Giảm nguy cơ của hội chứng chuyển hóa

Chia sẻ: Ka Ka | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
76
lượt xem
10
download

Giảm nguy cơ của hội chứng chuyển hóa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự phức tạp của HCCH khiến cho vấn đề phòng ngừa và điều trị gặp không ít khó khăn. Hầu hết các bệnh nhân tăng huyết áp và/hoặc ĐTĐ týp 2 cần phải được điều trị bằng thuốc cho dù tất cả các bệnh nhân này đều thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa và thay đổi lối sống. Khi đã phải điều trị bằng thuốc thì các bệnh nhân này thường phải sử dụng hàng ngày và lâu dài. Các thành phần khác nhau của HCCH đòi hỏi các loại thuốc điều trị khác nhau và bệnh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giảm nguy cơ của hội chứng chuyển hóa

  1. Giảm nguy cơ của hội chứng chuyển hóa
  2. Sự phức tạp của HCCH khiến cho vấn đề phòng ngừa và điều trị gặp không ít khó khăn. Hầu hết các bệnh nhân tăng huyết áp và/hoặc ĐTĐ týp 2 cần phải được điều trị bằng thuốc cho dù tất cả các bệnh nhân này đều thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa và thay đổi lối sống. Khi đã phải điều trị bằng thuốc thì các bệnh nhân này thường phải sử dụng hàng ngày và lâu dài. Các thành phần khác nhau của HCCH đòi hỏi các loại thuốc điều trị khác nhau và bệnh nhân cần tuân thủ đúng chỉ định của thầy thuốc. Duy trì cân nặng hợp lý Thay đổi lối sống, có chế độ dinh dưỡng phù hợp và tăng hoạt động thể lực vẫn là biện pháp cơ bản điều trị thừa cân và béo phì. Việc lấy đi các mỡ thừa ở bụng có tác dụng làm giảm béo phì nhưng không làm cải thiện hiện tượng đề kháng insulin và các thông số rối loạn chuyển hoá khác. Điều này cần đặc biệt cân nhắc với những người cao tuổi, kể cả những người mới bước sang tuổi 60 vì có nhiều nguy cơ. Trong vài thập kỷ gần đây, người ta đã bắt đầu thử sử dụng thuốc để phòng ngừa thừa cân và béo phì. Hầu hết các thuốc có tác dụng làm giảm cảm giác thèm ăn. Nhưng các thuốc này đều không được sử dụng vì có quá nhiều tác dụng phụ trầm trọng như độc cho tim, xơ phổi... Hiện nay chỉ có 2 thuốc được đăng ký sử dụng kéo dài trong điều trị béo phì là sibutramine (giảm cảm giác thèm ăn) và orlistat (giảm hấp thu mỡ từ thức ăn). Tuy nhiên, các đánh giá lâm sàng về hiệu quả và độ an toàn của các thuốc này chỉ giới hạn trong 2 năm. Hơn nữa, các phản ứng phụ thường là nguyên nhân làm bệnh nhân phải ngừng điều trị.
  3. Điều trị rối loạn dung nạp đường máu, đề kháng insulin và đái tháo đường týp 2 Rối loạn dung nạp đường máu, đề kháng insulin và đái tháo đường týp 2 là những bệnh lý đang ngày một gia tăng ở người già. Các rối loạn này đã được điều trị trong vài thập niên gần đây theo các nguyên tắc chung như: Điều chỉnh trọng lượng cơ thể, chủ yếu thông qua chế độ ăn, uống thuốc... Hiện nay, insulin liệu pháp đã được sử dụng nhiều hơn như là một liệu pháp bổ sung trong điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ týp 2. Tuy nhiên, hầu hết các bệnh nhân vẫn cần phải điều trị thêm các thuốc chống ĐTĐ. Các nhóm thuốc thường dùng là sulphonylurea, acarbose, metformin, thiazolidinediones và trong một số trường hợp cần phối hợp thêm với insulin. Thừa cân và béo phì thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 và làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Do vậy cần kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ này, đặc biệt là tăng huyết áp. Điều trị tình trạng tăng đông máu Tình trạng tăng đông máu có thể điều trị bằng thuốc như aspirin. Nên sử dụng aspirin với liều thấp (80 - 100mg/ngày). Tuy nhiên, không nên điều trị aspirin hay các thuốc chống đông khác một cách thường quy cho tất cả các bệnh nhân có HCCH.
  4. Rối loạn lipid, một bệnh hay gặp ở người cao tuổi. Kiểm soát huyết áp Tăng huyết áp rõ ràng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch ở bệnh nhân có HCCH cũng như bệnh nhân ĐTĐ týp 2. Kiểm soát chặt chẽ trị số huyết áp là mục tiêu điều trị quan trọng nhất. Trị số huyết áp mục tiêu cần phải đạt được là
  5. Điều trị và phòng ngừa rối loạn lipid máu Hầu hết các bệnh nhân HCCH có béo phì và thiếu hoạt động thể lực. Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ có hại đó cần thời gian và khó duy trì lâu dài, đặc biệt là người già nhưng sẽ làm cải thiện các chỉ số lipid máu. Điều chỉnh chế độ ăn là hết sức quan trọng trong điều trị rối loạn lipid máu cũng như HCCH, nhưng cũng có nhiều bệnh nhân cần phải điều trị thêm thuốc giảm lipid máu. Cùng với thời gian, thuốc điều trị rối loạn lipid máu sẽ ngày càng được sử dụng nhiều hơn cho các bệnh nhân HCCH có tăng huyết áp và/hoặc ĐTĐ. Để làm chậm quá trình vữa xơ động mạch, cần điều trị lâu dài và cũng khá tốn kém. Hầu hết các bằng chứng lâm sàng về lợi ích của các thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu dựa theo hiệu quả của thuốc trên nồng độ các thành phần lipid máu. Hiện nay, có 5 nhóm thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu đang được sử dụng là fibrrat, resin, nicotinic acid, statin và ức chế hấp thu cholesterol.
Đồng bộ tài khoản