GDP QUA CÁC NĂM

Chia sẻ: paperone

Theo ông Trần Đức Khiển, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong 20 năm qua, nét nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng trưởng thấp, tích luỹ phần lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực. Việt Nam đã tạo được khả năng tích luỹ để đầu tư cho phát triển và cải thiện đời sống của người dân. Tổng tích luỹ tăng từ 9,5 – 11,3%/năm tuỳ giai đoạn. Nhưng cơ bản, Việt Nam đã đổi mới được cơ chế quản lý,...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: GDP QUA CÁC NĂM

GDP QUA CÁC NĂM

Sau 20 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền Việt Nam đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật
chất và tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm
2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đó là hai
trong số năm thành tự mà Việt Nam đạt được qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006).
Theo ông Trần Đức Khiển, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong 20 năm qua, nét
nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng trưởng thấp, tích luỹ phần lớn nhờ
vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao
trong khu vực. Việt Nam đã tạo được khả năng tích luỹ để đầu tư cho phát triển và
cải thiện đời sống của người dân. Tổng tích luỹ tăng từ 9,5 – 11,3%/năm tuỳ giai
đoạn. Nhưng cơ bản, Việt Nam đã đổi mới được cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà
Việt Nam từng bước xây dựng được vai trò của mình trong hội nhập khu vực và quốc
tế.

Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần đầu tiên, hầu hết các chỉ
tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 được hoàn thành và hoàn thành
vượt mức. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề
cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
1986 – 1990: GDP tăng 4,4%/năm. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý
cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và
giải phóng sức sản xuất.
1991 – 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suy thoái, đạt được tốc
độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện. GDP bình quân năm tăng 8,2%.
Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất
nước.

Từ năm 1996 - 2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên
tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách. Tuy
nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong
nước 7%/năm.

Năm 2000 - 2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bình
quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện
hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương
đương với 640 USD. Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu
tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm
2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về
cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.

Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là 46,3%, năm



1
2005 còn 20,9%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi đã
chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả
kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu.

Giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích ngày một tăng lên. Trong kế hoạch 5 năm 2001 -
2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giá trị tăng thêm bằng
khoảng 3,89%/năm.

Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988 là 21,6%, năm
2005 lên 41%. Từ chỗ chưa khai thác dầu
mỏ, đến nay, mỗi năm đã khai thác được Trong 20 năm qua, công tác giải quyết
khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu. Ngành việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả
công nghiệp chế tác chiếm 80% giá trị sản tốt, vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
lượng công nghiệp. Công nghiệp xây dựng của Liên hợp quốc. Từ năm 2000 đến
phát triển mạnh với thiết bị công nghệ năm 2005, tạo việc làm cho 7,5 triệu lao
ngày càng hiện đại. động. Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị
giảm xuống còn 5,3%; thời gian sử dụng
Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày lao động ở nông thôn đạt 80%.
càng tăng, có chỗ đứng trong những thị Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh
trường lớn. Trong kế hoạch 5 năm 2001 - từ 200 USD năm 1990 lên khoảng 640
2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây USD năm 2005. Theo chuẩn quốc gia, tỷ
dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992
xuống dưới 7% năm 2005. Theo chuẩn
10,2%/năm.
quốc tế (1 USD/người/ngày) thì tỷ lệ đói
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% năm
tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002.
2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa Chỉ số phát triển con người được nâng
dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu lên, từ mức dưới trung bình (0,498) năm
cầu của sản xuất và đời sống. Ngành du 1990, tăng lên mức trên trung bình (0,688)
lịch, bưu chính viễn thông phát triển với năm 2002; năm 2005 Việt Nam xếp thứ
tốc độ nhanh. Các ngành dịch vụ tài chính, 112 trên 177 nước được điều tra;
ngân hàng, tư vấn pháp lý... có bước phát Mạng lưới y tế được củng cố và phát
triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả. triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp,
ứng dụng công nghệ tiên tiến; việc phòng
chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh;
Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm 1999
gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu nâng lên 71,3 tuổi vào năm 2005.
kinh tế, giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất
thuần nông, tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Năm 1990, lao
động nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 73,02% trong tổng số lao động xã hội, năm 2000
còn 56,8%.

Trong khi đó, tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 12,1% năm
2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng tương ứng từ 19,7%
lên 25,3%; lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2005.




2
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung
hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế. Số
doanh nghiệp Nhà nước qua sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá đã giảm từ 12.084 doanh
nghiệp năm 1990 xuống còn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và 670 công ty
cổ phần do Nhà nước chi phối trên 51% vốn điều lệ năm 2005. Qua đổi mới, doanh
nghiệp Nhà nước năm 2005 đóng góp 38,5% GDP và khoảng 50% tổng ngân sách Nhà
nước.

Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực,
đặc biệt là tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội. Năm 2005
chiếm 46% GDP. Trong đó, kinh tế hợp tác phát triển ngày càng đa dạng, hoạt động
ngày càng có hiệu quả, năm 2005, kinh tế hợp tác đóng góp khoảng 7% GDP.

Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm
năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước.

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành một
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng với thế
giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế.

Năm 2005, khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân sách, trên 17,1%
tổng vốn đầu tư xã hội, trên 23% kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu khí); đạt trên
35% giá trị sản xuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao động trực tiếp và hàng
triệu lao động gián tiếp.

Qua 20 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ. Từng
bước phát triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơ bản, theo cơ
chế mới. Thị trường hàng hoá phát triển với quy mô lớn, tốc độ nhanh. Các thị trường
dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, bất động sản đang được hình thành.

Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường và điều
kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Tiềm lực tài chính ngày càng được tăng
cường, thu ngân sách tăng trên 18%/năm; chi cho đầu tư phát triển bình quân chiếm
khoảng 30% tổng chi ngân sách.

Xuất khẩu, nhập khẩu tăng rất nhanh cả về quy mô và tốc độ. Tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng hoá trước thời kỳ đổi mới chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD/năm, đến nay tổng kim
ngạch xuất khẩu đã vượt hơn 50% GDP, tức là trên 25 tỷ USD/năm.

Một số sản phẩm của Việt Nam đã có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới với
những thương hiệu có uy tín. Đáng chú ý là xuất khẩu dịch vụ tăng rất nhanh, tăng
15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu được mở
rộng sang những nền kinh tế lớn.




3
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ năm 2000 đến 2005 tăng khoảng 19%/năm,
nhập siêu khoảng 4 tỷ USD/năm, bằng 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhập siêu
tuy còn cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát và có xu hướng giảm dần.

Cơ cấu xuất nhập khẩu chuyển biến theo hướng tích cực. Tỷ trọng hàng công nghiệp
nặng và khoáng sản giảm từ 37,2% năm 2000 xuống còn 36% năm 2005, hàng nông,
lâm thuỷ sản giảm từ 29% xuống 24%; hàng công nghiệp nh‹ và tiểu thủ công nghiệp
tăng từ 38,8% lên 39,8%.

Đánh giá đúng những thành tựu kinh tế xã hội, nhận diện đúng những thách
thức trong 20 năm qua sẽ là những cơ sở quan trọng để ĐH X của Đảng đề ra
những quyết sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời gian tới.
Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2006 – 2010
GDP bình quân đạt 7,5 – 8%, phấn đấu đạt trên 8% (theo so sánh GDP
năm 2010 gấp 2,1 lần so với 2000)
GDP bình quân đầu người đến 2010: 1.050 – 1.100 USD (năm 2005
đạt khoảng 600 USD)
Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP đến năm 2010:
-Nông, lâm nghiệp và thủy sản khoảng 15 -16%
-Công nghiệp và xây dựng: 43 – 44%
-Các ngành dịch vụ: 40 – 41%
Tỷ lệ huy động vào ngân sách Nhà nước đạt khoảng 21 – 22% GDP
Tổng kim ngạch xuất khaair tăng 16%/năm
Tổng đầu tư xã hội chiếm 40%GDP (vốn trong nước chiếm 65%, vốn
bên ngoài 35%)




4
Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2007
Mặc dù gặp những tác động bất lợi của kinh tế thế giới và thiên tai, dịch bệnh ở trong
nước, nhưng kinh tế-xã hội Việt Nam đã có nhiều thành tích đáng khích lệ về tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút vốn đầu tư, tiêu thụ trong nước và
xuất khẩu, thị trường chứng khoán, vị thế quốc tế, giảm nghèo...; đồng thời cũng còn
một số hạn chế, bất cập.
Thành tích nổi bật là tăng trưởng kinh tế cao nhất so với tốc độ tăng của 12 năm trước
đó, đạt được mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so với các nước
và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần làm cho quy mô
kinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình quân
đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839
USD/người! Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được mục tiêu thoát
khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm tới.
Cùng với tăng trưởng kinh tế cao là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích
cực. Theo nhóm ngành kinh tế, nông, lâm nghiệp-thủy sản vốn tăng thấp, năm nay lại
gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh lớn nên tăng thấp và tỷ trọng trong GDP của
nhóm ngành này tiếp tục giảm (hiện chỉ còn dưới 20%). Công nghiệp-xây dựng tiếp
tục tăng hai chữ số, cao nhất trong ba nhóm ngành, nên tỷ trọng trong GDP tiếp tục
tăng (hiện đạt gần 42%), phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Dịch vụ được mở cửa rộng hơn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), nên đã tăng cao hơn tốc độ chung, nhờ đó đã chặn được
sự sút giảm trong tỷ trọng GDP của nhóm ngành này trong thời kỳ 1995 - 2004 và cao
hơn năm trước. Theo thành phần kinh tế, kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là kinh tế
tự nhiên, tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng của khu vực này trong GDP
đã cao lên và hiện đã đạt cao hơn khu vực nhà nước (46% so với dưới 37%). Khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng trong GDP
cũng cao lên (hiện đạt trên 17%). Khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài có tổng tỷ trọng trong GDP cao hơn, lại có tốc độ tăng cao hơn khu vực
nhà nước, nên đã trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế chung, phù hợp với
đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập.
Tăng trưởng kinh tế cao đạt được do sự tác động của cả hai yếu tố đầu vào và đầu ra.
Ở đầu vào, vốn đầu tư phát triển so với GDP đạt 40,6%, là tỷ lệ thuộc loại cao nhất
từ trước tới nay, cũng thuộc loại cao nhất so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế
giới (có chăng chỉ thấp thua tỷ lệ trên 44% của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa -
tỷ lệ góp phần làm cho kinh tế nước này liên tục trong nhiều năm tăng trưởng hai chữ
số). Đáng lưu ý, trong khi tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước trong
tổng vốn đầu tư phát triển tiếp tục giảm xuống, thì tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực
kinh tế ngoài nhà nước tăng lên (đạt 38%); hiệu quả đầu tư của khu vực này lại cao
gấp đôi khu vực kinh tế nhà nước. Vốn đầu tư nước ngoài đạt kỷ lục mới ở cả ba
nguồn. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp đạt được sự vượt trội cả về tổng số vốn đăng ký



5
mới và bổ sung (20,3 tỉ); cả về quy mô bình quân một dự án (trên 14 triệu USD/dự án);
cả về cơ cấu đầu tư vào nhóm ngành dịch vụ; cả về lượng vốn thực hiện (4,6 tỉ
USD). Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cuối năm 2006 (cam kết cho năm 2007)
đạt mức kỷ lục (4,4 tỉ USD); cuối năm 2007 (cam kết cho năm 2008) còn đạt kỷ lục
cao hơn (trên 5,4 tỉ USD). Lượng vốn giải ngân năm nay đạt 2 tỉ USD, vừa vượt kế
hoạch, vừa đạt cao nhất từ trước tới nay. Nguồn vốn đầu tư gián tiếp năm nay ước
đạt 5,6 tỉ USD, cao gấp 4,3 lần năm trước.
Ở đầu ra, cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng tới gần 23%; nếu loại trừ yếu tố tăng giá bình quân
năm nay so với năm trước (8,3%), thì vẫn còn cao gấp 1,6 lần tốc độ tăng GDP (13,7%
so với 8,48%). Dung lượng thị trường ước đạt gần 45 tỉ USD, với dân số đông mà
hằng năm vẫn còn tăng cao, tiêu dùng của dân cư vừa tăng về số lượng, vừa đa dạng
về mẫu mã, chủng loại, vừa cao hơn về chất lượng và tỷ lệ tiêu dùng thông qua việc
mua và bán trên thị trường tăng nhanh, vừa là động lực của tăng trưởng kinh tế trong
nước, vừa có tác động "mời gọi" các nhà đầu tư nước ngoài. Xuất khẩu đạt sự vượt
trội cả về quy mô (48,4 tỉ USD, bằng trên 68% so với GDP), cả về tốc độ tăng (21,5%,
vượt kế hoạch, cao gấp 2,3 lần tốc độ tăng GDP).
Tăng trưởng kinh tế cao nên chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được nhiều sự
vượt trội. HDI tăng lên qua các năm (1985 mới đạt 0,590, năm 1990 đạt 0,620, năm
1995 đạt 0,672, năm 2000 đạt 0,711, năm 2005 đạt 0,733, khả năng năm 2007 đạt trên
0,75%). Thứ bậc về HDI tăng lên trong khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế
giới. Thứ bậc trên thế giới về HDI cao hơn thứ bậc về GDP bình quân đầu người tính
bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương (105 so với 123), cao hơn hàng chục nước
có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam, phù hợp với nền kinh tế thị trường
mà nước ta lựa chọn là nền kinh tế thị trường theo định hướng dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tỷ lệ nghèo đã giảm (từ 17,8% xuống còn
14,8%).
Vị trí quốc tế của Việt Nam gia tăng với việc chính thức trở thành thành viên WTO,
được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc,...
Bên cạnh những thành tích trên, tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 cũng bộc lộ một
số hạn chế, bất cập. Ngoài những hạn chế, bất cập tồn tại từ những năm trước, thì
năm nay cũng nổi lên ba vấn đề lớn. Giá tiêu dùng tăng cao nhất so với 11 năm trước
đó và cao hơn tốc độ tăng GDP. Nhập siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về
tỷ lệ nhập siêu. Ách tắc và tai nạn giao thông nghiêm trọng,...
Ngọc Minh
)
Năm 2009, trước tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế th ế gi ới,
Việt Nam đã chuyển sang mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế và giữ ổn định
kinh tế vĩ mô. Kinh tế Việt Nam năm 2009 bên cạnh những điểm sáng th ể hiện
thành tựu đạt được vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Việc đánh giá,
nhìn nhận lại kinh tế Việt Nam năm 2009 để rút ra những bài h ọc, chỉ rõ nh ững
thách thức và giải pháp cho năm 2010 có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà
hoạch định chính sách ở Việt Nam. Thực tế, có thể tiếp cận và đánh giá một
nền kinh tế từ nhiều cách. Trong bài viết này chúng tôi đánh giá bức tranh kinh
tế Việt Nam 2009 từ góc độ vĩ mô dựa trên diễn biến tình hình kinh tế trong năm
và các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản.


6
1.Tổng quan kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2009

Gói kích thích kinh tế

Trước những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu và ngăn chặn
suy giảm kinh tế, từ đầu năm 2009, chính phủ đã đưa ra gói kích thích kinh tế. Gói
kích thích kinh tế đã triển khai được phân thành các cấu phần sau: (i) gói hỗ trợ lãi
suất 4%; (ii) gói hỗ trợ tiêu dùng bao gồm miễn thuế thu nhập cá nhân và hỗ trợ người
nghèo ăn Tết; (iii) gói hỗ trợ đầu tư bao gồm miễn, giảm, giãn thuế doanh thu, thuế
VAT cho các doanh nghiệp và cho nông dân vay vốn không lãi suất để mua thiết bị,
máy móc sản xuất công nghiệp; (iv) đầu tư công bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng,
nhà ở cho sinh viên và khu chung cư cho người thu nhập thấp. Tuy chưa được đánh giá
một cách sâu sắc và toàn diện về hiệu quả của gói kích thích kinh tế, nhưng về cơ
bản nó đã đạt được mục tiêu đề ra là ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế. Trong đó,
các cấu phần có tác động mạnh nhất là gói hỗ trợ lãi xuất 4% và chính sách miễn,
giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp. Các gói này được xem như một liều thuốc “giải
cứu” giúp nhiều doanh nghiệp vay được vốn để phục hồi và duy trì sản xuất và giải
quyết việc làm. Đồng thời, chúng còn góp phần quan trọng làm cho hệ thống ngân
hàng cải thiện được tính thanh khoản và duy trì khả năng trả nợ của khách hàng. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả trên, gói kích thích kinh tế vẫn bộc lộ nhiều tồn tại và
hệ lụy. Thứ nhất, làm phát sinh tình trạng không công bằng giữa các doanh nghiệp
được vay và không được vay vốn hỗ trợ lãi suất, tạo ra môi trường kinh doanh bất
bình đẳng. Thứ hai, việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với việc thực hiện
chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho tổng phương tiện
thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao gây nguy cơ tái lạm phát, gây đột biến trên thị
trường ngoại hối, thị trường vàng, thị trường bất động sản. Thứ ba, hiệu quả của gói
đầu tư công và cho nông dân vay vốn mua thiết bị máy móc còn rất hạn chế do những
khó khăn về nguồn vốn và thủ tục. Vì vậy, những thành công và hạn chế của gói kích
thích kinh tế quả thật là những vấn đề rất đáng được nghiên cứu và đánh giá để đưa
ra những chính sách phù hợp trong thời gian tới.

Tăng trưởng kinh tế

Cần khẳng định rằng dưới tác động mạnh của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, quá
trình suy giảm kinh tế của Việt Nam đã không kéo dài và sự phục hồi tốc độ tăng
trưởng đến nhanh. Hình 1 cho thấy nền kinh tế chạm đáy suy giảm tăng trưởng trong
quý I/2009 sau đó liên tục cải thiên tốc độ ở các quý sau. Tốc độ tăng GDP quý II đạt
4,5%, quý III đạt 5,8% và dự đoán quý IV sẽ đạt 6,8%.
Hình 1: Tăng trưởng GDP theo quý




7
Các chỉ số tăng trưởng cho các ngành cũng thể hiện một xu hướng phục hồi rõ rệt.
Giá trị sản xuất công nghiệp quý I đạt 3,2%, quý II tăng lên 7,6% và quý III là 8,5%. So
với khu vực công nghiệp, thì khu vực dịch vụ chịu tác động ảnh hưởng của suy thoái
kinh tế thế giới ở mức độ thấp hơn. Nhìn chung, khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng
trưởng khá cao, tốc độ tăng trưởng trong quý I là 5,1%, trong quý II, 5,7% và 6,8%
trong quý III. Căn cứ kết quả thực hiện 9 tháng đầu năm và triển vọng các tháng tiếp
theo, tốc độ tăng trưởng giá trị khu vực dịch vụ ước thực hiện cả năm 2009 có thể đạt
6,5%. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, do sản lượng lương thực năm 2008 đã đạt mức
kỷ lục so với trước, nên ngành nông nghiệp tăng không nhiều trong năm 2009. Uớc
thực hiện giá trị tăng thêm ngành nông, lâm, thủy sản tăng khoảng 1,9%.

Như vậy xu hướng phục hồi tăng trưởng là khá vững chắc và đạt được ngay từ
trước khi các gói kích cầu được triển khai trên thực tế. Với mức tăng trưởng như vậy
dự báo GDP cả năm 2009 sẽ đạt 5,2%, cao hơn so với mức tăng trưởng đáy trong 20
năm qua ở mức 4,77% của năm 1999. Đây là một thành tựu kinh tế nổi bật trong năm
2009 nếu đặt trong bối cảnh Việt Nam là một trong số ít nền kinh tế trong khu vực và
thế giới vẫn đạt mức tăng trưởng dương.

Đầu tư phát triển

Trong bối cảnh suy giảm kinh tế, những khó khăn trong sản xuất kinh doanh và
hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động đầu
tư phát triển. Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện các giải pháp kích cầu đầu
tư, tăng cường huy động các nguồn vốn, bao gồm việc ứng trước kế hoạch đầu tư
ngân sách nhà nước (NSNN) của các năm sau, bổ sung thêm nguồn vốn trái phiếu
Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, tín dụng đào tạo lại cho người
lao động bị mất việc làm… Với những nỗ lực đó, nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm
2009 đã đạt được những kết quả tích cực. Ước tính tổng đầu tư toàn xã hội năm 2009
đạt 708,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP, tăng 16% so với năm 20081 . Trong đó,
nguồn vốn đầu tư nhà nước (gồm đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn trái phiếu
Chính phủ, nguồn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước và nguồn đầu tư của các


8
doanh nghiệp nhà nước) là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 43,3% so với năm 2008; nguồn vốn
đầu tư của tư nhân và của dân cư là 220,5 nghìn tỷ, tăng 22,5%. Những kết quả này
cho thấy các nguồn lực trong nước được huy động tích cực hơn. Tuy nhiên, trong khi
các nguồn vốn đầu tư trong nước có sự gia tăng thì nguồn vốn FDI năm 2009 lại giảm
mạnh. Tổng số vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 20 tỷ USD (so với 64 tỷ
USD năm 2008), vốn thực hiện ước đạt khoảng 8 tỷ USD (so với 11,5 tỷ USD năm
2008). Tổng vốn ODA ký kết cả năm ước đạt 5,456 tỷ USD, giải ngân đạt khoảng 3
tỷ USD.

Tăng vốn đầu tư trong bối cảnh khó khăn kinh tế toàn cầu là một điểm sáng của
kinh tế Việt Nam năm 2009 để vượt qua tình trạng suy giảm kinh tế. Ty nhiên, những
hạn chế trong hiệu quả đầu tư đã xuất hiện từ nhiều năm nay và càng trở thành vấn
đề cần giải quyết. Nếu như năm 1997, chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với
vốn đầu tư chỉ chiếm 28,7% GDP thì cũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm
2007 (8,5%) chúng ta phải đầu tư tới 43,1% GDP. Đến năm 2009, trong khi tổng mức
đầu tư toàn xã hội lên tới 42,2% GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 5,2%. Chỉ số
ICOR năm 2009 đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 20082. Bên cạnh đó
còn xảy ra tình trạng chậm trễ trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các
khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư. Những đặc điểm này là đáng báo động về cả
trước mắt cũng như lâu dài.

Lạm phát và giá cả

Nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát cao kỷ lục trong vòng
hơn một thập kỷ qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức lạm phát ở mức dưới hai
con số. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước qua 10 tháng đầu năm chỉ tăng 4,49% so với
tháng 12/2008. Đây là mức tăng chỉ số giá tiêu dùng khá thấp so với những năm gần
đây và là mức tăng hợp lý, không gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của
người dân. Nhiều loại hàng hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng hoá để tính CPI
tăng thấp. Chỉ số CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm (0,59%) nhưng lại có
xu hướng giảm trong những tháng cuối năm. Như vậy, nếu như lương thực, thực
phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm 2007 và 2008 thì ở năm
2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa.

Hình 2: Diễn biến làm phát hàng tháng năm 2009




9
Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số là một điểm
sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa thoát
khỏi suy thoái kinh tế. Thành tựu kiềm chế lạm phát trong năm 2009 có tác động tích
cực đến ổn định kinh tế - xã hội cũng như tạo thuận lợi cho việc triển khai các chính
sách kích thích kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội. Mặc dù
xu hướng tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt, nhưng một số yếu tố chủ
yếu có thể sẽ tác động làm tăng nguy cơ tái lạm phát cao trở lại. Đó là tăng trưởng tín
dụng đang ở mức cao 3 do thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ nhằm ngăn chặn
suy giảm kinh tế; giá của các mặt hàng nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn trên thị
trường thế giới bắt đầu có xu hướng tăng cao do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu,
đặc biệt giá xăng dầu. Mặt khác, những nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát cao ở
Việt Nam năm 2008 vẫn còn. Đó là sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và
trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tập đoàn lớn. Do vậy,
kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng cho các DNNN và tập đoàn mà thiếu sự
thẩm định và giám sát thận trọng chắc chắn sẽ kích hoạt cho lạm phát trở lại.

Tỷ giá

Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì chính sách ổn
định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ. Diễn biến tỷ giá trong năm 2009 là
tương đối phức tạp. Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng và biên
độ từ + 3% lên + 5% vào tháng 4/2009, trên thị trường tự do giá ngoại tệ nhanh chóng
áp sát mức 18.300 đồng/đô la Mỹ và đến tháng 11 đã lên trên 19.000 đồng/đô la Mỹ.

Hình 3: Diễn biến tỷ giá USD/VND 2008-2009




10
Hình 3 cho thấy càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị
trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thì thừa, USD
thương mại thì thiếu. Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và
nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần do NHNN quy định. Những
bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn
cho hoạt động xuất nhập khẩu. Hơn nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm
phát trong nước do giá hàng nhập khẩu tăng mạnh. Trong bối cảnh lạm phát có xu
hướng gia tăng và tính không ổn định trên thị trường tiền tệ, đòi hỏi cần phải có sự
lựa chọn linh hoạt cơ chế điều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát
và ổn định thị trường tiền tệ.

Thu chi ngân sách

Năm 2009, các giải pháp miễn, giảm, giãn thuế kết hợp với giảm thu từ dầu thô và
giảm thu do duy giảm kinh tế đã làm cho nguồn thu ngân sách bị giảm mạnh. Uớc tính
tổng thu ngân sách cả năm đạt 390,65 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ so với mức dự toán (389,9
nghìn tỷ) và giảm 6,3% so với thực hiện năm 2008. Điểm sáng duy nhất trong hoạt
động thu ngân sách năm nay là chỉ có thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) tăng so với
năm 2008 (tăng 9,8 nghìn tỷ) còn các khoản thu khác đều sụt giảm. Mặt khác, nhu cầu
và áp lực chi tăng lên cho kích thích tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội. Tổng chi
ngân sách ước đạt trên 533 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với dự toán và 7,5% so với
năm 2008. Tổng bội chi ngân sách ước khoảng 115,9 nghìn tỷ đồng, bằng 6,9% GDP,
cao hơn nhiều so với mức 4,95% của năm 2008 và kế hoạch đề ra (4,82%). Trong bối
cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình trạng khó khăn trong nước và áp lực phải
tăng chi để phục hồi kinh tế và ổn định đời sống nhân dân, tăng bội chi ngân sách là
điều không tránh khỏi. Tuy nhiên, bội chi ngân sách tăng trong bối cảnh chính sách tiền


11
tệ nới lỏng luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao trở lại. Điều này cũng cảnh báo độ an
toàn của ngân sách trong các năm tiếp theo nếu như không chủ động có các biện pháp
cải cách để tạo nền tảng tăng nguồn thu cũng như tăng cường kỷ luật tài chính cho
ngân sách.

Hình 4: Bội chi ngân sách 2005-2009




Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại

Năm 2009, tình hình xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn do
khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến sự đình trệ sản xuất và hạn chế tiêu dùng ở
những nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU...
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 ước đạt khoảng 56,5 tỷ USD, giảm 9,9% so với
năm 2008. Tình hình xuất khẩu như vậy không đến nỗi quá xấu nếu chúng ta nhìn vào
nguyên nhân của nó. Kim ngạch xuất khẩu giảm là do giá cả thế giới giảm (riêng yếu
tố giảm giá trong 9 tháng đầu năm làm kim ngạch xuất khẩu giảm trên 6 tỷ USD) -
một yếu tố ngoài tầm kiểm soát của chúng ta; trong khi đó khối lượng hàng hoá xuất
khẩu có sự tăng đáng kể giúp chúng ta giảm thiểu được đáng kể đến tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu và xa hơn là giảm thiểu được tác động tiêu cực đến việc làm và thu
nhập của người lao động. Vấn đề tồn tại lớn nhất của xuất khẩu bộc lộ trong nhiều
năm qua là việc vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ,
hải sản. Các mặt hàng công nghiệp chế biến vẫn mang tính chất gia công. Như vậy,
xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa xây dựng
được các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá
trị gia tăng xuất khẩu. Trong thời gian tới, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu thách thức
lớn hơn, nhất là trong bối cảnh tác động của khủng hoảng những rào cản thương mại
mới ngày càng nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn
sẽ dành cho các mặt hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như
khoáng sản, nông, lâm, hải sản.



12
Bảng 1: Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 2006-2009




Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 ước đạt 67,5 tỷ USD, giảm 16,4% so với năm
2008. Điều này phản ánh những khó khăn của sản xuất trong nước do suy giảm kinh
tế. Tuy nhiên, trong các tháng cuối năm, nhu cầu nhập khẩu có thể tăng lên khi các
biện pháp hỗ trợ sản xuất phát huy tác dụng. Mặc dù cả kim ngạch xuất khẩu và kim
ngạch nhập khẩu đều giảm sút, nhưng do tốc độ giảm kim ngạch xuất khẩu chậm
hơn tốc độ giảm kim ngạch nhập khẩu, nên nhập siêu năm 2009 giảm xuống chỉ còn
khoảng 11 tỷ USD, chiếm 16,5% tổng kim ngạch xuất khẩu. Như vậy, so với những
năm gần đây cán cân thương mại đã có sự cải thiện đáng kể, thể hiện quyết tâm của
chính phủ trong việc kiềm chế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết. Song mức
nhập siêu vẫn còn cao thể hiện việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và
chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu vẫn còn chậm.

Bảo đảm an sinh xã hội

Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách giảm nghèo,
trong đó có chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo xây nhà ở, vay vốn sản xuất, kinh
doanh, cho vay học sinh, sinh viên, mua thẻ bảo hiểm y tế. Đồng thời, chính phủ cũng
triển khai công tác hỗ trợ các hộ nghèo, hộ bị ảnh hưởng thiên tai, bị thiệt hại về gia
súc, gia cầm, vật nuôi để ổn định sản xuất và đời sống. Ngoài ra, chính phủ cũng đã
tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ gắn với
chương trình xây dựng nông thôn mới; tổ chức, động viên các doanh nghiệp, các tổ
chức và cá nhân hỗ trợ các huyện nghèo thực hiện chương trình này; ứng trước vốn
cho các huyện; triển khai các chính sách mới, trong đó có chính sách cấp gạo cho hộ
nghèo ở biên giới, thực hiện mức khoán mới về bảo vệ rừng, hỗ trợ học nghề, xuất
khẩu lao động và tăng cường cán bộ cho các huyện nghèo. Hoạt động chăm sóc người
có công và các đối tượng chính sách tiếp tục được duy trì và mở rộng.

Năm 2009 tổng số chi cho an sinh xã hội ước khoảng 22.470 tỷ đồng, tăng 62% so
với năm 2008, trong đó chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng 36.700 tỷ
đồng; trợ cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo (riêng số gạo
cứu trợ đợt đầu khắc phục hậu quả bão số 9 là 10.300 tấn). Tổng dư nợ của 18
chương trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách do Ngân hàng Chính sách
xã hội thực hiện ước đến cuối năm đạt 76 nghìn tỷ đồng, tăng 45,3% so với năm 2008.



13
Các doanh nghiệp đã hỗ trợ 62 huyện nghèo trên 1.600 tỷ đồng. Kết quả các nỗ lực
chung đó đã góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào
dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách, góp phần xóa đói, giảm
nghèo, giải quyết việc làm và giữ vững ổn định chính trị, xã hội.đặc biệt là đối với
người nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2009 giảm còn khoảng 11%. Tuy nhiên,
tình hình suy giảm kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm
cho người lao động. Dự kiến đến cuối năm 2009, có khoảng 1,51 triệu lượt lao động
được giải quyết việc làm, đạt 88,5% kế hoạch năm và bằng 93,2% so với thực hiện
năm 2008. Số lao động đi làm việc ở nước ngoài năm 2009 ước đạt 7 vạn người, giảm
đáng kể so với con số 8,5 vạn người của năm 2008.


GDP năm 2006 tăng 8,17%
Đó là con số mà Tổng cục Thống kê vừa công bố. Cơ cấu nền kinh tế đang chuyển
dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ
trọng nông, lâm, nghiệp, thuỷ sản.

Các sự kiện tiếp theo được nhắc đến là kim ngạch xuất khẩu, thu hút đầu tư nước
ngoài, cam kết ODA từ cộng đồng quốc tế đạt mức cao nhất từ trước đến nay.
Sau đây là 10 sự kiện kinh tế nổi bật năm 2006 do TTXVN bình chọn
1 - Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Đồng thời, Mỹ cũng đã thông qua Quy chế Quan hệ Thương mại bình
thường vĩnh viễn (PRNT) với Việt Nam.
2 - Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức cao kỷ lục, xấp xỉ 40 tỷ USD, tăng
24% so với năm 2005 và vượt 2 tỷ USD so với kế hoạch.
3 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng đột biến, đạt trên 10,2 tỷ USD, trong đó
Tập đoàn Intel (Mỹ) đầu tư 1 tỷ USD vào khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh,
Tập đoàn Posco (Hàn Quốc) đầu tư 1,2 tỷ USD vào dự án thép tại tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu...
4 - Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) cam kết hỗ trợ phát triển chính thức

Kinh tế Việt Nam – Những điểm nhấn năm 2009 và bài toán năm 2010 (01/02/2010)
Năm 2009, nền kinh tế Việt Nam từng bước được ổn định và tiếp tục phát
triển với những điểm nhấn đáng chú ý sau:
I. BỐN ĐIỂM NHẤN TRONG NĂM 2009…
1.Ổn định kinh tế - xã hội chung được giữ vững, thị trường trong nước từng
bước được mở rộng
Về tổng thể, năm 2009, Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu tổng quát đề ra là
ngăn chặn suy giảm kinh tế, giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối thu chi ngân
sách nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế… cơ bản được bảo đảm, vốn đầu
tư toàn xã hội đạt cao, tới 42,6% GDP, tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) ước bằng
100,2% dự toán; Việt Nam đã vượt qua thời kỳ lạm phát cao khá tốt, hiện VND đang
có độ ổn định và tin cậy khá cao, lượng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán tăng
trong phạm vi cho phép, nợ xấu và tiền mặt trong thực tế ngày càng giảm, dự trữ
ngoại tệ đủ theo tiêu chuẩn quốc tế, mặt bằng giá cả bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã
hội về cơ bản là không cao, thậm chí nhiều mặt hàng đang có sự giảm giá đáng kể;


14
lạm phát được kiềm chế với tỷ lệ lạm phát khoảng 7%, tương đương với mức trung
bình của nhiều năm trước đây; công tác an sinh xã hội được chú trọng đúng mức. Dư
luận thế giới cũng đánh giá cao những nỗ lực vượt qua khủng hoảng kinh tế - tài chính
toàn cầu mà chúng ta đã, đang và sẽ còn tiếp tục thu được. Với tốc độ tăng trưởng
kinh tế của cả nước ước đạt 5,2%, tuy thấp nhất trong vòng nhiều năm gần đây, Việt
Nam là nước đứng đầu Asean về tốc độ tăng trưởng, đồng thời nằm trong nhóm trên
10 nước có tăng trưởng dương năm 2009… Đây là những nỗ lực tổng hợp rất đáng ghi
nhận, đặc biệt trong bối cảnh tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đang đối diện với
những thảm cảnh suy thoái và thất nghiệp tràn lan do khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu.
Tính đến ngày 15/11/2009, so với cùng kỳ năm trước: Cả nước đã thu hoạch lúa mùa
bằng 101,2%, quy mô chăn nuôi lợn và gia cầm đều tăng, sản lượng thủy sản ước tăng
3,5%; Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 7,3% (trong đó khu vực ngoài Nhà nước tăng
9,4% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7,7% cho thấy sự năng động của các
khu vực này); tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng 18,5% (nếu loại trừ
yếu tố giá thì tăng 10,8%); kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 51,3 tỷ USD
(giảm 11,6%), bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 24,3 tỷ USD, giảm 6,7%; khu
vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 27 tỷ USD, giảm 15,5% -
nếu không kể dầu thô, thì kim ngạch xuất khẩu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ
giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2008.
Đặc biệt, một số mặt hàng chủ lực có lượng xuất khẩu tăng, nhưng do giá trên thị
trường thế giới hạ, nên kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó
gạo tăng 33,5% về lượng nhưng giảm 5,8% về kim ngạch; cà phê tăng 15,5% về
lượng, giảm 17,4% về kim ngạch; than đá tăng 19,8% về lượng, giảm 11,3% về kim
ngạch; dầu thô tăng 3,1% về lượng, giảm 41,7% về kim ngạch; cao su tăng 8,6% về
lượng, giảm 32,4% về kim ngạch. Điểm đáng chú ý là, lần đầu tiên trong lịch sử quan
hệ đối ngoại của Việt Nam, năm 2009 Hoa Kỳ vừa là nhà đầu tư FDI lớn nhất, vừa là
thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu đạt 9,3 tỷ USD, tiếp theo là
thị trường EU với 7,6 tỷ USD, thị trường Asean với 7,3 tỷ USD trong 10 tháng năm
2009.
Tính chung 11 tháng đầu 2009, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 61,7 tỷ USD,
giảm 17,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 39,3
tỷ USD, giảm 20,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 22,4 tỷ USD, giảm
13,2%. Sự giảm sút được ghi nhận ở hầu hết các mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản
xuất và tiêu dùng trong nước, trong đó nhiều mặt hàng mặc dù lượng nhập khẩu tăng,
nhưng do giá giảm nên kim ngạch giảm, trong đó xăng dầu giảm 45,3% (lượng tăng
0,6%); sắt thép giảm 24,4 (lượng tăng 16,3%)… Thị trường nhập khẩu hàng hoá của
Việt Nam dẫn đầu là Trung Quốc với 1,13 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm
trước; tiếp theo là Nhật Bản với 665 triệu USD, giảm 7,2%; Đài Loan 247 triệu USD,
tăng 3,9%; Hàn Quốc 228 triệu USD, tăng 11,6%. Nhập siêu 11 tháng năm 2009 ước
tính 10,4 tỷ USD, bằng 20,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và bằng 61,1%
mức nhập siêu cùng kỳ năm 2008.
Khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3,4 triệu lượt người, giảm 12,3% so với
cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hoá vận chuyển 11 tháng đầu năm 2009 ước tính
đạt 583,4 triệu tấn, tăng 4,1% và 167,8 tỷ tấn.km, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước,
bao gồm: vận tải trong nước đạt 558,3 triệu tấn, tăng 5,8% và 58,6 tỷ tấn.km, tăng



15
5,2%; vận tải nước ngoài đạt 25,1 triệu tấn, giảm 5,5% và 109,3 tỷ tấn.km, tăng 9,8%.
Sự gia tăng vận tải trong nước chứng tỏ sự gia tăng vai trò của thị trường trong nước
trong bối cảnh có sự sụt giảm vận tải hàng hoá và vai trò thị trường ngoài nước…
Tính chung 11 tháng, cả nước có 641,4 nghìn lượt hộ với 2823,6 nghìn lượt nhân
khẩu bị thiếu đói. So với cùng kỳ năm 2008, số hộ thiếu đói giảm 31% và số nhân
khẩu thiếu đói giảm 27,6%. Vừa qua, Ủy ban Tài chính Ngân sách đã nhất trí với đề
nghị của Chính phủ về việc bổ sung kinh phí 1300 tỷ đồng để tăng nguồn thực hiện
chương trình tín dụng của Nhà nước hỗ trợ các hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số
nghèo, tôn nền xây dựng nhà vùng ngập lũ.
2. ODA giải ngân cao nhất trong các năm
Năm 2009, Việt Nam được đánh giá là quốc gia đối phó tốt với khủng hoảng kinh tế
và đang phục hồi nhanh chóng, sẽ sớm lấy lại đà tăng trưởng và là quốc gia đang phát
triển có mức thu nhập GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1.200 USD. Đây là tiền
đề quan trọng để các nhà tài trợ tiếp tục đặt niềm tin vào nền kinh tế và vốn ODA
cung cấp cho Việt Nam. Trong tổng số vốn 5,914 tỷ USD mà các nhà tài trợ cam kết
tại Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG - 2008), tổng lượng vốn
ODA đã được ký kết đạt 3,85 tỷ USD (tính đến hết tháng 10/2009) và dự kiến cả năm,
tổng vốn ký kết sẽ đạt ở mức 5,056 tỷ USD. Đặc biệt, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
mức giải ngân vốn ODA cả năm 2009 sẽ đạt khoảng 3 tỷ USD (trong đó vốn cho xây
dựng cơ bản là 850 triệu USD), cao nhất kể từ khi Việt Nam tiếp nhận viện trợ ODA.
Nguồn vốn ODA đã được sử dụng đúng mục đích với những chương trình, dự án quan
trọng được ký kết, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giao thông, cấp thoát nước và phát
triển đô thị, như khoản vay hỗ trợ khắc phục tác động của khủng hoảng trị giá 500
triệu USD; đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây 410,20
triệu USD; dự án thoát nước Thành phố Hà Nội giai đoạn 2 với 299,97 triệu USD...
Nếu không có biến động lớn, tổng vốn ODA ký kết cho cả thời kỳ 2006 - 2009 đạt
khoảng 20 tỷ USD, tức vượt xa so với mục tiêu 12,35 - 15,75 tỷ USD là Việt Nam đã
đặt ra về thu hút khoản viện trợ này. Kết thúc Hội nghị CG - 2009, chiều ngày
4/12/2009, các nhà tài trợ quốc tế công bố mức cam kết viện trợ kỷ lục vốn ODA
dành cho Việt Nam với hơn 8 tỷ USD. Năm nay, WB trở thành nhà tài trợ lớn nhất với
mức 2,498 tỷ USD. Nhật Bản công bố mức viện trợ 1,64 tỷ USD; Trong khi đó, EU
công bố mức viện trợ hơn 1 tỷ USD; ADB dành 1,479 tỷ USD cho Việt Nam. So với
mức gần 6 tỷ USD cam kết của năm 2008, cam kết của các nhà tài trợ năm nay được
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định “thể hiện sự ủng hộ chính sách phát
triển, đường lối của Việt Nam trong đổi mới hội nhập quốc tế”.
3. Dòng kiều hối và FDI vẫn sung sức
Với khoảng 4 triệu kiều bào đang sinh sống và làm ăn ở hơn 100 nước và vùng lãnh
thổ trên toàn thế giới, trong đó có hơn 500.000 người lao động xuất khẩu, Việt Nam là
quốc gia có lượng kiều hối chuyển về hàng năm rất lớn và không ngừng tăng. Theo
báo cáo của Ngân hàng Thế giới, năm 2008 Việt Nam đứng thứ 10 trong số các nước
nhận được lượng kiều hối nhiều nhất thế giới. Theo dự báo của Bộ Tài chính, kiều
hối năm 2009 có thể đạt 6,8 tỷ USD (trong đó lượng kiều hối chuyển cho thân nhân
tăng, còn lượng kiều hối chuyển về đầu tư giảm). So với 7,2 tỷ USD kiều hối năm
2008, mức giảm kiều hối năm 2009 không lớn như dự kiến. Điều này góp phần cải
thiện cán cân thanh toán của Việt Nam trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu giảm. Với
nhiều chính sách mới khuyến khích kiều bào về đầu tư, mua nhà ở Việt Nam và đẩy



16
mạnh xuất khẩu lao động, hy vọng năm 2010 lượng kiều hối sẽ tăng mạnh trở lại
cùng với đà phục hồi của nền kinh tế thế giới.
Bất chấp sự sụt giảm dòng đầu tư chung trên toàn thế giới, tính đến 21/11/2009,
Việt Nam vẫn thu hút được 19,7 tỷ USD qua kênh FDI (tuy giảm 72% so với cùng kỳ
năm 2008, nhưng vẫn bằng 20% so với tổng 98 tỷ FDI còn hiệu lực tính đến cuối năm
2007 mà Việt Nam thu hút được trong suốt 20 năm 1988 - 2007 ), bao gồm: Vốn đăng
ký của 776 dự án được cấp phép mới đạt 14,6 tỷ USD (giảm 77,6% về vốn và giảm
47,5% về số dự án); vốn đăng ký bổ sung của 213 lượt dự án được cấp phép từ các
năm trước đạt 5,1 tỷ USD. Điểm cần lưu ý, năm 2009 tỷ lệ vốn FDI thực hiện trong
11 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 9 tỷ USD, chỉ giảm 10,4% so với cùng kỳ năm
2008, đây là mức giảm không đáng kể so với tỷ lệ giảm của vốn đăng ký, chứng tỏ sự
thuận lợi trong kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài ở Việt Nam...
Đặc biệt, năm 2009, lần đầu tiên xuất hiện cơ cấu các nhà đầu tư hàng đầu mới:
Hoa Kỳ đứng đầu với 4261,1 triệu USD, chiếm 29,1% tổng vốn đăng ký mới (hiện
Hoa Kỳ đứng thứ 7 trong số các nước có vốn FDI vào Việt Nam, với tổng số 485 dự
án còn hiệu lực và hơn 12,8 tỷ USD vốn đăng ký); đảo Cayman 2016,5 triệu USD,
chiếm 13,8%; Sa-moa 1700,6 triệu USD, chiếm 11,6%; Hàn Quốc 1517,7 triệu USD,
chiếm 10,4% (đứng thứ 2 với 2294 dự án còn hiệu lực và hơn 20,5 tỷ USD vốn đăng
ký); Đài Loan 1417,4 triệu USD, chiếm 9,7% (đứng số 1 với 2013 dự án còn hiệu lực
và 21,3 tỷ USD vốn đăng ký); quần đảo Virgin thuộc Anh 1076,1 triệu USD, chiếm
7,3%.
Có thể nói, năm 2009, Việt Nam vẫn nhận được những cái nhìn lạc quan từ các nhà
đầu tư nước ngoài với hàng loạt doanh nghiệp lớn FDI tiếp tục khai trương và hàng
trăm nhà đầu tư mới tiếp tục đổ đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội trong nhiều lĩnh
vực, như đầu tư và chứng khoán, nội địa hóa nguồn nguyên liệu sữa, thị trường bán lẻ,
ngành dầu mỏ Việt Nam, viễn thông di động, ngân hàng... Mới đây, Tập đoàn Kyocera
MiTa (Nhật Bản) - một trong 10 tập đoàn lớn nhất thế giới về thiết bị, máy văn phòng
với doanh thu 12 tỷ USD/năm - đã chính thức vào thị trường Việt Nam thông qua việc
lựa chọn HSTC Group của Việt Nam là đối tác chính thức. Hong Leong - Tập đoàn Tài
chính lớn nhất Malaysia - cũng vừa quyết định xin đầu tư ngân hàng 100% vốn nước
ngoài ở Việt Nam và đã chính thức ra mắt đầu tháng 10 vừa qua. Ông Lê Đình Long -
Tổng giám đốc Hong Leong Bank Việt Nam nhấn mạnh, dù kinh tế khó khăn, Hong
Leong vẫn nhìn thấy tiềm năng của thị trường Việt Nam. Ông Don Lam - Tổng giám
đốc VinaCapital cho biết, những năm tới, sẽ chứng kiến sự hứng thú mới của các nhà
đầu tư có tầm vóc toàn cầu đối với Việt Nam. Đó là tín hiệu tốt và tạo xung lực mới
cho quá trình cải cách thể chế và tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam.
4. Nhiều giải pháp đặc thù đã được triển khai thích hợp
Sớm nắm bắt nhu cầu nền kinh tế và các động thái thị trường thế giới, năm 2009,
Việt Nam đã và đang triển khai nhiều chính sách đặc thù thích hợp, trong đó điển hình
là tổ hợp các giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng, chống suy giảm kinh tế, đảm bảo
an sinh đã tỏ ra có vai trò nhất định tác động tốt đến môi trường kinh doanh và kết quả
ổn định kinh tế - xã hội chung.
Ngoài ra, việc tăng cường sản xuất và tiêu thụ hướng vào thị trường nội địa cũng
như các thị trường mới và áp dụng các cơ chế hành chính rút ngắn khẩn cấp khác, như
áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các dự án cấp bách có hạn mức trên 5 tỷ đồng
theo văn bản số 229/TTg-KTN của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 16/02/2009,



17
trên thực tế cũng đã góp phần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn xây dựng cơ bản, mở
rộng đầu tư, duy trì tăng trưởng, tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho người lao động
và tạo đà phát triển cho các năm tiếp theo...


Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2009 và khuyến nghị chính sách cho năm 2010
(29/12/2009 (ODA) gần 4,5 tỷ USD cho Việt Nam trong năm 2007, mức cao nhất từ tr ước
tới nay.
5 - Khánh thành nhiều công trình trọng điểm như cầu Bãi cháy, cầu Thi Nại...
6 - Ra mắt mô hình các tập đoàn kinh tế đầu tiên như Tập đoàn Bưu chính viễn thông,
Tập đoàn than và khoáng sản, Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ, Tập đoàn điện lực Việt
Nam.
7 - Phanh phui và xử lý nhiều vụ tham nhũng lớn, như vụ tham nhũng tại PMU18, vụ
tiêu cực đất đai tại Đồ Sơn (Hải Phòng), vụ siêu lừa Nguyễn Đức Chi tại dự án
Rusalka ở Khánh Hoà...
8 - Thị trường chứng khoán bùng nổ với nhiều doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch;
chỉ số chứng khoán VN-Index vào những ngày cuối năm đã có lúc lên trên 800 điểm.
9 - Bước đầu tiến hành điều tiết giá cả theo cơ chế thị trường như điều chỉnh giá giá
xăng theo tình hình giá cả lên xuống của thị trường thế giới, tăng giá than, điện...
10 - Thiên tai, dịch bệnh hoành hành vào những tháng cuối năm gây thiệt hại lớn về
người và tài sản, đặc biệt bệnh vàng lùn xoắn lá làm thiệt hại 2 triệu tấn lúa, ảnh
hưởng đến xuất khẩu gạo nói chung và dịch cúm gia cầm tái phát ở các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long.
TTXVN

Thứ tư, 26 Tháng mười hai 2007,
Theo đó, trong năm 2007 có 23 chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội đạt và vượt kế hoạch:
GDP tăng 8,5% (KH là 8,2 đến 8,5%); GDP bình quân đầu người đạt 723 USD... Nhiều
chỉ tiêu phát triển xã hội cũng đạt mức cao như: Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng,
kết quả tuyển mới cao đẳng và trung cấp tăng,...
Tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiều lần nhấn mạnh: Năm 2008 sắp tới
có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, là năm bản lề của kế
hoạch 5 năm 2006-2010.
Chính phủ phấn đấu ngay trong năm này hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu chủ yếu của
kế hoạch kinh tế - xã hội toàn giai đoạn; quyết tâm đến cuối năm 2008, GDP bình
quân đầu người đạt khoảng 960 USD, đưa Việt Nam ra khỏi ngưỡng nước đang phát
triển có thu nhập thấp.

Thứ hai, có người còn chưa hiểu đúng về cách phân loại kinh tế các nước theo thu
nhập tại từng thời điểm. WB đã phân loại các nước năm 2009/2010 thành các nhóm
nước/vùng lãnh thổ theo mức GNI năm 2008:

(1) Nhóm nước có thu nhập thấp (có GNI dưới 975 Đô la Mỹ/người);

(2) Nhóm nước có thu nhập trung bình (có GNI từ khoảng 976 Đô la Mỹ/người đến
11.905 Đô la Mỹ/người, trong đó có hai phân nhóm trung bình thấp từ 3.855 Đô la



18
Mỹ/người trở xuống và trung bình cao);

(3) Nhóm nước có thu nhập cao (trên 11.906 Đô la Mỹ/người).

Như vậy, trong phân loại năm 2010 dựa vào số liệu GNI 2008, Việt Nam chưa
thuộc nhóm nước thu nhập trung bình (890 Đô la Mỹ/người so mức ít nhất là 975 Đô la
Mỹ/người), mà mới chỉ bằng 91,3% của ngưỡng trên của nhóm nước thu nhập thấp.

Theo các chuyên gia Tổng cục Thống kê, do GDP bình quân chỉ tăng chút ít (1.047
Đô la Mỹ/người năm 2008 và 1.055 Đô la Mỹ/người năm 2009), có thể ước đoán GNI
2009 bình quân của nước ta cũng chỉ khoảng trên dưới 900 Đô la Mỹ/người. Do đó,
nếu tính cả các yếu tố lạm phát, tỷ giá, tăng trưởng thực, có thể dự đoán sau năm
2010, mức GNI bình quân vượt 1.000 Đô la Mỹ/người và Việt Nam có thể vững chắc
đứng trong nhóm các nước thu nhập trung bình (thấp).

Trong 10 năm qua (1997-2007), thu nhập bình quân GNI Việt Nam tăng gần ba lần
(từ gần 300 lên gần 900 Đô la Mỹ), trong khi thu nhập trung bình GNI thế giới cùng kỳ
đã tăng gấp rưỡi (từ 5.130 lên 7.958 Đô la Mỹ). Thu nhập trung bình GNI thế giới năm
2008 là 8.613 Đô la Mỹ/người, lớn hơn mức thu nhập trung bình GNI Việt Nam đến
gần 10 lần. Để vượt qua khoảng cách “tụt hậu” này có lẽ cần nhiều thời gian hơn ta
muốn, bởi lẽ khi nước ta tăng trưởng nhanh, thì thế giới cũng không dừng lại.


Các đợt lạm phát từ 1986 đến nay
Câu chuyện lạm phát ở Việt Nam không phải là mới. Đã từng có thời kỳ tỉ lệ lạm phát
lên đến 3 chữ số. Nguyên nhân và giải pháp của mỗi thời kỳ cũng có những điểm
giống nhau và khác nhau. VietNamNet xin giới thiệu loạt bài của TS. Võ Hùng Dũng,
Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh Cần Thơ, trong đó
so sánh lạm phát qua các thời kỳ, đồng thời phân tích lạm phát trong mối quan hệ với
chính sách nông nghiệp - nông thôn.

Đổi tiền và lạm phát năm 1986

Gọi là lạm phát năm 1986 vì đó là năm có tỉ lệ tăng cao nhất, nhưng lạm phát thực sự
đã xuất hiện từ nhiều năm trước đó. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 1981-1985 lần lượt
tăng là: 70%, 95%, 50%, 65% và 92%. Chỉ có điều lúc đó không ai thừa nhận có lạm
phát trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, không ai dám đưa vấn đề ra để phân tích, bàn
luận công khai. Không có giải pháp tổng thể nào được đưa ra trong một thời gian dài
cho đến khi xảy ra cuộc đổi tiền vào năm 1985.

Có lẽ có quan niệm cho rằng đổi tiền sẽ khôi phục lại giá trị đồng bạc Việt Nam và
lạm phát sẽ chấm dứt nên mới có qui định “Sức mua của đồng tiền mới bằng 10 lần
sức mua của đồng tiền cũ” (Quyết định 01/HĐBT-TĐ ngày 13/9/1985). Nhưng sau đổi
tiền, CPI năm 1985 tăng đến 92%, năm 1986 lên tới 775%, nền kinh tế bước vào thời
kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài trong 2 năm tiếp theo.
Phải đến cuối năm 1988 và qua năm 1989, nhiều biện pháp về tiền tệ nhằm kiểm soát



19
lạm phát mới được đưa ra. Một trong những quyết định quan trọng ghi nhận được lúc
đó là việc lần đầu tiên mạnh tay nới lỏng tỷ giá USD/VND vào cuối năm 1988 và tiếp
tục cơ chế linh hoạt đến năm 1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá từ
năm 1992.
Trước tháng 12/1988, tỷ giá do ngân hàng Vietcombank công bố thường thấp hơn thị
trường tự do hàng chục lần. Các công ty xuất khẩu lẩn tránh việc đưa ngoại tệ vào
ngân hàng bằng cách nhập khẩu hàng hóa quay vòng. Vào tháng 12/1987, Vietcombank
công bố tỷ giá ngoại tệ là 3.000 đồng/USD. Đây là bước tăng vọt so với tỷ giá 368,2
đồng công bố từ đầu năm, tuy vẫn còn thấp hơn mức giá 4.300 đồng ở thị trường tự
do. Trong các tháng tiếp theo, tỷ giá được điều chỉnh với biên độ chênh lệch khoảng
10% so với giá thị trường.
Sự thay đổi tỉ giá đã có tác động rất mạnh đến cán cân thương mại. Nếu chỉ xét trong
khu vực giao dịch bằng USD, xuất khẩu trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 bình quân
tăng 50% mỗi năm. Tỉ lệ nhập siêu so với xuất khẩu đã lập tức giảm mạnh từ 47,6%
trong năm 1986 xuống gần như cân bằng vào năm 1989 và thậm chí đã có xuất siêu
vào năm 1990.

Năm 1986 1988 1989 1990 1991
Nhập siêu -47,6% -30% -0,8% +2,5% -3,2%

Đến cơn sốt tín dụng đầu thập kỷ 1990

Năm 1989, với cơ chế rất thoáng trong việc thành lập quỹ tín dụng, hàng loạt quỹ tín
dụng ra đời để huy động vốn, cho vay lòng vòng, sau một thời gian thì đổ bể. Lãi suất
tiết kiệm năm 1989 cực kỳ cao, có lúc lên đến hơn 12%/tháng cùng với cơ chế rất
thoáng. Lãi suất cho vay đầu năm 1989 là 10,5%/tháng, cuối năm giảm xuống còn xấp
xỉ 4%/tháng và duy trì ở mức trên dưới 3%/tháng trong các năm từ 90 đến 92.

Tình hình kinh tế xã hội vào lúc đó cũng còn hết sức gay gắt, mặc dù lạm phát đã
giảm mạnh so các năm 86-88. Tỷ giá VND/USD tăng vọt lên trên 13.000 VND/USD
trong tháng cuối năm 1991, giảm đột ngột còn 11.000 VND/USD đến năm 1992, sau đó
và được neo giữ ở mức thấp trong suốt nhiều năm từ 1992 đến 1996 trong khoảng từ
10.500 đến 11.000 VND/USD.

Tình trạng lỗ lãi, nợ nần mà không có cơ chế phá sản làm cho hàng loạt công ty đang
hoạt động hết sức khốn đốn. Chính phủ đã ra quyết định lập Ban thanh toán công nợ
quốc gia để thanh toán chéo nhưng kết quả không đáng kể.

Nội lực của nền kinh tế bị thương tổn nghiêm trọng. Tăng trưởng kinh tế của VN từ
1992 đến 1996 đạt đến 9% năm, nhưng từ 1997 thì giảm dần. Một số báo cáo cho
rằng do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế châu Á. Đó là cách lý giải mà ngay từ lúc
đó cũng không có sức thuyết phục. Dấu ấn của chính sách tỷ giá, tiền tệ các năm đó
lớn hơn là ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Chính là cơ chế cứng
nhắc cùng với tỷ giá đồng nội tệ cao đã làm mất đi cơ hội của đất nước khi mà dòng
FDI thế giới đang hướng mạnh vào.




20
Thâm hụt thương mại do tỷ giá và cũng được giải quyết bởi tỷ giá (Số liệu do tác giả
tính toán).

Kết quả kỳ diệu của cơ chế tỷ giá năm 1997

Đồng nội tệ đã bị đánh giá cao cùng với tỷ giá bị cố định cứng trong khoảng thời gian
dài từ 1992 đến 1996 đã thúc đẩy nhập khẩu ồ ạt. Do vậy, thâm hụt thương mại liên
tục tăng để lên đến đỉnh cao hơn 45% vào năm 1995.

Năm 1997, lần đầu tiên cơ chế xơ cứng của tỷ giá được điều chỉnh và kết quả thật kỳ
diệu. Liên tục trong 4 năm thâm hụt thương mại giảm mạnh để chỉ còn -1% vào năm
2000.

Các năm 1999-2000 chỉ số giá chỉ tăng 0,1% và -0,6%. Tăng trưởng của GDP cũng
thấp: 4,8% năm 1999 và 6,7% năm 2000. Giải pháp được đưa ra lúc này là kích cầu
tăng trưởng thông qua gia tăng chi tiêu công và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước.
Chi tiêu của Nhà nước (so với GDP) đã tăng từ 5% năm 2000 lên trên 8% từ sau năm
2005. Tỉ lệ vốn đầu tư/GDP cũng tăng lên đến 34% năm 2000 và đến 40% từ năm
2004 đến nay (2007). Từ đây các nhân tố lạm phát được nuôi dưỡng.




21
Tốc độ tăng trưởng GDP thống kê qua các năm và ước tính cho 2008 (Số liệu do tác
giả cung cấp).

Đến hôm nay lạm phát quay trở lại 2008

Năm 2004 đã xuất hiện những dấu hiệu của cuộc lạm phát mới và được xác nhận lại
vào năm 2005 nhưng đã không có những giải pháp thoả đáng. Thậm chí đến giữa năm
2007 dấu hiệu trở nên rõ ràng hơn thì một lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước vẫn tuyên bố
mạnh mẽ “lạm phát không thể đến mức hai con số”.

Nếu nhìn lại trong vòng 3 thập kỷ qua, tính chu kỳ của nền kinh tế bộc lộ rõ hơn: cứ
10 năm lặp lại một lần. Suy thoái diễn ra vào các năm x7, x8 sau khi đạt được đỉnh
tăng trưởng trong các năm x4, x5, x6. Tuy nhiên, đến nay liệu chúng ta đã có đủ kinh
nghiệm để không bị cuốn theo chu kỳ?

Kiểm chứng về chính sách từ lạm phát và hậu lạm phát năm 86 đến nay, cho thấy
những lúc khó khăn nhất thì có nhiều tiếng nói và có sự lắng nghe hơn, xuất hiện
những cải cách mạnh mẽ. Nhưng vào những lúc nền kinh tế đạt được tốc độ tăng
trưởng cao dần thì nhiều quyết định được đưa ra rất bất ngờ, ít được tham vấn, tiếng
nói đóng góp cũng ít xuất hiện. Phải chăng đây là căn bệnh cố hữu không thể vượt
qua?
thời báo kinh tế VN
Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
Năm 2007, lạm phát của nước ta đã tăng cao và rơi vào tình trạng khó kiểm soát, chỉ số
giá tiêu dùng (CPI) tăng vọt từ hơn 6% năm 2006 lên 12,69% năm 2007. Nguy cơ tỷ lệ
lạm phát tiếp tục ở mức cao trong năm 2008 là rất rõ ràng khi chỉ riêng hai tháng đầu
năm, tỷ lệ này đã ở mức 5,94% so với 2007. Nếu chúng ta dùng các biện pháp tác động
tích cực thì tỷ lệ lạm phát năm 2008 có thể xoay quanh mức17%.

Nhận diện lạm phát ở Việt nam

Lạm phát hiện tại ở Việt Nam là sự tích hợp của lạm phát tiền tệ, lạm phát cầu kéo
và lạm phát chi phí đẩy, ba loại này tác động lẫn nhau làm cho lạm phát càng trở nên


22
phức tạp.

Lạm phát tiền tệ

Do việc thực thi chính sách chính sách tiền tệ không nghiêm, có thể chưa phù hợp nên
việc phát huy tác dụng của chính sách không được như mong muốn. Quản lý yếu kém
dẫn tới lượng cung tiền trong lưu thông đã vượt quá lượng tiền cần có trên thị trường
nhiều lần do đó dẫn tới lạm phát.

Có thể kể ra các nguyên nhân trực tiếp làm lượng cung tiền tăng lên như sau:

Thứ nhất, chi tiêu ngân sách ngày càng lớn. Chi tiêu ngân sách năm sau cao hơn năm
trước do yêu cầu phát triển tế xã hội đòi hỏi các điều kiện hạ tầng như đường xá, cầu
cống, bến cảng, các khu đô thị, khắc phục hậu quả của thiên tai ... Trong đó có nhiều
các vụ việc tiêu cực, hiệu quả chi tiêu ngân sách thấp, nhiều công trình kéo dài, tốn
kém, hiệu quả thấp. Những khoản chi tiêu ngân sách này đã đưa một lượng tiền mặt
lớn ra thị trường.

Thứ hai, quản lý tiền mặt kém hiệu quả. Hiện nay ở Việt Nam có nhiều đơn vị như
Ngân hàng Nhà nước, hệ thống các Ngân hàng thương mại, các Tổ chức tín dụng phi
ngân hàng, Công ty bảo hiểm, ... liên quan tới công tác lưu hành tiền tệ. Lượng tiền
cần có (D) để cân đối với hàng hoá không đồng nhất với lượng tiền mặt thực tế đang
có trên thị trường. Lượng tiền này không chỉ phụ thuộc vào lượng tiền mặt thực tế (T)
mà còn phụ thuộc vào vòng quay đồng tiền (V), chúng tỷ lệ thuận với nhau theo công
thức: D = T . V.

Lượng tiền D cân đối với hàng cần phải được kiểm soát chặt và thường ổn định trong
một thời gian thích hợp có lợi cho sự phát triển kinh tế. Khi có nhu cầu tăng D, các nhà
quản lý thường tăng vòng quay của đồng tiền (V), hạn chế tăng T. Vấn đề này rấ
quan trọng cả đối với quản lý vĩ mô và quản lý vi mô.

Song việc có nhiều thành viên tham gia vào cơ chế lưu hành tiền tệ như trên đã khiến
cho công tác quản lý trở nên phức tạp và kém hiệu quả. Nhiều cơ sở ngân hàng, phi
ngân hàng tham gia kinh doanh tiền tệ thường chỉ quan tâm tới lợi nhuận, tới vốn. Do
vậy vòng quay tiền mặt ít được chú ý, khiến cho việc quản lý V càng khó khăn phức
tạp hơn. Khi có nhu cầu tăng D, thay vì việc tìm giải pháp tăng vòng quay đồng tiền
(V) lại tăng lượng cung tiền mặt vào lưu thông, làm cho lượng tiền mặt có trong lưu
thông (T) thường xuyên tăng lên. Lượng tiền nhiều trong lưu thông khiến cho thu chi
tiền mặt dễ dàng, xuất hiện toạ chi ở nhiều doanh nghiệp, vòng quay đồng tiền (V)
thực tế đã tăng lên. Điều này khiến cho D càng lớn gây mất cân đối trầm trọng giữa
tiền (D) và hàng, làm lạm phát gia tăng đột biến.

Thứ ba, ngoại tệ tăng mạnh. Năm 2007 đầu tư nước ngoài vào Việt nam tăng cao,
kiều hối cũng tăng đáng kể, riêng hai khoản này cũng đã gần 30 tỷ USD. Với lượng
tiền đó đòi hỏi phải có lượng tiền VNĐ lớn tung ra thị trường, làm cho lượng tiền mặt
trên thị trường tăng lên.



23
(21/05/2008) Thời báo kinh tế VN
Thứ tư, sức hút của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán phát triển mạnh
trong thời gian qua đã hút một lượng tiền lớn vào đây. Ngoài lượng tiền nhàn rỗi trong
dân được huy động, lượng vốn bằng tiền còn được huy động thông qua vay ngân hàng,
rút tiết kiệm, bán tài sản (do thay đổi mục tiêu kinh doanh), từ các nhà đầu tư nước
ngoài,....

Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng khác là tâm lý hoang mang của người dân trước
giá cả thị trường tăng cao, đồng tiền giảm giá nhanh chóng. Để bảo toàn vốn của
mình, các nhà đầu tư cũng như dân chúng đã chuyển sang mua vàng hoặc kim loại quý,
đá quý khác thay vì dùng vốn đó kinh doanh hoặc gửi tiết kiệm. Do vậy một lượng
tiền lớn được tung vào lưu thông đã làm cho lạm phát trầm trọng hơn.

Tất cả những nhân tố trên làm cho lượng tiền mặt thực tế có trong lưu thông (T) tăng
lên quá nhiều, vượt xa lượng tiền mặt thực tế cần có.

Lạm phát cầu kéo

Lạm phát cầu kéo có nguyên nhân bắt nguồn từ nội bộ nền kinh tế, vì vậy loại lạm
phát này thường chỉ diễn ra đối với từng nền kinh tế cá biệt. Lạm phát cầu kéo do tốc
độ phát triển kinh tế cao, quy mô đầu tư lớn và dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp, vượt
quá khả năng đáp ứng về tài nguyên tiềm năng của nền kinh tế. Nền kinh tế phát triển
nóng khiến cho nhu cầu quá lớn trong khi khả năng cung ứng có hạn, mất cân đối này
làm giá cả tăng liên tục với tỷ lệ cao. Năm 2006, 2007 nền kinh tế Việt Nam đã rơi
vào tình trạng phát triển nóng. Điều này thể hiện rõ nhất ở mất cân đối cao giữa cung
cầu, cung luôn thấp hơn cầu (năng lượng, nhân lực chất lượng cao, tắc nghẽn mạch
thông tin liên lạc, hạ tầng quá tải, công trình – dự án chậm tiến độ ...). Chúng ta đang
tập trung mọi nỗ lực nhằm đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP 8,5 – 9% trong năm 2008, điều
này sẽ dẫn tới mất cân đối cung cầu hơn nữa và sẽ làm lạm phát tăng cao hơn.

Lạm phát chi phí đẩy

Lạm phát chi phí đẩy do giá vật tư đầu vào tăng. Trong năm qua, nhiều loại nguyên
vật liệu giá tăng rất cao như dầu mỏ, than đá, sắt thép, nhựa, … Những loại chi phí
tăng lên đó đã tác động tới hầu hết các nền kinh tế, tạo nên chi phí đầu vào rất cao đối
với nhiều loại hàng hoá, dẫn tới chi phí sản xuất cao, buộc các doanh nghiệp tăng giá
bán hàng hoá của mình. Làn sóng tăng giá này làm giá cả chung trên thị trường tăng
mạnh mẽ, đẩy nền kinh tế tới lạm phát.

Năm 2007 và năm 2008, giá dầu tăng cao tác động tới hầu hết các ngành sản xuất
trong nước, dẫn tới tăng giá bán ở đầu ra. Trong năm qua, không ngành sản xuất nào
trong nước cưỡng lại được xu thế này, bao gồm cả ngành giao thông vận tải, than,
khai thác đá, luyện cán thép... sắp tới là ngành điện.

Lạm phát chi phí đẩy mang tính toàn cầu song mức độ diễn ra ở mỗi nước có khác
nhau. Những nền kinh tế đang trong thời kỳ suy giảm sẽ không lạm phát, tăng giá dầu



24
chỉ là yếu tố dẫn tới tăng giá trong nước. Đối với những nền kinh tế tăng trưởng nóng
như Việt Nam, Trung Quốc, ấn Độ, giá dầu tăng đã thực sự đẩy lạm phát cao. Do vậy,
việc nhập khẩu các yếu tố đầu vào từ những nền kinh tế tăng trưởng nóng cũng bao
hàm việc nhập cả những yếu tố lạm phát của các nền kinh tế đó.


Tăng trưởng GDP 2008 thấp hơn mức đã công bố

Cập nhật lúc 21h45, ngày 27/03/2009

Hanoinet - Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 chỉ
đạt 489.800 tỷ đồng, giảm 1.400 tỷ đồng so với con
số ước tính đã công bố cuối năm ngoái.

Số liệu cập nhật mới nhất của Tổng cục Thống kê cho
thấy, tăng trưởng GDP thực tế của năm 2008 thấp hơn
so với mức công bố sơ bộ hồi cuối năm 2008.

Cụ thể, tăng trưởng kinh tế 2008 chỉ đạt 6,18% so với
mức 6,23% công bố cuối năm 2008. Nguyên nhân sự
điều chính giảm là do số liệu cập nhật mới trong các
lĩnh vực sản xuất, thương mại và đầu tư, công nghiệp và
Kinh tế vẫn trong đà suy giảm. (Ảnh: VNN)
xây dựng.
Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 chỉ đạt 489.800 t ỷ đồng, giảm 1.400 t ỷ đ ồng so v ới con
số ước tính đã công bố cuối năm ngoái. Trong các khu vực chỉ có nông lâm thủy s ản tăng lên t ừ
3,8% của cuối năm ngoái tăng lên 4,07%. Các khu vực khác nh ư công nghiệp và xây d ựng gi ảm
6,33% xuống 6,11%; dịch vụ giảm từ 7,2% xuống 7,18%./

Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả năm 2008 cũng giảm 221 triệu USD so v ới ước
tính, chỉ đạt 62,7 tỷ USD. Nhập khẩu cao hơn 298 triệu USD, lên mức 80,7 t ỷ USD, khi ến nh ập
siêu bị nâng thành 18 tỷ USD thay vì 17,5 tỷ USD.

Trong báo cáo kinh tế sơ bộ qúy 1/2008, Tổng cục Thống kê cũng cho bi ết, GDP quý đ ầu tiên
của năm 2008 chỉ tăng 3,1% so vơi mục tiêu 6 - 6,5% đề ra.




Theo VNN

Tình hình kinh tế- xã hội năm 2009 (08:04 31/12/2009)
Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục g ặp nhi ều khó khăn, thách th ức. Kh ủng ho ảng
tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh t ế th ế gi ới vào tình tr ạng suy
thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường v ốn, th ị tr ường lao đ ộng và tác đ ộng
tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta. Ở trong nước, thiên tai d ịch b ệnh x ảy
ra liên tiếp trên địa bàn cả nước cũng đã gây ảnh hưởng lớn đ ến sản xuất và đ ời s ống dân c ư.

Trong bối cảnh không thuận lợi đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày
11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế,
bảo đảm an sinh xã hội; Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 09/01/2009 về những giải pháp chủ yếu chỉ


25
đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm
2009. Ngày 6/4/2009, Bộ Chính trị đã ra Kết luận về tình hình kinh tế-xã hội quý I/2009 và các giải
pháp chủ yếu đến cuối năm 2009. Ngày 19/6/2009, kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khoá XII đã ra Nghị
quyết số 32/2009/QH12 điều chỉnh mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm
2009 là “Tập trung cao độ mọi nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh t ế, phấn đấu duy trì t ốc đ ộ tăng
trưởng kinh tế hợp lý, bền vững, giữ ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở
lại, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,
trong đó, mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế”.

Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nhạy bén, kịp thời, t ập trung và quy ết li ệt c ủa Đ ảng, Chính
phủ; sự nỗ lực và chủ động khắc phục khó khăn, s ự sáng tạo của các Bộ, Ngành, địa phương,
các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và của toàn dân nên n ước ta đã ngăn ch ặn
được suy giảm kinh tế, càng về cuối năm càng nâng cao được t ốc độ tăng trưởng. Trên c ơ s ở s ố
liệu 11 tháng và ước tính tháng 12, Tổng cục Thống kê khái quát k ết qu ả th ực hi ện K ế ho ạch
phát triển kinh tế-xã hội năm 2009 của cả nước trên ba m ặt: (1) Ngăn ch ặn suy gi ảm kinh t ế,
duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; (2) Gi ữ ổn định kinh t ế vĩ mô, ch ủ đ ộng
phòng ngừa lạm phát cao trở lại; (3) Bảo đảm an sinh xã h ội, phát tri ển s ự nghi ệp văn hoá, giáo
dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác.

KẾT QUẢ NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ, DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
HỢP LÝ, BỀN VỮNG

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, t ốc đ ộ tăng t ổng s ản ph ẩm trong n ước
quý I/2009 chỉ đạt 3,14%, là quý có tốc độ tăng th ấp nh ất trong nhi ều năm g ần đây; nh ưng quý
II, quý III và quý IV của năm 2009, tốc đ ộ tăng t ổng s ản ph ẩm trong n ước đã nâng d ần lên l ần
lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9%. Tính chung cả năm 2009, t ổng s ản ph ẩm trong n ước tăng 5,32%,
bao gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy s ản tăng 1,83%; khu v ực công nghi ệp và xây d ựng
tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%.

Từ diễn biến và kết quả tăng tổng sản phẩm trong nước năm 2009 có thể đ ưa ra m ột s ố nh ận
xét, đánh giá như sau:

- Một là, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 tuy vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,18% của năm 2008,
nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch. Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền
kinh tế tăng trưởng âm mà kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng dương tương đối cao như
trên là một thành công lớn.

- Hai là, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I và quý II năm 2009 th ấp h ơn t ốc đ ộ tăng
của quý I và quý II năm 2008; nhưng quý III/2009 tăng 6,04%, cao h ơn t ốc đ ộ tăng 5,98% c ủa
quý III/2008 và quý IV/2009 tăng 6,9%, cao h ơn t ốc đ ộ tăng 5,89% c ủa quý IV/2008 cho th ấy
nền kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy gi ảm t ốc đ ộ tăng trưởng, ch ứng t ỏ các chính sách,
giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh t ế của Chính ph ủ đề ra, đ ược tri ển khai trong năm v ừa qua
phù hợp với tình hình thực tế, đã và đang phát huy hi ệu quả.

Tổng sản phẩm trong nước năm 2009

theo giá so sánh 1994

%


26
2008 2009
Tổng số 6,18 5,32
A. Phân theo khu vực kinh tế
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 4,07 1,83
Công nghiệp và xây dựng 6,11 5,52
Dịch vụ 7,18 6,63
B. Phân theo quý trong năm
Qúy I 7,49 3,14
Qúy II 5,72 4,46
Qúy III 5,98 6,04
Qúy IV 5,89 6,90
Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế
Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2009 theo giá so sánh 1994 đ ạt
97,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước; đến 6 tháng cuối năm đã đ ạt 122,8
nghìn tỷ đồng, tăng 3,16% so với 6 tháng cuối năm 2008. Do vậy, tính chung cả năm 2009 đ ạt
219,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với năm 2008, bao gồm nông nghiệp đạt 160,1 nghìn t ỷ đồng,
tăng 2,2%; lâm nghiệp đạt 7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8%; thuỷ sản đạt 52,8 nghìn t ỷ đồng, tăng
5,4%.

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh
1994
Nông nghiệp

Năm 2008 được mùa lớn với sản lượng lúa đạt 38,7 triệu tấn, tăng 2,8 triệu tấn so với năm 2007
và là năm sản lượng lúa đạt mức cao nhất trong 12 năm trước đó. Năm 2009, mặc dù nước ta, đặc
biệt là Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ bị bão lũ gây thiệt hại nặng nề, nhưng nh ờ có sự
nỗ lực đẩy mạnh sản xuất của các vùng, miền khác, nhất là đồng bằng sông Hồng và đồng b ằng
sông Cửu Long nên sản lượng lúa cả năm vẫn đạt gần 38,9 triệu tấn, tăng 165,7 nghìn tấn so với
năm 2008, bao gồm lúa đông xuân đạt 18,7 triệu tấn, tăng 369,4 nghìn tấn so với vụ đông xuân
năm 2008 do diện tích tăng 47,6 nghìn ha và năng suất tăng 0,3 tạ/ha; lúa hè thu đ ạt 11,2 triệu
tấn, giảm 211,6 nghìn tấn do diện tích giảm 10,4 nghìn ha và năng suất giảm 0,7 tạ/ha; lúa mùa
đạt 9 triệu tấn, chỉ tăng 7,9 nghìn tấn do năng suất không tăng và diện tích cũng chỉ tăng 2,7 nghìn
ha. Nếu tính chung cả 4,4 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm đạt 43,3 triệu
tấn, tăng 24,4 nghìn tấn so với năm 2008 (Lúa tăng 165,7 nghìn tấn, nhưng ngô giảm 141,3 nghìn
tấn).

Diện tích và sản lượng các loại cây hàng năm khác đạt thấp, th ậm chí m ột s ố loại cây trồng còn
giảm sút so với năm 2008 do vụ đông bị bão, lũ như: Khoai lang đạt 1207,6 nghìn t ấn, gi ảm 118
nghìn tấn (diện tích giảm 16,2 nghìn ha); đỗ tương đạt 213,6 nghìn tấn, giảm 54 nghìn t ấn (di ện
tích giảm 45,9 nghìn ha); lạc đạt 525,1 nghìn tấn, giảm 5,1 nghìn tấn (diện tích giảm 6,1 nghìn ha).
Riêng sản lượng sắn và mía giảm nhiều còn do giá tiêu thụ trên thị trường thấp nên một phần diện
tích đã được chuyển đổi sang trồng các loại cây khác (Di ện tích tr ồng s ắn gi ảm 45,2 nghìn ha,




27
sản lượng chỉ đạt 8,5 triệu tấn, giảm 753 nghìn tấn; diện tích trồng mía giảm 10,6 nghìn ha và sản
lượng chỉ đạt 15,2 triệu tấn, giảm 899,1 nghìn tấn).

Cây lâu năm có xu hướng phát triển khá, m ột mặt do giá bán s ản ph ẩm tăng; m ặt khác, nh ững
năm trước đây nhiều địa phương đã tiến hành trồng thay th ế nh ững di ện tích cây già c ỗi b ằng
loại cây giống mới có năng suất và chất lượng cao nên thu nhập t ừ cây lâu năm cao h ơn các lo ại
cây trồng khác đã khuyến khích các doanh nghi ệp và ng ười dân ti ếp t ục m ở r ộng di ện tích gieo
trồng. Đặc biệt trong năm 2009, một số mô hình, d ự án đ ược tri ển khai tích c ực và có hi ệu qu ả
như: Dự án trồng mới cây cao su ở một số t ỉnh thuộc mi ền núi phía B ắc (Yên Bái và Lai Châu
mỗi tỉnh 3,5 nghìn ha; Điện Biên 3,2 nghìn ha; S ơn La 3,9 nghìn ha); d ự án tr ồng 320 ha chè
cành năng suất cao ở Thái Nguyên; dự án trồng cao su trên đ ất lâm nghi ệp ở Tây Nguyên và
Bình Phước hoặc mô hình đầu tư giống, vật t ư cho nh ững vùng trọng đi ểm chuyên canh cây h ồ
tiêu ở Gia Lai.

Nhờ vậy, diện tích chè năm 2009 đạt 128,1 nghìn ha, tăng 2,6 nghìn ha so với năm trước; cà phê 537
nghìn ha, tăng 6,1 nghìn ha; cao su 674,2 nghìn ha, tăng 42,8 nghìn ha; hồ tiêu 50,5 nghìn ha, tăng
0,6 nghìn ha. Sản lượng một số cây lâu năm tăng khá, trong đó chè búp ước tính đạt 798,8 nghìn
tấn, tăng 7% so với năm 2008 (diện tích cho sản phẩm tăng 2,7%; năng suất tăng 4,2%); cao su
723,7 nghìn tấn, tăng 9,7% (diện tích cho sản phẩm tăng 5,6%; năng suất tăng 3,8%); hồ tiêu
105,6 nghìn tấn, tăng 7,2% (diện tích cho sản phẩm tăng 4,5%; năng suất tăng 2,6%).

Chăn nuôi tiếp tục phát triển, nhất là chăn nuôi t ập trung, quy mô lớn. Theo k ết qu ả đi ều tra
trang trại thời điểm 01/7/2009, số trang trại chăn nuôi đã tăng 18,5% so v ới cùng th ời đi ểm năm
2008, trong đó một số địa phương vùng Đông Nam Bộ có số trang trại chăn nuôi tăng trên 50%
như: Bình Phước tăng 60%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 58,7%; Bình Dương tăng 51%. Do nhiều
địa phương mở rộng hình thức chăn nuôi tập trung, dịch bệnh trong năm tuy vẫn phát sinh nhưng ở
phạm vi hẹp nên số lượng gia súc, gia cầm nhìn chung tăng hơn năm 2008.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/10/2009, đàn lợn cả nước có 27627,7 nghìn con,
tăng 3,5% so với 01/10/2008; đàn gia cầm 280,2 triệu con, tăng 12,8%; đàn trâu 2886,6 nghìn con,
giảm 0,4%; đàn bò 6103,3 nghìn con, giảm 3,7%. Đàn trâu, bò giảm chủ yếu là giảm trâu, bò cày
kéo (số trâu cày kéo giảm 4,7%; bò cày kéo giảm 15,6%) nên sản lượng sản phẩm chăn nuôi năm
2009 vẫn đạt khá. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước tính đạt 75 nghìn tấn, tăng 4,8% so với
năm 2008; sản lượng thịt bò đạt 257,8 nghìn tấn, tăng 13,7%; sản lượng thịt lợn đạt 2931,4 nghìn
tấn, tăng 4,5%; sản lượng thịt gia cầm đạt 502,8 nghìn tấn, tăng 12,2%; trứng gia cầm đạt 5952,1
triệu quả, tăng 9%.

Tiến độ gieo trồng cây nông nghiệp đến ngày 15 tháng 12 năm
2009
Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chủ yếu
Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung năm 2009 ước tính đạt 212 nghìn ha, tăng 5,9% so với năm 2008.
Một số địa phương có diện tích rừng trồng mới tập trung đạt cao là: Hà Giang 17 nghìn ha; Tuyên
Quang 14,9 nghìn ha; Yên Bái 13,9 nghìn ha; Thanh Hoá 12 nghìn ha; Nghệ An 9,5 nghìn ha;
Quảng Ngãi 8,7 nghìn ha. Diện tích khoanh nuôi tái sinh rừng năm 2009 ước tính đạt 1032 nghìn
ha, tăng 5,2% so với năm trước; số cây trồng phân tán đạt 180,4 triệu cây, giảm 1,8%; di ện tích
rừng được chăm sóc 486 nghìn ha, tăng 4,3%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 3766,7 nghìn m 3, tăng



28
5,7%. Những địa phương có sản lượng gỗ khai thác lớn là: Tuyên Quang 218 nghìn m 3; Yên Bái
200 nghìn m3; Quảng Ngãi 180 nghìn m3; Quảng Nam 169 nghìn m3; Bình Định 167 nghìn m3; Hoà
Bình 135 nghìn m3.

Kết quả trồng, chăm sóc rừng và khai thác gỗ, lâm sản đ ạt khá ch ủ yếu do đ ầu t ư đ ược tăng
cường. Ngoài đầu tư lớn từ các chương trình dự án (riêng Dự án 5 tri ệu ha r ừng năm 2009 đã
đầu tư 1180 tỷ đồng, tăng 43,9% so với năm 2008), nhiều đ ịa ph ương còn huy đ ộng đ ược v ốn
đầu tư của các hộ gia đình do việc thực hi ện chính sách giao đ ất, giao r ừng b ảo đ ảm đ ược
quyền lợi ổn định lâu dài cho các hộ nhận khoán khoanh nuôi tái sinh rừng.

Công tác bảo vệ rừng và tuyên truyền phòng chống cháy rừng đ ược các địa ph ương quan tâm
triển khai rộng đến các thôn, bản nên đã hạn chế tình trạng cháy r ừng, ch ặt phá r ừng. T ổng
diện tích rừng bị cháy và bị chặt phá năm 2009 là 3221 ha, gi ảm 18,8% so v ới năm 2008, trong
đó diện tích rừng bị cháy 1658 ha, giảm 1,2%; di ện tích r ừng b ị ch ặt phá 1563 ha, gi ảm 30,3%.
Tuy nhiên, một số địa phương vẫn còn xảy ra tình trạng cháy rừng v ới di ện tích l ớn nh ư: Hà
Giang 381 ha; Yên Bái 201,4 ha; Lạng Sơn 144,8 ha; S ơn La 133,6 ha; Cao B ằng 93,7 ha.
Những địa phương có diện tích rừng bị chặt phá nhiều là: Bình Ph ước 489 ha; Lâm Đ ồng 488
ha; Đắk Nông 284 ha; Sơn La 227 ha.

Kết quả sản xuất lâm
nghiệp
Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản năm 2009 ước tính đạt 4847,6 nghìn t ấn, tăng 5,3% so v ới năm 2008, trong
đó cá đạt 3654,1 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm 537,7 nghìn t ấn, tăng 7,2%.

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 2009 ước tính đạt 2569,9 nghìn t ấn, tăng 4,2% so v ới năm
trước, chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi và mở rộng di ện tích nuôi trồng theo
hướng kết hợp đa canh, đa con. Bên cạnh đó, mô hình nuôi thuỷ sản lồng, bè tiếp tục phát triển,
đặc biệt là nuôi lồng, bè trên biển ở các tỉnh: Kiên Giang, Quảng Nam, Ninh Thuận, Phú Yên,
Hải Phòng. Tính chung số lồng bè nuôi thuỷ sản năm 2009 của cả nước đ ạt 98,4 nghìn chi ếc,
tăng 12,6 nghìn chiếc (tăng 14,7%) so với năm 2008.

Nuôi cá tra vẫn gặp nhiều khó khăn do giá cá nguyên li ệu và th ị tr ường tiêu th ụ không ổn đ ịnh.
Diện tích nuôi thả cá tra năm nay ước tính đạt 9 nghìn ha, giảm 12,4% so với năm trước, trong
đó nuôi cá tra công nghiệp 6,6 nghìn ha , giảm 10,3% (Diện tích nuôi thả cá tra công nghiệp ở
Đồng Tháp chỉ còn 1791 ha, giảm 28%; Cần Thơ 999 ha, giảm 16,7%; Tiền Giang 123 ha, giảm
12,1%; An Giang 1108 ha, giảm 9%). Sản lượng cá tra thu hoạch năm 2009 ước tính đạt 1006,3
nghìn tấn, giảm 6,9% so với năm 2008.

Diện tích nuôi tôm sú năm 2009 ước tính đạt 549,1 nghìn ha, gi ảm 10,7% so v ới năm tr ước , chủ
yếu do sức mua của những thị trường tiêu thụ tôm sú nhi ều là Mỹ và Nh ật B ản gi ảm m ạnh;
đồng thời một số diện tích nuôi tôm sú đã chuyển đổi sang nuôi tôm thẻ chân trắng cho năng
suất và thu nhập cao hơn. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng năm nay ước tính đ ạt 13,5 nghìn
ha, tăng 75,5% so với năm 2008; sản lượng đạt 63 nghìn t ấn, g ấp trên 2 l ần cùng kỳ năm tr ước.

Sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2009 ước tính đạt 2277,7 nghìn t ấn, tăng 6,6% so v ới năm
trước (tốc độ tăng cao nhất trong 8 năm trở lại đây) , trong đó khai thác biển đạt 2086,7 nghìn
tấn, tăng 7,2%. Khai thác biển tăng cao là do các loại cá c ơm, các trác, cá h ố, các n ục, cá ng ừ



29
xuất hiện trên ngư trường với mật độ cao và thời gian kéo dài. Đ ồng th ời c hính sách hỗ trợ ngư
dân mua mới, đóng mới tàu có công suất lớn đã tăng năng lực khai thác hải sản xa bờ. Ngoài ra,
dịch vụ nghề cá được cải tiến hợp lý và hiệu quả hơn đã t ạo điều ki ện cho các tàu thuy ền tăng
thêm số ngày đánh bắt trên biển.

Sản lượng thuỷ sản
Sản xuất công nghiệp

Công nghiệp là ngành bị ảnh hưởng mạnh do thị trường xuất khẩu hàng hoá thu hẹp; nhưng các cơ
sở sản xuất, các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế có nhiều cố gắng; Chính phủ và các cấp, các
ngành đã đề ra nhiều giải pháp kịp thời, có hiệu quả như hỗ trợ lãi suất vay vốn; mở rộng thị trường
tiêu thụ trong nước thông qua các gói kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng; vận động nhân dân
hưởng ứng chủ trương “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nên kết quả sản xuất, kinh
doanh từng bước được khôi phục và tiếp tục tăng trưởng.

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 1/2009 theo giá so sánh 1994 gi ảm 0,2% so v ới cùng kỳ năm
2008; các tháng tiếp theo tuy đạt mức tăng trưởng d ương nh ưng t ốc đ ộ tăng th ấp (Bình quân 6
tháng đầu năm chỉ tăng 4,8%). Nhờ tích cực tri ển khai các gi ải pháp tháo g ỡ khó khăn nêu trên
nên những tháng cuối năm đã tăng trên dưới 10% (Tháng 8 tăng 9,9%; tháng 9 tăng 12,4%;
tháng 10 tăng 9,2%; tháng 11 tăng 10,8% và tháng 12 tăng 13,4%). Tính chung c ả năm 2009, giá
trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đ ạt 696,6 nghìn t ỷ đ ồng, tăng 7,6% so
với năm 2008, bao gồm khu vực kinh t ế Nhà nước tăng 3,7% (Trung ương qu ản lý tăng 5,5%,
địa phương quản lý giảm 2,9%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 9,9%; khu v ực có v ốn đ ầu t ư
nước ngoài tăng 8,1% (dầu mỏ và khí đốt tăng 9,2%, các ngành khác tăng 8%).

Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng đạt tốc độ tăng cao h ơn mức tăng chung c ả năm là:
Điều hòa nhiệt độ tăng 41,8%; khí hóa lỏng tăng 39,3%; t ủ l ạnh, t ủ đá tăng 29,5%; xà phòng,
bột giặt tăng 20,2%; xi măng tăng 19,2%; thép tròn tăng 19,1%; đi ện s ản xu ất tăng 11,9%; thu ốc
lá điếu tăng 10,5%; than sạch tăng 9,9%; d ầu thô khai thác tăng 9,8%; n ước máy th ương ph ẩm
tăng 9,7%; giầy, dép giả gia tăng 9,6%; bia tăng 8,5%.

Một số tỉnh, thành phố có quy mô s ản xuất công nghiệp lớn đ ạt t ốc đ ộ tăng cao h ơn m ức tăng
chung cả nước là: Quảng Ninh tăng 15,8%; Thanh Hóa tăng 13,9%; Đ ồng Nai tăng 10,6%; Bình
Dương tăng 10,3%; Khánh Hòa tăng 10%; Hà Nội tăng 9,4%; Cần Thơ tăng 9,1%; Đà Nẵng tăng
8,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,9%; Hải Phòng tăng 7,7%. Bên cạnh đó, m ột s ố t ỉnh có t ốc
độ tăng thấp như: Hải Dương tăng 6,2%; Phú Thọ tăng 5,3%; Vĩnh Phúc tăng 5%; Bà R ịa-Vũng
Tàu tăng 3,1%.

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994
Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công
nghiệp
Hoạt động dịch vụ

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Do sản xuất trong nước phục hồi, giá cả hàng hoá, dịch vụ t ương đ ối ổn định, nhi ều doanh
nghiệp đẩy mạnh khai thác thị trường trong nước nên t ổng m ức bán l ẻ hàng hoá và doanh thu
dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế cả năm ước tính đã đ ạt 1197,5 nghìn t ỷ đ ồng, tăng 18,6%;
nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng đạt 11% so với năm 2008.



30
Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2009, khu v ực kinh t ế cá
thể đạt 663,2 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3%; kinh t ế t ư nhân đ ạt 374,9 nghìn t ỷ đ ồng, tăng 22,9%;
kinh tế Nhà nước đạt 116,3 nghìn t ỷ đồng, tăng 1,4%; kinh t ế có v ốn đ ầu t ư n ước ngoài đ ạt 31,3
nghìn tỷ đồng, tăng 9,5%; kinh t ế tập thể đạt 11,8 nghìn t ỷ đ ồng, tăng 18,8%. Xét theo ngành
kinh doanh thì kinh doanh thương nghiệp đạt 939,6 nghìn t ỷ đ ồng, tăng 18,6%; khách s ạn, nhà
hàng 135 nghìn tỷ đồng, tăng 18,4%; dịch vụ 111,6 nghìn t ỷ đ ồng, tăng 20,3%; du l ịch đ ạt 11,3
nghìn tỷ đồng, tăng 1,9%.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá th ực t ế
Vận tải hành khách và hàng hoá

Vận tải hành khách năm 2009 ước tính đạt 1989,1 tri ệu lượt khách, tăng 8,2% và 86,8 t ỷ l ượt
khách.km, tăng 6,2% so với năm 2008. Vận tải hành khách đ ường b ộ ước tính đ ạt 1798,8 tri ệu
lượt khách, tăng 8,6% và 62,6 tỷ lượt khách.km, tăng 9,3% so v ới năm tr ước; đ ường sông đ ạt
162,5 triệu lượt khách, tăng 4,5% và 3,3 t ỷ lượt khách.km, tăng 4,6%; đ ường s ắt đ ạt 11 tri ệu l ượt
khách, giảm 2,6% và 4,1 tỷ lượt khách.km, giảm 7,9%; đ ường không đ ạt 11 tri ệu l ượt khách,
tăng 4,2% và 16,5 tỷ lượt khách.km, giảm 1,6%.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển năm 2009 ước tính đạt 640,3 triệu tấn, tăng 4,1% và 184,5 tỷ
tấn.km, tăng 8,6% so với năm trước, bao gồm: vận tải trong nước đạt 612,8 triệu tấn, tăng 5,6% và
63,9 tỷ tấn.km, tăng 5,3%; vận tải ngoài nước đạt 27,5 triệu tấn, giảm 2,5% và 120,5 tỷ t ấn.km,
tăng 9,6%. Vận tải hàng hoá đường bộ ước tính đạt 470 triệu tấn, tăng 5,2% và 23,3 t ỷ t ấn.km,
tăng 8,2% so với năm 2008; đường sông đạt 117,1 triệu tấn, tăng 2,3% và 18,7 t ỷ tấn.km, tăng
2%; đường biển đạt 45 triệu tấn, giảm 1% và 138,3 tỷ tấn.km, tăng 10%; đường s ắt đ ạt 8,1 triệu
tấn, giảm 4,9% và 3,8 tỷ tấn.km, giảm 8,8%.

Vận tải hàng hoá
Vận tải hành khách
Bưu chính, viễn thông

Số thuê bao điện thoại phát triển mới năm 2009 ước tính đ ạt 41,7 tri ệu thuê bao, tăng 40,8% so
với năm 2008, bao gồm 4 triệu thuê bao cố định, tăng 43,1% và 37,7 tri ệu thuê bao di đ ộng, tăng
40,5%. Số thuê bao điện thoại của cả nước tính đ ến cuối tháng 12/2009 là 123 tri ệu thuê bao,
tăng 51,3% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 18,1 tri ệu thuê bao c ố đ ịnh, tăng 28,4%
và 104,9 triệu thuê bao di động, tăng 56,1%. Tập đoàn B ưu chính Vi ễn thông chi ếm th ị ph ần l ớn
nhất (56%) với 68,5 triệu thuê bao, tăng 39,7%, bao gồm 11,6 tri ệu thuê bao c ố đ ịnh, tăng
10,7% và 56,9 triệu thuê bao di động, tăng 47,6%. Ti ếp đến là T ổng công ty Vi ễn thông quân đ ội
chiếm 31% thị phần với 37 triệu thuê bao.

Số thuê bao Internet có đến cuối tháng 12/2009 đạt 3 triệu thuê bao, tăng 45,5% so với cùng th ời
điểm năm 2008, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông 2,1 triệu thuê bao, tăng 64,7%. Số người
sử dụng Internet tính đến cuối năm 2009 ước tính 22,9 triệu lượt người, tăng 10,3% so với thời
điểm cuối năm 2008.

Số thuê bao điện thoại và Internet phát triển m ạnh đã góp ph ần quan tr ọng đ ưa t ổng doanh thu
thuần bưu chính, viễn thông năm 2009 ước tính đạt 94,9 nghìn t ỷ đ ồng, tăng 39,7% so v ới năm
2008, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 71,2 nghìn t ỷ đ ồng, tăng 45,6%.

Kết quả hoạt động bưu chính viễn



31
thông
Khách quốc tế đến Việt Nam

Do tình hình kinh tế của nhiều nước và vùng lãnh thổ gặp khó khăn nên khách quốc tế nói chung
và khách du lịch quốc tế nói riêng đến nước ta cả năm 2009 ước tính chỉ đạt 3,8 triệu l ượt ng ười,
giảm 10,9% so với năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 2,2 triệu
lượt người, giảm 14,8%; đến vì công việc 783,1 nghìn lượt người, giảm 0,2%; thăm thân nhân đ ạt
517,7 nghìn lượt người, tăng 1,4%; khách đến với mục đích khác đạt 245,1 nghìn lượt người, giảm
8,6%. Một số nước và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta lớn nhưng năm nay vẫn ti ếp t ục
giảm so với năm trước như: Khách đến từ Trung Quốc 527,6 nghìn lượt người, giảm 18%; Hoa Kỳ
đạt 403,9 nghìn lượt người, giảm 2,6%; Hàn Quốc 362,1 nghìn lượt người, giảm 19,4%; Nhật Bản
359,2 nghìn lượt người, giảm 8,6%; Đài Loan 271,6 nghìn lượt người, giảm 10,4%; Ôx-trây-li-a
218,5 nghìn lượt người, giảm 6,9%; Pháp 174,5 nghìn lượt người, giảm 4,1%.

Khách quốc tế đến Việt
Nam
KẾT QUẢ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA LẠM PHÁT CAO TRỞ LẠI

Đầu tư phát triển

Với mục tiêu ưu tiên là ngăn chặn suy giảm kinh t ế, b ảo đ ảm an sinh xã h ội, trong năm qua
Chính phủ đã tập trung thực hiện các gói kích cầu đ ầu t ư và tiêu dùng; đ ồng th ời ch ỉ đ ạo đ ẩy
nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình trọng đi ểm nh ằm nâng cao hi ệu qu ả v ốn đ ầu t ư
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhờ vậy, vốn đầu tư toàn xã h ội thực hi ện năm 2009 theo giá
thực tế ước tính đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so v ới năm 2008 và b ằng 42,8% GDP, bao
gồm vốn khu vực Nhà nước 245 nghìn t ỷ đồng, chiếm 34,8% t ổng v ốn và tăng 40,5%; khu v ực
ngoài Nhà nước 278 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,5% và tăng 13,9%; khu v ực có v ốn đ ầu t ư tr ực ti ếp
nước ngoài 181,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,7% và giảm 5,8%.

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2009

Nghìn tỷ Cơ cấu So với cùng kỳ
đồng năm trước (%)
(%)

TỔNG SỐ 704,2 100,0 115,3
Khu vực Nhà nước 245,0 34,8 140,5
Khu vực ngoài Nhà nước 278,0 39,5 113,9
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 181,2 25,7 94,2
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn t ừ ngân sách Nhà nước đ ạt 153,8 nghìn t ỷ đ ồng,
chiếm 21,8% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 106,8% kế hoạch năm. Vốn đầu tư từ ngân sách
Nhà nước do Trung ương quản lý đạt 63,9 nghìn t ỷ đ ồng, b ằng 112,8% k ế ho ạch, trong đó B ộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 3715,9 t ỷ đồng, b ằng 125,8%; B ộ Giao thông V ận t ải
đạt 10924,6 tỷ đồng, bằng 113,9%; Bộ Công Thương đạt 252,2 t ỷ đ ồng, b ằng 106%; Bộ Y tế đạt
1065,1 tỷ đồng, bằng 105,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 787,2 tỷ đồng, bằng 102,5%; Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch đạt 541,1 tỷ đồng, bằng 100,5%; riêng Bộ Xây dựng mới đạt 828,5 tỷ đồng,
bằng 91,9% kế hoạch năm 2009.




32
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính thực hiện 89,9 nghìn tỷ
đồng, bằng 102,9% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có số vốn thực hiện lớn là: Thành
phố Hồ Chí Minh đạt 14 nghìn tỷ đồng, bằng 101,4% kế hoạch; Hà Nội đạt 10,7 nghìn t ỷ đồng,
bằng 91,7%; Đà Nẵng đạt 3,8 nghìn t ỷ đồng, bằng 113,8%; Bà Rịa-Vũng Tàu đ ạt 2,5 nghìn t ỷ
đồng, bằng 96,5%; Bình Dương đạt 2,4 nghìn tỷ đồng, bằng 106,4%; Thừa Thiên - Huế đ ạt 2,3
nghìn tỷ đồng, bằng 214%; Hà Tĩnh đạt 2,2 nghìn t ỷ đ ồng, b ằng 72,2%; H ải Phòng đ ạt 2 nghìn
tỷ đồng bằng 117,8%.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2009 đ ạt thấp do ảnh h ưởng c ủa kh ủng ho ảng
kinh tế thế giới. Tính đến ngày 15/12/2009, đ ầu t ư trực ti ếp nước ngoài đ ạt 21,5 t ỷ USD, gi ảm
70% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: V ốn đăng ký c ủa 839 d ự án đ ược c ấp phép m ới đ ạt
16,3 tỷ USD (giảm 46,1% về số dự án và giảm 75,4% về vốn); v ốn đăng ký b ổ sung c ủa 215 d ự
án được cấp phép từ các năm trước đạt 5,1 t ỷ USD, giảm 1,7%. V ốn đ ầu t ư trực ti ếp nước ngoài
thực hiện năm 2009 ước tính đạt 10 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2008.

Trong năm 2009, lĩnh vực kinh doanh bất động sản thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước
ngoài với 7,4 tỷ USD vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới, chiếm 45,1% tổng vốn đăng ký mới;
tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống 5 tỷ USD, chiếm 30,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo với
2,2 tỷ USD, chiếm 13,6%.

Trong năm 2009, có 39 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án được cấp phép mới, trong đó một số nhà
đầu tư lớn là: Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký mới là 5,9 tỷ USD chiếm 36,4% tổng vốn đăng ký mới; Đảo
Cay-man 2 tỷ USD, chiếm 12,3%; Sa-moa 1,7 tỷ USD, chiếm 10,4%; Hàn Quốc 1,6 tỷ USD vốn đăng
ký, chiếm 9,8%. Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đăng ký tăng thêm năm 2009, Hoa Kỳ
dẫn đầu với 3,9 tỷ USD, chiếm 75% tổng vốn đăng ký tăng thêm.

Năm 2009 cả nước có 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đ ầu t ư nước ngoài
được cấp phép mới, trong đó Quảng Nam có vốn đăng ký dẫn đ ầu với 4,2 t ỷ USD, chi ếm 25,4%
tổng vốn đăng ký mới; Bà Rịa-Vũng Tàu 2,9 t ỷ USD, chiếm 17,5%; Đồng Nai 2,3 t ỷ USD, chi ếm
14,1%; Bình Dương 2,2 tỷ USD, chiếm 13,2%; Phú Yên 1,7 t ỷ USD, chi ếm 10,3%.

Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép t ừ 01/01- 15/12/2009
Cân đối thu, chi ngân sách Nhà nước

Mặc dù bị ảnh hưởng trong những tháng đầu năm do thực hi ện miễn, giảm, giãn thuế và giá d ầu
thô trên thế giới giảm, nhưng những tháng cuối năm sản xuất kinh doanh trong n ước phát tri ển
nên tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đ ạt x ấp x ỉ d ự toán năm,
trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu t ừ d ầu thô bằng 86,7%; thu cân đ ối ngân sách
từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6%. Trong thu nội địa, thu t ừ khu v ực doanh nghi ệp Nhà
nước bằng 106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu t ư nước ngoài (không k ể d ầu thô) b ằng
88,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước b ằng 95,6%; thuế thu nh ập cá
nhân bằng 87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí, lệ phí b ằng 90,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đ ạt 96,2% d ự toán năm,
trong đó chi đầu tư phát triển đạt 95,2% (riêng chi đ ầu t ư xây d ựng c ơ b ản đ ạt 93,4%); chi phát
triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà n ước, Đ ảng, đoàn th ể đ ạt
99,6%; chi trả nợ và viện trợ đạt 102,7%. Bội chi ngân sách Nhà n ước năm 2009 ước tính b ằng




33
7% GDP, thực hiện được mức bội chi Quốc hội đề ra, trong đó 81,2% m ức b ội chi đ ược bù đ ắp
bằng nguồn vay trong nước; 18,8% bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.

Cân đối thương mại

Xuất khẩu hàng hoá

Do sức tiêu thụ hàng hoá trên thị trường thế giới thu hẹp, giá cả của nhiều loại hàng hoá giảm
mạnh nên kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt gần 41,4 t ỷ USD, giảm 14,8% so
với cùng kỳ năm trước. Những tháng cuối năm tình hình đã được cải thiện rõ rệt. Kim ng ạch xuất
khẩu hàng hoá tháng 11 đạt gần 4,7 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 12 đ ạt
mức cao nhất trong năm với 5,25 tỷ USD, tăng 12% so với tháng trước và tăng 12,5% so với tháng
12 năm trước, chủ yếu do hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng, trong đó hàng dệt
may tăng 90 triệu USD, gạo tăng 80 triệu USD; giày dép tăng 77 triệu USD; cà phê tăng 67 tri ệu
USD; dầu thô tăng 33 triệu USD. Tính chung quý IV năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu
tăng 7,1% so với quý IV năm 2008.

Nhờ xuất khẩu quý IV tăng cao nên kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2009 ước tính đ ạt 56,6
tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008, bao gồm: khu vực kinh tế trong nước đạt 26,7 t ỷ USD,
giảm 5,1%, đóng góp 23,5% mức giảm chung của xuất kh ẩu hàng hoá c ả năm; khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 29,9 tỷ USD, giảm 13,5%, đóng góp 76,5%. N ếu không
kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu v ực có v ốn đ ầu t ư n ước ngoài gi ảm 2,2%
so với năm 2008.

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2009 ước tính đ ạt 9 t ỷ USD, gi ảm 1,3% so v ới năm
trước; dầu thô 6,2 tỷ USD (giảm 2,4% về lượng và gi ảm t ới 40% về kim ng ạch), chi ếm t ới 68%
mức giảm chung của tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm; th ủy s ản đ ạt 4,2 t ỷ USD, gi ảm 6,7%;
giày dép đạt 4 tỷ USD, giảm 15,8%; gạo đạt 2,7 t ỷ USD (tăng 25,4% về l ượng và gi ảm 8% về
kim ngạch); gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,6 t ỷ USD, giảm 9,9%; cà phê đ ạt 1,7 t ỷ USD (tăng 10,2%
về lượng và giảm 19% về kim ngạch); than đá đạt 1,3 t ỷ USD (tăng 29,9% v ề l ượng và gi ảm
4,5% về kim ngạch).

Thị trường xuất khẩu một số hàng hoá chủ yếu năm 2009 nh ư sau: Hàng d ệt may xu ất kh ẩu
sang Mỹ đạt 4,9 tỷ USD, giảm 3% so với năm 2008; tiếp theo là EU đ ạt 1,7 t ỷ USD, gi ảm 3,1%;
Nhật Bản 930 triệu USD, tăng 12%. Thị trường chính của d ầu thô v ẫn là Ôx-trây-li-a v ới 1,5 t ỷ
USD, giảm 55%; Xin-ga-po 1 tỷ USD, giảm 37%; Ma-lai-xi-a 780 tri ệu USD, gi ảm 8%; M ỹ 430
triêụ USD, giảm 57%; Trung Quốc 420 triệu USD, gi ảm 30%. Kim ng ạch xuất kh ẩu thu ỷ s ản
sang các đối tác chính trong năm 2009 đều gi ảm, trong đó EU đ ạt 1,1 t ỷ USD, gi ảm 5,7 %; M ỹ
710 triệu USD, giảm 3,9%; Nhật Bản 760 triệu USD, giảm 8,4%. S ản ph ẩm giày, dép xu ất kh ẩu
sang EU năm 2009 ước tính đạt 1,9 tỷ USD, giảm 23,2%; M ỹ 1 t ỷ USD, gi ảm 2%; Nh ật B ản 120
triệu USD, giảm 10,5%.

Trong năm 2009, 7 thị trường xuất khẩu chính của hàng hoá c ủa nước ta đã chiếm gần 80%
tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, gồm: Thị trường Mỹ ước tính đạt 11,2 tỷ USD, giảm 5,5%
so với năm 2008; EU 9,3 tỷ USD, giảm 14,4%; ASEAN 8,5 tỷ USD, giảm 16,4%; Nhật Bản 6,2 t ỷ
USD, giảm 27,7%; Trung Quốc 4,8 tỷ USD, tăng 4,9%; Hàn Quốc 2,5 t ỷ USD, tăng 15%; Ôx-trây-
li-a 2,2 tỷ USD, giảm 48% (chủ yếu do giá dầu thô giảm). Đáng chú ý là thị trường châu Phi tuy kim
ngạch ước tính mới đạt 1,1 tỷ USD nhưng đã phát triển nhanh, gấp 8 lần năm 2008.




34
Xuất khẩu hàng hoá
Nhập khẩu hàng hoá

Tương tự như xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá 8 tháng đ ầu năm ch ỉ đ ạt g ần 41,8 t ỷ
USD, giảm 29% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nh ững tháng cuối năm kinh t ế th ế gi ới có
sự phục hồi nên một số mặt hàng đã tăng giá; mặt khác, kinh t ế trong n ước đ ạt t ốc đ ộ tăng
trưởng khá, nhu cầu hàng hoá phục vụ sản xuất và đ ời sống cũng tăng lên nên kim ng ạch nh ập
khẩu hàng hoá tháng 9, tháng 10, tháng 11 và tháng 12 liên t ục tăng so v ới cùng kỳ năm tr ước
với tốc độ tăng lần lượt là: 13,9%, 14,5%, 44,5% và 15,7%. Do v ậy, tính chung c ả năm 2009,
kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước tính đạt 68,8 t ỷ USD, gi ảm 14,7% so v ới năm 2008, bao
gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 43,9 tỷ USD, gi ảm 16,8%; khu v ực có v ốn đ ầu t ư n ước
ngoài đạt 24,9 tỷ USD, giảm 10,8%.

Hầu hết kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nguyên, nhiên li ệu ph ục v ụ s ản xuất c ủa năm nay
đều giảm so với năm 2008, trong đó xăng dầu đạt 6,2 t ỷ USD, gi ảm 43,8%; s ắt thép đ ạt 5,3 t ỷ
USD, giảm 22,9%; vải 4,2 tỷ USD, giảm 5,2%; chất dẻo đ ạt 2,8 t ỷ USD, gi ảm 4,1%; nguyên ph ụ
liệu dệt may, giày dép đạt 1,9 tỷ USD, gi ảm 17,8%; th ức ăn gia súc và nguyên ph ụ li ệu đ ạt 1,7
tỷ USD, giảm 1,4%. Tuy nhiên, có một số mặt hàng đã đ ạt kim ng ạch nh ập kh ẩu tăng so v ới
năm trước như: Điện tử máy tính và linh ki ện 3,9 tỷ USD, tăng 5,9%; ô tô 2,9 t ỷ USD, tăng 2,5%,
trong đó ô tô nguyên chiếc 1,2 tỷ USD, tăng 12,6% về giá trị và tăng 49,4% v ề l ượng.

Trong các nhóm hàng nhập khẩu năm 2009, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng chiếm tỷ trọng
29,5% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá; nguyên nhiên vật liệu chiếm 61,3%; hàng tiêu dùng
chiếm 8,7%; vàng chiếm 0,5%. Về thị trường nhập khẩu hàng hoá, 8 đối tác chủ yếu chiếm hơn
85% tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 gồm: Trung Quốc 16,1 tỷ USD, tăng 2,7% so với năm
2008; ASEAN 13,4 tỷ USD, giảm 31,3%; Nhật Bản 7,3 tỷ USD, giảm 11,3%; Hàn Quốc 6,7 tỷ USD,
giảm 5,3%; Đài Loan 6,2 tỷ USD, giảm 25,9%; EU 5,5 tỷ USD, tăng 2,2%; Mỹ 2,8 tỷ USD, tăng
9,1%; Ôx-trây-li-a 1 tỷ USD, giảm 24%. Mặc dù kim ngạch nhập khẩu hàng hoá có tốc độ giảm
nhanh hơn kim ngạch xuất khẩu nhưng nhập siêu hàng hoá năm 2009 ước tính vẫn ở mức 12,2 tỷ
USD, tuy giảm 32,1% so với năm 2008 nhưng đã bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá
cả năm 2009.

Nhập khẩu hàng hoá
Xuất nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2009 ước tính đạt 5766 triệu USD, giảm 18,1% so với năm 2008,
trong đó dịch vụ du lịch đạt 3050 triệu USD, giảm 22,4%; d ịch v ụ v ận t ải 2062 tri ệu USD, gi ảm
12,5%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2009 ước tính đ ạt 6837 tri ệu USD, gi ảm 14,1% so
với năm 2008, trong đó cước phí vận tải và bảo hi ểm hàng nh ập khẩu đ ạt 3579 tri ệu USD, gi ảm
14,7%; dịch vụ du lịch 1100 triệu USD, giảm 15,4%; dịch vụ vận t ải 860 tri ệu USD, gi ảm 21,8%.
Nhập siêu dịch vụ cả năm là 1071 triệu USD, tăng 17% so v ới năm 2008 và b ằng 18,6% kim
ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2009.

Kết quả phòng ngừa lạm phát cao

Do ngay từ đầu năm Chính phủ và các cấp, các ngành đã tri ển khai quy ết li ệt và đ ồng b ộ các
giải pháp nhằm chủ động phòng ngừa tái lạm phát cao trở lại, khôi ph ục và đ ẩy m ạnh s ản xu ất




35
kinh doanh, nhất là tập trung phát triển thị trường trong nước; chỉ đ ạo, đi ều hành tài chính, ti ền
tệ linh hoạt nên mức lạm phát năm 2009 không cao.

Giá tiêu dùng năm 2009 tương đối ổn định, ngoài tháng 2 và tháng 12 ch ỉ s ố giá tiêu dùng tăng
trên 1%, các tháng còn lại giảm hoặc tăng thấp nên ch ỉ s ố giá tiêu dùng tháng 12 năm 2009 so
với tháng 12 năm 2008 tăng 6,52%, thấp hơn nhi ều so v ới ch ỉ tiêu tăng d ưới 10% Qu ốc h ội đ ề
ra. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2009 tăng 6,88% so v ới bình quân năm 2008, là m ức
thấp nhất trong 6 năm trở lại đây (Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2004 tăng 7,71%; năm 2005
tăng 8,29%; năm 2006 tăng 7,48%; năm 2007 tăng 8,3%; năm 2008 tăng 22,97%). Chỉ số giá vàng
tháng 12/2009 tăng 10,49% so với tháng trước; tăng 64,32% so v ới cùng kỳ năm 2008. Ch ỉ s ố
giá đô la Mỹ tháng 12/2009 tăng 3,19% so với tháng trước; tăng 10,7% so v ới cùng kỳ năm 2008.
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh t ế nước ta v ừa đ ạt m ức tăng tr ưởng
tương đối khá, vừa duy trì được mức độ lạm phát không cao, đây là thành công l ớn trong ch ỉ
đạo, điều hành kinh tế vĩ mô.

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 12 năm
2009
KẾT QUẢ ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO D ỤC, Y T Ế, VĂN HOÁ VÀ CÁC
LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC

Dân số, lao động, việc làm

Theo kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân s ố và nhà ở năm 2009, dân s ố c ả n ước t ại th ời
điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85,789 triệu ng ười. Tốc độ tăng dân số bình quân thời
kỳ 1999-2009 là 1,2%. Trong t ổng dân số, dân số thành thị 25,4 triệu người, chiếm 29,6% tổng
dân số; dân số nông thôn 60,4 triệu người, chi ếm 70,4%; dân s ố nam 42,5 tri ệu ng ười, chi ếm
49,5% tổng dân số; dân số nữ 43,3 triệu người, chi ếm 50,5%. Tỷ l ệ gi ới tính c ủa dân s ố năm
2009 ở mức 98,1 nam trên 100 nữ.

Cũng theo kết quả Tổng điều tra dân s ố và nhà ở năm 2009, dân s ố trong đ ộ tu ổi lao đ ộng c ả
nước là 55 triệu người, trong đó 45,2 tri ệu người thuộc l ực l ượng lao đ ộng trong đ ộ tu ổi, chi ếm
82,2% tổng dân số trong độ tuổi lao động. Số lao động trong độ tuổi đang làm vi ệc là 43,9 tri ệu
người, chiếm 51,1% tổng dân số, bao gồm: lao động khu v ực thành th ị g ần 12 tri ệu ng ười,
chiếm 27% tổng lao động trong độ tuổi đang làm vi ệc; lao đ ộng khu v ực nông thôn 31,9 tri ệu
người, chiếm 73%. Tỷ lệ lao động có trình độ học vấn trung học c ơ s ở trở lên là 56,7% so v ới
tổng số lao động trong độ tưổi, trong đó t ỷ lệ lao đ ộng có trình đ ộ trung h ọc ph ổ thông tr ở lên là
27,8%. Lực lượng lao động trong độ tuổi có trình đ ộ đ ại học trở lên chi ếm 5,3% t ổng l ực l ượng
lao động trong độ tuổi, trong đó thành thị 14,4%; nông thôn 1,8%; nam 5,6%; n ữ 5%. T ại th ời
điểm điều tra, cả nước có 1,3 triệu lao động trong độ tuổi th ất nghi ệp, t ỷ l ệ th ất nghi ệp là 2,9%
(cao hơn mức 2,38% của năm 2008), trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu v ực thành th ị là 4,64%, x ấp
xỉ năm 2008; khu vực nông thôn là 2,25%, cao hơn mức 1,53% của năm 2008.

Mức sống dân cư

Thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, Chính ph ủ đã t ập trung ch ỉ đ ạo các c ấp, các ngành
triển khai quyết liệt các chương trình, chính sách xoá đói gi ảm nghèo nh ư: Ch ương trình 134;
Chương trình 135; Chương trình 30a và nhiều Chương trình quốc gia khác h ỗ trợ đ ồng bào dân
tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn; đồng thời đẩy m ạnh vi ệc c ấp mi ễn phí th ẻ b ảo hi ểm y




36
tế, miễn giảm phí khám chữa bệnh, tiến hành nhiều hoạt đ ộng khác h ỗ tr ợ các gia đình chính
sách và người nghèo.

Trong dịp Tết Kỷ Sửu, Lãnh đ ạo Đảng và Nhà n ước, chính quy ền đ ịa ph ương, các c ơ quan,
đoàn thể và cá nhân đã hỗ trợ, thăm h ỏi và t ặng quà cho các h ộ nghèo, bà m ẹ Vi ệt Nam anh
hùng, thương bệnh binh và trẻ em m ồ côi v ới t ổng tr ị giá trên 1,3 nghìn t ỷ đ ồng. Trong năm
2009 đã xây dựng và sửa ch ữa 37,6 nghìn ngôi nhà cho ng ười nghèo và đ ối t ượng chính sách
với tổng trị giá 400 tỷ đồng, trong đó vùng đ ồng b ằng sông C ửu Long chi ếm 50% c ả v ề s ố
lượng nhà và giá trị được h ỗ trợ; c ấp th ẻ b ảo hi ểm y t ế và khám ch ữa b ệnh mi ễn phí theo tiêu
chuẩn hộ nghèo, hộ chính sách cho 5 tri ệu l ượt ng ười, trong đó nhi ều nh ất là Trung du và
miền núi phía Bắc 2,2 tri ệu lượt ng ười; đ ồng b ằng sông H ồng 1,2 tri ệu l ượt ng ười. Kết quả
thực hiện các chương trình và d ự án nêu trên đã góp ph ần b ảo đ ảm ổn đ ịnh đ ời s ống dân c ư,
đặc biệt đối với người nghèo và đ ồng bào vùng sâu, vùng xa.

Mặc dù trong năm 2009 bão lũ gây hậu quả nghiêm trọng ở Tây Nguyên và duyên h ải Nam
Trung Bộ, nhưng tình trạng thiếu đói giáp hạt ở khu vực nông thôn v ẫn gi ảm đáng k ể. Theo báo
cáo của các địa phương, năm 2009 trên địa bàn cả nước có 676,5 nghìn l ượt h ộ v ới 2973,3
nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 29,4% s ố l ượt hộ và gi ảm 26,2% s ố l ượt nhân kh ẩu thi ếu
đói so với năm trước. Thiếu đói t ập trung chủ yếu ở các t ỉnh vùng Trung du và mi ền núi phía
Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Để giúp đ ỡ đ ồng bào kh ắc ph ục
thiếu đói, các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân trong nước và quốc t ế đã h ỗ tr ợ các h ộ thi ếu
đói 43 nghìn tấn lương thực và 65,2 tỷ đồng, riêng tháng 12/2009 h ỗ trợ 5,3 nghìn t ấn l ương
thực và 23,9 tỷ đồng.

Đời sống những người làm công ăn lương cũng tiếp t ục đ ược cải thi ện. Theo Ngh ị đ ịnh s ố
33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009 của Chính phủ, mức lương t ối thi ểu đã tăng 20%, t ừ 540 nghìn
đồng/tháng lên 650 nghìn đồng/tháng; trợ cấp hàng tháng c ủa nh ững đ ối t ượng h ưởng l ương
hưu tăng thêm 5%. Ngoài ra, trong 4 tháng đầu năm, cán b ộ, công ch ức, viên ch ức có h ệ s ố
lương dưới 3,0 được phụ thêm 90 nghìn đồng mỗi tháng. Thu nhập bình quân tháng của lao
động khu vực Nhà nước năm 2009 bình quân đ ạt 3084,8 nghìn đ ồng, tăng 14,2% so v ới năm
2008, trong đó thu nhập của lao động trung ương đ ạt 3979,1 nghìn đ ồng, tăng 16,1%; đ ịa
phương đạt 2532,9 nghìn đồng, tăng 13%.

Nhờ các chính sách nêu trên và đặc biệt là sản xuất nông nghiệp năm nay đ ạt k ết qu ả khá; giá
lương thực, thực phẩm tăng có lợi cho nông dân; các doanh nghiệp duy trì và phát tri ển đ ược
sản xuất kinh doanh nên đời sống của nhân dân, đặc biệt là nh ững ng ười thu nh ập th ấp, ng ười
làm công ăn lương cũng đỡ khó khăn hơn. Do vậy, tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước năm 2009
ước tính 12,3%, thấp hơn mức 14,8% của năm 2007 và mức 13,4% của năm 2008.

Giáo dục và đào tạo

Giáo dục

Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2008-2009 đ ược t ổ ch ức m ột đ ợt trên ph ạm vi c ả
nước với 1046,1 nghìn thí sinh dự thi, bao g ồm 912,8 nghìn thí sinh h ệ ph ổ thông và 133,3 nghìn
thí sinh hệ bổ túc với tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hệ ph ổ thông đ ạt 83,8%; h ệ b ổ túc đ ạt 39,9%,
thấp hơn nhiều so với kết quả thi của năm học trước (các t ỷ l ệ t ốt nghi ệp t ương ứng c ủa năm
học trước lần lượt là 86,6% và 68,1%).




37
Theo báo cáo từ các địa phương, tại thời điểm khai giảng năm h ọc 2009-2010, c ả n ước có
2853,8 nghìn trẻ em học mẫu giáo, tăng 2,9% so với đ ầu năm h ọc tr ước; 6907,3 nghìn h ọc sinh
tiểu học, tăng 2,6%; 5230,4 nghìn học sinh trung h ọc c ơ s ở, gi ảm 4,4% và 2885,6 nghìn h ọc
sinh trung học phổ thông, giảm 1,4%. Cũng trong năm h ọc 2009-2010, c ả n ước có 143,3 nghìn
giáo viên mẫu giáo, tăng 3,8% so với năm học trước; 350,4 nghìn giáo viên ti ểu h ọc, tăng 0,2%;
316,9 nghìn giáo viên trung học cơ sở, tương đương năm h ọc tr ước và 143,4 nghìn giáo viên
trung học phổ thông, tăng 2,3%.

Cơ sở vật chất của các trường phổ thông được quan tâm đ ầu t ư nhi ều h ơn nên năm h ọc 2008-
2009 cả nước có 444 nghìn phòng học dành cho các c ấp h ọc ph ổ thông, tăng 5,4 nghìn phòng
so với năm học trước. Sau một năm triển khai th ực hiện Quy ết đ ịnh s ố 20/2008/QĐ-TTg ngày
01/2/2008 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án Kiên cố hoá trường lớp h ọc và nhà công v ụ cho
giáo viên giai đoạn 2008-2012, các địa phương đã xây d ựng hoàn thành 9496 phòng h ọc và
16621 phòng học khác đang xây dựng, đạt 88,1% kế hoạch; 4180 nhà công v ụ đã xây d ựng
hoàn thành và 4875 nhà công vụ khác đang xây dựng, đ ạt 93,1%. Vi ệc đ ầu t ư cho các tr ường
chuyên, trường dân tộc được tăng cường. Đến nay cả nước có 74 tr ường trung h ọc ph ổ thông
chuyên với tổng số 47 nghìn học sinh; 285 trường ph ổ thông dân t ộc n ội trú và 1657 tr ường ph ổ
thông dân tộc bán trú.

Trong những năm qua, công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, ph ổ c ập giáo d ục ti ểu h ọc
và trung học cơ sở triển khai mạnh mẽ t ại nhiều địa phương nên tính đến hết tháng 8/2009, s ố
trường mầm non và phổ thông được công nhận đạt chuẩn quốc gia c ủa c ả n ước đ ạt 8672
trường, bao gồm 1644 trường mầm non; 5254 trường tiểu h ọc; 1573 tr ường trung h ọc c ơ s ở và
201 trường trung học phổ thông. Tính đến tháng 12/2009, c ả nước đã có 48/63 đ ịa ph ương đ ạt
chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 56/63 địa ph ương đ ạt chuẩn ph ổ c ập giáo d ục
trung học cơ sở.

Giáo dục phổ thông
Đào tạo

Tính đến hết tháng 8/2009, cả nước có 376 trường đ ại h ọc, h ọc vi ện và tr ường cao đ ẳng, bao
gồm 150 trường đại học, học viện và 226 trường cao đẳng. Cả nước đã có 62/63 t ỉnh, thành ph ố
trực thuộc Trung ương có trường đại học, cao đẳng (Đắk Nông là t ỉnh duy nh ất ch ưa xây d ựng
trường đại học, cao đẳng). Số sinh viên đại học, cao đẳng năm h ọc 2008-2009 là 1,72 tri ệu sinh
viên, tăng 7% so với năm học trước, đạt chỉ tiêu 200 sinh viên/1 v ạn dân, s ớm h ơn k ế ho ạch đ ề
ra 1 năm; số học sinh trung cấp chuyên nghi ệp là 625,8 nghìn h ọc sinh, tăng 1,8%. Ước tính
năm học 2009-2010, cả nước có 1,3 triệu sinh viên đại học, tăng 2,2% so v ới năm h ọc 2008-
2009; 530 nghìn sinh viên cao đẳng, tăng 11,1% và 650 nghìn h ọc sinh trung c ấp chuyên
nghiệp, tăng 3,8%.

Công tác đào tạo nghề được tập trung đầu tư nên năm 2009 các cơ s ở d ạy ngh ề đã tuyển đ ược
1645 nghìn lượt người, vượt 0,3% kế hoạch đề ra. Ngày 27/11/2009, Chính ph ủ đã phê duy ệt
Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; theo đó m ỗi năm s ẽ đào t ạo 1 tri ệu
lao động với tổng kinh phí thực hiện Đề án là 25980 t ỷ đ ồng. Giai đo ạn I c ủa Đ ề án th ực hi ện
năm 2009-2010, đào tạo 800 nghìn lao động; đ ồng thời thí đi ểm các mô hình đào t ạo ngh ề cho
18 nghìn lao động khác. Mỗi lao động nông thôn trong di ện đào t ạo đ ược h ỗ tr ợ phí đào t ạo




38
nghề ngắn hạn (dưới 3 tháng) với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khoá và đ ược hỗ tr ợ ti ền ăn, chi
phí đi lại.

Y tế và chăm sóc sức khỏe dân cư

Tình hình dịch bệnh năm 2009 diễn biến tương đối phức tạp. Bên c ạnh m ột s ố d ịch b ệnh nguy
hiểm như sốt xuất huyết, sốt rét, cúm A (H5N1), còn xuất hi ện thêm d ịch cúm A (H1N1) v ới m ức
độ lây lan nhanh chóng trong cộng đồng. Tính từ đầu năm, cả nước đã có 93,3 nghìn trường hợp
mắc bệnh sốt xuất huyết (81 trường hợp tử vong); 48,8 nghìn trường h ợp m ắc b ệnh s ốt rét (19
trường hợp tử vong); 7,4 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; g ần 900 tr ường h ợp m ắc
bệnh viêm não virút (17 trường hợp tử vong); 1,2 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn và 7
trường hợp tử vong do virút cúm A (H5N1). Tính đến ngày 28/12/2009 c ả n ước đã có 11,1 nghìn
trường hợp nhiễm cúm A (H1N1), trong đó 53 trường hợp t ử vong.

Số trường hợp nhiễm HIV/AIDS tại các địa phương vẫn gia tăng. Tính t ừ ca phát hi ện đ ầu tiên
cho đến ngày 21/12/2009, trên địa bàn cả nước đã có 203,6 nghìn trường h ợp nhi ễm HIV, trong
đó 80 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 44,5 nghìn ng ười đã t ử vong do AIDS.

Vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất và kinh doanh d ịch v ụ trong năm 2009 nhìn
chung chưa được cải thiện. Tình trạng vi phạm quy định vệ sinh an toàn th ực ph ẩm v ẫn ti ếp t ục
xảy ra tại nhiều địa phương. Đáng chú ý là hầu hết các lĩnh v ực liên quan đ ến s ản xu ất, ch ế
biến, kinh doanh thực phẩm khi kiểm tra đều phát hi ện nh ững sai ph ạm nghiêm trọng. V ệ sinh
an toàn thực phẩm không đảm bảo đã ảnh hưởng không nh ỏ t ới s ức kh ỏe và tính m ạng c ủa
người dân. Tính đến 21/12/2009, trên địa bàn cả nước đã x ảy ra 84 v ụ ng ộ đ ộc th ực ph ẩm v ới
3,9 nghìn người bị ngộ độc, trong đó 17 người đã t ử vong.

Hoạt động văn hóa, thể thao

Năm 2009, ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã ph ối h ợp v ới các đ ịa ph ương và m ột s ố t ổ
chức quốc tế tiến hành nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao và l ễ h ội quy mô l ớn nh ư:
Lễ hội chào đón Xuân Kỷ Sửu; kỷ niệm 79 năm thành l ập Đảng Cộng s ản Vi ệt Nam; k ỷ ni ệm 50
năm ngày mở đường Hồ Chí Minh; kỷ niệm 55 chiến thắng Điện Biên Ph ủ; Tri ển lãm 40 năm
ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện Di chúc c ủa Ch ủ t ịch H ồ Chí Minh; Tu ần văn hoá
Du lịch Quảng Nam hướng đến 1000 năm Thăng Long-Hà Nội; Festival lúa g ạo t ại H ậu Giang;
Festival cồng chiêng quốc tế tại Gia Lai; Festival Ngày Văn hoá, Thể thao, Du l ịch Mê Công-
Nhật Bản tại Cần Thơ; Tuần Văn hoá Cam-pu-chia tại Việt Nam và nhi ều lễ h ội khác.

Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động văn hóa và kinh doanh d ịch v ụ văn hoá ti ếp t ục đ ược
triển khai thường xuyên và tích cực. Năm 2009 các cơ quan ch ức năng đã ti ến hành ki ểm tra 7,6
nghìn cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá; phát hiện g ần 2 nghìn c ơ s ở vi ph ạm, x ử ph ạt hành
chính gần 7 tỷ đồng; đình chỉ hoạt động hơn 100 cơ s ở; t ịch thu h ơn 250 nghìn băng đĩa, g ần 20
nghìn cuốn sách và nhiều văn hoá phẩm khác có nội dung không phù h ợp.

Hoạt động thể dục, thể thao tiếp tục được duy trì, phát tri ển sâu r ộng v ới nhi ều n ội dung phong
phú, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Trong năm 2009, ngành Th ể d ục Th ể thao đã t ổ
chức thành công 16 giải thể thao quần chúng cấp quốc gia; ph ối h ợp v ới các B ộ, Ngành t ổ ch ức
5 giải thể thao quần chúng khác và 1 gi ải thể thao quốc t ế. T ại Para Games 5 t ổ ch ức ở Ma-lai-
xi-a, đoàn thể thao người khuyết tật Việt Nam đã thi đ ấu xuất s ắc, giành v ị trí th ứ 3 toàn đoàn
với tổng số 175 huy chương, trong đó có 73 huy ch ương vàng; 57 huy ch ương b ạc và 45 huy
chương đồng.


39
Trong thể thao thành tích cao, ngoài việc tổ chức 172 giải quốc gia, ngành Thể dục Thể thao đã
tổ chức thành công 33 giải quốc tế, trong đó Đại hội thể thao châu Á trong nhà lần th ứ 3 (AIG 3)
đã thành công tốt đẹp, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn bè quốc tế. Tại Đại h ội này, đoàn
thể thao Việt Nam đã thi đấu xuất sắc, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đề ra, xếp vị trí thứ 2 toàn
đoàn trong tổng số 43 đoàn tham gia, giành được 94 huy chương các loại, gồm 42 huy ch ương
vàng; 30 huy chương bạc; 22 huy chương đồng.

Ngoài ra, trong năm 2009 đoàn thể thao Việt Nam còn tham dự 50 giải quốc tế t ổ chức ở nước
ngoài và đã đạt được nhiều thành tích quan trọng. Đặc biệt tại Đại hội thể thao Đông Nam Á lần
thứ 25 (SEA Games 25) tổ chức tại Lào, đoàn Việt Nam đứng vị trí thứ 2 trong tổng số 11 đoàn
tham gia với 83 huy chương vàng; 75 huy chương bạc và 57 huy chương đồng . Tổng số các huy
chương đoàn thể thao Việt Nam giành được trong các giải quốc tế tổ chức ở trong và ngoài nước
là 879 huy chương các loại, bao gồm: 341 huy chương vàng; 276 huy chương bạc và 262 huy
chương đồng.

Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia, trong 11 tháng năm 2009, trên địa bàn cả
nước đã xảy ra 11,1 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 10,4 nghìn người và làm bị thương 7 nghìn
người. So với 11 tháng năm 2008, số vụ tai nạn giao thông giảm 3,7%; số người chết giảm 0,1%; số
người bị thương giảm 5,6%. Bình quân một ngày trong 11 tháng năm 2009, trên địa bàn cả nước xảy
ra 33 vụ tai nạn giao thông, làm chết 31 người và làm bị thương 21 người. Số vụ tai nạn giao thông
đường bộ bình quân trên 10 nghìn phương tiện cơ giới đường bộ trong 11 tháng của năm 2009 là
gần 4 vụ, làm chết 3 người và làm bị thương 2 người.

Thiệt hại do thiên tai

Trong năm 2009, nước ta chịu ảnh hưởng của 11 cơn bão và nhiều đ ợt lũ l ụt l ớn gây thi ệt h ại
nặng nề về người và tài sản. Theo báo cáo của các địa phương, thiên tai đã làm 481 người chết,
mất tích và 1305 người bị thương, trong đó Phú Yên, Quảng Nam và Kon Tum là ba t ỉnh b ị thi ệt
hại nặng nhất về người (Phú Yên có 81 người chết, mất tích và 85 ng ười bị thương; Qu ảng Nam
50 người chết, mất tích và 223 người bị thương; Kon Tum 50 ng ười chết, mất tích và 32 ng ười b ị
thương). Thiên tai đã làm trên 1 nghìn km đ ường giao thông c ơ gi ới b ị phá h ủy; g ần 100 km đê,
kè bị sạt lở; hơn 25 nghìn ngôi nhà bị sập, cuốn trôi; g ần 800 nghìn ngôi nhà b ị s ạt l ở, t ốc mái,
ngập nước; 41,8 nghìn ha lúa và hoa màu b ị m ất trắng. T ổng giá tr ị thi ệt h ại do thiên tai gây ra
trong năm 2009 ước tính gần 23,2 nghìn tỷ đồng, gấp g ần 2 l ần năm 2008, trong đó Qu ảng Ngãi
thiệt hại nặng nhất với 4,9 nghìn t ỷ đồng, chiếm 21% t ổng giá tr ị thi ệt h ại c ủa c ả n ước; Qu ảng
Nam 3,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 16%.

Các cấp, các ngành đã kịp thời triển khai công tác cứu h ộ và c ứu tr ợ nh ằm nhanh chóng kh ắc
phục hậu quả, sớm ổn định sản xuất và đ ời s ống. T ổng s ố ti ền c ứu tr ợ t ừ các ngu ồn cho các
địa phương bị thiệt hại là 888,6 t ỷ đ ồng và trên 25 nghìn t ấn g ạo, trong đó c ứu tr ợ t ừ qu ỹ d ự
phòng ngân sách Trung ương là 750 t ỷ đ ồng và 25 nghìn t ấn g ạo. Ngoài ra, các đ ịa ph ương b ị
thiên tai còn nhận được s ự h ỗ trợ v ề l ương th ực, th ực ph ẩm và các nhu y ếu ph ẩm c ần thi ết t ừ
các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong n ước và quốc tế.

Thiệt hại do thiên tai năm 2009
Khái quát lại, năm 2009 nền kinh tế nước ta chịu tác động tiêu cực t ừ hai phía. Cùng với nh ững
khó khăn do kinh tế thế giới suy thoái, thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, th ị


40
trường lao động thì bão lũ xảy ra liên tiếp, dịch bệnh bùng phát ở nhiều địa phương. Trong b ối
cảnh đó, kinh tế nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 5,32%, vượt mục tiêu đề ra và là m ột trong s ố
rất ít nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và trên thế gi ới. Sản xuất công nghi ệp
thoát khỏi tình trạng trì trệ những tháng đầu năm và cả năm đã tăng 7,6%. Sản xuất nông nghiệp
tiếp tục được mùa với sản lượng lúa cả năm đạt 38,9 triệu tấn, tăng 165,7 nghìn t ấn so với năm
2008. Cân đối kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định. Mặc dù nguồn vốn đầu t ư t ừ bên ngoài gi ảm 70%,
nhưng đầu tư trong nước đã được khơi thông nên tính chung vốn đầu tư phát tri ển cả năm đ ạt
704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008. Thu ngân sách đạt dự toán cả năm và b ội chi
ngân sách bảo đảm được mức Quốc hội đề ra là không vượt quá 7% GDP. Lạm phát được ki ềm
chế, chỉ số tăng giá tiêu dùng tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng 6,52%, thấp hơn
nhiều so với chỉ tiêu tăng dưới 10% Quốc hội đề ra ; chỉ số tăng giá bình quân năm 2009 là
6,88%, thấp nhất trong 6 năm gần đây. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 13,4% năm 2008 xuống còn
12,3%. Văn hoá, giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực xã hội khác cũng đạt được những thành tích vượt
trội.

Những kết quả đạt được của năm 2009 đã khẳng định nền kinh tế nước ta đã vượt qua giai đoạn
khó khăn nhất. Đây là thắng lợi của ý Đảng, lòng dân; thể hiện sức mạnh nội lực Việt Nam. Do vậy,
cần tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm thành công để lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành Kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 và những năm tiếp theo.

Bên cạnh những kết quả quan trọng nêu trên, tình hình kinh tế-xã hội năm 2009 vẫn còn những hạn
chế, bất cập nếu không tích cực tìm các giải pháp khắc phục có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 và các năm tiếp theo. Những hạn
chế, yếu kém này bao gồm:

- Thứ nhất, nền kinh tế tuy đã tăng trưởng khá và vượt qua giai đoạn khó khăn, nh ưng tăng
trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, tăng kh ối l ượng các ngu ồn l ực, nh ất
là tăng vốn đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu
quả nên chất lượng tăng trưởng chưa cao và chưa thật vững chắc. Tỷ lệ đầu tư so với GDP năm
2008 là 41,3%; năm 2009 là 42,8%, nhưng tốc độ tăng GDP hai năm chỉ đạt 6,18% và 5,32% là
chưa tương xứng. Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và của nhiều ngành, nhi ều s ản ph ẩm
còn thấp trong khi nước ta đã hội nhập đầy đủ với thế gi ới.

- Thứ hai, cơ cấu kinh tế tuy bước đầu đã chuyển dịch theo hướng ti ến b ộ và tích c ực, nh ưng
vẫn chưa ra khỏi cơ cấu ngành truyền thống với tỷ trọng tương đ ối cao c ủa khu v ực s ản xu ất
vật chất nói chung và khu vực nông, lâm nghi ệp và thủy s ản nói riêng. Trong nh ững năm g ần
đây, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Năm 2009, cơ cấu t ổng s ản ph ẩm trong n ước theo giá
thực tế của 3 khu vực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghi ệp và xây d ựng; d ịch v ụ lần lượt
là 20,66%; 40,24%; 39,10%; không khác nhiều so với năm 2008 và những năm gần đây. Cơ cấu
ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu sản phẩm còn bất hợp lý, chưa phát huy đầy đủ khả năng thế
mạnh của mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước.

- Thứ ba, cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Mức thâm hụt ngân sách tuy đã đ ược
khống chế, nhưng đã lên tới 7% GDP; nhập siêu hàng hoá năm 2009 tuy gi ảm 32,1% so v ới
năm 2008, nhưng vẫn bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá; nh ập siêu d ịch v ụ b ằng
18,6% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tăng 17% so với năm 2008. L ạm phát trong năm đ ược
khống chế ở mức hợp lý, nhưng nhìn chung giá cả vẫn ti ếp t ục tăng và đang ti ềm ẩn nhi ều y ếu
tố có thể gây tái lạm phát cao.


41
- Thứ tư, một số vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục. Đời s ống nhân dân, nh ất là
những người có thu nhập thấp, dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng dân t ộc ít ng ười và vùng th ường
xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai vẫn còn nhiều khó khăn. Tình trạng th ất nghi ệp và thi ếu vi ệc
làm vẫn còn cao. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 01/4/2009, t ại th ời đi ểm đi ều tra,
cả nước có 1,3 triệu lao động trong độ tuổi thất nghiệp v ới t ỷ l ệ thất nghi ệp là 2,9%, cao h ơn
mức 2,38% của năm 2008. Tỷ lệ hộ nghèo tuy đã gi ảm nh ưng v ẫn còn 12,3%. Tình hình d ịch
bệnh diễn biến phức tạp. Tai nạn giao thông chưa giảm mạnh, thậm chí có nơi, có th ời đi ểm còn
tiếp tục gia tăng. Tình trạng vi phạm quy định về vệ sinh an toàn th ực ph ẩm xuất hi ện trên t ất c ả
các khâu từ sản xuất đến bảo quản, chế biến và lưu thông tiêu thụ.

Để phát huy thắng lợi đạt được, khắc phục những hạn chế, bất cập, thực hiện mục tiêu phát tri ển
kinh tế-xã hội năm 2010, tạo động lực cho giai đoạn phát triển mới, cần tập trung gi ải quyết t ốt
một số vấn đề trọng tâm sau đây:

(1) Một là, tiếp tục chủ động ngăn chặn lạm phát cao trở lại vì trong nền kinh tế nước ta đang tiềm
ẩn nhiều yếu tố tăng giá. Kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi nên nhu cầu hàng hoá sẽ tăng nhanh;
những gói kích thích kinh tế lớn của Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc và nhiều nền kinh tế khác
chắc chắn sẽ gây hệ lụy tăng giá một số loại nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc mà nước ta
thường phải nhập khẩu với khối lượng lớn. Mặt khác, chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách tài
khoá mở rộng mà Chính phủ thực hiện trong năm 2009 và còn đang duy trì cũng s ẽ là m ột trong
những nhân tố tác động làm gia tăng tốc độ tăng giá.

(2) Hai là, nắm bắt cơ hội kinh tế thế giới phục hồi để đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường thu hút đầu
tư nước ngoài. Bên cạnh việc giữ vững thị trường truyền thống, cần tìm kiếm mở rộng thị trường
mới, đặc biệt là thị trường không đòi hỏi hàng hoá chất lượng quá cao hoặc không có hàng rào kỹ
thuật khắt khe đối với hàng hoá Việt Nam.

(3) Ba là, chú trọng xây dựng mạng lưới phân phối và bán lẻ hàng hoá trong nước để khai thác tốt
thị trường nội địa với sức mua của gần 86 triệu dân. Đẩy mạnh và thực hi ện t ốt cuộc vận đ ộng
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh nghiên cứu thị
trường, đón bắt tâm lý, nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của dân cư để đề ra kế hoạch sản xuất kinh
doanh các loại hàng hoá có mẫu mã phù hợp, bảo đảm chất lượng và giá cả cạnh tranh. Các cấp,
các ngành cần triển khai mạnh mẽ và đồng bộ các giải pháp ngăn chặn hàng nhập lậu, hàng kém
chất lượng lưu thông trên thị trường; tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra, kiểm soát vi ệc
thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông.

(4) Bốn là, khẩn trương xây dựng và triển khai các chương trình, đề án phát triển nông nghiệp, nông
thôn và cải thiện đời sống nông dân theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thực hiện triệt để chủ trương thu
mua dự trữ các loại nông sản, đặc biệt là lúa để nông dân yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất; đồng
thời đây cũng là biện pháp tạo nguồn hàng chủ động xuất khẩu khi có thị trường thế giới có lợi cho ta
và chủ động bình ổn giá trên thị trường trong nước. Triển khai các biện pháp giảm chi phí, giá thành,
trọng tâm là thức ăn chăn nuôi và giống cây con. Đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh cho
cây trồng, vật nuôi và công tác dự báo, phòng chống thiên tai.

(5) Năm là, tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Tích cực triển
khai các Chương trình đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Chủ động
hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ. Chú trọng khai thác tài sản trí tuệ của các nước phát



42
triển, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ phục vụ nông nghiệp và
chế biến các sản phẩm nông nghiệp.

(6) Sáu là, đẩy mạnh công tác quy hoạch kinh tế-xã hội vùng và từng đ ịa ph ương. Chú tr ọng xây
dựng quy hoạch ngành, quy hoạch vùng sản phẩm, vùng nông nghi ệp ch ất l ượng cao mà n ước
ta có thế mạnh. Tăng cường phối hợp liên k ết các địa ph ương, liên k ết vùng nh ằm phát huy s ức
mạnh liên vùng, liên tỉnh; đồng thời khắc phục hạn chế của mỗi địa phương, m ỗi vùng, t ừ đó t ạo
sức tăng trưởng mạnh, hiệu quả và bền vững.

Chúng ta đang bước vào năm 2010, là năm cu ối c ủa K ế ho ạch phát tri ển kinh tế - xã hội 5
năm 2006-2010 và cũng là năm cuối của Chi ến lược phát tri ển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010,
những thắng lợi tương đối toàn diện của năm 2009 chắc chắn sẽ tạo thêm tiềm lực vật chất, tinh
thần và kinh nghiệm để thực hiện thắng lợi m ục tiêu và nhi ệm v ụ Kế hoạch phát tri ển kinh t ế -
xã hội năm 2010 đã được kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XII thông qua và th ực hi ện th ắng l ợi Ngh ị
quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, t ạo cơ sở vững chắc cho vi ệc xây d ựng và th ực hi ện K ế
hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015.




43
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản