giaiphap

Chia sẻ: Tran Van He | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
17
lượt xem
6
download

giaiphap

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chưa kiểm soát ngoại hối của đầu tư gián tiếp nước ngoài Thứ tư, 28 Tháng hai 2007, 11:05 GMT+7 Tags: BẤM VÀO ĐÂY, Đầu tư gián tiếp nước ngoài, Ngân hàng nhà nước Việt nam, thị trường chứng

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: giaiphap

  1. Chưa kiểm soát ngoại hối của đầu tư gián tiếp nước ngoài Thứ tư, 28 Tháng hai 2007, 11:05 GMT+7 Tags: BẤM VÀO ĐÂY, Đầu tư gián tiếp nước ngoài, Ngân hàng nhà nước Việt nam, thị trường chứng khoán, kiểm soát ngoại hối, Các thủ tướng chính phủ, của đầu tư, vốn nước ngoài, quản lý vốn, nhà bộ tài chính, phát triển, thực hiện, công văn, định đầu tư tại sàn Đây là khẳng định mới nhất của Thủ tướng Chính phủ trong Công giao văn 997/VPCP-KTTH về việc tạo hành lang pháp lý đầy đủ, chặt dịch chẽ cho thị trường chứng khoán hoạt động công khai, minh bạch chứng ngày 27-2. khoán của >> Vốn nước ngoài và chứng khoán Việt Nam Công ty >> Nóng bỏng quản lý vốn ngoại vào chứng khoán cổ >> Đừng sợ TTCK phát triển nóng! phần >> BẤM VÀO ĐÂY để xem các thông tin khác về thị trường Chứng chứng khoán VN khoán Sài Cụ thể, tại Công văn của Thủ tướng ghi rõ, chưa cần thiết áp Gòn - dụng các giải pháp cấp bách kiểm soát ngoại hối đối với đầu tư sáng gián tiếp nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề xuất 26-2 - tại phiên họp ngày 12-2-2007 của Hội đồng Tư vấn chính sách tài Ảnh: chính, tiền tệ quốc gia. Đồng thời yêu cầu các đơn vị tiếp tục thực Thanh hiện các biện pháp quản lý thị trường chứng khoán theo Thông báo Đạm - số 20/TB-VPCP ngày 29/1/2007 của Văn phòng Chính phủ. TT Theo Thủ tướng, yêu cầu quan trọng để thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững, cấp thiết ph ải hoàn thi ện h ệ thống pháp luật, kiện toàn bộ máy quản lý và tăng cường các hoạt động giám sát thị trường. Bộ Tài chính, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan liên quan khẩn trương ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Chứng khoán, Pháp lệnh ngoại hối và các văn bản có liên quan khác. Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đề xuất với Chính phủ các giải pháp đồng bộ, phù hợp với từng tình huống nh ằm b ảo đảm cho thị trường chứng khoán phát triển nhanh, bền vững, tránh được các biến cố xấu gây mất ổn định kinh tế - xã hội.
  2. Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu, Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và kể cả Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ tiến hành các hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát bảo đảm sự tuân thủ các quy định của Nhà nước đối với các tổ ch ức, cá nhân tham gia thị trường chứng khoán. Kiên quyết xử lý nghiêm và công khai các hành vi vi phạm pháp luật, kể cả việc rút giấy phép và cấm các đ ơn v ị, cá nhân này hoạt động trên thị trường chứng khoán. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước được chủ động áp dụng các giải pháp để giảm áp lực lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, ch ống đ ầu c ơ như: kịp thời mua ngoại tệ theo kế hoạch, phát hành trái phi ếu Chính ph ủ, tín phiếu ngân hàng, quy định điều kiện tăng vốn và trạng thái ngoại hối của các ngân hàng thương mại, thực hiện quy định mức gi ảm giá trong từng phiên giao dịch ở Trung tâm Giao dịch chứng khoán; ban hành chính sách thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán; đẩy mạnh thực hiện kế hoạch cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, tăng lượng hàng hoá cung cấp trên thị trường chứng khoán... Theo Phước Hà - VietNamNet Việt Báo Can thiệp của Chính phủ vào tỷ giá đối với các giao dịch vốn TCKT cập nhật: 06/05/2007 Nếu các kiểm định đưa ra bằng chứng xác đáng là có sự can thiệp “quá mạnh tay” của chính phủ vào nền kinh tế và nếu như chúng ta mong muốn mở cửa thị trường tài chính nhiều hơn nữa thì cần thiết phải xem lại phương thức điều hành tỷ giá hiện nay. Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển hiện đang gặp phải tình thế tiến thoái lưỡng nan trong việc lựa chọn các mục tiêu cơ bản của chính sách kinh tế vĩ mô. Có ba mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô mà chúng ta theo đuổi và hướng đến là (1) tự do hóa các giao dịch vốn (2) thực thi một chính sách tiền tệ độc lập và (3) ổn định tỷ giá. Tuy nhiên, do tính loại trừ lẫn nhau nên sẽ không có bất kỳ một quốc gia nào thỏa mãn được
  3. cùng lúc 3 mục tiêu. Các quốc gia chỉ có thể đạt được 2 trong số 3 mục tiêu mà thôi. Để thực hiện 2 trong số 3 các mục tiêu lựa chọn, có 1 trong 3 công cụ để thực thi là (1) lựa chọn cơ chế tỷ giá cố định (2) lựa chọn cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn và (3) kiểm soát vốn. Mỗi công cụ chỉ có thể đồng thời đạt được một cặp mục tiêu mà thôi. Nói cách khác, khi con đường hội nhập tài chính là không thể tránh khỏi, chỉ còn lại 1 trong 2 “cửa” mục tiêu để có thể lựa chọn: ổn định tỷ giá hay là thực thi một chính sách tiền tệ độc lập? Câu trả lời đã khá rõ. Ổn định tỷ giá là mục tiêu mà NHNN luôn tuân thủ tuyệt đối. Như vậy, 2 trong số 3 mục tiêu mà chúng ta lựa chọn trong thời gian qua là (1) hội nhập tài chính hoàn toàn và (2) ổn định tỷ giá. Công cụ để thực hiện 2 mục tiêu này là thực thi chính sách tỷ giá cố định. Trong thực tế, khó có việc một quốc gia đang phát triển nào đó đặt mục tiêu hội nhập tài chính “hoàn toàn”, hoặc lựa chọn cơ chế tỷ giá cố định thả nổi hoặc cố định “hoàn toàn”. Nằm đâu đó giữa các trạng thái trên chính là con đường mà chúng ta theo đuổi: tự do hóa tài chính theo lộ trình (mục tiêu) và tỷ giá thả nổi có quản lý (công cụ). Sự can thiệp của Chính phủ trong cơ chế tỷ giá thả nổi quản lý ở nước ta trong thời gian qua cần phải được nhận diện theo hướng chúng đã tác động đến các giao dịch vốn như thế nào. Đây chính là mục tiêu mà bài viết này nghiên cứu thông qua các bằng chứng thực nghiệm. Nếu các kiểm định đưa ra bằng chứng xác đáng là có sự can thiệp “quá mạnh tay” của chính phủ vào nền kinh tế và nếu như chúng ta mong muốn mở cửa thị trường tài chính nhiều hơn nữa thì cần thiết phải xem lại phương thức điều hành tỷ giá hiện nay. Để có thể định lượng sự can thiệp của chính phủ, tác giả tiến hành kiểm định ngang giá lãi suất IRP giữa USD và VND và so sánh chi phí giao dịch trên thị trường VN với một thị trường chuẩn (mà tác giả chọn là Hồng Kông). Mức chênh lệch quá lớn của chi phí giao dịch trên thị trường VN sẽ cho thấy “độ lớn” mức độ can thiệp của chính phủ vào tỷ giá như thế nào.
  4. Lệch chuẩn so với ngang giá lãi suất – Chi phí giao dịch trên thị trường VN Lệch chuẩn trong trường hợp ngang giá lãi suất không phòng ngừa rủi ro - UIP Ngang giá lãi suất trong trường hợp không phòng ngừa rủi ro được thể hiện bằng phương trình sau đây: Với: ° là lãi suất đối với tài sản định danh bằng đồng nội tệ. là lãi suất đối với tài sản định danh bằng đồng ngoại tệ. Cả hai được tính theo logarit. ° Ta có vế trái của phương trình là lệch chuẩn của UIP trên thực tế được diễn đạt theo logarit. ° , là thay đổi kỳ vọng của tỷ giá hối đoái vào thời điểm tương lai (t+k) và tỷ giá hối đoái ở hiện tại (t), tính theo logarit. ° ft,t+k -St: là chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái kỳ hạn (t+k) so với tỷ giá giao ngay hiện tại, tính theo logarit. ° Biểu thức trong ngoặc vuông của vế bên phải phương trình chính là lệch chuẩn của ngang giá lãi suất khi không có phòng ngừa rủi ro. ° là tỷ giá hối đoái tương lai vào thời điểm (t+k). ° Biểu thức trong ngoặc đơn của vế bên phải phương trình chính là phần bù kỳ hạn hay rủi ro tỷ giá. Lệch chuẩn đối với ngang giá lãi suất có phòng ngừa rủi ro - IRP Phương trình (1) có thể được viết lại để diễn đạt lệch chuẩn của ngang giá lãi suất có phòng ngừa rủi ro như sau: Chúng ta thừa nhận rằng trong thị trường vốn hoàn hảo, IRP sẽ tồn tại. Nói cách khác, các lệch chuẩn đối với IRP sẽ bằng zero. Nhưng nhiều nghiên cứu thực nghiệm lại chứng minh điều ngược lại, đó là điều kiện ngang bằng lãi suất IRP ít khi tồn tại trong thế giới thực. Thậm chí ngay
  5. cả ở những quốc gia có các khu vực tài chính hoàn toàn tự do; thị trường vốn hoàn hảo và hiệu quả cao, thì IRP cũng không luôn đúng. Sở dĩ như vậy là vì tất cả các giao dịch đều phải chịu chi phí chẳng hạn như tiền hoa hồng và các khoản chi trả khác cho các công ty môi giới và ngân hàng, thời gian tìm kiếm thông tin, rủi ro quốc gia, khả năng thay đổi các phương pháp kiểm soát vốn, tiền phạt do tham gia các giao dịch bất hợp pháp v.v. Mặc dù vậy, chi phí giao dịch đặc biệt cao ở một thị trường đều thể hiện chính sách kiểm soát chặt chẽ của chính phủ lên thị trường thông qua các can thiệp vào thị trường ngoại hối và tiền tệ cùng với những bất hoàn hảo khác. Để đánh giá mức độ can thiệp của Chính phủ vào thị trường VN như thế nào tác giả tính toán lệch chuẩn so với IRP trong một thời kỳ dài. Độ rộng của lệch chuẩn chính là chi phí giao dịch trên thị trường VN trong suốt thời kỳ này (Hình 1). Lệch chuẩn đối với IRP có phòng ngừa rủi ro thường nằm trong một dải băng nào đó xoay quanh đường ngang giá. Trong thực tế, bề rộng của dải băng sẽ được xác định bởi: (1) lệch chuẩn khỏi UIP – tác giả gọi là rủi ro kinh doanh chênh lệch – (2) rủi ro tỷ giá và (3) chi phí giao dịch thuần. Để đơn giản, tác giả kết hợp rủi ro kinh doanh chênh lệch và rủi ro tỷ giá lại với nhau, ký hiệu là TCr. Chi phí giao dịch thuần ký hiệu là TCp. Như vậy, lệch chuẩn đối với IRP có thể được xem là tổng chi phí giao dịch, TC: gồm có TCr và TCp. Tác giả tiến hành xem xét 3 loại thị trường liên quan đến giao dịch các tài sản nội tệ và tài sản bằng đồng đô la như sau: Thị trường A đại diện cho thị trường giao dịch trong nước (onshore), trong khi thị trường B, đại diện cho thị trường giao dịch giữa VN và một nền kinh tế hải ngoại (Cross border), chẳng hạn như Mỹ. Ngoài hai thị trường trên thì ta còn xem xét thị trường C, là một thị trường được xem như là một chuẩn mực dùng để so sánh chi phí giao dịch trong mỗi thị trường A và B. Thị trường chuẩn mực có thể được chọn như là thị trường giao dịch tài sản định danh bằng USD và tài sản định danh bằng đô la Hồng Kông. Bằng cách tính toán độ rộng của dãi băng xoay quanh IRP cho mỗi thị trường A, B (ký hiệu là TCa,TCb) tác giả có thể so sánh mỗi thị trường
  6. với thị trường còn lại. Việc so sánh như vậy sẽ cho phép tác giả trả lời các câu hỏi về định lượng và thảo luận các vấn đề có liên quan thông qua việc nhận diện các thay đổi trong các chính sách tỷ giá và các nhân tố khác mà chúng có thể thay đổi trong chi phí giao dịch. Kết quả thực nghiệm Dựa trên những công thức ở phần trên, kết hợp với những dữ kiện đã thu thập được trong khoảng thời gian từ quý 4 năm 1999 đến quý 3 năm 2005, tác giả thiết lập bảng tính chi phí giao dịch và thể hiện trong đồ thị (hình 1). Lệch chuẩn từ ngang giá lãi suất có phòng ngừa rủi ro – Kết quả so sánh Phần này thể hiện các kết quả thực nghiệm về chi phí giao dịch ước tính trong 3 thị trường: thị trường A, B và C bằng cách sử dụng vế trái của phương trình (2) trong phần trên. Khoảng thời gian nghiên cứu thực nghiệm là từ Q1 năm 1999 đến Q3 năm 2005. Trong mỗi thị trường A và B, dữ liệu của mẫu quan sát được dựa trên các quan sát hàng quý của tỷ giá giao ngay, tỷ giá kỳ hạn 3 tháng, lãi suất 3 tháng của tài sản định danh bằng đồng VND và lãi suất 3 tháng của tài sản định danh bằng đồng USD tại thị trường trong nước và thị trường Mỹ. Kết quả thực nghiệm khỏi IRP cho mỗi thị trường được tóm tắt trong hình 1. Phân tích này cho thấy:
  7. ° Trước hết, lệch chuẩn khỏi IRP giữa đồng đô la Hồng Kông và đồng đôla Mỹ trong thị trường C (thị trường chuẩn) dao động trong dãi băng khá hẹp xoay quanh mức 0 trong suốt thời kỳ quan sát, với lệch chuẩn bình quân hàng quý chỉ khoảng 0,013%. Mức ước tính này là thấp đáng kể so với các ước tính được thực hiện trước kia, các nhà nghiên cứu Clinton (1988), Frankel (1991) đã tính toán là vào khoảng 0,13%. Do đó có thể kết luận chi phí giao dịch kết hợp với rủi ro quốc gia trong thị trường C là không đáng kể trong thời kỳ này. ° Thứ hai, nhìn chung trong suốt khoảng thời gian quan sát từ Q1.1999 đến Q3.2005 lệch chuẩn khỏi IRP trong thị trường A (thị trường Onshore) đã dao động trong dải băng rất rộng. Trong khoảng thời gian từ Q1. 1999 - Q3.2000 [1]: lệch chuẩn hay chi phí giao dịch ở mức khá cao so với toàn bộ khoảng thời gian còn lại. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với thực tế trong giai đoạn này. Trong khoảng thời gian này do nền kinh tế Mỹ phát triển rất nóng nên FED đã liên tục tăng lãi suất, mức cao nhất là 7,5%. Trong khi đó, thời gian này lãi suất VND là khá thấp, khoảng 6%, cộng với tỷ giá VND/USD hầu như không dao động cho nên đã khuyến khích dòng vốn (ngắn hạn) chảy từ trong nước ra nước ngoài. Điều này đã tạo ra sức ép NHNN gia tăng lãi suất VND. Những gia tăng liên tục trong lãi suất VND từ đó cho đến nay đã làm cho kinh doanh chênh lệch xuất hiện theo chiều ngược lại so với trước đây. Kết quả là chi phí giao dịch từ cuối năm 2000 cho đến 2004 ngày càng có xu hướng hẹp dần, dao động nhẹ với mức bình quân khoảng 0,1% (nhưng luôn cao hơn so với biên độ dao động của chi phí giao dịch trên thị trường chuẩn). Tuy nhiên bắt đầu từ Q3-2004 cho đến nay, có hai xu hướng mới diễn ra trên thị trường A và thị trường B. Trên thị trường A, kết quả thực nghiệm phát hiện ra các nhà kinh doanh và cư dân dịch chuyển mạnh việc chuyển từ các khoản ký gửi bằng USD sang VND. Lý do là trong khoảng thời gian này các NHTM trong nước đua nhau tăng lãi suất VND lên đến mức khá cao, trong khi lãi suất USD ít có sự thay đổi. Cũng trong khoảng thời gian này trên thị trường B, lãi suất bằng VND tuy cao hơn với lãi suất USD trên thị trường quốc tế nhưng do đồng USD liên tục tăng giá (khoảng 15% so với EUR), nên NHNN và các NHTM đã đem ký gửi các khoản dự trữ ngoại hối của mình ra thị trường quốc tế. Trên
  8. thực tế, dòng vốn ra trên thị trường B là không có gì đáng ngại do chúng chỉ phản ảnh các khoản ký gửi ngắn hạn của NHNN và các NHTM ra nước ngoài mà thôi. Kết quả sự khác biệt này có vẻ như là từ tác động nỗ lực của Chính phủ trong việc khuyến khích dòng vốn ra mà không khuyến khích dòng vốn vào trong khoảng thời này. Những cố gắng như vậy đã dẫn đến xu hướng thiếu hụt nguồn vốn cho nền kinh tế quốc nội mà lẽ ra nguồn vốn này đã có thể được đáp ứng trong điều kiện không có kiểm soát vốn. Về mặt lý thuyết, sự thiếu hụt này sẽ tạo một áp lực lên lãi suất trong nước. Tuy nhiên trường hợp này là không xảy ra đối với VN bởi vì trong khoảng thời gian này chính phủ VN kiểm soát rất chặt các khoản đầu tư ra nước ngoài chẳng những trên cán cân vãng lai mà còn trên tài khoản vốn. Do đó gần như những thay đổi trong lệch chuẩn khỏi IRP chính là sự phản ánh của các thay đổi chi phí phát sinh do rủi ro quốc gia trong quá trình kiểm soát vốn. Mặc dù biến động chi phí giao dịch trên thị trường A và B trong thời gian qua là cùng chiều với nhau nhưng về mức độ tuyệt đối thì thị trường B thường lớn hơn thị trường A. Điều này ngụ ýý rằng chi phí giao dịch trên thị trường B lớn hơn chi phí giao dịch trên thị trường A. Sự khác biệt cho thấy khi kinh doanh ngoại tệ trên thị trường quốc tế thì các thành phần tham gia thị trường phải gánh chịu thêm một khoản chi phí bổ sung, với khoảng cách biến động từ mức thấp nhất đến mức cao nhất là 0,75%, chi phí bình quân là 0,17%. Kết luận Độ lớn tác động từ thay đổi trong chính sách tỷ giá và các biện pháp kiểm soát vốn là đáng kể. Tuy có giảm dần theo thời gian để phản ảnh sự và nhất quán trong chủ trương điều hành tỷ giá linh hoạt và nới lỏng từng bước các biện pháp kiểm soát vốn của Chính phủ, nhưng độ lớn này vẫn còn rất cao so với thị trường chuẩn. Và điều này cho thấy chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã tạo ra những lực cản đến việc hội nhập sâu rộng vào thị trường tài chính quốc tế của VNª Chú thích [1] Trong giai đoạn này, theo quy chế quản lý ngoại hối hiện hành, chỉ có
  9. các ngân hàng thương mại và một số tổ chức kinh tế mới được phép có tài khoản ngoại tệ tại nước ngoài. Tuy nhiên số dư ngoại tệ từ tổ chức kinh tế gởi ở nước ngoài là không đáng kể do phải tuân thủ quy định quản lý ngoại hối ( khi số dư tài khoản trên mức quy định các DN phải chuyển ngoại tệ về nước). Mặc dù vậy theo số liệu từ ngân hàng thanh toán quốc tế BIS cho thấy ngoại tệ của các tổ chức và cá nhân VN gửi tại ngân hàng nước ngoài tăng từ 24 triệu USD lên 130 triệu USD vào cuối năm 2000. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRAhttp://www.tapchiketoan.com/ngan-hang- tai-chinh/thi-truong-tai-chinh/can-thiep-cua-chinh-phu-vao-ty-gia-doi- voi-cac-giao-dic.htmlNG – TCKTPT Thủ tướng: Chưa kiểm soát ngoại hối của đầu tư gián tiếp Thị trường chứng khoán đang thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư. ▪ HOÀNG XUÂN 17:09 (GMT+7) - Thứ Ba, 27/2/2007 Đây là khẳng định mới nhất của Thủ tướng Chính phủ trong Công văn số 997/VPCP-KTTH ngày 27/2 Đây là khẳng định mới nhất của Thủ tướng Chính phủ trong Công văn số 997/VPCP-KTTH ngày 27/2 . Theo đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục có ý kiến chỉ đạo về các biện pháp tăng cường quản lý thị trường chứng khoán, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp tạo hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ cho thị trường chứng khoán hoạt động công khai, minh bạch. Thủ tướng Chính phủ cho rằng, trong bối cảnh lúc này chưa cần thiết áp dụng các giải pháp cấp bách kiểm soát ngoại hối đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề xuất tại phiên họp ngày 12/2/2007 của Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia.
  10. “Để thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, kiện toàn bộ máy quản lý và tăng cường các hoạt động giám sát thị trường”, Thủ tướng nhấn mạnh. Theo nhận định của Thủ tướng, thị trường chứng khoán Việt Nam có những bước phát triển nhanh và đang trở thành kênh huy động vốn đầu tư hết sức quan trọng cho nền kinh tế quốc dân. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan khẩn trương ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Chứng khoán, Pháp lệnh ngoại hối và các văn bản có liên quan khác. Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước và cơ quan liên quan (kể cả Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ) tiến hành các hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát bảo đảm sự tuân thủ các quy định của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường chứng khoán. Kiên quyết xử lý nghiêm và công khai các hành vi vi phạm pháp luật, kể cả việc rút giấy phép và cấm các đơn vị, cá nhân này hoạt động trên thị trường chứng khoán. Thủ tướng cũng giao Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia tiếp tục nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm quốc tế, trên cơ sở phân tích, dự báo các tình huống của thị trường để đề xuất với Chính phủ các giải pháp đồng bộ, phù hợp với từng tình huống nhằm bảo đảm cho thị trường chứng khoán phát triển nhanh, bền vững, tránh được các biến cố xấu gây mất ổn định kinh tế-xã hội. Đồng thời, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan liên quan chủ động áp dụng các giải pháp thích hợp để giảm áp lực lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, chống đầu cơ như: kịp thời mua ngoại tệ theo kế hoạch, phát hành trái phiếu Chính phủ, tín phiếu ngân hàng, quy định điều kiện tăng vốn và trạng thái ngoại hối của các ngân hàng thương mại, thực hiện quy định mức giảm giá trong từng phiên giao dịch ở trung tâm giao dịch chứng khoán, ban hành chính sách thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán; đẩy mạnh thực hiện kế hoạch cổ phần hoá các
  11. doanh nghiệp nhà nước, tăng lượng hàng hoá cung cấp trên thị trường chứng khoán... Giải pháp để cứu thị trường ngoại tệ Lý do mất cân bằng cung cầu là nguyên nhân chính gây ra nhiều bất ổn về ngoại tệ. Giải pháp căn cơ là phải áp dụng các chính sách mới để thu hút ngoại tệ như khuyến khích đầu tư từ nước ngoài... (Phan Minh) Do các mặt hàng xuất khẩu của ta đang bị sút giảm nhiều như dầu thô, thủy hải sản, may mặc, da giày... vì suy giảm kinh tế toàn thế giới nên nguồn thu ngoại tệ về để phục vụ cho nền kinh tế bị thiếu hụt nhiều. Trong khi nhu cầu cần ngoại tệ để phục vụ cho việc nhập khẩu các loại hàng hóa, máy móc thiết bị tối cần thiết thì không giảm mà thậm chí còn tăng cao. Lý do mất cân bằng cung cầu là nguyên nhân chính gây ra nhiều bất ổn về ngoại tệ như đầu cơ găm giữ ngoại tệ của mọi thành phần có ngoại tệ trong xã hội. Tỷ giá ngoại hối trong thị trường chợ đen ngân hàng Nhà nước không kiểm soát được, người dân chuyển sang tích trữ ngoại tệ thay vì bằng vàng do hiện nay giá vàng bán ra trong nước cao hơn rất nhiều so với thế giới. Hiện nay bất kể cá nhân hay tổ chức (trừ doanh nghiệp Nhà nước) khi cần ngoại tệ chính đáng như trả nợ nước ngoài, du lịch, du học, chữa bệnh, nhập khẩu... đều phải mua từ thị trường chợ đen bởi vì tìm ở các nơi chính thức như ngân hàng thì không ai bán cả, hoặc nếu bán thì phải quen biết và theo giá thỏa thuận ở mức cao. Dự trữ ngoại tệ của Nhà nước chưa đủ để bình ổn tỷ giá và cung cấp cho nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay nên chúng ta phải chờ các biên pháp hành chính mà ngân hàng nhà nước đã và đang làm để bình ổn thị trường ngoại tệ trong nước. Giải pháp căn cơ là phải đẩy mạnh xuất khẩu, áp dụng các chính sách mới để thu hút ngoại tệ như khuyến khích đầu tư từ nước ngoài, mở cửa cho Việt kiều, người nước ngoài được mua và sở hữu nhà tại Việt Nam cũng như chống lạm phát sẽ góp phần ổn định thị trường ngoại tệ từ đây cho đến cuối năm. Đề xuất giải pháp quản lý ngoại hối Vì vậy, về giải pháp chính sách về quản lý ngoại hối nói chung và về điều hành tỷ giá nói riêng, xin đề xuất như sau:
  12. Về quan điểm chính sách, cần đối xử với Đôla như đối xử với một loại hàng hoá nhập khẩu hơn là đối xử như với một liên minh tiền tệ lẫn lộn các chức năng với nội tệ trên thị trường tài chính trong nước. Không nên "cố" neo tỷ giá vào đồng USD, cần phải để thị trường ngoại hối phán quyết sức mua đã "tụt dốc" rất lớn của đồng USD so với hầu hết các đồng tiền quốc gia khác trên thị trường quốc tế. Trong khi giá cả đồng USD trên thị trường tiền tệ quốc tế và lãi suất trong chính nước Mỹ giảm thì tại Việt Nam lãi suất huy động và cho vay đồng USD lại có xu hướng gia tăng. Điều đó chứng tỏ cơ chế quản lý ngoại hối là có vấn đề mà chỉ có Việt Nam mới gặp phải. Lý do là nhiều nước trên thế giới không cho phép có hoạt động tín dụng ngoại tệ, đặc biệt là loại tín dụng ngoại tệ ngắn hạn. Nhiều nước cũng có luật cấm nghiêm ngặt việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ trong nội địa bằng ngoại tệ. Hiện nay, ở nhiều ngân hàng thương mại nước ta đã có dấu hiệu nghịch lý về đồng USD, biểu hiện qua hiện tượng: "thiếu tiền, thừa vốn". Do lãi suất huy động ngoại tệ tăng, cùng với tỷ giá có xu hướng tăng và đứng ở mức cao nên lượng "tiền gửi ngoại tệ" tăng, trong lúc tiền mặt ngoại tệ để "mua đứt bán đoạn" lại hiếm. Tại Việt Nam tình trạng Đô la hoá rất cao, nên khi lạm phát bùng nổ thì ngoại tệ "lên ngôi" ngay cả khi chính nó đang bị mất giá rất mạnh ở "quê hương" của nó và ở khắp các nền kinh tế công nghiệp phát triển, trong khi tại Việt Nam một số không ít cửa hàng, khách sạn cao cấp lại ngang nhiên niêm yết giá, thu tiền bán hàng bằng Đô la và từ chối thanh toán bằng nội tệ! Do đó, cần sử dụng cơ chế mua đứt bán đoạn thay cho cơ chế tín dụng ngoại tệ... Cùng với việc chuyển này, cần phải tạo cơ chế cho phát triển mạnh thị truờng ngoại hối kèm theo việc kiểm soát chặt các hoạt động Đô la hoá, trong đó bao gồm cả việc cho phát triển mạnh các giao dịch phái sinh ngoại hối để các bên tham gia thị trường tự bảo vệ truớc những biến động rủi ro về tỷ giá. Phải tuân theo nguyên tắc: "Trên lãnh thổ Việt Nam chỉ tiêu VND". Cần ban hành ngay văn bản qui phạm pháp luật về việc thanh tra, kiểm soát mọi hành vi vi phạm việc sử dụng đồng ngoại tệ trong
  13. thanh toán trao đổi hàng hoá, dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam. Về thái độ chính sách, phải coi tỷ giá là một phạm trù giá cả trên thị trường ngoại hối để làm phương tiện chuyển đổi quyền sở hữu tiền tệ theo qui luật của nó. Mọi nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia phải được thống nhất quản lý, lưu giữ tại Ngân hàng Trung ương. Nếu có lộ trình đủ hợp lý triển khai các nội dung đề xuất nói trên, người viết bài tin tưởng rằng thị trường ngoại tệ Việt Nam sẽ dần đi vào ổn định và quan hệ tỷ giá sẽ vận động đúng theo quan hệ cung - cầu theo thị trường xuất nhập khẩu và cán cân thanh toán quốc tế thực của Việt Nam. * Tác giả bài viết là Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước. Giải pháp tích cực  Đô­la hoá là tình trạng khó tránh khỏi đối với các nước có xuất phát điểm thấp, đang trong quá  trình chuyển đổi nền kinh tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế như Việt Nam. Đô­la hoá là tình trạng khó tránh khỏi đối với các nước có xuất phát điểm thấp, đang trong quá  trình chuyển đổi nền kinh tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế như Việt Nam. Tâm lý lo ngại về lạm  phát, về sự mất giá của nội tệ, thói quen về sử dụng quá nhiều tiền mặt trong giao dịch,... không  thể một sớm, một chiều xoá bỏ hay giảm triệt để được.  Khó có thể sử dụng biện pháp hành chính cực đoan để cấm đoán được, mà chắc chắn còn có tác  dụng ngược với nhu cầu thu hút vốn bên ngoài và cho phát triển kinh tế. đô­la hoá có những mặt  lợi và bất lợi của nó.  Trong giai đoạn hiện nay cần cố gắng khai thác mặt lợi, thu hút vốn USD trong dân vào hệ thống  ngân hàng, đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế ­ xã hội hay đầu tư trên thị trường tiền gửi theo  thông lệ quốc tế mà Luật các tổ chức tín dụng của nước ta cho phép. Thị trường ngoại tệ và hoạt  động kinh doanh tiền tệ ở nước ta đang hội nhập với thị trường tiền tệ quốc tế. Các dòng chu  chuyển vốn linh hoạt, khi lãi suất trên thị trường quốc tế cao, vốn USD trong dân được huy động  gửi tạm thời và có kỳ hạn ở nước ngoài, khi lãi suất xuống thấp và nền kinh tế có các dự án khả  thi thì lại rút về đầu tư trong nước.  Thà chấp nhận đô­la hoá tiền gửi và dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng, Nhà nước còn quản  lý chặt chẽ được, còn hơn là để trôi nổi trong dân. Theo đó, cần linh hoạt giảm thấp tỷ lệ dự trữ  bắt buộc tiền gửi ngoại tệ để nó tác động tích cực đến lãi suất USD. Thay cho dự kiến phát hành 
  14. trái phiếu ngoại tệ trên thị trường quốc tế, bằng việc mở rộng phát hành trái phiếu loại này trong  nước, huy động vốn USD của dân.  Cần tiếp tục cơ cấu tích cực mệnh giá Đồng Việt Nam, phát triển dịch vụ ngân hàng và mở rộng  thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Đẩy mạnh tuyên truyền về sử dụng thẻ, kể cả  thẻ tín dụng quốc tế. Ngăn chặn và giảm dần các hoạt động kinh tế ngầm, kiểm soát buôn lậu.  Thắt chặt quy định niêm yết bán hàng hoá và dịch vụ thu bằng ngoại tệ, xử lý nghiêm minh vi  phạm quy định này. Đặc biệt là cần có quan điểm và nhận thức mở, tích cực về đô­la hoá trong  hệ thống ngân hàng, từ đó giảm đi sức ép về dư luận và tâm lý đến điều hành chính sách kinh tế  có liên quan. Theo TBKTVN Nguyễn Tiến Hùng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản