Dùng thuốc phòng trị sốt rét cho phụ nữ mang thai

Chia sẻ: Nuquai Nuquai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
56
lượt xem
8
download

Dùng thuốc phòng trị sốt rét cho phụ nữ mang thai

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Người có thai bị sốt rét dễ bị thiếu máu, hạ đường huyết, suy thai, sảy thai, đẻ non, sinh ra trẻ thiếu cân, chậm phát triển trong giai đoạn đầu. Khi bị sốt rét, thai phụ cũng dễ bị bội nhiễm các vi khuẩn khác (viêm phổi, viêm màng não, viêm đường tiết niệu); khi sinh dễ bị phù phổi cấp, suy tim; có thể gây nhiễm sốt rét cho trẻ từ trong bào thai (sốt rét bẩm sinh)...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Dùng thuốc phòng trị sốt rét cho phụ nữ mang thai

  1. Dùng thuốc phòng trị sốt rét cho phụ nữ mang thai Dùng đúng liều điều trị, thuốc chữa sốt rét quinin không gây sẩy thai. Người có thai bị sốt rét dễ bị thiếu máu, hạ đường huyết, suy thai, sảy thai, đẻ non, sinh ra trẻ thiếu cân, chậm phát triển trong giai đoạn đầu. Khi bị sốt rét, thai phụ cũng dễ bị bội nhiễm các vi khuẩn khác (viêm phổi, viêm màng não, viêm đường tiết niệu); khi sinh dễ bị phù phổi cấp, suy tim; có thể gây nhiễm sốt rét cho trẻ từ trong bào thai (sốt rét bẩm sinh)... Khi bị sốt rét, cần chọn dùng thuốc ít gây tác hại cho thai phụ, thai nhi:
  2. - Trong trường hợp có thai bị sốt rét nhẹ. Trong 3 tháng đầu thai kì: Nếu là do nhiễm kí sinh trùng P. fanciparum thì dùng quinin uống theo công thức 7 ngày, mỗi ngày 6 viên 250mg (dạng quinin sulfat), chia ra uống 3 lần trong ngày. Nếu là do nhiễm kí sinh trùng P. vivax thì dùng chloroquin, uống theo công thức 3 ngày, liều mỗi ngày lần lượt 4-4-2 viên 250 mg (dạng chloroquin phosphat). Nếu là nhiễm phối hợp cả hai loại kí sinh trùng trên thì dùng quinin. Trong các tháng giữa, cuối thai kỳ: có thể dùng quinin, chloroquin (như trên) hay có thể dùng artesunat theo công thức 7 ngày, ngày đầu 4 viên các ngày sau 2 viên (dạng artersunat viên 50mg). +Quinin: Không gây các khuyết tật cho thai. Liều cao có thể làm tăng mạnh co bóp tử cung gây sảy thai, từng được dùng để đẩy thai bị chết lưu ra ngoài. Nhưng với liều điều trị sốt rét, quinin không gây sảy thai. Không thể lạm dùng quinin để phá thai. Có người lạm dùng, thai không bị tống ra ngoài, sau đó phát triển thành dị tật; trong khi đó bản thân thai phụ bị các tác dụng phụ khác của quinin có thể nguy hiểm đến tính mạng (hạ huyết áp, trụy tim mạch). Quinin làm tăng insulin gây hạ đường huyết, hạ huyết áp ở người mang thai. Vì thế cần ăn no, uống thêm đường sữa trước khi dùng thuốc; nếu sốt, mệt nên truyền tĩnh mạch dung dịch glucose 30%. +Chloroquin: Một vài tài liệu có nêu lên nghi ngờ chloroquin gây quái thai, làm ảnh hưởng đến thính lực, thị lực của trẻ song đến nay vẫn chưa có bằng chứng
  3. gây dị tật, hại thai, hiện nhiều nước vẫn dùng chloroquin trong phòng chống sốt rét. Chloroquin có thể gây buồn nôn, nhìn mờ, ngứa. Quinin có thể gây chóng mặt, ù tai. Ngừng thuốc, các biểu hiện này mất đi. +Artesunat có hiệu quả nhanh, chắc chắn với cả P. vivax và P. fanciparum kể cả với loại đã kháng chloroquin.Tác dụng mạnh trên thể phân liệt ít tác dụng trên thể ngoại hồng cầu, thể bào tử nên hiệu quả cắt sốt nhanh (kể cả khi rất nặng) nhưng dễ mắc lại. Chưa có thông tin rõ ràng về artesunat gây quái thai (vì mới thử nghiệm rất ít trên súc vật, chưa có kinh nghiệm lâm sàng). Trong 3 tháng đầu thai kì không được dùng artesunat. Như ta biết quinin có thể gây giảm tiểu cầu, xuất huyết cho mẹ, gây tán huyết do thiếu G6PD ở trẻ sơ sinh. Dùng artesunat trong 6 tháng giữa và cuối thai kì sẽ tránh được tác dụng không lợi của quinin. - Trong truờng hợp có thai bị sốt rét nặng, ác tính: Không cấm dùng artesunat tiêm ở 3 tháng đầu thai kì. Lí do: là trường hợp cấp cứu; lợi ích cứu sống người mẹ cao hơn nguy cơ gây dị tật thai (chưa có thông tin đầy đủ). Ngày đầu tiêm 2 lọ (1lọ/6ml chứa 60mg), 5 ngày tiếp theo1lọ. Dược thư Việt Nam ghi: “Thời kỳ mang thai: chỉ dùng quinin trong trường hợp sốt rét nặng, ác tính mà không có thuốc nào thích hợp để cứu tính mạng người bệnh”. Thực tế, các thuốc thấy có thể dùng quinin tiêm bắp, truyền tĩnh mạch cho
  4. người mang thai (kể cả ở tuần thai 30 trở đi) mà không sợ quinin gây co thắt tử cung, gây sảy thai. Tiêm bắp: 7 ngày, mỗi ngày 3 lần mỗi lần 500mg (dạng quinin clohydrat). Cần tiêm sâu, chườm nóng để tránh áp-xe. Truyền tĩnh mạch: Dùng khi người bệnh rất nặng. Phải hòa quinin clohydrat trong dung dịch natriclorid 9%o hay glucose 30%. Liều tính theo mg/kg thể trọng: lần đầu 20mg, 8giờ sau 20mg, những ngày tiếp theo 30mg. Khi người bệnh tỉnh, chuyển sang tiêm bắp hay uống. Dùng quinin tiêm bắp, truyền tĩnh mạch, nguy cơ bị hạ đường huyết, hạ huyết áp nhiều hơn khi uống, cần phối hợp truyền tĩnh mạch glucose 30% (để bù năng lượng, tăng huyết áp). Trong sốt rét ác tính, ngoài thuốc sốt rét, còn cần thuốc và kĩ thuật khác xử lí các biến cố (truỵ tim mạch, hôn mê). Tuyến dưới, chỉ tiêm một mũi artesunat hay quinin clohydrat rồi chuyển ngay lên tuyến trên. Hầu hết tử vong là do chuyển chậm. Hiện nay có dạng phối hợp CV4 ( artekin=dihydroartemisinin+ piperaquin) CV8 (artecom= như artekin+ trimethoprim) A3M (artesunat+ mefloquin). Dạng này hiệu lực mạnh (vì dihydroartemisinin có tác dụng trực tiếp lên kí sinh trùng); ít bị kháng thuốc (vì dùng chất piperaquin thay chloroquin). Nhưng vì thuốc chứa dihydroartemisinin nên không dùng trong 3 tháng đầu thai kì Người có thai bị sốt rét dễ bị sảy thai, suy thai, đẻ non. Đây là tiến triển xấu của bản thân bệnh chứ không phải do dùng thuốc. Cần biết rõ điều này, yên tâm
  5. điều trị, lường trước, xử lý kịp thời biến cố, tránh những thắc mắc không đúng khi biến cố xảy ra trùng hợp với thời gian dùng thuốc. Đánh giá không đầy đủ hiệu năng của quinin, quá lạm dụng artesunat là một trong những lí do gây nên tình trạng mất cân đối giữa hai loại thuốc này, đặc biệt là ở tuyến dưới. Cần tránh.
Đồng bộ tài khoản