Dùng thuốc chữa tăng lipid máu - Cần lưu ý gì?

Chia sẻ: De Khi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
93
lượt xem
14
download

Dùng thuốc chữa tăng lipid máu - Cần lưu ý gì?

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Có nhiều người bệnh điều trị ngoại trú bệnh tăng lipid máu (cholesterol cao). Sự hiểu biết về thuốc sẽ giúp người bệnh dùng đúng, tránh sai sót và đạt hiệu quả chữa bệnh cao... Thuốc thường dùng Nhóm fibrat (lypanthyl, clofibrat): thuốc làm giảm cholesterol toàn phần và triglycerid. Tuy nhiên thuốc có thể gây tổn thương cơ (hay xảy ra hơn đối với người vốn bị bệnh đau cơ lan toả), có ảnh hưởng tới gan, thận nên không dùng cho người suy gan, suy thận. Chưa có thông tin đầy đủ về ảnh hưởng của thuốc với...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Dùng thuốc chữa tăng lipid máu - Cần lưu ý gì?

  1. Dùng thuốc chữa tăng lipid máu - Cần lưu ý gì? Có nhiều người bệnh điều trị ngoại trú bệnh tăng lipid máu (cholesterol cao). Sự hiểu biết về thuốc sẽ giúp người bệnh dùng đúng, tránh sai sót và đạt hiệu quả chữa bệnh cao...
  2. Thuốc thường dùng Nhóm fibrat (lypanthyl, clofibrat): thuốc làm giảm cholesterol toàn phần và triglycerid. Tuy nhiên thuốc có thể gây tổn thương cơ (hay xảy ra hơn đối với người vốn bị bệnh đau cơ lan toả), có ảnh hưởng tới gan, thận nên không dùng cho người suy gan, suy thận. Chưa có thông tin đầy đủ về ảnh hưởng của thuốc với thai nhi và tiết sữa nên không dùng cho người có thai, cho con bú. Khi mới dùng thuốc có thể gây buồn nôn, đầy bụng, tiêu chảy, nóng rát dạ dày nhưng sau đó sẽ quen. Thuốc có thể làm tăng tỷ lệ sỏi mật. Nhóm statin (fluvastatin, atorvastatin, pravastatin): thuốc kìm hãm việc sản xuất cholesterol bằng cách ức chế enzym chủ chốt HMGCoA reductase, làm giảm cholesterol toàn phần, giảm LDL-C (cholesterol xấu), tăng HDL-C (cholesterol tốt), giảm triglycerid, tuỳ theo biệt dược, liều dùng. Do tác dụng này mà statin được chỉ định cho người tăng cholesterol (hỗ trợ với chế độ ăn uống), cho người cần dự phòng tiên phát các biến cố mạch vành (nhằm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, giảm nguy cơ tử vong do tim mạch), cho người đã vữa xơ động mạch (nhằm làm chậm sự tiến triển vữa xơ, giảm nguy cơ các biến cố mạch vành). Đa số statin hấp thụ nhanh, hoàn toàn (khoảng 98%). Tuy nhiên thuốc có thể gây tổn thương cơ (hay xảy ra hơn đối với người vốn bị bệnh đau cơ lan toả), tiêu huỷ cơ vân, có ảnh hưởng không lợi cho thận (kể cả gây suy thận thứ phát do tiêu huỷ cơ vân) và gây độc cho gan (tăng transaminase. Tuỳ theo biệt dược có thể làm gan to, gây xơ gan, gây ứ mật). Không dùng thuốc cho những người suy gan, thận. Có bằng
  3. chứng thuốc gây độc cho thai nhi, chưa có thông tin đầy đủ đối với việc tiết sữa vì thế không được dùng cho người nuôi con bú. Trong các độc tính nêu trên thì độc tính đối với cơ là quan trọng hơn cả, độc tính này tăng lên khi phối hợp statin với gemfibrozil và các thuốc nhóm fibrat. Do độc tính này, một biệt dược trong nhóm là cerivastatin đã được hãng Bayer cho rút khỏi thị trường. Nhóm resin (cholestyramin, cholestipol): bản chất là các nhựa trao đổi ion, thuốc làm giảm lượng cholesterol toàn phần, giảm LDL-C. Tuy nhiên do bản chất của thuốc chỉ là nhựa trao đổi ion nên chỉ sau khi ngừng dùng 3-6 tháng, lượng cholesterol toàn phần và LDL-C tăng trở lại. Thuốc có thể gây táo bón, nôn, tiêu chảy nhưng tự mất đi khi quen dùng. Không dùng thuốc cho người suy thận hoặc tắc mật hoàn toàn. Thuốc ngăn cản sự hấp thu một số chất (như barbituric, aspirin, hormon tuyến giáp, vancomycin, tetracyclin), vì vậy chỉ được dùng các thuốc này trước khi dùng resin 1-2 giờ hay sau khi dùng resin 4-6 giờ. Thuốc còn làm giảm sự hấp thu các vitamin tan trong dầu (vitamin A,D,E,K) nên cần bổ sung các vitamin này. Thận trọng với người có thai, cho con bú, không dùng thuốc cho trẻ em. Không được dùng thuốc dạng khan mà phải dùng với đủ một lượng chất lỏng cần thiết. Nhóm niacin (niaspan): thuốc làm giãn nở các động mạch nhỏ và mao mạch, làm giảm cholesterol máu, thường dùng phối hợp với nhóm statin. Một vài lưu ý khi dùng thuốc
  4. Tuỳ theo từng trường hợp, thầy thuốc quyết định nhóm thuốc, thời gian điều trị. Ví dụ: nếu chỉ bị rối loạn chuyển hoá cholesterol sơ phát, nhẹ có thể dùng nhóm resin, fibrat phụ trợ với việc cải thiện chế độ ăn uống, luyện tập trong một thời gian ngắn. Nhưng nếu bị rối loạn chuyển hoá cholesterol nặng có kèm thêm các nguy cơ bị bệnh tim mạch có thể chọn thuốc mạnh hơn là statin và dùng trong một thời gian dài. Không nên tự ý thay đổi nhóm thuốc và thời gian điều trị. Một đợt điều trị thường bắt đầu với liều khởi đầu, khi đã đạt được hiệu quả thì dùng liều duy trì, sau đó nếu cholesterol đã ổn định thì có thể ngừng thuốc nhưng phải duy trì chế độ ăn uống và luyện tập, định kỳ theo dõi các chỉ số cholesterol. Khi cần thiết thầy thuốc có thể chỉ định điều trị đợt khác theo tuần tự như đã làm với đợt đầu. Người bệnh không tự ý tái điều trị. Riêng trường hợp với statin, khi chỉ định điều trị lâu dài để dự phòng các biến cố tim mạch thì người bệnh không nên tự ý ngừng thuốc. Trong quá trình điều trị phải định kỳ (4 tuần/lần) xét nghiệm chỉ số các dạng cholesterol để đánh giá mức đáp ứng, điều chỉnh liều lượng), đồng thời xét nghiệm các chỉ số khác như chỉ số transaminase để đánh giá mức độ gây độc để có biện pháp xử lý kịp thời. Các thuốc cùng nhóm có cơ chế tác dụng như nhau nhưng dược động học lại khác nhau tuỳ theo biệt dược, liều dùng. Người bệnh, người bán thuốc không được tự ý thay thế thuốc cùng nhóm khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.
  5. Có thể phối hợp thuốc để tăng hiệu lực hạ cholesterol như phối hợp statin và resin, phối hợp statin với niacin nhưng cần lưu ý: nếu phối hợp với resin thì phải uống thuốc vào lúc ngủ, cách 2 giờ sau khi uống resin. Không phối hợp statin với fibrat vì tăng tính độc.
Đồng bộ tài khoản