Dược thảo trị chấn thương và vết thương phần mềm

Chia sẻ: Phuong Thanh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:6

0
459
lượt xem
118
download

Dược thảo trị chấn thương và vết thương phần mềm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nõn chuối tiêu, lá trầu không, bèo cái, lá sắn dây, nõn dứa... là những vị thuốc quen thuộc, dễ kiếm nhưng lại chữa rất hiệu quả các vết thương phần mềm và chấn thương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Dược thảo trị chấn thương và vết thương phần mềm

  1. Dược thảo trị chấn thương và vết thương phần mềm Nõn chuối tiêu, lá trầu không, bèo cái, lá sắn dây, nõn dứa... là những vị thuốc quen thuộc, dễ kiếm nhưng lại chữa rất hiệu quả các vết thương phần mềm và chấn thương. Cũng như y học hiện đại, cách chữa các vết thương phần mềm của y học cổ truyền cũng là cầm máu, rửa sạch vết thương, làm mất các mô hoại tử, làm mọc mô hạt, liền vết thương. Đặc điểm của cách chữa cổ truyền là áp dụng đồng thời các phương thuốc uống có tác dụng toàn thân để thúc đẩy liền vết thương và làm mất các mô hoại tử, kích thích mọc mô hạt, làm liền da (sinh cơ). Kết quả điều trị tốt và tương đối nhanh. Chữa vết thương phần mềm Cầm máu nếu có chảy máu: Dùng nõn chuối tiêu (lấy cây non cao độ 60 cm, cắt sát gốc, bỏ bẹ ngoài, cắt từng đoạn 3-4 cm),
  2. rửa sạch, giã nhỏ đắp vào vết thương chảy máu rồi băng lại. Rửa sạch vết thương: Sau khi cầm máu, rửa vết thương bằng nước thuốc: Lá trầu không tươi 40 g, đun sôi với 2 lít nước trong 15 phút, để nguội cho thêm 6 g phèn phi, hòa tan, lọc rồi rửa vết thương. Làm sạch vết thương: Làm sạch vết thương, hết nhiễm khuẩn và mủ tại chỗ, mất mô hoại tử và mùi hôi: Lá mỏ quạ tươi rửa sạch, giã nát đắp vào vết thương. Mỗi ngày thay một lần đến khi vết thương sạch, màu đỏ tươi. Làm chóng mọc mô hạt, sinh cơ và chóng liền da: Lá mỏ quạ, lá bòng bong, lá nọc sởi dùng tươi với lượng bằng nhau, bỏ cọng, rửa sạch, giã nát đắp vào vết thương, hai ngày thay băng một lần. Các bài thuốc uống có tác dụng toàn thân: Chống khát do mất máu: Lá sắn dây rửa sạch, giã nát cho vào một bát nước đun sôi để nguội, thêm ít đường và vài hạt muối, uống ngày một lần. Làm mát máu tiêu độc, chống viêm nhiễm: Lá mặt quỷ (sao vàng) 40 g, nõn dứa dại 12 g, cánh bèo cái 8 g, gừng sao cháy 4 g. Sắc uống ngày một thang. Chữa nhiễm khuẩn quanh vết thương: Lá cúc tần 40 g, lá xạ can 20 g. Rửa sạch, giã n hỏ, đắp lên chỗ lở loét quanh vết thương. Chữa đụng dập, bầm máu, sưng tấy đau Rượu xoa bóp làm khí huyết lưu thông, tiêu viêm, giảm đau, giãn gân cơ: Ô đầu, huyết giác mỗi vị 40 g, nghệ già 30 g; thiên niên
  3. kiện, địa liền mỗi vị 20 g; long não 15 g; đại hồi, quế chi mỗi vị 12 g. Tán nhỏ các vị thuốc, ngâm với một lít rượu trong một tuần. Lọc bỏ bã, thêm rượu cho vừa đủ một lít. Xoa nhẹ nhàng lên chỗ bị sưng đau. Thuốc bôi đắp làm khí huyết lưu thông, tiêu viêm, giảm đau: Bột cúc tần 800 g, bột quế chi 160 g, bột đại hoàng 80 g, sáp ong 200 g, dầu thầu dầu 2 lít. Các vị trên tán nhỏ, rây thành bột mịn, đun sôi dầu thầu dầu, cho sáp ong vào, đánh tan, rồi tắt lửa, cho bột thuốc vào đánh nhuyễn làm thành cao. Dùng đắp. Hoặc: Ngưu tất, hồng hoa, ô đầu, bán hạ, bạch phụ tử, địa liền, thương truật, đậu khấu, mỗi vị 15 g, sáp ong 20g, dầu thầu dầu 20 0ml. Tất cả các vị sao, tán thành bột, cho vào dầu thầu dầu và sáp ong nấu thành cao. Dùng vừa xoa vừa đắp. Thuốc uống trong làm khí huyết lưu thông, tiêu viêm: Lá móng tay, ngải cứu, huyết giác mỗi vị 12 g; tô mộc 10 g; nghệ 8 g. Sắc uống ngày một thang. Chữa sai khớp và bong gân Các khớp sau khi đã chỉnh hình theo phương pháp y học hiện đại, được đắp tại chỗ các vị thuốc làm lưu thông khí huyết, tiêu viêm, giảm đau: - Cây cỏ lào, dùng lá non và cành rửa sạch, sao nóng đắp vào vết thương rồi băng chặt. - Vòi voi (lá và hoa) 30 g, tỏi 1 củ, muối ăn 10 g. Tất cả rửa sạch, giã nát đắp vào chỗ sưng tấy, băng chặt. - Đu đủ xanh, lá na (mãng cầu) mỗi vị 10 g, muối ăn, vôi tôi, mỗi vị 5 g. Giã nhỏ cho vào gạc đắp lên vết thương, băng lại. - Nghệ già 20 g, lá cúc tần, lá trầu không, lá xạ can, mỗi vị 12 g.
  4. Giã nát trộn với một ít giấm, bọc gạc đắp lên nơi sưng đau, 2-3 ngày thay băng một lần. - Lá náng rửa sạch, giã nát, chưng nóng với giấm mà chườm đắp để chữa bong gân. - Củ nâu, cỏ nọc sởi, cỏ chó đẻ răng cưa, lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nát mà đắp lên trị sai khớp. - Lá cà độc dược, lá dây đau xương, rửa sạch, giã nát, chưng nóng với giấm và đắp để giảm đau. - Cốt toái bổ tươi, bóc bỏ hết lông tơ và lá khô, rửa sạch, giã nhỏ, dấp nước, gói vào lá chuối đã nướng cho mềm, đắp lên các chỗ đau, bó lại. Thay thuốc bó nhiều lần trong ngày, và thường đắp trong 3-7 ngày, để chữa bong gân tụ máu. Theo sức khỏe và đời sống Bảo vệ sức khỏe từ đôi chân Ngâm bàn chân trong nước ấm là một phương pháp dưỡng sinh cổ truyền có tác dụng trị một số bệnh như mỏi nhức chân do vận động nhiều, thúc đẩy tuần hoàn máu, giải trừ mỏi mệt… . Theo Đông y, bàn chân là gốc của cơ thể, có hơn 60 huyệt tham gia vận hành khí huyết, liên hệ với lục phủ ngũ tạng, nối liền các bộ phận quan trọng. Y học hiện đại coi bàn chân là trái tim thứ hai, dưới bàn chân có nhiều đầu mút thần kinh thông với đại não. Hai bàn chân khi bị lạnh sẽ khiến cho hoạt động của hệ tim mạch, hệ tuần hoàn kém, sức đề kháng giảm. Vì vậy, việc bảo
  5. vệ chân, nhất là kiên trì ngâm chân trong nước ấm sẽ giúp giữ nhiệt cho cơ thể, kích thích các đầu mút thần kinh phản xạ đến vỏ đại não, tăng tuần hoàn máu, điều chỉnh chức năng và trạng thái sinh lý của các tổ chức trong cơ thể. Khi ngâm chân trong nước ấm, càng ngâm sâu càng tốt, tạo một kích thích lành tính, làm hưng phấn các rễ thần kinh, giúp tăng cường trí nhớ, đem lại cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng cho chân và não, giải trừ mỏi mệt, đặc biệt hiệu quả với những người lao động chân tay, vận động cơ, xương, khớp, những người đi xa về. Cách ngâm chân: - Ngâm chân sau khi ăn một giờ, sử dụng nước ấm 40 – 50 độ C. Trong quá trình ngâm, thỉnh thoảng cần cho thêm nước nóng để giữ nhiệt. Cho thêm một ít muối hột hoặc nếu dùng cây hương liệu nên lựa chọn phương thuốc phù hợp với tình trạng bệnh. - Ngâm cả hai bàn chân trong 10-15 phút. Sau đó dùng tay xoa bóp nhẹ nhàng hai chân (mu bàn chân trước, lòng bàn chân sau) có tác dụng làm giãn nở mạch máu, giúp máu lưu thông tốt, đầu mút thần kinh được hưng phấn, tuần hoàn máu tăng nhanh, chữa đau đầu, mất ngủ,… - Dùng khăn khô lau sạch hai bàn chân. Chú ý tránh gió. - Nên ngâm vào buổi tối trước khi đi ngủ, bàn chân không phải hoạt động nhiều, các hệ cơ được thả lỏng thư giãn. - Không dùng liệu pháp ngâm rửa chân cho người bệnh sợ nước và bị chó cắn. Sau đây là một số bài thuốc ngâm chân nước nóng dựa theo y học cổ truyền dùng để chữa một số bệnh liên quan đến sự hoạt động của đôi bàn chân:
  6. - Đau gót và viêm khớp cổ chân: Dùng nước thuốc gồm thấu cốt thả, tầm cốt phong, lão hạc thảo mỗi thứ 30 g; hoàng cảo 20 g, độc hoạt 15 g, nhũ hương, mộc dược, huyết kiệt mỗi thứ 10 g, ngâm rửa chân lúc còn nóng, mỗi ngày 2 lần. - Chấn thương vùng chân: Nấu nước thuốc gồm tô mộc 30 g, tự nhiên đồng 20 g; đào nhân, huyết kiệt mỗi thứ 12 g; hồng hoa, thổ nguyên, nhũ hương, mộc dược mỗi thứ 10 g. Ngâm rửa chân lúc còn nóng. - Ung nhọt vùng chân: Dùng kim ngân hoa, liên kiều, hạ khô thảo, địa đinh mỗi thứ 20 g; công anh 30 g, hoàng liên 12 g, thương truật 12 g, đơn bì 10 g; nấu nước ngâm rửa nơi bị bệnh. - Phù chân: Dùng ô mai 100 g nấu lấy nước, chờ nguội mới ngâm rửa chân, sau đó dùng khăn sạch lau khô. Mỗi ngày ngâm 1- 3 lần. Thời gian đang điều trị và sau khi lành, bệnh nhân không được mang dép nhựa hay cao su, đảm bảo cho chân khô ráo, sạch sẽ. - Lạnh cóng vùng chân: Dùng nước nóng ngâm rửa chân mỗi tối trước khi ngủ. Có thể dùng nước thuốc gồm quế chi 15 g, phụ tử 10 g, gừng khô 15 g, ngâm rửa chân lúc nước còn nóng, mỗi ngày ngâm 2-3 lần, mỗi lần 10-15 phút. Anh Trần
Đồng bộ tài khoản