: Tối 27/8/2011, tại cao nguyên Mộc Châu (S ơn La),
đã diễn ra lễ khai mạc Chương trình du lịch với chủ đề “Qua miền Tây Bắc - Sơn La
2011”.


21
Đây là một hoạt động nhằm đẩy mạnh quảng bá du lịch tỉnh Sơn La nói riêng và qua
đó, quảng bá, tôn vinh bản sắc văn hóa các dân tộc, văn hóa vùng mi ền, các s ản v ật
phong phú vùng Tây Bắc nói chung, trong đó có tỉnh Điện Biên chúng ta...
Trong quá khứ sinh thành, Tây Bắc - vùng đất giàu truyền thống cách mạng với
những tiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, những năm qua đã
và đang là “điểm đến” của nhiều khách du lịch cũng như các nhà đầu tư trong và
ngoài nước. Hẳn nhiều người chưa thể quên chỉ một “Diễn đàn xúc tiến đầu tư vào
Tây Bắc” được tổ chức tại Sa Pa (Lào Cai) tháng 10/2008, đã có trên 40.000 tỷ đồng
vốn được các doanh nghiệp ký kết ngay tại khuôn khổ hội nghị, điều đó cho thấy các
nhà đầu tư đã rất nhạy bén với những cơ hội làm ăn trên vùng đất Tây Bắc xa xôi, trù
phú và hấp dẫn. Năm 1964, trong chuyến kinh lý Tây Bắc, cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng từng có câu nói nổi tiếng: “Tây Bắc sẽ là hòn ngọc ngày mai c ủa Tổ quốc”.
Gần nửa thế kỷ qua, trong tâm thức đồng bào các dân tộc Tây Bắc, “hòn ngọc Tây
Bắc” lúc nào cũng hiện lên với nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú và nồng nàn
vẫy gọi - trong đó tài nguyên du lịch có thể ví như dòng sông Đà chạy dọc lãnh thổ
Tây Bắc lúc nào cũng đầy đặn, thủy chung, hấp dẫn, đang đợi người khám phá
những tầng tầng lớp lớp nguyên khôi...




Lễ khai mạc Chương trình du lịch "Qua miền Tây Bắc - Sơn La 2011".
Với tỉnh Điện Biên, trong đề án cấp Nhà nước về “Quy hoạch Tổng thể phát triển
Du lịch Việt Nam 1995-2010”, Chính phủ xác định Điện Biên là điểm du lịch mang
tầm cỡ quốc gia. Các điểm du lịch: TP Điện Biên Phủ - Pá Khoang - Mường Phăng...
là khu du lịch đặc thù về văn hóa - lịch sử, với những tiềm năng to l ớn, c ần đ ưa vào
khai thác. Về lý thuyết, du lịch Điện Biên là điểm đến lý tưởng của nhi ều loại hình
du lịch, theo đó, các nguồn thu trong ngành “công nghiệp không khói” sẽ chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Ngoài những loại hình du lịch văn hóa - sinh
thái thông thường như hầu hết các tỉnh khu vực Tây Bắc, Điện Biên còn là “điểm
22
đến” nổi tiếng bởi hệ thống mật tập các điểm di tích chiến dịch Điện Biên Phủ
1954.
Song trước hết, vì là tỉnh miền núi, vì vậy nói đến du lịch Điện Biên, người ta nghĩ
ngay đến các tài nguyên du lịch đặc trưng miền núi. Đó là các hang động thâm u và kỳ
ảo như những mê cung: Pa Thơm, Mường Lói (huyện Điện Biên); Phì Nhừ, Mường
Tỉnh (huyện Điện Biên Đông); Thẳm Púa, Thẳm Khương (huyện Tuần Giáo)...
Trong đó, hang Mường Tỉnh và động Pa Thơm là điểm di tích lịch sử và khu du l ịch
mới được Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch ra quyết định xếp hạng quốc gia. Đi ều
thú vị là tại lòng chảo Mường Thanh, đúng 200 năm trước tính từ Chiến thắng Điện
Biên Phủ, dưới sự chỉ huy của người Anh hùng nông dân Hoàng Công Chất (1706 -
1768), liên quân xuôi - ngược đã đánh tan giặc Phẻ, xây dựng khối đ ại đoàn kết các
dân tộc bảo vệ vùng biên cương Tây Bắc của Tổ quốc.
Về du lịch sinh thái, tiêu biểu là Khu bảo tồn lâm sinh quốc gia Mường Nhé. Cách
đây 35 năm, ngày 08/7/1976, UBND tỉnh Lai Châu (cũ) ra Quyết đ ịnh số 06/QĐ-
TKNN về việc thành lập một khu bảo tồn chim thú tại Mường Nhé. Sau đó, hơn một
lần Khu bảo tồn Mường Nhé được đề cập trong nội dung Quyết định số 194/CT
ngày 09/8/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, là khu bảo tồn thiên nhiên có diện
tích 182.000ha. Nhưng nay vì nhiều lý do, trong đó có việc chia tách đ ịa d ư hành
chính, nên Khu bảo tồn quốc gia Mường Nhé chỉ còn 31.216ha (tức chưa bằng
17,20% so với diện tích trong QĐ số 194/CT ngày 09/8/1986). Về chất lượng, khu
sinh quyển này có thảm thực vật phong phú và hàng trăm giống chim, thú quý hiếm;
nhiều loài trong đó có tên trong “sách đỏ” thế giới cũng như Việt Nam...
Ngoài ra, trong các loại hình để góp phần làm nên diện mạo du l ịch đa d ạng Đi ện
Biên, điều chúng ta không thể không nhắc đến đó là du lịch sông hồ, thác n ước và
tắm khoáng nóng: Đứng “đầu bảng” có lẽ là hồ Pá Khoang, tiếp đến là hồ Huổi Phạ,
rồi hồ Pe Luông, hồ Hồng Khếnh, hồ U Va... Bên cạnh đó là nguồn tài nguyên du lịch
nhân văn mang đậm giá trị vật chất cũng như tinh thần, được làm nên bởi bàn tay,
khối óc và tình đoàn kết các dân tộc của bà con tỉnh Điện Biên, cùng sáng tạo và cùng
giữ gìn trong dòng chảy thời gian. Nguồn tài nguyên ấy bao gồm những di tích lịch sử
- cách mạng; di tích lịch sử - văn hóa; các làng nghề thủ công truyền thống; các giá trị
văn hóa vật thể (nhà cửa, trang phục, công cụ sản xuất, nhạc cụ dân tộc...); các giá
trị văn hóa phi vật thể (lễ hội dân gian, các điệu dân vũ, bài hát, trò chơi...) th ể hi ện
bản sắc văn hóa cộng đồng 21 dân tộc anh em.
Với quyết tâm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, những năm qua, tỉnh
Điện Biên đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm khai thác cao nhất tiềm
năng du lịch địa phương. Để tạo ra sức hút du khách vì mục tiêu phấn đ ấu đ ến năm
2020 đón khoảng 650 nghìn lượt khách trong nước, 220 nghìn lượt khách quốc tế,

23
doanh thu khoảng 915 tỷ đồng... ngay từ bây giờ, Điện Biên phải có những ý tưởng
sáng tạo, đổi mới trong đầu tư cho phù hợp “túi tiền”, nhằm khai thác một cách bền
vững cái mà lâu nay vẫn chỉ được coi là tiềm năng. Muốn vậy, theo Quyết đ ịnh số
150/QĐ-UBND ngày 31/01/2008, trong khoảng thời gian đến năm 2020, để từng
bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng du lịch, Điện Biên cần một khoản kinh phí lên t ới
2.820 tỷ đồng.
Đương nhiên để làm được như thế, tức là để du lịch Điện Biên thật sự trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn - trở thành tâm điểm của Chương trình du lịch Tây Bắc, vấn
đề trước tiên là phải đẩy nhanh tiến độ trùng tu, tôn tạo quần thể di tích Chiến thắng
Điện Biên Phủ. Đồng thời ưu tiên phát triển các hoạt động dịch vụ du l ịch, ti ếp t ục
đầu tư phát triển các khu du lịch văn hóa, sinh thái, mở rộng hình thức du lịch cộng
đồng, du lịch danh thắng... Cùng với các chính sách ưu đãi đầu tư, tr ải thảm đ ỏ mời
gọi đầu tư hạ tầng cơ sở cho một Điện Biên đẹp, hấp dẫn du khách; hẳn nhiều
người còn nhớ một hội nghị có tính chất “dấu mốc” ngày 18/6/2010 tại huyện Bắc
Hà, tỉnh Lào Cai; đó là: Hội nghị triển khai hợp tác phát triển du l ịch 8 t ỉnh Tây B ắc
mở rộng. Tham dự hội nghị, ngoài lãnh đạo 8 tỉnh (gồm: Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái,
Phú Thọ, Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La và Điện Biên), có lãnh đạo Tổng cục Du l ịch
Việt Nam; đại diện tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Liên minh Châu Âu (EU); cùng
đại diện một số công ty du lịch lữ hành trong và ngoài nước. Hội nghị nhằm tổng kết
những thành tựu, qua đó xây dựng Dự thảo kế hoạch hợp tác du lịch khu vực giai
đoạn 2010-2015.
Nằm trong chiến lược phát triển, khai thác các tiềm năng, thế mạnh du lịch cộng
đồng, UBND tỉnh Điện Biên vừa phê duyệt Đề án: “Xây dựng bản văn hóa dân tộc
để phát triển du lịch đến năm 2015” , do Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch chủ trì.
Theo đó, lựa chọn thêm 10 bản văn hóa để đầu tư xây dựng thành bản văn hóa - du
lịch; trong đó có một số bản vùng xa, biên giới như bản Trống Dình, xã Huổi Lèng và
bản Tân Phong, xã Si Pa Phìn (huyện Mường Chà)... Trên thực tế Điện Biên còn
nhiều tiềm năng cho hình thức du lịch làng bản, du lịch cộng đồng. Có điều, làm thế
nào để “đánh thức” các tiềm năng ấy, biến tiềm năng thành lợi ích vật chất? Đó
không đơn thuần một câu hỏi, mà là một thách thức trước tư duy, tình yêu, trách
nhiệm và năng lực của mỗi chúng ta - đặc biệt với những người ở cương vị trách
nhiệm cao...
Góp phần giải bài toán bảo tồn và phát triển: Du lịch văn hóa - yếu tố tích cực
giúp bảo tồn và phát huy di sản kiến trúc

Trong cơn sốt phát triển kinh tế và đô thị hóa, các thành phố châu Á đã hủy hoại khá
nhiều di sản kiến trúc. Cả chục năm qua, mâu thuẩn đã thực sự nổ ra giữa một bên là

24
những người làm công tác văn hóa, bảo tồn có tiếng nói rất yếu ớt và bên kia là các
nhà hoạch định kinh tế, quản lý đô thị với sự hậu thuẩn mạnh mẽ của những thế lực
đầu cơ bất động sản, khai thác địa ốc và đầu tư nước ngoài. Việt Nam bước vào thời
kỳ phát triển kinh tế thị trường cũng không ra khỏi ngoại lệ, mà có lẽ còn tệ hại hơn
do vẫn còn nằm ở giai đoạn tranh tối tranh sáng hỗn độn chuyển tiếp từ kinh tế
hoạch định sang kinh tế thị trường. Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh là điển hình mâu
thuẩn đó. Phải chăng bài toán bảo tồn và phát triển cho đến nay vẫn chưa có lời giải
đáp thỏa đáng.
Nội dung tham luận muốn chứng minh điểu ngược lại, sẽ bàn mấy vấn đề sau đây:
-Hiện tượng “Tabula Rasa” khắp châu Á
-Làm sao để di sản không bị “đóng băng”?
-Du lịch văn hóa có thể là yếu tố tích cực giúp bảo tồn và phát huy di sản kiến trúc
Hiện tượng “Tabula Rasa” (triệt phá) khắp châu Á
Trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã nổ ra không ít tranh luận giữa một bên
mong muốn bảo tồn cái cũ và bên kia là phá đi để có chỗ xây dựng cái mới. Các nhà
quản lý đô thị và kinh tế thường mắng mỏ: Các nhà văn hóa, nghiên cứu kiến trúc các
ông thì nhìn ở đâu cũng thấy vốn quý di sản cần bảo tồn, vậy còn đâu ra chỗ để xây
dựng công trình phục vụ phát triển kinh tế đất nước! Đến các khu trung tâm Hà Nội
hoặc TP.Hồ Chí Minh, và thậm chí ở Huế, Đà Lạt ta cũng nghe không ít lời trách cứ
tương tự của các nhà đầu tư địa ốc nóng lòng muốn xây dựng nhà cao tầng khi họ
gặp phải phản ứng của các nhà bảo tồn di sản văn hóa và kiến trúc.
Trong lúc đó, tại các cuộc hội thảo văn hóa các nhà nghiên cứu lịch sử và bảo tồn đã
thốt lên không ít lời than vãn và báo động. Mũi dùi phê phán không chỉ nhắm vào các
nhà quản lý đô thị và kinh tế mà nhắm cả vào chính những người đang đảm nhiệm
công tác bảo tồn di sản thiếu hiểu biết và ý thức ở các địa phương.
Không phải chỉ ở Việt Nam, mà ngày nay ở khắp châu Á khuynh hướng Tabula Rasa
di sản kiến trúc để xây dựng nhà cửa mới tuy hiện đại nhưng vô cảm bị lên án khắp
nơi. Singapore nay hối tiếc đã vội vã loại bỏ di sản để hiện đại hóa. Trung Quốc bức
xúc trước làn sóng công trình hậu-hiện đại lấn át di sản…
Kể từ khi lập quốc từ đầu những năm 1960, quy hoạch đô thị Singapore đã từng rập
khuôn theo mô hình hiện đại phương Tây. Người ta đã tiến hành kế hoạch triệt phá,
không quan tâm đến phần lớn các công trình cổ và các công trình hiện có nhắm xây
dựng công trình mới đáp ứng yêu cầu của một trung tâm thương mại-tài chính quốc
tế khu vực. Kết quả là Singapore chẳng còn cái gì gọi được là bản sắc thị giác và
bản sắc văn hóa, ngoài vài công trình thuộc địa Anh, phố Tàu, phố Ấn Độ, phố Á rạp
quy mô nhỏ. Thành phố có lúc bị đánh giá là “tổng của một trăm chỗ đ ịnh c ư c ủa
những người sống lưu vong”.

25
Tuy ai cũng nhìn nhận Singapore thành công xây dựng một đảo quốc giàu có và tiên
tiến vào bậc nhất, vậy mà xét về mặt văn hóa và bản sắc, Singapore vẫn là một
thành phố hiện đại vô hồn và khá lạc lỏng giữa bối cảnh châu Á. Người ta bắt đ ầu
luyến tiếc: Giá như họ đã không vội vả hủy hoại những khu phố cổ sinh động của
Hoa kiều, di dân Ấn, cư dân Mã Lai… thì Singapore có lẽ đã trở thành một thành phố
ngã tư đường đa văn hóa tiêu biểu nhất châu Á vậy. Phải chăng đây là một kinh
nghiệm chua xót để ta rút ra bài học bổ ích, đó là không nên vội vả phá bỏ cái cũ mà
làm mất đi cái hồn đô thị.
Tại Việt Nam tình hình cũng tương tự. Trong cơn lốc đô thị hóa vội vã, chúng ta đang
đứng trước nguy cơ xóa nhòa các di sản của quá khứ, phủ nhận nền kiến trúc của
các thế hệ đi trước. Thật đáng tiếc nếu các nhà lãnh đạo không đưa ra lập tức những
chính sách cụ thể để ít nhất không còn tình trạng xây dựng công trình cao tầng hoặc
nhà phố mới, tiếp tục làm hỏng bản sắc các khu vực trung tâm có giá trị lịch sử.




Hội thảo Quốc tế Bảo tồn di sản kiến trúc do Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát
triển tổ chức (1/2011)
Làm sao để di sản không bị “đóng băng”?
Trước những nguy cơ hủy hoại di sản đáng báo động đó, những nhà nghiên cứu l ịch
sử và văn hóa khách quan vẫn không bi quan cho rằng luôn có mâu thuẩn giữa b ảo
tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế. Trái lại, kinh nghiệm cho thấy có thể dung
hoà bảo tồn và phát triển, nếu biết hỗ trợ, bổ sung nhau, đào sâu nhận thức, tìm ra
giải pháp thỏa đáng, thì có thể biến di sản thành tài nguyên quý phục vụ phát triển.
Ở Việt Nam từ năm 2001 đã có luật về di sản văn hóa để làm cơ sở pháp lý, ngoài ra
chúng ta cũng đang tiếp thu kinh nghiệm quốc tế. Các thông lệ quốc tế thường dựa
vào văn kiện tiêu biểu là Hiến chương Venice 1964 với sự xác nhận của Công ước
về di sản văn hóa thế giới của UNESCO 1972, sau này được bổ sung Văn kiện Nara
1994.


26
Hiến chương Venice đòi hỏi việc gìn giữ tính nguyên gốc của di sản nhằm tránh làm
sai lạc các chứng cứ lịch sử và khoa học. Sở dĩ hiến chương nhấn mạnh điều đó là
do phương Tây đã trải qua kinh nghiệm phục hồi chua xót di sản vào thời Phục
Hưng, đã từng tùy tiện nâng cấp cải tạo hoặc trùng tu thêm thắt theo phong cách mới
của thời đại hoặc thị hiếu cá nhân. Tuy nhiên, gần đây nhiều hội nghị quốc tế đã chỉ
ra rằng Hiến chương Venice nay đã phần nào lỗi thời trong quan niệm “giữ gìn
nguyên gốc” và hướng sang đề cao Văn kiện Nara.
Nhật Bản từng có thông lệ từ thế kỷ thứ 7 là cứ 20 năm họ tiến hành trùng tu các
công trình tôn giáo Thần đạo tại khu Ise truyền thống. Điều này rõ ràng là không phù
hợp với tinh thần châu Âu của Hiến chương Venice. Vì vậy mà vào năm 1994, các
chuyên gia đầu ngành bảo tồn di sản của các tổ chức quốc tế và 25 nước đ ại diện
các châu lục đã họp tại thành phố Nara đề ra các điều bổ sung mới về tính nguyên
bản của di sản. Nghĩa là phải tính đến các yếu tố phi vật thể, phù hợp với thực t ế
của thời đại như các yếu tố chức năng và tác dụng, truyền thông và kỹ thuật, tinh
thần và tình cảm...
Hiện nay, thông lệ quốc tế khuyến khích giữ gìn nguyên trạng di sản nhưng cũng
uyển chuyển áp dụng các qui định mới, nhằm biến di sản văn hóa sinh đ ộng hơn và
không “đóng băng” chúng trong thời kinh tế thị trường. Sự kiện này mở đường cho
tính hấp dẫn của ngành du lịch văn hóa.
Du lịch văn hóa - yếu tố tích cực giúp bảo tồn và phát huy di sản kiến trúc
Sau đây là một số ví dụ cụ thể chứng minh rằng bảo tồn không phải là “đóng băng”
di sản, vì ngoài việc giữ gìn được bản sắc cho đô thị, bảo tồn di sản kiến trúc còn là
một nguồn thu nhập lớn, làm giàu cho thành phố nếu chúng ta biết sử dụng chúng.
Du lịch văn hóa trở thành yếu tố góp phần tích cực vào việc bảo tồn di sản kiến trúc.
Khu phố cũ Xin Tian Di (Tân Thiên Địa) ở Thượng Hải trước đây với những nóc nhà
thấp lè tè, sau khi được cải tạo đã trở thành một trong những khu vực đóng góp nhiều
nhất cho thu nhập của thành phố nhờ thu nhập về tham quan du lịch. Đây là khu vực
cấm xe hơi, dành cho người dân đi bộ mua sắm, giải trí và ăn uống, yên tĩnh, so ra rất
khác các khu vực náo nhiệt của Thượng Hải. Nhà cửa, đường sá đặc biệt vẫn giữ
nguyên kiểu xây dựng bằng đá truyền thống “shikumen” (thạch quật môn). Các dãy
nhà ống cũ nay cải tạo lại thành quán hàng, tiệm ăn, câu lạc bộ ca nhạc rất sinh
động. Địa điểm này từ gần 20 năm qua trở thành khu giải trí cuối tuần “hot” nh ất
Trung Quốc ngày nay.
Xin Tian Di cũng nổi tiếng với Nhà lưu niệm cuộc họp đầu tiên khai sinh Đ ảng
Cộng sản Trung Quốc vào năm 1921.
Trong cơn sốt xây cất mới những năm 1990, chính quyền Thượng Hải đã khôn ngoan
chấp nhận phương án bảo tồn, thay vì san phẳng để xây cao ốc.

27
Phố cổ Hội An là điển hình địa chỉ văn hóa du lịch nổi tiếng ở Việt Nam, nơi mà các
công tác nghiên cứu cơ bản, giám sát, phản biện, phổ cập ý thức trong nhân dân về di
sản được những nhà quản lý đô thị địa phương tiến hành khá tốt ngay từ đầu. Năm
1999, phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.
Đây là một khu phố được hình thành từ thế kỷ 16-17, trước đây là thương cảng c ủa
miền Trung. Đến nay khu phố cổ Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên trạng quần
thể di tích kiến trúc gồm nhiều loại hình như nhà ở, hội quán, đình chùa, miếu,
giếng, cầu, nhà thờ tộc, bến cảng, chợ kết hợp với đường giao thông ngang dọc tạo
thành các ô vuông kiểu bàn cờ, mô hình phổ biến của các đô thị thương nghiệp
phương Đông thời Trung đại.
Cuộc sống thường ngày của cư dân Hội An với những tập quán, sinh hoạt văn hóa
lâu đời đang được duy trì một cách khá bền vững, hiện là một bảo tàng sống về kiến
trúc và lối sống đô thị thời xưa. Chính du lịch văn hóa là động cơ chính và yếu tố tích
cực bảo tồn di sản kiến trúc khu phố cổ này.
Phải chăng cuối cùng thì bài toán bảo tồn và phát triển cũng có hướng giải quyết. Du
lịch văn hóa ngoài việc giúp nâng cao trình độ văn hoá, làm phong phú đời sống văn
hoá của người dân, cũng góp phần rất tích cực trong việc bảo tồn và khuếch trương
di sản, thu lợi kinh tế.
KTS.Nguyễn Hữu Thái
Có thể khẳng định rằng năm 2010 là một năm thành công của du lịch Việt Nam.
Với việc đón khách quốc tế thứ 5 triệu, tổng doanh thu du lịch năm 2010 của
toàn ngành ước đạt gần 96 ngàn tỷ đồng, du lịch Việt Nam đã tạo dựng được
thương hiệu trên thị trường quốc tế.
Đánh giá về kết quả của ngành
du lịch Việt Nam trong năm
2010, ông Nguyễn Văn Tuấn,
Tổng cục trưởng Tổng cục Du
lịch Việt Nam cho rằng, năm
2010 là năm “điểm nhấn” của
du lịch Việt Nam, là cơ hội để
du lịch Việt Nam tạo ấn tượng
và có một vị thế tốt trên bản đồ
du lịch thế giới. Việt Nam là
nước có tốc độ phục hồi, tăng
trưởng du lịch nhanh nhất thế
Ngành du lịch sẽ tập trung phát triển theo chiều sâu
giới.
để thật sự hấp dẫn du khách (Ảnh tư liệu)


28
Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, Tổng Cục phó Tổng cục Du lịch Việt Nam, thành
công ấy phải kể tới một số nguyên nhân. Trong năm vừa qua, có thể nói, ngành du
lịch đã tập trung xúc tiến, quảng bá một cách bài bản nhất, triển khai với quy mô lớn
hơn, thời gian dài hơn, lực lượng đông đảo hơn đồng thời quảng bá và chuẩn bị xây
dựng sản phẩm tốt hơn.
Ngoài thị trường Đông Bắc Á, ASEAN, Trung Quốc, du lịch Việt Nam đã tập trung
vào thị trường các nước Tây Âu. Tại thị trường Trung Quốc, đây là năm mà Việt
Nam đã thực hiện 4-5 cuộc xúc tiến. Lượng khách trong năm vừa qua tăng rất nhanh
như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay một số nước Tây Âu như Pháp, Đức.
Đặc biệt, trong năm 2010 là năm đầu tiên, ngành du lịch Việt Nam đã chú tr ọng tới
một nguồn lực quan trọng đó là kiều bào ta đang sống tại nước ngòai. Ngoài quảng
bá, xúc tiến du lịch tới kiều bào, thông qua bà con, du lịch Việt Nam sẽ tới với người
dân nước sở tại. Đây là kênh tuyên truyền sẽ có hiệu quả cao.
Một nguyên nhân nữa là trong năm 2010, chúng ta đã triển khai chiến dịch bán hàng
giảm giá vào mùa thấp điểm du lịch. Mặc dù còn những hạn chế phải rút kinh
nghiệm song chiến dịch này cũng đã có những đóng góp đáng kể vào sự thành công
của ngành du lịch.
Năm 2010 là năm Việt Nam tổ chức nhiều sự kiện hấp dẫn trên phạm vi cả nước
trong đó Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội với nhiều hoạt đ ộng văn
hoá đã thật sự thu hút được sự quan tâm của du khách, nhất là bạn bè quốc tế.
Tuy nhiên, cũng theo ông Cường, thời gian qua, chúng ta dường như chạy theo số
lượng khách chứ chưa thật sự chú trọng phát triển theo chiều sâu. Chúng ta cần phải
giải quyết bài toán ở đây là ngành du lịch đóng góp được bao nhiêu cho đ ất nước,
giải quyết được bao nhiêu việc làm cho người dân…
Cùng quan điểm này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Lương, Viện nghiên cứu Phát
triển Du lịch cho rằng kết quả của ngành du lịch trong năm 2010 là đáng ghi nhận,
tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu thì Việt Nam không nên quá lạc quan với kết quả
đạt được mà nên nhìn vào thực chất, bản chất tại sao con số bật lên l ớn như thế?
Bên cạnh đó chất lượng của dòng khách của Việt Nam chưa được như mong muốn.
Trong chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2011-2020, ngành du lịch chuyển hướng
phát triển theo chiều sâu, lấy chất lượng làm trọng tâm để tăng doanh thu của ngành.
Muốn vậy, ngành du lịch khai thác các dịch vụ gia tăng để nâng cao khả năng chi tiêu
của khách, khách lưu trú tại Việt Nam lâu hơn. Ngành cũng cần có giải pháp để nâng
cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực du lịch, không chỉ giỏi về chuyên môn,
nghiệp vụ mà còn có sự thân thiện với du khách; về sản phẩm du lịch, phải xây dựng
những thương hiệu mang tầm cỡ khu vực và quốc tế đồng thời phải đa dạng hóa sản


29
phẩm, tạo ra những tour tuyến mới, phù hợp với nhu cầu của du khách và khai thác
hiệu quả tiềm năng du lịch của từng địa phương.
Hiện tại, Việt Nam đã có 7 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm:
2 Di sản thiên nhiên thế giới:
Vịnh Hạ Long, được công nhận hai lần, năm 1994, là di sản thiên nhiên

thế giới, và năm 2000, là di sản địa chất thế giới theo tiêu chuẩn N (I) (III).
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, năm 2003, là di sản thiên nhiên

thế giới theo tiêu chuẩn N (I).
5 Di sản văn hóa thế giới gồm:
Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993, là di sản văn hóa thế giới theo

tiêu chuẩn C (III) (IV).
Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C

(II) (V).
Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn

C (II) (III).
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, năm 2010, là di sản văn

hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (II) (III) và (VI).
Thành nhà Hồ, năm 2011, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C

(I)
Các danh hiệu được UNESCO công nhận khác đôi khi cũng được xếp vào di sản thế
giới gồm:
Cao nguyên đá Đồng Văn, năm 2010 được gia nhập mạng lưới Công

viên địa chất toàn cầu do unesco công nhận.
Nhã nhạc cung đình Huế, Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế đã được

UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Năm 2005, không gian

văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức được UNESCO công nhận là
Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Dân ca quan họ Bắc Giang và Bắc Ninh, Năm 2009, UNESCO chính

thức công nhận Quan họ là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại đại
diện của nhân loại.
Ca trù, Ngày 1/10/2009, ca trù của Việt Nam được UNESCO ghi danh

vào Danh sách di sản văn hóa kiệt tác truyền khẩu phi vật thể cần đ ược bảo
vệ khẩn cấp.
Hội Gióng ở Phù Đổng và đền Sóc, năm 2010 được công nhận là Di

sản phi vật thể đại diện của nhân loại.


30
Mộc bản triều Nguyễn, năm 2009 được công nhận là Di sản tư liệu

thế giới.
82 Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, năm 2010 được công nhận là Di

sản tư liệu thế giới.
Tại Việt Nam hiện đã có 5 di sản phi vật thể được UNESCO công nhận là Di sản
thế giới là:
Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên

tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công
nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt

tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm
2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Dân ca Quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại,

được công nhận ngày 30/9/2009.
Ca trù, di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được

công nhận ngày 01/10/2009.
Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội , di sản văn hóa phi

vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010.
Các đề cử mới cho di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam:
Hát xoan.


Đờn ca tài tử Nam Bộ.


lực lịch
Kỳ 1: “Khát” nhân du

Những năm gần đây, ngành Du lịch (DL) đã có nhiều cố gắng trong việc đào tạo
nhân lực (NL). Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh, ngành đang thiếu NL trầm
trọng, nhất là NL có trình độ cao.
Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI, đến năm 2015,
ngành dịch vụ - DL chiếm 45,5% cơ cấu kinh tế của tỉnh, tốc độ tăng trưởng dịch vụ
- DL giai đoạn 2010 - 2015 đạt trên 14% năm. Trong khi đó, ngành DL đặt mục tiêu
phấn đấu tăng trưởng trên 16% năm, đến năm 2020 doanh thu toàn ngành đạt trên
3.400 tỷ đồng. Để đạt mục tiêu trên, ngành DL cần có nguồn NL l ớn và chất l ượng
cao. Thế nhưng, thực tế cho thấy ngành DL Khánh Hòa đang thiếu hụt NL khá l ớn,
đặc biệt chất lượng
là NL cao.

Tính đến thời điểm này, Khánh Hòa có hơn 450 cơ sở lưu trú, hàng trăm nhà hàng lớn
nhỏ. Hầu hết các khu DL cao cấp tại Nha Trang đều than phiền về tình tr ạng tuy ển
dụng nhân sự khó khăn. Mỗi khi có một khu DL mới ra đời, rất nhiều nhân viên sẵn

31
sàng bỏ việc để nhận những hợp đồng mới có mức lương cao hơn. Mới đây, để
chuẩn bị cho khu khách sạn Vinpearl Luxury đi vào hoạt động vào đầu năm 2011,
Công ty Cổ phần Vinpearl đã tuyển 300 lao động để huấn luyện. Để tuyển được số
lượng NL như vậy, Công ty đã phải tổ chức thông báo tuyển dụng rất r ộng rãi trên
các phương tiện thông tin đại chúng, tại các cơ sở đào tạo NL DL và t ổ ch ức một
ngày hội tuyển dụng để chọn lựa người lao động. “Phải rất vất vả Công ty mới
chọn đủ số lượng, chất lượng NL có khá hơn trước nhưng để đáp ứng được yêu cầu
của công việc thì cần phải đào tạo lại rất nhiều”, một lãnh đạo của Công ty Cổ
phần biết.
Vinpearl cho

Trao đổi với chúng tôi, ông Đống Lương Sơn - Tổng Giám đốc Khách sạn Yasaka-
Saigon-Nhatrang, Phó Chủ tịch Hiệp hội DL Khánh Hòa cho biết: “Những năm gần
đây, việc đào tạo NL cho ngành DL đã được chú trọng hơn trước, số lượng người
theo học các ngành nghề DL cũng tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, với tốc độ phát tri ển
mạnh mẽ như hiện nay, việc ngành DL thiếu hụt NL là điều đương nhiên”. Theo ông
Đống Lương Sơn, với hàng chục dự án khu DL, khách sạn cao cấp đang được xây
dựng ở Nha Trang, Khu DL Bắc bán đảo Cam Ranh, Khu Kinh tế Vân Phong… thời
gian tới, tình trạng khan hiếm NL trong ngành DL sẽ càng nghiêm trọng hơn. Đ ể
khắc phục tình trạng này, các trường cần đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo NL cho
ngành DL; đồng thời các cơ sở kinh doanh DL cũng cần đẩy mạnh việc tự đào tạo.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có nhiều cơ sở đào tạo NL DL như Tr ường
Đại học Nha Trang, Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật và DL Nha Trang,
Trường Cao đẳng Nghề Khánh Hòa, Trường Trung cấp DL Nha Trang… và nhiều cơ
sở dạy nghề khác. Tuy có khá nhiều cơ sở dạy nghề, nhưng việc tổ chức đào tạo kỹ
năng về DL vẫn còn nhiều bất cập giữa cung và cầu. Theo đánh giá của các doanh
nghiệp DL, sinh viên chuyên ngành DL đào tạo từ các trường chưa đáp ứng được yêu
cầu công việc. Phần lớn sinh viên ra trường đều thiếu kỹ năng phục vụ trong ngành
DL, hạn chế về ngoại ngữ, thiếu kinh nghiệm thực tế, không có khả năng chuyên
sâu một lĩnh vực cụ thể. Lãnh đạo của một đơn vị DL 5 sao cho biết, việc đào tạo
của các trường vẫn còn khoảng cách xa so với thực tế. Các em đ ược trang b ị ki ến
thức rộng (cái gì cũng biết một chút), nhưng lại thiếu kiến thức chuyên sâu về một
ngành cụ thể, trong khi doanh nghiệp lại cần người bố trí vào một công việc cụ thể
rất để được tuyển dụng.
nên khó
Bên cạnh đó, khả năng giao tiếp của các em chưa tốt, phần lớn thường nhút nhát,
thiếu tự tin, thậm chí những vấn đề cơ bản nhất như chào hỏi, tác phong làm viêc,
thiếu.
văn hóa công ty… các em cũng

32
Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu công việc, các em phải được đào tạo thêm nghiệp vụ tại
doanh nghiệp mới có thể làm việc được. Tuy nhiên, theo ông Đống Lương Sơn,
điểm yếu lớn nhất của các sinh viên theo học DL vẫn là sự hạn chế về trình độ
ngoại ngữ. Nhiều sinh viên có bằng B, bằng C nhưng hầu như các em không thể giao
tiếp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp không muốn tuyển dụng, bởi nếu nhân viên yếu
nghiệp vụ thì có thể tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề, nhưng để đào tạo về ngoại
ngữ rất mất thời gian. Vì vậy, trong khi tuyển dụng, các khách sạn chấp nhận tuyển
sinh tốt nghiệp đại học ngoại ngữ sau đó mới đào tạo thêm về nghiệp vụ.
Để giải quyết tình trạng khan hiếm cần phải có một chiến lược đồng bộ và cần
phải thời
có gian.
Theo tính toán của Tổng cục DL, đến năm 2015, ngành DL Việt Nam cần khoảng
620.000 lao động DL trực tiếp; đến 2020, sẽ cần 870.000 lao đ ộng tr ực tiếp đ ạt
chuẩn khu vực và thế giới. Về lực lượng lao động gián tiếp, đến năm 2015 c ần 1,5
đến 1,7 triệu lao động. Đến 2020, lao động DL gián tiếp theo nhu cầu xã hội sẽ cần
khoảng 2,2 - 2,5 triệu người.
Giải pháp nào để nâng cao chất lượng đào tạo nghề phục vụ ngành Du lịch một cách
hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương? Đây là vấn đ ề cốt lõi mà
đề án “Tập trung xây dựng mô hình liên kết đào tạo nguồn nhân l ực phục vụ ngành
Du lịch” đặt ra và nghiên cứu. Theo kiến nghị của nhóm tư vấn, để đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ kỹ năng nghiệp vụ phục vụ yêu cầu ngày càng cao của du khách,
đáp ứng nhu cầu về lao động cho các doanh nghiệp (DN) kinh doanh du lịch, cần xây
dựng mô hình liên kết đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức lại các khóa đào tạo, tăng
cường sự liên kết trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, tăng số l ượng lao đ ộng
có kỹ năng làm việc trong ngành Du lịch và nâng cao chất lượng đào tạo cho các c ơ
sở công lập.
Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo là sự chấp nhận của người sử dụng lao động
và tỷ lệ tìm được việc làm. Thời gian qua, các cơ sở dạy nghề tại Nha Trang đã cung
cấp một nguồn nhân lực đáng kể cho các DN kinh doanh du lịch với số lượng khoảng
1.800 sinh viên (SV). Tuy chưa có cuộc điều tra nào về tỷ lệ tìm đ ược việc làm
“đúng ngành, đúng nghề” của SV sau ra trường và đánh giá của các nhà tuyển dụng
về chất lượng đào tạo, song qua khảo sát, có đến 30% DN lựa chọn hình thức tuyển
dụng nhân viên trực tiếp từ các trường dạy nghề. Đây là điều đáng mừng vì nó th ể
hiện sự quan tâm của DN đến chất lượng đào tạo của các trường. Đ ại diện của
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang cho biết: Nhiều SV của
trường sau khi tốt nghiệp đã tìm được việc làm tại các khu du lịch cao cấp như
Vinpearl Land, Diamond Bay… Các khu nghỉ mát này cũng đã làm việc với trường để
“đặt hàng” và tuyển dụng trực tiếp tại trường.

33
Tuy nhiên so với yêu cầu, thực trạng việc đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này
hiện vẫn còn một số tồn tại mà nguyên nhân là do ngành Du lịch phát triển quá nhanh
và quá “nóng”, khiến ngành đào tạo theo không kịp. Các trường có đào tạo nghiệp vụ
du lịch hiện nay đều là những trường đào tạo đa ngành và du lịch là ngành mới b ổ
sung sau nên chưa có giáo trình chuẩn để đào tạo nghiệp vụ về du lịch; giáo viên
thiếu trầm trọng cả về lượng lẫn về chất, cơ sở vật chất về thực hành cũng thi ếu.
Ngoài ra, lĩnh vực này còn thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các bên có liên quan trong
việc phát triển đào tạo nên trường không biết được yêu cầu thực tế của DN; thiếu
sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở đào tạo trong việc
định hướng đào tạo nguồn nhân lực du lịch phù hợp với quy hoạch đào tạo, phù hợp
với quy hoạch phát triển ngành.
Sự hình thành của nền kinh tế toàn cầu đã tạo nên các tiêu chuẩn quốc tế được công
nhận bởi các quốc gia, trong đó có tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ trong ngành Du lịch.
Với thị trường mục tiêu là khách du lịch quốc tế cao cấp, Khánh Hòa phải chuẩn bị
cho mình một đội ngũ nhân lực có kỹ năng đáp ứng được chất lượng dịch vụ tương
đương quốc tế. Chính vì vậy, một trong các kiến nghị của nhóm tư vấn là các cơ sở
dạy nghề công lập phải từng bước nâng cao chất lượng đào tạo. Nhà nước nên đầu
tư kinh phí xây dựng cơ sở thực hành cho các trường, đây là việc làm hết s ức cần
thiết và cấp bách để tiết kiệm chi phí chung cho xã hội, đồng thời tăng cường hợp
tác với DN để tạo điều kiện cho SV thực tập tại DN. Chương trình đào tạo ngh ề
hiện nay cần phải được đổi mới và cập nhật để đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng dịch
vụ của ngành Du lịch, không những của Việt Nam mà còn hướng tới đáp ứng đ ược
tiêu chuẩn chung của các nước trong khu vực. Nếu có điều kiện, nhà trường nên mở
thêm trung tâm sản xuất và thực hành để tạo các dịch vụ phù hợp với ngành nghề đào
tạo, giúp SV có điều kiện thực tập, vừa tạo thêm kinh phí cho trường. Trước mắt, có
thể cung cấp dịch vụ lữ hành trong khi chưa có đủ điều kiện để cung cấp dịch vụ về
nhà hàng và khách sạn; tăng cường hợp tác quốc tế trong xây dựng và đổi mới giáo
trình đào tạo, trao đổi kinh nghiệm, thông tin, tư liệu, trao đổi giáo viên, SV nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó, nhà trường nên có cuộc khảo sát l ấy ý
kiến phản hồi từ phía SV đã tốt nghiệp, DN tuyển dụng… về kỹ năng nghiệp vụ SV
còn thiếu khi đi làm để có những điều chỉnh thích hợp và đưa ra những giải pháp phù
hợp nhất cho DN…
Hiện nay, đào tạo lại là một nhu cầu không thể thiếu của bất kỳ DN nào. Điều này
lại càng đặc biệt cần thiết với nguồn nhân lực du lịch Khánh Hòa hiện nay đang
trong tình trạng “thừa mà thiếu”, thừa người không biết làm việc, thiếu người có kỹ
năng. Nhiều DN tựï tổ chức đào tạo tại cơ sở kinh doanh của mình, các khách sạn 4 –
5 sao tại Nha Trang đều thuê công ty quản lý nước ngoài cung cấp dịch vụ quản lý

34
khách sạn, đồng thời đào tạo luôn đội ngũ nhân viên tại chỗ theo tiêu chuẩn c ủa
chính họ như Sofitel, Novotel, Melia, Six Senses của khu nghỉ mát Ana Mandara…
Các DN đánh giá rằng hình thức đào tạo này giúp họ tiết kiệm được thời gian, chi phí
và theo dõi, đánh giá được kết quả học tập của nhân viên. Các đơn vị tổ chức đào tạo
hiện nay nên có thêm các khóa đào tạo có chủ đề DN quan tâm như kỹ năng giao tiếp,
chăm sóc khách hàng, quản trị nhóm, marketing về du lịch… Ngoài ra, với quy mô
tuyển sinh và đào tạo như hiện nay sẽ không thể đáp ứng đủ cho kế hoạch phát triển
ngành trong vòng 3 năm đến. Do vậy, Trung tâm Xúc tiến du l ịch cần tổ ch ức các
cuộc vận động giới thiệu về nghề nghiệp trong ngành Du lịch và triển khai ngay kế
hoạch marketing cho việc tuyển sinh vào ngành Du lịch tại các trường phổ thông
trung học và cộng đồng dân cư. Khi lượng SV đăng ký theo học nghề du l ịch cao thì
thị trường cung cấp dịch vụ đào tạo sẽ phát triển phù hợp.
Đây là lần đầu tiên, ngành Du lịch tổ chức nghiên cứu một đ ề án liên quan đ ến một
vấn đề rất quan trọng của ngành. Việc nhận thức đầy đủ các yếu tố đang tác đ ộng
xấu và mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
sẽ giúp cho ngành Du lịch Khánh Hòa có giải pháp phát triển tích cực hơn, hiệu quả
hơn. Bởi lẽ ngành Du lịch ở nước ta đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, điểm
xuất phát thấp so với một số nước trên thế giới. Hoạt động du lịch còn chủ yếu dựa
vào thiên nhiên, kinh nghiệm quản lý kinh doanh và trình độ nghiệp vụ còn nhiều bất
cập. Hy vọng khi được phê duyệt, đề án này sẽ là cơ sở nghiên cứu để Sở Văn hóa –
Thể thao và Du lịch và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan xem xét, l ựa ch ọn
và xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho ngành Du lịch phù hợp với điều
kiện thực tế hiện nay của tỉnh.
Đánh mất văn hóa sẽ là “thảm họa” của ngành du lịch – Đây là khuy ến cáo mà Giáo
sư -Tiến sĩ Leo Kenneth Jago, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu du lịch và khách sạn
Trường Đại học Tổng hợp Victoria (Úc) đưa ra cho ngành du lịch Việt Nam, khi ông
đến Việt Nam tham dự một cuộc hội thảo về phát triển du lịch trong năm 2007.
Ông Leo Kenneth Jago đưa ra nhận xét dựa trên thực tế mà ông cảm nhận được từ sự
thay đổi của “thiên đường” du lịch - đảo Bali - của Indonesia. Ông cho r ằng, v ới
người Úc, Bali đã không còn là thiên đường nghỉ dưỡng vì nó đã đánh mất bản sắc
văn hóa của địa phương, thay vào đó, văn hóa phương Tây đang ngự trị hoàn toàn ở
đây. Rõ ràng, văn hóa là một bản sắc riêng, mang tính đặc thù, không dân tộc nào
giống dân tộc nào. Với ngành du lịch, bản sắc văn hóa được xem như là “báu vật” để
quốc tế đến
thu hút du khách khám phá.
Ngoài những thế mạnh về danh lam thắng cảnh, điểm đến an toàn, sự thân thiện của
con người, sự đa dạng văn hóa trong cộng đồng các dân tộc ít người tại Việt Nam
hiện nay được xác định là một trong những thế mạnh thu hút khách quốc tế c ủa

35
ngành du lịch Việt Nam. Du khách quốc tế thích tận hưởng, khám phá những cái mới
lạ mà trong đời sống hàng ngày ở đất nước họ không có.
Đây cũng là cái “sườn” để các công ty du lịch định hướng, xây dựng s ản ph ẩm du
lịch phù hợp với từng đối tượng khách, đến từ những vùng, quốc gia khác nhau. Thế
nhưng, một thực tế hiện nay, nhiều điểm đến du lịch tại Việt Nam đã không giữ
được bản sắc riêng của điểm đến. Tận nơi núi rừng hoang sơ du khách vẫn bắt gặp
những dịch vụ hiện đại đi kèm. Nó đã không còn giữ được bản sắc riêng, tất c ả
khung cảnh, con người đã được “hiện đại hóa”. Điển hình, chúng ta có thể bắt gặp
hình ảnh này khi đến tham quan thác Prenn, một điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Lâm
Đồng.
Ngày nay, đến thác Prenn, du khách không còn cảm nhận được sự hùng vĩ của thác
nước vì nó đã bị bóp nghẹt trong một không gian chật chội, xung quanh thác đã bị bê
tông hóa để làm chỗ cho các hàng quán dịch vụ. Cây cầu treo, đặc trưng của núi rừng
Tây Nguyên ở khu vực thác tuy còn đó nhưng chỉ là dấu tích một thời vì nó không còn
sử dụng cho du khách đi lại. Du khách đã mất đi một cơ hội khám phá khi đi trên cầu
treo lắc lư. Thay vào đó, có một cây cầu bêtông bắc qua dòng chảy của thác. Trong
cái “ao” thác, đường kính rộng chừng 20m, người ta đưa cả hai con thiên nga “nhựa”
dịch vụ “đạp vịt”...
vào khai thác
Thác Prenn chỉ là một điển hình. Nhiều công ty lữ hành bức xúc: các điểm đ ến du
lịch hoang sơ, khám phá đời sống văn hóa, sinh hoạt của người dân vùng cao đã
không còn giữ được chất thuần khiết của nó. Du khách nước ngoài thật bất ngờ khi
người dân ở những nơi xa xôi, hẻo lánh cũng biết làm dịch vụ khi khách muốn chụp
hình với người dân địa phương phải trả tiền! Đánh mất bản sắc văn hóa cũng đ ồng
nghĩa với việc ngành du lịch không còn gì để thu hút khách.
Vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng
đang là thách thức đối với ngành du lịch trước yêu cầu của thị trường lao động
hiện nay. Hiện cả nước có 1.035.000 người làm việc trong ngành du lịch. Chỉ có
khoảng 12% trong số này qua đào tạo tạo từ trình độ cao đẳng tr ở lên, trong
khi đó có tới 53% có trình độ dưới sơ cấp.
Nhiều chuyên gia trong ngành du lịch đã nhận định, du lịch là dịch vụ tổng hợp con
người, nguồn nhân lực du lịch phải nói đến những người làm du lịch kể cả trực tiếp
lẫn gián tiếp. Tức là các dịch vụ du lịch phải quan tâm trực tiếp đến xã hội, vì thế
cũng có thể hiểu đây là nguồn nhân lực mở và chúng ta nên có những chính sách đào
tạo mở, không nên bó hẹp.
Hiện nay, cả nước đang có khoảng 1 triệu người làm trong ngành du lịch, chiếm 2%
lao động cả nước. Trong số này, khoảng 53% dưới sơ cấp, 18% sơ cấp, 15% trung
cấp, 12% cao đẳng và đại học, 0,2% trên đại học. Tham gia trong ngành du lịch có tới

36
750 ngàn người không qua đào tạo và chỉ làm việc gián tiếp. Làm việc trực tiếp có
khoảng 250 ngàn người trong các công ty lữ hành, đưa đón khách, khách sạn, công ty
hoạt động du lịch. Trong nhóm làm việc trực tiếp chỉ có 42% được đào tạo về du
lịch, 38% người từ ngành khác chuyển sang và 20% còn lại thì không qua đào tạo (có
thể học hết phổ thông chuyển sang làm việc). Như vậy, có thể nhận thấy chất
lượng nguồn lao động chưa cao, khối lượng đông nhưng phân bố không đồng đều.
Đa phần, những người có đào tạo đều làm việc tại những khu du lịch, trung tâm du
lịch, còn những vùng sâu, vùng xa thì “trắng” cán bộ. Vì vậy, có thể khẳng định rằng
nhân lực ngành du lịch vẫn còn thiếu và yếu.
Hiện Hà Nội có hơn 9.000 doanh nghiệp và cơ sở hoạt động du lịch, sử dụng khoảng
63.000 lao động. Tuy nhiên, nhìn về thực tế, nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu phát triển của ngành . Đặc biệt, nhân lực cho lữ hành và khách sạn hiện
đang rơi vào tình trạng thiếu trầm trọng cho cả hiện tại và trong giai đoạn tới.
Nguyên nhân của việc thiếu hụt vẫn là sự đào tạo chưa bài bản, hiện chưa có một
trường đại học chuyên ngành du lịch. Cả nước có khoảng hơn 20 trường đại học có
khoa hoặc bộ môn du lịch, nhưng đội ngũ giáo viên nhiều người từ các ngành khác
chuyển về, giáo trình không có. Vì thế, cử nhân du lịch hiện nay phần nhiều có chất
lượng không cao, không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Có 40 trường trung cấp có
dạy nghề về du lịch và đặc biệt chỉ có 4 trường đặt tại Hà Nội, Huế, Vũng Tàu, Sài
Gòn và sắp tới xây dựng một trường mới ở Hải Phòng là đào tạo chuyên về du lịch.
Như vậy, với nhu cầu nhân lực ngành du lịch lớn và không ngừng phát triển như thời
gian qua, công tác đào tạo là quá “mỏng”.
Các chuyên gia cho rằng, đầu tiên, cần phải rà soát và quy hoạch lại các trường, nâng
cao đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống giáo trình, môi trường sinh
hoạt và đào tạo tại nhà trường. Phải kết hợp giữa nhà trường và xã hội, tránh tình
trạng học sinh học chay. Đồng thời, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên gắn với thực tiễn
ngành du lịch. Bên cạnh đó, tích cực triển khai đào tạo tại chỗ bằng hình thức: những
người làm nghề có kinh nghiệm truyền dạy cho người mới.
Một vấn đề nữa đặt ra là do đặc thù, ngành du lịch cần lao động ở nhiều trình đ ộ
khác nhau, từ giản đơn (lao động nghiệp vụ) đến phức tạp (giám sát, quản lý). Vì
vậy, hệ thống đào tạo du lịch cần thiết phải đảm bảo thực hiện đào tạo liên thông,
từ thấp đến cao. Cơ chế đào tạo nhất thiết phải thông thoáng, thuận lợi và có sự kết
hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Do đặc thù của mỗi cơ sở kinh doanh và
đặc điểm của nhóm lao động, những yêu cầu kỹ năng, nghiệp vụ cũng phải thường
xuyên được thay đổi để phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách du l ịch. Mặt khác,
nhiều nghề trong ngành du lịch tuy yêu cầu kỹ năng đơn giản nhưng lại đòi h ỏi quy
trình phục vụ khắt khe, chi tiết, có phong thái bản sắc, ấn tượng riêng của mỗi cơ sở

37
cung cấp dịch vụ du lịch. Vì vậy, cùng với những kiến thức được đào tạo tại các cơ
sở dạy nghề, các cơ sở kinh doanh du lịch cũng cần có phương pháp đào tạo thêm,
đào tạo lại.
Du lịch MICE, thị trường tiềm năng tại Việt Nam
Sôi động chương trình cho khách MICE




Du lịch hiện nay không chỉ để đáp ứng nhu cầu tham quan,
khám phá và nghỉ dưỡng mà còn để tìm kiếm đối tác, phát triển việc kinh doanh, phát
triển thị trường. Đó là lý do hình thành loại hình du lịch MICE, viết tắt của bốn từ
tiếng Anh: Meeting (gặp gỡ), Incentive (khen thưởng), Conventions (hội thảo),
Exhibition (triển lãm). Những năm gần đây, du lịch MICE đang có những bước phát
triển khá mạnh mẽ ở Việt Nam bởi Việt Nam được đánh giá là một điểm đ ến an
toàn và thân thiện, điểm đầu tư hấp dẫn. Những khu du lịch nổi tiếng được lựa chọn
nhiều nhất trong các chương trình du lịch MICE như Phú Quốc, thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Hà Nội...
Công ty Tổ chức Hội nghị, Hội thảo, Sự kiện và Du lịch Quốc tế Hòa Bình
(Hoabinhtourist) một trong những đơn vị đưa MICE vào hoạt động sớm nhất tại Việt
Nam cho biết, hiệu quả của MICE tạo doanh thu lớn nhờ đối tượng khách đông, tập
trung, có khi đến vài trăm người, có mức chi tiêu cao và thời gian l ưu trú dài ngày.
Trong tình hình kinh tế thế giới gây ảnh hưởng nhất định tới du l ịch, tuy nhiên Vi ệt
Nam vẫn là điểm đến của nhiều đoàn khách quốc tế Mỹ, Đức, Thái-lan, Nhật Bản,
Trung Quốc với số lượng tới hàng nghìn người, bên cạnh lượng khách nội đ ịa đáng
kể.
Tại Hoabinhtourist, lượng khách MICE chiếm tới 70% tổng số lượng khách tham gia
du lịch. Hầu hết các công ty, các tập đoàn không chỉ đơn thuần đi du lịch thuần túy
mà kết hợp tổ chức hội nghị, hội thảo, xây dựng đội ngũ phát triển ý tưởng sáng tạo
theo nhóm (team building). Trong chín tháng qua, số khách quốc tế đến Việt Nam đạt
khoảng 3,7 triệu lượt, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm 2009.
Theo Vụ lữ hành, Tổng cục Du lịch, hình thức du lịch MICE vẫn luôn đ ược coi là
tiềm năng, các doanh nghiệp, các công du lịch cần phải tìm cách khai thác hiệu quả
hơn mảng thị trường tour đầy tiềm năng và hấp dẫn này. Bởi theo tính toán c ủa các
công ty du lịch, loại hình du lịch MICE mang lại giá trị doanh thu cao gấp sáu lần loại

38
hình du lịch thông thường. Sản phẩm MICE là tổng hợp của nhiều dịch vụ đòi hỏi
các công ty du lịch luôn cung ứng dịch vụ trọn gói cho các đoàn gồm vận chuyển, lưu
trú, tổ chức hội nghị, hội thảo, xây dựng chương trình team building, chương trình
tham quan... Các chương trình tour MICE của các công ty du lịch, lữ hành cạnh tranh
ở việc chuyên nghiệp hóa công tác tổ chức cũng như nghiệp vụ du lịch. Đây cũng là
cơ hội để các công ty lữ hành khẳng định vị thế và thương hiệu trong nền công
nghiệp không khói này.
Mỗi điểm đến, một thế mạnh
Thị trường du lịch MICE là phân khúc rất tiềm năng mà Việt Nam có thể khai thác và
là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam. Du
lịch MICE có yêu cầu đặc thù về cơ sở hạ tầng, hệ thống các dịch vụ đi kèm cũng
như các dịch vụ khác như: ăn uống, vui chơi, mua sắm... Hiện tại, thành phố Hồ Chí
Minh và Hà Nội là hai địa điểm có khả năng khai thác thế mạnh này khá hiệu quả.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, du lịch MICE được xác định là một trong bốn loại hình
du lịch chính cần hướng đến phát triển tốt trong tương lai cùng với du lịch mua sắm,
du lịch sinh thái và du lịch văn hóa. Lần đầu tiên ngành du lịch thành phố có gian hàng
giới thiệu tiềm năng du lịch MICE tại hội chợ IMEX 2010, hội chợ chuyên về MICE
tại Phrăng-phuốc (Đức) vào tháng 5 vừa qua. Còn Thủ đô Hà Nội được bình chọn là
một trong năm thành phố tốt nhất châu Á. Thời gian qua, Hà Nội luôn được chọn để
tổ chức sự kiện lớn của khu vực và quốc tế, gắn kết với nhiều chương trình du lịch.
Trong hơn chín tháng năm 2010, Hà Nội đã đón khoảng chín triệu lượt khách nội địa
(tăng khoảng 40% so với cùng kỳ năm trước) và 960 nghìn lượt khách quốc tế (tăng
15%). Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, dự kiến, trong năm nay, Hà Nội
sẽ đón 1,4 triệu lượt khách quốc tế và 11 triệu lượt khách nội địa.
Với cảnh quan thiên nhiên đẹp, cơ sở hạ tầng du lịch khá phát triển (khách sạn cao
cấp, các trung tâm hội nghị tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống giao thông thuận tiện...),
thành phố biển Nha Trang (Khánh Hòa) có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch
MICE. Minh chứng cho sự thu hút khách quốc tế đến Nha Trang có thể thấy qua
những sự kiện văn hóa như Festival biển, các cuộc thi hoa hậu trong nước, quốc tế.
Bên cạnh đó, số lượng tour MICE được các hãng lữ hành trong nước và quốc tế cũng
đưa về Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và thành phố hoa Đà Lạt ngày càng
tăng, mở ra triển vọng mới về thu hút khách du lịch những điểm đến này. Các chuyên
gia nhận định, du lịch miền trung hoàn toàn có khả năng tổ chức những sự kiện lớn.
Ngoài phong cảnh, biển, văn hóa đặc trưng... du lịch miền trung còn có cơ sở hạ tầng
là các khu resort đủ tiêu chuẩn phục vụ các yêu cầu của MICE. Đây là điểm đ ến
thích hợp các hoạt động rèn luyện làm việc theo nhóm (team building), tiệc ngoài trời,



39
nghỉ dưỡng sau khi khách đã tham dự hội thảo, hội chợ thương mại tại các thành phố
lớn ở Việt Nam.
Liên kết du lịch và dịch vụ
Nhu cầu du lịch MICE của du khách ngày càng tăng trong ba năm gần đây. Dự báo du
lịch MICE tại Việt Nam sẽ tăng trưởng tốt trên cơ sở điều kiện cơ sở hạ tầng du
lịch của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Lượng khách đến Việt Nam thông qua
MICE, tìm kiếm cơ hội đầu tư phát triển mạnh. Vì thế, việc khai thác du l ịch MICE
hiệu quả sẽ mang lại những lợi ích không chỉ trong lĩnh vực kinh doanh du lịch mà
còn mở ra nhiều cơ hội để tiếp cận và phát triển kinh tế - xã hội trong nhi ều lĩnh
vực thông qua các sự kiện hội họp, đặc biệt là những sự kiện mang tính quốc tế.
Cơ hội cho du lịch MICE đang mở ra, nhưng đặt ra nhiều thách thức cho ngành du
lịch. MICE là mảng thị trường rất quan trọng mà các nước trong khu vực như Xin-ga-
po, Thái-lan, Ma-lai-xi-a, Trung Quốc đang quan tâm, đầu tư phát triển, là chìa khóa
mở cửa phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp không khói. Kinh nghiệm từ hoạt
động du lịch MICE ở các nước này có thể giúp cho việc phát triển du lịch MICE t ại
Việt Nam. Đáp ứng lượng khách MICE ngày càng tăng, hàng không, khách sạn, resort,
nhân lực... cần phải có sự phát triển đồng bộ.
Thực tế là nhiều điểm đến phát triển về các cơ sở lưu trú, nhưng lượng chi tiêu của
khách MICE chưa nhiều vì thiếu các điểm mua sắm cao cấp. Vì thế, giải pháp để thu
hút và phát triển loại hình du lịch MICE của các địa phương là tập trung vào tăng
cường công tác quảng bá tiếp thị du lịch; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du l ịch và
các dịch vụ hỗ trợ... Điều quan trọng là du lịch Việt Nam phải tăng cường quảng bá
và giới thiệu tiềm năng này cho du khách và các đối tác du l ịch. Bên cạnh l ượng
khách đến từ nước ngoài, các công ty du lịch cũng cần chú ý đến lượng khách MICE
trong nước. Việc khai thác và phát triển du lịch MICE đòi hỏi phải có sự liên kết giữa
các doanh nghiệp du lịch, liên kết giữa ngành du lịch với chính quyền địa phương
nhằm xây dựng thương hiệu phù hợp với nhiều yếu tố, từ an ninh trật tự, vệ sinh
môi trường, cảnh quan đến các chương trình du lịch thu hút khách trong và ngoài
nước.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch trong những năm qua, lực lượng
lao động cũng tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, trước
yêu cầu phát triển của ngành du lịch và xu thế hội nhập quốc tế, nhiều vấn đề đang
đặt ra đối với sự phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Hiện tại toàn bộ lao động du lịch có khoảng 1.224.096 người, trong đó lao động trực
tiếp hơn 234.000 người (chiếm 19%). Nếu so với tổng số lao động toàn quốc thì lao
động du lịch chỉ chiếm chưa đến 3%. Theo đánh giá chung của ngành Du lịch Việt
Nam, số lượng nguồn nhân lực trên thực sự chưa đáp ứng đủ nhu cầu hiện tại, đặc

40
biệt ở các doanh nghiệp mới thành lập hoặc mở rộng, ở các tỉnh đồng bằng hoặc
vùng miền núi. Ở nhiều sở Du lịch hoặc sở Thương mại - Du lịch, lực lượng cán bộ
quản lý nhà nước về du lịch còn rất mỏng, do đó hiệu quả công tác quản lý còn r ất
hạn chế. Lao động du lịch phân bố không đồng đều giữa các vùng.
Đến năm 2010, để đón được 5,5 - 6 triệu lượt khách quốc tế, 25 triệu lượt khách nội
địa và đạt mức thu nhập từ 4 - 4,5 tỷ USD, cần có một lực lượng lao động trực tiếp
trong du lịch là hơn 333.000 người. Như vậy, trong 3 -4 năm tới cần phải thu hút và
đào tạo mới cho khoảng 100.000 lao động du lịch, chưa kể hơn 50% số lao động
hiện có chưa được đào tạo và một bộ phận lớn lao động cần phải đào tạo lại. Đó là
con số không nhỏ và cũng là một nhiệm vụ không hề nhẹ nhàng và đơn giản đối với
công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch Việt Nam.
Nói về chất lượng của nguồn nhân lực du lịch Việt Nam thực chất cũng còn nhiều
điều phải bàn như trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ. S ố
lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm 30% trong tổng số lao động. Tỷ
lệ này có thể còn tồn tại trong một thời gian dài, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng
sông Cửu Long, nơi mà phần lớn người dân sống nhờ vào nguồn du lịch sông nước
nên hầu như “người người làm du lịch, nhà nhà làm du lịch”.
Tỷ lệ lao động có chuyên môn, nghiệp vụ về du lịch còn thấp, chỉ chiếm khoảng
43% tổng số lao động du lịch. Còn phần lớn là lao động từ ngành khác chuy ển sang
hoặc lao động chưa qua đào tạo, bồi dưỡng. Trong tổng số lao động được đào tạo từ
sơ cấp, trung cấp đến cao đẳng là 47,3%. Tỷ lệ được đào tạo đại học và sau đại học
là 7,4%. Tỷ lệ lao động được bồi dưỡng kiến thức về du lịch là 45,3%. Qua số liệu
trên có thể thấy rằng hơn một nửa số lao động trong du lịch là không có chuyên môn,
nghiệp vụ. Thậm chí, ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 80% lao động chưa
qua đào tạo, bồi dưỡng về du lịch.
Với doanh nghiệp (DN) du lịch, bên cạnh nhiều DN có đội ngũ quản lý với trình đ ộ
chuyên môn cao thì ở nhiều DN đội ngũ quản lý còn thiếu kiến thức về quản trị kinh
doanh du lịch, thậm chí không hề có chuyên môn, nghiệp vụ về du lịch. Điều này
cũng khá phổ biến ở nhiều DN du lịch thuộc sở hữu Nhà nước và đặc biệt là các DN
tư nhân ở nhiều địa phương. Trình độ, tay nghề của một bộ phận lớn lực lượng lao
động trực tiếp còn hạn chế, tính chuyên nghiệp chưa cao, phục vụ du lịch còn theo
thói quen, theo kinh nghiệm và chủ yếu theo bản năng tự nhiên.
Hơn một nửa lao động làm việc trong du lịch lại không có ngoại ngữ, đây là một hạn
chế rất lớn của du lịch Việt Nam. Trình độ ngoại ngữ có thể nói là công c ụ tối cần
thiết để người làm du lịch tiếp cận với du khách quốc tế. Số lao động biết ít nhất
một ngoại ngữ chiếm 45% tổng số lao động (trong đó chủ yếu biết tiếng Anh
40,87%, tiếng Trung 4,59%, tiếng Pháp 4,09%, các thứ tiếng khác là 4,18%). Ngay

41
cả số lao động biết tiếng Anh cũng chỉ có 15% ở trình độ đại học, còn lại là ở trình
độ A, B, C. Số lao động biết 2 ngoại ngữ trở lên khoảng 28%.
Tất cả những hạn chế trên đã tác động rất lớn đến chất lượng dịch vụ du lịch, đ ến
sự phát triển của du lịch Việt Nam trong thời gian qua. Đó cũng chính là “rào cản”
đối với quá trình hội nhập quốc tế của du lịch Việt Nam.


Theo GS, TS Nguyễn Văn Đính, Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội,
nguyên nhân của những hạn chế trên có cả những nguyên nhân chủ quan và khách
quan. Có thể nói là do chúng ta chưa nhận thức được được đầy đủ về vai trò và tầm
quan trọng của nguồn nhân lực (yếu tố con người) trong phát triển du lịch, chưa có
các chính sách, giải pháp kịp thời, chưa đầu tư đúng về tài chính, cơ sở vật chất - kỹ
thuật cho phát triển nguồn nhân lực du lịch. Điều này thể hiện ở cả một số chính
quyền địa phương và ở nhiều doanh nghiệp.


Để đưa du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, chúng ta cần nhiều
giải pháp đồng bộ. Trong đó, một yếu tố vô cùng quan trọng là chúng ta cần quan tâm
chú trọng hơn cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực du l ịch. Chúng ta có nhi ều đ ịa
danh đẹp, hấp dẫn nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần để thu hút khách du lịch còn
yếu tố con người mới là điều kiện đủ để lôi cuốn du khách đ ến với du l ịch th ường
xuyên.
Thị trường mục tiêu & những nhầm
lẫn đáng tiếc
Nguồn tin: Doanh Nhân Sài Gòn Cuối Tuần
Nhầm lẫn về thị trường mục tiêu
Doanh nghiệp cần phải chọn một thị
trường mục tiêu không chỉ “cần” đến
sản phẩm của doanh nghiệp mà còn
phải “muốn” có sản phẩm đó và có
khả năng chi trả...". Để giữ vững vị thế
cạnh tranh trên thị trường, doanh
nghiệp phải liên tục tìm cách làm cho
các khách hàng mục tiêu nhớ đến
mình.

Theo Michele Pariza Wacek, tác giả
của cuốn sách Got Ideas? Unleash
Your Creativity and Make More Money
(tạm dịch: Hãy giải phóng sức sáng
tạo của bạn và làm giàu), trong việc
xác định thị trường mục tiêu và tiếp
cận với khách hàng mục tiêu, các
doanh nghiệp thường mắc phải một số sai lầm sau:

1 Thị trường mục tiêu quá rộng.

Ngay cả khi sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp có thể mang l ại lợi ích cho m ọi khách hàng thì
không phải ai cũng có ý định mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ đó. Có thể vì h ọ không có đ ủ ti ền

42
hay họ không quan tâm. Khi doanh nghiệp cố gắng ti ếp cận với t ất cả các đối t ượng đ ể làm hài lòng
tất cả mọi người thì kết quả cuối cùng là doanh nghiệp chẳng thể thỏa mãn ai. Để ti ếp th ị có hi ệu
quả, doanh nghiệp cần phải thu hẹp thị trường mục tiêu để có thể ti ếp cận với m ột nhóm khách hàng
cụ thể.

2 Xác định sai thị trường mục tiêu.

Trường hợp này xảy ra khi các khách hàng mà doanh nghi ệp cho là “m ục tiêu” l ại ch ẳng hề quan tâm
gì đến sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp hoặc không có tiền để mua. Ở trường h ợp th ứ nh ất,
khách hàng thiếu sự quan tâm là do doanh nghiệp đã hiểu không đúng khái ni ệm “nhu c ầu”. Ch ẳng
hạn, doanh nghiệp muốn mở một câu lạc bộ tập yoga và muốn nhắm đến đ ối t ượng khách hàng là
những người giàu có và nhàn cư. Rõ ràng những người này cần tập yoga đ ể tăng cường s ức khỏe,
nhưng họ có thật sự muốn tập yoga hay không lại là vấn đề khác. Trường hợp th ứ hai – khách hàng
không có đủ tiền, cho dù họ thật sự muốn có được cái mà doanh nghi ệp đang chào bán. Ch ẳng h ạn,
doanh nghiệp mở dịch vụ spa cao cấp nhưng lại muốn tiếp thị cho các cô giáo. T ất nhiên h ọ mong
muốn được giải tỏa stress bằng các liệu pháp thư giãn nhưng ít người trong s ố h ọ có khả năng tài
chính để làm điều đó.Tóm lại, doanh nghiệp cần phải chọn một th ị trường m ục tiêu không ch ỉ “c ần”
đến sản phẩm của doanh nghiệp mà còn phải “muốn” có sản phẩm đó và có kh ả năng chi tr ả.

3 Đi tìm khách hàng mục tiêu ở những nơi không phù hợp.

Khi đã biết được khách hàng mục tiêu của mình là ai, doanh nghi ệp c ần ph ải đem s ản ph ẩm hay d ịch
vụ của mình đến với họ chứ không phải chờ cho họ đến với mình. Điều đó cũng có nghĩa là doanh
nghiệp không phải mất nhiều thời gian ở những nơi không có sự xuất hiện của các khách hàng m ục
tiêu. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp chọn khách hàng mục tiêu là nh ững công ty trong danh sách 500
công ty lớn nhất thì việc tiếp thị thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp ở đ ịa ph ương ch ưa
hẳn đã có tác dụng. Thay vào đó, tiếp thị bằng thư trực ti ếp có thể mang l ại tác d ụng t ốt h ơn.

4 Thông điệp tiếp thị không có sức lôi cuốn.

Nhầm lẫn về thị trường mục tiêuNếu doanh nghiệp đã xác định đúng thi trường m ục tiêu và bi ết đ ược
cách làm thế nào để tiếp cận các khách hàng trong thị trường này, nh ưng v ẫn ch ưa đ ạt đ ược k ết qu ả
gì trong các hoạt động tiếp thị thì có thể thông điệp tiếp thị của doanh nghi ệp đang có v ấn đ ề. Khách
hàng có rất nhiều lựa chọn trong việc tiêu tiền nên doanh nghiệp ph ải đ ưa ra lý do có s ức thuy ết
phục, lôi cuốn họ đến với sản phẩm hay sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp.

Đó là trường hợp doanh nghiệp chỉ chạy một chương trình quảng cáo, th ực hiện một chi ến d ịch ti ếp
thị bằng thư điện tử hay danh thiếp… rồi bỏ lửng các nỗ lực tiếp xúc với các khách hàng m ục tiêu
trong một thời gian dài. Trong những trường hợp như vậy, daonh nghi ệp khó có thể đạt đ ược ý đ ồ làm
chủ thị trường của mình


Băt nhip cung sự nghiêp đôi mới cua đât nước hơn 20 năm qua, nganh Du lich đã có
́ ̣ ̀ ̣ ̉ ̉ ́ ̀ ̣
nhiêu tiên bộ và đat được những thanh tựu đang ghi nhân. Những chỉ tiêu về l ượng
̀ ́ ̣ ̀ ́ ̣
khach, thu nhâp, tỷ trong GDP và viêc lam đã khăng đinh vai trò cua nganh Du lich
́ ̣ ̣ ̣ ̀ ̉ ̣ ̉ ̀ ̣
trong nên kinh tế quôc dân.
̀ ́
Không thể phủ nhân, nganh Du lich đã gop phân quan trong vao tăng trưởng kinh tê,
̣ ̀ ̣ ́ ̀ ̣ ̀ ́
xoá đoi, giam ngheo, đam bao an sinh xã hôi, bao tôn và phat huy giá trị văn hóa, bao vệ
́ ̉ ̀ ̉ ̉ ̣ ̉̀ ́ ̉
môi trường và giữ vững an ninh, quôc phong. Bên canh những thanh tựu đat được, ́ ̀ ̣ ̀ ̣
nganh Du lich còn bôc lộ nhiêu hạn chế và bất cập; nhiêu khó khăn, trở ngai vân chưa
̀ ̣ ̣ ̀ ̀ ̣̃
được giai quyết thoả đang; chưa có bước phát triển đột phá để khăng đinh thực sự là
̉ ́ ̉ ̣
ngành kinh tế mũi nhọn; hiêu quả phat triên chưa tương xứng với tiềm năng và l ợi
̣ ́ ̉
thế của đất nước, phat triên nhưng vân ân chứa nhiêu yêu tố thiêu bên vững. Xu
́ ̉ ̃̉ ̀ ́ ́ ̀
hướng hôi nhâp, hợp tac, canh tranh toan câu, giao lưu mở rông và tăng cường ứng
̣ ̣ ́ ̣ ̀ ̀ ̣
dung khoa hoc công nghệ trong nên kinh tế tri thức trên thế giới đang tao những cơ hôi
̣ ̣ ̀ ̣ ̣
to lớn đông thời cung là thach thức đôi với phat triên Du lich Viêt Nam.
̀ ̃ ́ ́ ́ ̉ ̣ ̣

43
Kêt quả nghiên cứu cua Viên Nghiên cứu Phat triên Du lich (ITDR) cho thây, bai hoc
́ ̉ ̣ ́ ̉ ̣ ́ ̀ ̣
rut ra từ những thanh công và han chê, bât câp thời gian qua cân xac đinh bước đôt phá
́ ̀ ̣ ̣́́ ̀ ̣́ ̣
căn ban cho giai đoan tới la: thứ nhât, phai lây hiệu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội và
̉ ̣ ̀ ́ ̉́
môi trường là mục tiêu tông thể của phat triên; thứ hai, chât lượng và thương hiêu là ̉ ́ ̉ ́ ̣
yêu tố quyêt đinh; thứ ba, doanh nghiêp là đông lực đon bây cho phat triên và thứ tư,
́ ̣́ ̣ ̣ ̀ ̉ ́ ̉
cân phân câp manh về quan lý và phi tâp trung về không gian là phương châm.
̀ ́ ̣ ̉ ̣
Điêm đôt phá trong đinh hướng phat triên Du lich Việt Nam thâp kỷ tới là tâp trung
̉ ̣ ̣ ́ ̉ ̣ ̣ ̣
phat triên du lich theo hướng có chât lượng, có thương hiêu, chuyên nghiêp, hiên đai;
́ ̉ ̣ ́ ̣ ̣ ̣ ̣
khai thac tôi ưu nguôn lực và lợi thế quôc gia; phat huy tinh liên nganh, liên vung và xã
́́ ̀ ́ ́ ́ ̀ ̀
hôi hoa vai trò đông lực cua cac doanh nghiêp. Đinh hướng cơ ban đôi với cac linh vực
̣́ ̣ ̉ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ́̃
̣ ́̀
trong yêu la:
Đôi với phat triên san phâm và đinh hướng thị trường sẽ tập trung xây dựng hệ thông
́ ́ ̉ ̉ ̉ ̣ ́
sản phẩm, loai hinh du lịch đặc trưng và chất lượng cao trên cơ sở phát huy giá trị tài ̣̀
nguyên du lịch độc đáo, đặc sắc, có thế mạnh nôi trôi. Ưu tiên phat triên du lich biên ̉ ̣ ́ ̉ ̣ ̉
là thế manh nôi trôi quôc gia; phat triên du lich văn hoa lam nên tang, phat triên du lich
̣ ̉ ̣ ́ ́ ̉ ̣ ́̀ ̀̉ ́ ̉ ̣
sinh thai, du lich xanh, du lich có trach nhiêm; liên kêt phat triên san phâm khu vực găn
́ ̣ ̣ ́ ̣ ́ ́ ̉ ̉ ̉ ́
với cac hanh lang kinh tê. ́ ̀ ́
Xac đinh thị trường muc tiêu với phân đoan thị trường theo muc đich du lich và khả
́ ̣ ̣ ̣ ̣ ́ ̣
năng thanh toan; ưu tiên thu hut khách du lịch có khả năng chi trả cao, có muc đich du ́ ́ ̣́
lich thuân tuy, lưu trú dài ngày. Phát triển mạnh thị trường nội địa, chú trọng khach
̣ ̀ ́ ́
nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần, công vu, mua săm. Đôi với thị trường ̣ ́ ́
quôc tế tâp trung thu hút phát triển mạnh thị trường khách quốc tế gần: Đông Băc Á
́ ̣ ́
(Trung Quôc, Nhât Ban, Han Quôc), Đông Nam Á và Thai Binh Dương (Singapore, ́ ̣ ̉ ̀ ́ ́ ̀
Malaysia, Indonesia, Thai Lan, Australia); Tăng cường khai thac thị trường khach cao ́ ́ ́
câp đên từ Tây Âu (Phap, Đức, Anh, Hà Lan, Y, Tây Ban Nha, Scandinavia), Băc Mỹ
́ ́ ́ ́ ́
(My, Canada) và Đông Âu (Nga, Ucraina); mở rông thị trường mới từ Trung Đông.
̃ ̣
Đôi với phat triên thương hiêu cân tập trung phát triển một số thương hiệu du lịch
́ ́ ̉ ̣ ̀
nổi bật trong khu vực và trên thế giới, hướng tới việc tạo dựng thương hiệu Du lịch
Việt Nam. Trước hêt, Nhà nước cân tâp trung hỗ trợ phat triên cac thương hiêu du lich ́ ̣̀ ́ ̉ ́ ̣ ̣
có tiêm năng như: Saigontourist, Vinpearl Land, Hạ Long, Phú Quôc, Mui Ne, Hôi An,
̀ ́ ̃ ́ ̣
Huê, Sapa, Đà Lat. ́ ̣
Linh vực xuc tiên quang bá cân tập trung đây manh và chuyên nghiêp hoa hoạt động
̃ ́ ́ ̉ ̀ ̉ ̣ ̣ ́
xúc tiến quảng bá nhăm vao thị trường muc tiêu theo hướng lấy điêm đên, sản phẩm ̀ ̀ ̣ ̉ ́
du lịch và thương hiệu du lịch làm đôi tượng xuc tiên trọng tâm. Cơ quan xuc tiên du ́ ́ ́ ́ ́
lich quôc gia có vai trò chủ đao trong viêc hoach đinh chương trinh xuc tiên quang bá
̣ ́ ̣ ̣ ̣ ̣ ̀ ́ ́ ̉
quôc gia và huy đông cac tổ chức, doanh nghiêp chủ đông tham gia theo cơ chế “cung
́ ̣ ́ ̣ ̣ ̀
̣ ̀ ̉
muc tiêu, cung chia se”
Đôi với phat triên nguôn nhân lực cân xây dựng lực lượng lao động du lịch đap ứng
́ ́ ̉ ̀ ̀ ́
yêu câu về chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo để đam bao
̀ ̉ ̉
tinh chuyên nghiêp, đủ sức cạnh tranh và hội nhập khu vực, góp phần nâng cao chất
́ ̣
lượng dịch vụ du lịch, đap ứng nhu câu xã hôi; tâp trung đao tao nhân lực bâc cao, đôi ́ ̀ ̣ ̣ ̣̀ ̣ ̣
ngũ quan ly, hinh thanh lực lượng “may cai” để thuc đây chuyên giao, đao tao tai chỗ
̉ ́̀ ̀ ́ ́ ́ ̉ ̉ ̣̣̀
và đao tao, huân luyên theo yêu câu công viêc. ̣̀ ́ ̣ ̀ ̣
Phat triên du lich theo vung lanh thổ cân đinh hướng và tổ chức phát triển du lịch trên
́ ̉ ̣ ̀ ̃ ̀ ̣
cac vùng lanh thổ phù hợp với đặc điểm tài nguyên du lịch găn với vung kinh tê, vung
́ ̃ ́ ̀ ́̀
văn hóa, vung đia ly, khí hâu và các hành lang kinh tế; trong đó có các địa bàn trong
̀ ̣ ́ ̣ ̣
điêm du lich tạo thành các cụm liên kết phát triển mạnh về du lịch. Vung phát triển
̉ ̣ ̀
44
du lịch có không gian và quy mô phù hợp, có đăc điêm thuân nhât về tài nguyên, địa lý ̣ ̉ ̀ ́
và hiện trạng phát triển du lịch; tăng cường khai thac yêu tố tương đông và bổ tr ợ ́ ́ ̀
trong vung, yêu tố đăc trưng cua vung và liên kêt khai thac yêu tố liên vung để phat
̀ ́ ̣ ̉ ̀ ́ ́ ́ ̀ ́
triên manh san phâm đăc thu, tạo các thương hiệu du lịch vung. Tâp trung ưu tiên phat
̉ ̣ ̉ ̉ ̣ ̀ ̀ ̣ ́
triên cac đia ban trong điêm, điêm đên nôi bât trong môi vung, có môi tương quan bổ
̉ ́ ̣ ̀ ̣ ̉ ̉ ́ ̉ ̣ ̃ ̀ ́
trợ liên kêt nôi vung và liên vung. ̣́̀ ̀
Linh vực đâu tư phat triên du lich cân tập trung đâu tư có trong tâm, trong điêm nâng
̃ ̀ ́ ̉ ̣ ̀ ̀ ̣ ̣ ̉
cao năng lực và chất lượng cung ứng du lịch, tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tâng, ̀
xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch. Cac chương trinh ưu tiên cân tâp ́ ̀ ̣̀
trung đâu tư: Chương trinh đâu tư hạ tâng du lich; Chương trinh phat triên nguôn nhân
̀ ̀ ̀ ̀ ̣ ̀ ́ ̉ ̀
lực du lich; Chương trinh xuc tiên quang bá du lich; Chương trinh phat triên thương
̣ ̀ ́ ́ ̉ ̣ ̀ ́ ̉
hiêu du lich; Đề an phat triên du lich biên, đao và vung ven biên; Đề an phat triên du
̣ ̣ ́ ́ ̉ ̣ ̉ ̉ ̀ ̉ ́ ́ ̉
lich biên giới; Đề an phat triên du lich công đông, du lich sinh thai; Chương trinh ứng
̣ ́ ́ ̉ ̣ ̣ ̀ ̣ ́ ̀
phó với biên đôi khí hâu; Quy hoach tông thể phat triên du lich cả nước, quy hoach phat
́ ̉ ̣ ̣ ̉ ́ ̉ ̣ ̣ ́
triên du lịch theo vung và khu du lich quôc gia; Chương trinh điêu tra, đanh gia, phân
̉ ̀ ̣ ́ ̀ ̀ ́ ́
loai và xây dựng cơ sở dữ liêu về tai nguyên du lich và tai khoan vệ tinh du lich.
̣ ̣ ̀ ̣ ̀ ̉ ̣
Để hiên thực hoa những đinh hướng phat triên nêu trên cân có giai phap triêt để từ phia
̣ ́ ̣ ́ ̉ ̀ ̉ ́ ̣ ́
Nhà nước. Trước hêt cân hoan thiên cơ chê, chinh sach theo hướng khuyên khich phat ́̀ ̀ ̣ ́ ́ ́ ́ ́ ́
triên; tăng cường hợp tac giữa khu vực công và khu vực tư nhân, phân câp manh về cơ
̉ ́ ́ ̣
sở, khai thac tôt tinh chủ đông, năng đông cua doanh nghiêp, công đông và vai trò kêt
́ ́́ ̣ ̣ ̉ ̣ ̣ ̀ ́
nôi cua hôi nghề nghiêp; tăng cường kiêm soat chât lượng, bao vệ và tôn vinh thương
́̉ ̣ ̣ ̉ ́ ́ ̉
hiêu; huy đông tôi đa nguôn lực về tai nguyên, tri thức, tai chinh trong và ngoai nước,
̣ ̣ ́ ̀ ̀ ̀ ́ ̀
tăng cường hợp tac quôc tế và ứng dung khoa hoc công nghê, đăc biêt là trong phat
́ ́ ̣ ̣ ̣ ̣ ̣ ́
triên thương hiêu và xuc tiên quang ba. Về tổ chức quan lý cân có giai phap tăng cường
̉ ̣ ́ ́ ̉ ́ ̉ ̀ ̉ ́
năng lực và hiêu quả quan lý ở môi câp và liên nganh, liên vung, nâng cao nhân thức,
̣ ̉ ̃́ ̀ ̀ ̣
đây manh hoat đông xuc tiên quôc gia; hinh thanh những tâp đoan, tông công ty du lich
̉ ̣ ̣ ̣ ́ ́ ́ ̀ ̀ ̣ ̀ ̉ ̣
có tiêm lực manh, thương hiêu nôi bât.
̀ ̣ ̣ ̣̉
TS. Hà Văn Siêu - Viên trưởng Viên Nghiên cứu Phat triên Du lich ̣ ̣ ́ ̉ ̣

Xác định thị trường trọng điểm và dự báo tiềm năng phát triển đúng sẽ giúp cho các
nhà hoạch định chính sách du lịch định ra chiến lược phát triển cũng như mục tiêu, kế
hoạch phấn đấu của du lịch Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể một cách khoa
học và sát với thực tế; đồng thời có biện pháp giữ vững và phát triển thị trường
truyền thống, thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế đến Việt Nam.
Thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam được xác định chủ yếu là từ các
nước và vùng lãnh thổ ở Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc); khu
vực Tây Âu (Pháp, Anh, Đức) và từ các châu lục khác như Mỹ, Úc. Sự gia tăng nhanh
chóng lượng khách du lịch đến từ các nước trong khu vực ASEAN như Campuchia,
Thái Lan, Malaysia, Singapore trong khoảng 2-3 năm trở lại đây cũng làm phong phú
thêm thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Theo nhận định của ngành du lịch: các thị trường truyền thống của du lịch Việt Nam
vẫn giữ được đà tăng trưởng đều và vẫn là các thị trường quan trọng hàng đầu trong
yêu cầu thu hút khách. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng của các thị trường mới trong khu
vực cũng là xu thế quan trọng. Đáp ứng các sản phẩm du lịch cho thị trường truyền
thống cũng như nhu cầu của thị trường mới nổi đang là nhiệm vụ của ngành Du lịch
Việt Nam .


45
Theo thống kê của Phòng thị trường và sản phẩm du lịch thuộc Viện Nghiên cứu Phát
triển Du lịch cho thấy: nguồn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chủ yếu từ châu
Âu, Bắc Mỹ, Bắc Á. Năm 2004, có sự tham gia của thị trường mới nổi là thị trường
Hàn Quốc; thị trường này nhanh chóng vươn lên vị trí thứ 2 trong nhóm 10 thị trường
trọng điểm giai đoạn từ năm 2006-2008 và năm 2009 bị thị trường khách Mỹ soán
ngôi vị. Đối với hiện tượng thị trường khách Hàn Quốc, sự tăng trưởng của thị
trường này trong các năm 2006-2007 là 30%/năm. Tuy vậy, Việt Nam cũng chỉ đón
được 3,75% trong tổng số 8 triệu người dân Hàn Quốc đi du lịch nước ngoài.
Bên cạnh đó, với chính sách miễn VISA cho khách quốc tế đến Việt Nam đã tạo sự
“xâm nhập” của 2 thị trường khách du lịch trong khu vực đến Việt Nam là Thái Lan
và Campuchia; tiếp theo là lượng du khách hàng năm đến Việt Nam từ Malaysia,
Singapore. Các thị trường khách nói trên luôn giữ được sự tăng trưởng và chiếm tỷ
trọng đáng kể, giữ vị trí trong danh sách 10 thị trường dẫn đầu cho đến nay.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2008 đã tác động không nhỏ đến ngành
du lịch thế giới cũng như với du lịch Việt Nam. Năm 2008, du lịch Việt Nam chỉ đạt
ở con số 4.253.740 lượt khách quốc tế (tăng gần 1% so với năm 2007). Năm 2009,
lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam vẫn trong tình trạng sụt giảm và nguồn
chủ yếu vẫn là các thị trường trọng điểm. Năm 2010, Việt Nam đạt con số hơn 5
triệu khách du lịch quốc tế.
Thị trường khách du lịch truyền thống từ Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn quốc,
Đài Loan) luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam.
Đặc biệt, khách du lịch Trung Quốc tuy có lúc tăng giảm về số lượng nhưng luôn
đứng đầu bảng trong các thị trường khách quốc tế đến Việt Nam. Thị trường khách
du lịch Nhật Bản vẫn tăng trưởng đều. Thị trường mới nổi là Hàn Quốc cũng nằm
trong danh sách các thị trường hàng đầu đến Việt Nam. Thị trường Bắc Mỹ có tốc
độ tăng trưởng và mức thu hút khá lớn với Việt Nam. Khách Mỹ chủ yếu là các cựu
chiến binh trở lại thăm chiến trường xưa, khách Việt kiều mang Quốc tịch Mỹ về
thăm quê hương. Đây được coi là thị trường nguồn quan trọng đối với thị trường du
lịch Việt Nam.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, mấy năm gần đây, năm nào du lịch Việt Nam cũng tăng
trưởng hai con số. Đó là điều đáng mừng nhưng chúng ta vẫn có thể tăng trưởng cao
hơn nếu như không có những cản trở nội tại.

Năm 2011, ngành du lịch Malaysia dự kiến tăng 12% - tức thêm 3 triệu khách, gần
bằng 60% tổng lượng khách nước ngoài đến Việt Nam. Còn Singapore có thể tăng
mạnh nhất với mức 40%, bằng hơn 80% tổng lượng khách của Việt Nam. Trong khi
Việt Nam có tới 10 di sản thế giới thì Malaysia có ba và Singapore không có di sản
nào. Để có sự tăng trưởng ngoạn mục, trở thành đối thủ lăm le soán ngôi thứ hai của
Thái Lan, Singapore đã tập trung đầu tư vào các hạng mục giải trí “nóng” nhất hiện
nay như sòng bài và Universal Studios, chưa kể phức hợp New Sky Park hoành tráng
và độc đáo.

Nhìn lại du lịch Việt Nam, tăng trưởng nhưng thiếu ổn định. Du lịch nội địa năm
ngoái tăng hơn 20% nhưng năm nay có thể sẽ chựng lại. Khách quốc tế (inbound)
tăng nhưng chủ yếu là từ thị trường Trung Quốc và Campuchia. Du khách Trung
Quốc vào Việt Nam chủ yếu bằng đường bộ, đi ngắn ngày và chi tiêu có khi còn thua
cả khách nội địa. Khách Campuchia cũng vậy. Khách trong nước đi ra nước ngoài

46
(outbound) thì tăng tốt hơn, chủ yếu đi Singapore, Thái Lan và Malaysia, đặc biệt là
các thị trường xa như Mỹ, châu Âu…

Công bằng mà nói, ngành du lịch Việt Nam đã có nhiều cố gắng nhưng “lực bất tòng
tâm”. Nguyên nhân chính là do cơ chế chồng chéo và tình trạng mạnh ai nấy làm. Các
biện pháp thực hiện đều mang tính chủ quan, chỉ giải quyết chút ít phần ngọn. Nhiều
người cho rằng nguyên nhân do quảng bá yếu và dịch vụ kém. Dịch vụ kém thì khỏi
phải bàn, đã thế còn cục bộ, thiếu sự hợp tác. Còn quảng bá xúc tiến thì cần xem lại.
Tôi cho rằng trong điều kiện hiện nay, ưu tiên hàng đầu chưa phải là quảng cáo mà
là chấn chỉnh, “dọn dẹp nhà cửa”. Khách tới nhà thì phải chuẩn bị chu đáo, đó là
truyền thống của người Việt Nam. Thử hỏi bao nhiêu khách đến Việt Nam rồi về rủ
người khác cùng quay trở lại. Nhìn qua Singapore, khách đến New Sky Park về là tải
hình lên mạng, viết lên blog… rủ rê mọi người đưa cả nhà tới. Hay Thái Lan cũng
vậy, cứ vài tháng là có chương trình mới, vài năm là có công trình tầm cỡ.

Chẳng nước nào như nước Việt Nam, đủ loại hình công ty du lịch. Thiên hạ quản lý
ngành dọc, ta quản lý hình ngôi sao. Cũng chẳng nước nào mà đi du lịch nước ngoài
(một số tour) lại rẻ hơn du lịch trong nước như Việt Nam. Khách nước ngoài đến
Việt Nam cũng phải mua tour đắt hơn mà dịch vụ lại kém hơn. Chẳng nước nào
nhiều lễ hội và sự kiện rình rang, tốn kém như Việt Nam! Lễ hội nào cũng hoành
tráng về mặt tiền bạc, nhưng nghèo nàn về nội dung với công thức chung là sân khấu
hóa + báo cáo + một chút ẩm thực + một chút thời trang… Nghe khách về phàn nàn,
tôi thử tham dự vài lễ hội quốc gia và thề không bao giờ đưa khách tới những lễ hội
kiểu đó. Thử hỏi những lễ hội như vậy đã kéo được bao nhiêu khách du lịch đến
Việt Nam? Thay vì chia đều miếng bánh lễ hội thì tập trung kinh phí cải tạo hạ tầng
hoặc nâng cấp dịch vụ, hiệu quả thiết thực hơn nhiều.

Cơ quan quản lý nhà nước đã quản lý kém còn ôm đồm đủ thứ. Cuộc sống có quy
luật, chỉ có thể vận dụng chứ không thể tự ý thay đổi. Hơn 10 năm làm du lịch, năm
nào họp tổng kết ngành cũng chừng đó chuyện. Ăn xin và móc túi, bán hàng rong và
giựt đồ, kẹt xe và hạn chế tốc độ, thủ tục “hành là chính”, không có chỗ giải trí,
không có hàng lưu niệm đặc trưng… Vấn nạn không hề bớt mà cứ gia tăng mỗi năm.
Gần đây còn thêm cảnh ngập lụt, lô cốt, rồi rải đinh…

Khó khăn tứ bề mà du lịch vẫn tăng trưởng là điều đáng khâm phục. Sao chúng ta
không tập trung giải quyết dứt điểm từng vấn nạn theo lộ trình cụ thể. Một năm
không được thì hai năm. Ai đời, năm 2010 khách Campuchia vào Việt Nam gần nửa
triệu, tăng mạnh nhất nhưng chưa có hướng dẫn viên tiếng Khmer nào được cấp
thẻ! Khi khách Việt mới lai rai đến Thái Lan, nhận thấy đây là thị trường tiềm năng,
Tổng cục Du lịch Thái Lan đã lập tức mở lớp đào tạo hướng dẫn viên, khuyến khích
người Thái học tiếng Việt.

Tại hội thảo du lịch “Quảng Ngãi - những điểm đến kỳ thú” do Hội Nhà báo Việt
Nam, Hiệp hội Lữ hành Việt Nam và Công ty Dã ngoại Lửa Việt tổ chức mới đây,
khi chủ nhà “khoe” tiềm năng, anh Vũ Thế Bình, Chủ tịch Hiệp hội Lữ hành Việt
Nam, đã phát biểu: “Nên chấm dứt tự hào về tiềm năng theo kiểu AQ. Cái chính là
biến tiềm năng thành của cải. Không thể cứ mãi ăn vào quà tặng của thiên nhiên và
lịch sử. Muốn lấy tiền của thiên hạ thì mình phải dốc hầu bao đầu tư và mở lòng
đón họ…”.
47
Nghe vậy, có đại biểu buột miệng: “Chẳng những ăn vào quà tặng thiên nhiên và lịch
sử mà còn phá hoại bởi ‘sự dốt nát chân thật’ khi chỗ nào cũng bê tông hóa thiên
nhiên và xây mới các di tích…”. Thiên hạ sưu tầm hiện vật rồi mới xây bảo tàng và
làm song hành. Còn Việt Nam thì xây bảo tàng xong mới đi sưu tầm hiện vật. Trước
khi lập hồ sơ di sản thế giới, thiên hạ bỏ cả chục năm chuẩn bị, nâng cấp dịch vụ,
cải tạo hạ tầng, đào tạo nhân lực… và có kế hoạch cụ thể đón khách. Trong khi đó,
Hoàng thành Thăng Long và Thành nhà Hồ thì “đùng một cái” có ngay di sản văn hóa
thế giới nhưng vẫn loay hoay chưa biết khai thác thế nào…

Du lịch Việt Nam thuận lợi hay khó khăn đều do con người. Muốn tăng tốc phát triển
phải thay đổi. Vấn đề là thay đổi kiểu nào và có muốn thay đổi hay không.

Chất lượng du lịch Việt Nam

So sánh các biểu đồ bên dưới có thể thấy mức độ hài lòng về phương tiện giao
thông, liên lạc, tiện nghi ngủ, nghỉ, dịch vụ giải trí và nhân sự du lịch của du khách
nước ngoài đến Hà Nội, nơi thu hút hơn một triệu du khách năm 2006 thấp hẳn so
với các nước trong khu vực. Đây cũng chính là tình trạng chung của cả Việt Nam.
Muốn tạo đà cho du lịch phát triển, Nhà nước cần nâng cao chất lượng phương tiện
giao thông, liên lạc. Đầu năm 2006, trả lời phỏng vấn báo chí, Tổng cục trưởng
Tổng cục du lịch Việt Nam lúc đó là bà Võ Thị Thắng đã nói: “Nếu Nhà nước đã xác
định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn thì phải đầu tư tương xứng. Không thể tạo ra
bứt phá nếu cứ đầu tư ở mức độ cầm chừng. Muốn thu hút nước ngoài xây dựng các
khu vui chơi giải trí thì chúng ta phải mạnh dạn đầu tư vào cơ sở hạ tầng”. Phát biểu
này càng đúng khi du lịch Việt Nam đang đứng trước cơ hội như hiện nay. Lâu nay
đầu tư vào du lịch Việt Nam vẫn bị đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng,
chẳng hạn như ngân sách nhà nước dành cho việc quảng bá du lịch một năm chưa
đến hai triệu USD, trong khi ở Thái Lan con số này là 150 triệu USD, Malaysia là 120
triệu USD.

Riêng khu vực dịch vụ, giải trí, khu vực thu hút du khách tiêu tiền nhiều nhất lại thu
hút ít khách như vậy quả là đáng tiếc, bởi vì mức độ hài lòng của du khách về truyền
thống văn hóa rất cao, mà truyền thống văn hóa phong phú là nguồn sáng tạo cho các
sản phẩm lưu niệm, các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc, là vốn để khai
thác trong lĩnh vực dịch vụ giải trí, mua sắm. Các điệu múa dân tộc, các truyền
thuyết lịch sử của nước ta nếu được dàn dựng công phu trong một sân khấu hoành
tráng thì chắc chắn hấp dẫn không kém chương trình Alangkarn của Thái. Vấn đề ở
đây là không có ai đầu tư. Du lịch Việt Nam chỉ có thể là con gà đẻ trứng vàng nếu
được đầu tư đúng mức và đúng cách.

Với vấn đề lớn như trên, có thể chấp nhận rằng ngành du lịch không tận dụng hết
được cơ hội vì còn bị phụ thuộc vào những ngành khác, vì do cơ chế. Tuy nhiên một
cơ hội cho việc quảng bá gần đây là việc bầu chọn bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới,
trong đó vịnh Hạ Long được nhận xét là rất có khả năng. Lẽ ra ngành du lịch phải có
chương trình thậm chí là tạo một chiến dịch vận động trên các phương tiện truyền
thông để nhiều người tham gia bầu chọn, việc này nằm trong khả năng của ngành.
Thế nhưng cho đến nay hành động của Tổng cục trước cơ hội này vẫn rất mờ nhạt.
Cơ hội trong tầm tay mà còn thờ ơ vậy, chứng tỏ nhiều người làm trong ngành du
lịch chưa thật sự tâm huyết, hoặc tầm nhìn chưa đủ để nhận ra được lợi ích to lớn
48
của dịp may này. yếu tố nhân sự hết sức quan trọng trong việc tạo nên chất lượng du
lịch. Nâng cao trình độ nghiệp vụ và nhận thức của người làm du lịch là việc làm rất
cần thiết, nhất là khi mức độ hài lòng của du khách đối với nhân sự quản lý và thực
hiện trong ngành du lịch quá thấp như trong biểu đồ đã thể hiện.

Qua việc khảo sát mức độ hài lòng của du khách, có thể thấy chất lượng du lịch của
chúng ta còn ở mức rất thấp. Vẫn biết việc cải thiện chất lượng không phải là việc
ngày một ngày hai, nhưng với xuất phát điểm thấp như thế mà tốc độ tăng trưởng
chất lượng không có gì bứt phá thì bao giờ ta mới cạnh tranh được với các nước
trong khu vực? Có tiềm năng mà không đầu tư đúng mức là một sự lãng phí. Có cơ
hội mà không có sự chuẩn bị để đón nhận và tận dụng hết mức cơ hội thì đó là điều
rất đáng tiếc, bởi biết bao giờ cơ hội mới đến lần thứ hai. Trong bối cảnh hội nhập
hiện nay, khi sự tác động, ảnh hưởng qua lại giữa các quốc gia ngày càng lớn, yếu tố
may rủi hay cơ hội và nguy cơ đều sẽ ngày càng nhiều. Muốn tận dụng được cơ hội
và đối phó được với rủi ro, du lịch Việt Nam càng phải cố gắng nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình, trong đó nâng cao chất lượng dịch vụ là thiết yếu nhất.

Theo ý kiến nhiều chuyên gia kinh tế, du lịch Thái Lan sẽ còn chững lại một vài năm
nữa, cơ hội để quảng bá và thu hút du khách nước ngoài của Việt Nam lần này khá
lâu. Nhưng cơ hội chỉ mang đến sự tăng trưởng về số lượng du khách trong nhất
thời, nếu không biết tự nâng cao về chất lượng, khi cơ hội qua đi, du lịch Việt Nam
sẽ giật mình nhận ra lâu nay mình không tiến được bao xa.

(Các số liệu trong bài được lấy từ thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam




49
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản