Gấc vị thuốc dân gian quý

Chia sẻ: Bacsi Bacsi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
95
lượt xem
46
download

Gấc vị thuốc dân gian quý

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cây gấc còn gọi là mộc tất tử, thổ mộc miết, mộc biệt tử, mắc cao (Vieentian), Má khâu (Thái)... Tên khoa học: Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng (Muricia cochichinensis Lour., Muricia mixta Roxb), thuộc họ bí Cucurbitaceae. Thành phần của cây gấc được dùng làm vị thuốc gồm: Hạt gấc: Mộc miết tử là hạt lấy ở quả gấc và phơi hay sấy khô. Dầu gấc: là dầu ép từ màng đỏ bọc chung quanh hạt gấc. Rễ gấc: là rễ cây gấc phơi hay sấy khô. Quả nếu nấu xôi thì dùng tươi sát với gạo, nếu để chế thuốc...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Gấc vị thuốc dân gian quý

  1. Gấc vị thuốc dân gian quý Cây gấc còn gọi là mộc tất tử, thổ mộc miết, mộc biệt tử, mắc cao (Vieentian), Má khâu (Thái)... Tên khoa học: Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng (Muricia cochichinensis Lour., Muricia mixta Roxb), thuộc họ bí Cucurbitaceae.
  2. Thành phần của cây gấc được dùng làm vị thuốc gồm: Hạt gấc: Mộc miết tử là hạt lấy ở quả gấc và phơi hay sấy khô. Dầu gấc: là dầu ép từ màng đỏ bọc chung quanh hạt gấc. Rễ gấc: là rễ cây gấc phơi hay sấy khô. Quả nếu nấu xôi thì dùng tươi sát với gạo, nếu để chế thuốc thì cần sấy hay phơi khô cả hạt và màng cho đến khi cầm hạt không thấy dính tay nữa thì dùng dao nhọn bóc lấy màng đỏ, phơi hay sấy khô ở nhiệt độ (60-700). Với màng này người ta dùng chế dầu gấc. Còn lại hạt với lớp vỏ đen cứng thì đem phơi khô để dành dùng làm thuốc hay ép dầu. Trong nhân hạt gấc có 6% nước, 2,9% chất vô cơ, 55,3% chất béo, 16,6% chất protit, 2,9% đường toàn bộ, 1,8% ta nin, 2,8% xenluloza và 11,7% chất khoáng không xác định được. Năm 1990 dược sĩ Ðinh Ngọc Lâm đã xác định trong dầu gấc có hơn 0,1p100â-caroten, lycopen, các axits béo không no (axit olêic 44p.100, palmitic 33p.100 và axit linolêic 14p.100).
  3. Như vậy so với dầu gan cá thu dầu gấc có hơn 1,81p.100â-caroten gấp 15 lần hơn so với cà rốt, uống lại thơm, ngon. Ngoài ra gấc còn có một số chất vi lượng cần thiết cho cơ thể như đồng, sắt, coban và đặc biệt kẽm (rất cần cho người bị bệnh gan mãn tính) và selenium, một chất mới được biết phát hiện có thể dùng làm thuốc để phòng hỗ trợ điều trị ung thư. Thực nghiệm trên lâm sàng đã chứng minh dầu gấc có tác dụng như những thuốc có vitamin A, đặc biệt khi bôi trên các vết thương, vết loét, làm vết thương chóng liền da. Hạt gấc: Theo các sách cổ vị đắng, hơi ngọt, tính ôn, hơi độc, vào hai kinh can và đại tràng; có tác dụng chữa mụn nhọt, tiêu thũng, dùng trong những trường hợp, bị chấn thương, sang độc, phụ nữ sưng vú, hậu môn sung thũng. Hạt gấc dùng bôi ngoài là chính, nếu uống ngày một nhân đã nướng chín.
  4. Dầu gấc: Dùng trong trường hợp cần bổ sung vitamin A ở bệnh chậm lớn ở trẻ em và một số chứng về mắt (khô mắt, quáng gà), dùng bôi lên các vết loét, làm mau lành vết thương, vết bỏng. Theo nhiều tài liệu chế phẩm dầu gấc CAGAVIT có khả năng sửa chữa sai lệch của nhiễm sắc thể, các khuyết tật về phôi thai do dioxin, phòng ung thư cho người xơ gan, hạ thấp hàm lượng AFP ở nhiều người bị gan mãn tính, giảm ảnh hưởng xấu của tia xạ độc hại. Theo kinh nghiệm của tôi uống dầu gấc cho trẻ suy dinh dưỡng thấy tăng cân nhanh, góp phần nâng cao đề kháng của cơ thể. Liều dùng: Mỗi ngày hai lần, uống trước hai bữa ăn chính mỗi lần ăn chính mỗi lần năm giọt, có thể tăng lên 25 giọt. Trẻ em 5-10 giọt mỗi ngày. Dùng ngoài dưới dạng thuốc mỡ 5-10p100 dầu gấc hay bôi bằng dầu nguyên chất (chữa bỏng).
  5. Ðơn thuốc có hạt gấc trong dân gian thường dùng: - Chữa trĩ lòi dom: Hạt gấc giã nát thêm một ít dấm thanh gói bằng vải đắp vào nơi bị trĩ (hậu môn) để suốt chừng một tuần bệnh sẽ giảm. - Chữa sưng vú: Giã nhân hạt gấc với một ít rượu (30-40o) đắp lên nơi sưng đau
Đồng bộ tài khoản