Giáo án giảng dạy khối lớp Lá: Tháng 12

Chia sẻ: Abcdef_11 Abcdef_11 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
43
lượt xem
2
download

Giáo án giảng dạy khối lớp Lá: Tháng 12

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tháng 12: 1. Giới thiệu thực đơn của trẻ suy dinh dưỡng. 2. Phòng bệnh do thiếu sắt (thiếu máu). 3. Phòng bệnh do thiếu canxi và sinh tố D (còi xương, co giật). 4. Hướng dẫn cách rửa rau hợp vệ sinh. 5. Hướng dẫn cách nấu ăn để duy trì các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm. 6. Tuyên truyền ngày Thế giới chống AIDS ngày 1/12. Giới thiệu bằng hình ảnh: Các đồ dùng, trang thiết bị được sử dụng trong hoạt động chăm sóc trẻ tại trường vào mùa lạnh (giờ sinh hoạt, giờ ăn,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo án giảng dạy khối lớp Lá: Tháng 12

  1. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ CỦA NGÀNH HỌC MẦM NON Tháng 12: 1. Giới thiệu thực đơn của trẻ suy dinh dưỡng. 2. Phòng bệnh do thiếu sắt (thiếu máu). 3. Phòng bệnh do thiếu canxi và sinh tố D (còi xương, co giật). 4. Hướng dẫn cách rửa rau hợp vệ sinh. 5. Hướng dẫn cách nấu ăn để duy trì các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm. 6. Tuyên truyền ngày Thế giới chống AIDS ngày 1/12. Giới thiệu bằng hình ảnh: Các đồ dùng, trang thiết bị được sử dụng trong hoạt động chăm sóc trẻ tại trường vào mùa lạnh (giờ sinh hoạt, giờ ăn, giờ ngủ, giờ vệ sinh).  Thực đơn cho trẻ suy dinh dưỡng. I.Những sai lầm trong bữa ăn của trẻ là thủ phạm dẫn đến suy dinh dưỡng Những bữa bột chỉ có nước xương, thịt hầm: nước xương, thịt hầm chứa nhiều chất nitơ làm cho nước có mùi vị thơm ngon trong khi chất protid rất cần thiết cho trẻ trong xác thịt. Trong khi protid và calcin là những chất khó hòa tan trong nước gây ngán ăn. Những bát cơm thời răng cửa: Quan niệm ăn cơm sớm sẽ cứng cáp là một sai lầm, vì lứa tuổi này bé mới có khoảng vài cái răng cửa chỉ có thể dùng để cắn chứ không thể nhai. Cho trẻ ăn sớm, trẻ chỉ nuốt làm cho thức ăn khó tiêu hóa và chậm hấp thu, khiến bé chậm tăng cân. Những bữa ăn thiếu dầu: Nhiều bà mẹ không cho con ăn dầu vì cho rằng ăn dầu sẽ khiến trẻ bị ngán. Chính vì thiếu dầu mỡ trong thức ăn dặm n ên bột của trẻ nghèo năng lượng. Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  2. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Nếu chỉ lấy nước rau quấy bột cho trẻ m à không dùng xác rau vì trẻ mắc cổ, sợ không tiêu hóa được. Thực tế, tiền sinh tố A chỉ có trong lá rau, đậu. Nếu thiếu dầu mỡ nữa sẽ làm cho trẻ thiếu vitamin A dẫn đến khô loét giác mạc. II. Cần có chế độ ăn uống hợp lý, phòng chống suy dinh dưỡng như sau: 1. Chế độ ăn phải phù hợp với lứa tuổi: Ở mỗi độ tuổi khác nhau, trẻ có những đặc điểm cơ thể phù hợp với những chế độ ăn khác nhau (ví dụ răng, men tiêu hóa) vì vậy việc cho bé ăn những thức ăn không phù hợp có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tiêu hóa và làm bé biếng ăn. Trẻ dưới 4 tháng: sữa mẹ; Trẻ 4-6 tháng: Tập ăn dặm từ bột loãng đến bột sệt + sữa mẹ; Trẻ 6-9 tháng: ăn bột từ sệt đến đặc đủ 4 nhóm chất (chất đ ường bột, đạm, mỡ, vitamin và khoáng chất) + sữa mẹ; Trẻ 9-24 tháng: Cháo đặc đủ 4 nhóm, bột đặc + sữa mẹ; Trẻ trên 24 tháng: cơm nát, cơm thường. 2. Cách chế biến thức ăn phù hợp với độ tuổi: Thông thường các món nguyên liệu cần chọn mua loại tươi, mới, và nên ăn bữa nào nấu bữa ấy. Các loại rau xanh nên nấu vừa chín tới không nên hầm đến thay đổi màu sắc. Dầu ăn có thể cho vào lúc bột đã chín, còn nóng. Nêm muối iốt để đảm bảo cung cấp đủ lượng iốt cần thiết cho sự phát triển của trẻ. 3. Thành phần thức ăn phù hợp: Trong thực tế, không ít những bà mẹ quan tâm đến con mình quá mức, cụ thể là ngày nào cũng hầm cho trẻ một nồi “chất bổ” với rất nhiều loại nguyên liệu cùng một lúc, với quá nhiều chất đạm trong khi không đủ tinh bột hoặc chất xơ (rau) hay ngược lại tất cả chỉ là lấy nước, bỏ xác nên trẻ không nhận được chất dinh dưỡng cần thiết từ thức ăn. Điều n ày vừa là nguyên nhân thực thể vừa là nguyên nhân tâm lý dẫn đến biếng ăn cho trẻ. Chế độ ăn tốt nhất là một chế độ ăn đa dạng và đầy đủ các chất, ăn cả xác. Nên thay đổi món ăn cho bé hàng ngày và nếu có thể đối với các bé lớn nên cho ăn giống như người lớn. Việc cho bé tham gia vào bữa ăn cùng với người lớn cũng làm cho bé thích thú hơn vì thấy mình “bình đẳng” với người lớn. 4. Thời gian và các cho ăn phù hợp: Nên cho bé văn vào những thời gian nhất định trong ngày. Cần lưu ý là dạ dày trẻ nhỏ trong khi nhu cầu năng lượng lại lớn (một cách tương đối so với ki-lô- gam cân nặng) nên trẻ không thể ăn 3 bữa/ngày như người lớn. Các bữa ăn trung bình cách nhau 3 giờ, một bữa chín xen kẽ với một bữa phụ. Bữa chính n ên trùng với bữa ăn chính của gia đ ình, như vậy vừa thuận tiện cho mẹ vừa tạo niềm vui cho bé. Các thức ăn của bữa phụ có thể đa dạng nhưng nên tránh các loại calori rỗng như kẹo, đường, nước ngọt. Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  3. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Trong lúc bé ăn, tránh sự gò ép thái quá. Mẹ có thể cho bé tự xúc ăn, tự chọn thức ăn. Cố gắng biến bữa ăn của bé th ành một cuộc vui làm hài lòng cả bé và mẹ. Khi trẻ bệnh, nên khuyến khích trẻ ăn chứ không nên ép buộc. Không cho trẻ ăn quà vặt, uống nước ngọt, sữa trước bữa ăn. 5. Dùng thuốc bổ (bổ sung dinh dưỡng): Các nhóm chất thường được dùng trong điều trị biếng ăn là các vitamin và khoáng chất: Đây là các thành phần quan trọng hoặc là chất xúc tác cần thiết cho quá trình sản xuất và tác dụng của các loại men tiêu hóa. Ngoài ra còn dùng men tiêu hóa và chất “kích thích ăn”. Lysin là một acid amin thiết yếu mà một trong các chức năng của nó là đóng vai trò quan trọng trong việc tạo xương, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển chiều cao. Lysin bị phân hủy ở nhiệt độ cao, do đó thường không được cung cấp đầy đủ trong chế độ ăn tiêu chuẩn, gây ra chứng biếng ăn. Bổ sung Lysin là một phương pháp hiệu quả giúp trẻ ăn ngon miệng hơn Bữa ăn hợp lý phải bảo đảm đủ các thành phần dinh dưỡng. Đạm, béo, đường, vitamin và muối khoáng phải ở tỷ lệ cân đối. Không nên để sẵn bánh kẹo, nước ngọt trong tủ lạnh, tạo điều kiện cho trẻ sử dụng thoải mái khi thích vì khi dùng các loại thức ăn có lượng đường cao, trẻ sẽ có cảm giác “no giả tạo” nên không muốn ăn các thứ giàu dinh dưỡng khác. Đó là chưa kể đồ ngọt sẽ gây sâu răng. Nên cho trẻ ăn theo bữa và không nuông chiều quá mức.  Phòng bệnh do thiếu sắt 1.Nguyên nhân gây thiếu sắt, thiếu máu: - Trẻ không được ăb dầy đủ các thực phẩm giàu chất sắc như thịt, cá , trứng đậu đỗ… - Trẻ bị nhiễm giun sán, đặc biệt là nhiễm giun móc. Bệnh sốt rét cũng là nguyên nhân quan trọng gây thiếu máu. - Trẻ đẻ non, sinh đôi , sinh ba có cân nặng thấp do đó dự sắt trong cơ thể thấp 2.Tác hại của thiếu máu: - Người thiếu máu sẽ bị mỏi mệt, khả năng lao động giảm. - Người thiếu máu làm cho trẻ em kém phát triển về cả thể chất lẫn trí tuệ. - Phụ nữ có thai bị thiếu máu hay bị tai biến khi đẻ non. Đẻ con nhỏ yếu, dễ bị băng huyết gây nguy hiểm đến tính mạng mẹ và con. Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  4. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com 3.Biểu hiện: - Đối với trẻ em, biểu hiện thiếu máu là: nhận thức chậm, trí nhớ kém, trong lớp hay ngủ gật. Khi bị thiếu máu nặng có thể xuất hiện các triệu chứng: hoa mắt , chóng mặt, khó thở khi lao độnggắng sức, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn. Khám: da xanh , niêm mạc nhợt nhạt, dầu lưỡi có một đám những sắc tố đỏ sẫm. 4.Các biện pháp phòng chống thiếu máu , thiếu sắt: - Đa dạng hóa bữa ăn, chế độ ăn cung cấp đủ năng lượng và các thực phẩm giàu sắc ( thức ăn động vật, đậu , đỗ…), làm tăng khả năng hấp thu sắt nhờ tăng cường vitamin C có từ rau quả - Nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lí là biện pháp tốt nhất phòng chống thiếu máu ở trẻ nhỏ. - Bổ sung viên săs trong thời kì mang thai. - Tẩy giun cho trẻ theo định kì, và giữ vệ sinh ăn uống cho trẻ. - Khi phát hiện thiếu máu do thiếu sắt ở trẻ cần xử lí như sau: + Trẻ dưới 1 tuổi: chủ yếu da vào sắt trong sữa mẹ, và cho trẻ ăn bổ sung thực phẩm giàu chất sắt. + Trẻ 1-5 tuổi cho uống 30mg sắt mỗi ngày . Uống 3-4 đợt / năm, mỗi đợt 2-3 tuần.  Phòng bệnh thiếu canxi và sinh tố D 1.Nguyên nhân thiếu canxi trong bữa ăn hàng ngày do: - Uống quá ít sữa, ăn quá ít rau cải, trái cây, tàu hủ, cá tôm, cua, dưới lượng khuyến cáo rất nhiều. - T ỷ lệ calo do dầu mỡ quá thấp, không đủ để cung cấp các vitamine A,D cần cho sự tăng trưởng. - Thiếu ra ngoài trời, hưởng các tia cực tím trong ánh nắng để tiền vitamine D chuyển hóa thành vitamine D hoàn chỉnh để trẻ dễ dàng tiếp nhận canxi. 2.Nếu thiếu canxi, bé sẽ bị còi xương với các triệu chứng: - Sau 6 tháng, vòng đầu còn lớn hơn vòng ngực. Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  5. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com - Sau 18 tháng, thóp chưa liền, trán dô, lồng ngực có rãnh Harrison, chuỗi hạt sườn, đầu xương ống cẳng tay, cẳng chân phình ra rõ. - Sau 1 tuổi, chân “chữ bát”, “vòng kiềng”. - Triệu chứng kèm theo: bụng ỏng, đít teo, da xanh, thiếu máu…. 3. 10 Cách đưa canxi vao bữa ăn cho trẻ 1.Bữa ăn sáng cho cháu ăn lọai “ngũ cốc điểm tâm” giòn giòn luôn luôn có sữa tươi kèm theo – nếu không “chịu” món sữa (ngọt) n ày, có thể thay thế bằng bún riêu cua mềm mềm dễ nuốt (và mặn) có tầu hũ cũng giàu canxi. Hoặc bánh đúc đậu phụ rán (chiên) chấm tương Bắc, là một món ngon có tính cách “văn hoá ẩm thực” 2. Đăng ký cho cháu vào danh sách uống sữa ở trường lớp 3.Trời nóng, khuyến khích cháu ăn kem hay uống lọai đồ uống từ sữa ướp lạnh, có thêm cacao hay trái cây như dâu, cam trẻ con thích hơn sữa đơn thuần rất nhiều..(Chắc khỏi cần khuyến khích, vì trẻ con nào chẳng “mê” ăn kem !) 4.Trời mưa lạnh, cho cháu uống sữa cacao nóng với vài bánh quy giòn lạt hay mặn có “tăng cường” canxi. 5.Tận dụng máy xay sinh tố sáng chế ra những đồ uống hấp dẫn có sữa, kem (làm từ sữa) hay yaourt đông th ành kem với những hương vị vani, chuối, dứa, sầu riêng, mãng cầu, cacao v.v. 6.Cho ăn bánh có nhân trộn thêm sữa . 7.Thêm sữa bột gầy vào xốt những món ăn mặn như ra-gu, cà-ri có thịt, đậu, khoai v.v. 8.Nên cho ăn pho mai và yaourt vào những bữa ăn phụ. 9.Giải khát nhớ cho uống nước cam, quít, sẵn giàu canxi, có khi còn được tăng thêm canxi. 10.Về rau, nhớ cho ăn nhiều rau xanh như rau muống, bó xôi, cải bẹ trắng, bẹ xanh, bông cải xanh giàu canxi hơn các rau khác.  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  6. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Cách rửa rau Để đảm bảo rau sạch cần nhặt sạch rồi rửa nhiều lần bằng nước sạch, tốt nhất là rửa trực tiếp từng lá dưới vòi nước chảy là biện pháp hiệu quả nhất để loại bỏ trứng giun, vi khuẩn gây bệnh và dư lượng hoá chất trừ sâu vẫn còn bám trên rau. Nhiều người thường ngâm rau trong dung dịch thuốc tím hoặc nước muối loãng đều không đảm bảo vệ sinh. Qua một số thí nghiệm cho thấy, trong môi trường nước muối loãng, thuốc tím không có tác dụng gì với trứng giun và một số vi khuẩn gây bệnh, lượng hoá chất bảo vệ thực vật bám trên rau giảm đi không đáng kể nếu không rửa lại nhiều lần. Như vậy nên áp dụng cách rửa rau sống bằng nước sạch nhiều lần rồi vớt rau, vẩy ráo trước khi ăn. Cần chú ý : nhặt rau và rửa sạch trước khi rửa, rồi mới sắt rau để không làm mất các chất và vitamin có trong rau.  Nấu ăn duy trì chất dinh dưỡng Qua quá trình nấu nướng, các dưỡng chất trong thực phẩm thường thường bị mất đi do sự thiếu bảo quản trong lúc sửa soạn và trong khi nấu, nhất là những sinh tố tan trong nước như C, B... Sau đây là cách bảo quản thực phẩm trong lúc nấu: 1. Chuẩn bị nấu: a) Rau cải: Cách rửa và xắt có ảnh hưởng rất nhiều đến giá trị bổ d ưỡng của nhóm rau cải, nói chung, hơn tất cả các nhóm thực phẩm khác, vì sinh tố và khoáng chất rất dễ bị tiêu hủy nếu rửa và xắt không đúng cách. Muốn rửa rau cải, nên: Cắt bỏ rễ, những phần già, hư, dập hoặc những phần bị sâu bọ cắn thủng không dùng được Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  7. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Rửa từng lá, nhất là ở các kẻ lá cho thật sạch, riêng đối với các loại rau lá nhỏ như cải soon (cresson), rau dền thì nên pha vào nước một hoặc hai muỗng cà phê muối cho nước trở nên mặn mặn để sâu bọ và các côn trùng bò ra khỏi kẻ lá. Riêng đối với các loại rau củ, trái, để nguyên củ, rửa sạch trước khi gọt vỏ Nên rửa rau nhiều lần cho thật sạch, những loại rau ăn sống nên rửa trong nước ti'm để hủy diệt những vi trùng đem lại bệnh tật hiểm nghèo Tóm lại, muốn rau cải còn đủ chất bỏ, nên rửa rau thật sạch nhưng không ngâm lâu trong nước và tránh thái nhỏ hoặc để khô héo Chỉ cắt rau cải ngay trước khi nấu Rau ăn sông nên cắt, gọt vỏ khi gần ăn b) Thịt cá: Đừng ngâm thịt, cá vào chậu nước vì khoáng chất và sinh tốt sẽ bị tan mất c) Đậu hạt: Đậu hạt khô cần phải ngâm nước để làm mềm các tế bào đậụ Sau khi rửa sạch đậu, ngâm đậu trong nước nóng độ 2 giờ và có thể ùng nước ngâm đậu để nấu 2) Khi nấu nướng: Thức ăn nấu lâu sẽ mất nhiều sinh tốt h ơn nấu nhanh Chiên, rán lâu mất sinh tốt nhiều nhất là các loại sinh tốt tan trong chất béo A, D, E, K Luộc thức ăn trong chốc lát ít mất sinh tốt hơn lúc hầm nhừ Nên luộc rau quả lẫn vỏ, hay chỉ gọt ngay trước khi luộc, nếu cần Tránh bỏ thuốc muối (bicarbonate de soude) để giữ m àu xanh khi luộc rau Cho thực phẩm vào luộc hay nấu khi nước sôi Dùng càng ít nước để luộc càng tốt Tránh khuấy trộn nhiều lần thức ăn trong khi nấu Nên dùng luôn cả nước luộc Tránh sự hâm đi hâm lại nhiều lần Nên dùng thức ăn trong lúc còn nóng, tránh để nguội lạnh rồi mới dùng Không dùng gạo xay quá trắng và vo quá kỹ khi nấu cơm. Không nên chắc bỏ nước cơm vì như thế sẽ mất đi sinh tố B. Cách bảo quản thực phẩm Không ai phủ nhận thực phẩm đãnuôi sống con người, nhưng nếu thực phẩm đã bị hôi thối, bị biến chất thì cũng chính nó gây tai hại không ít cho sức khỏe của con ngườị Vì thế, thực phẩm cần phải đ ược giữ gìn trong trạng thái tươi nguyên hầu mang đến cho cơ thể đầy đủ các chất bổ dưỡng. Có nhiều nguyên nhân gây nên sự hư hỏng thực phẩm như: Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  8. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Sự tăng trưởng và hoạt động của vi sinh vật chủ yếu là vi khuẩn, nấm và mốc Hoạt động của các men trong thực phẩm Sâu bọ, ký sinh trùng hoặc các loài gặm nhấm Nhiệt độ nóng lạnh Sự ẩm ướt và khô ráo Không khí Ánh sáng Thời gian Sau đây là cách giữ gìn những thực phẩm thông thường: 1- Thịt, cá, gà, vịt làm sẵn: Phải được đậy kín ở chợ, trên đường về nhà, và ở nhà. Nên gói lỏng để không khí có thể lưu thông nhưng ruồi bọ không bu vào được. Nên giữ thịt, cá trong tủ lạnh nếu muốn sử dụng lâu ngày 2-Rau cải: Giữ nơi mát mẻ, nếu muốn giữ rau cải vài hôm vì nhà xa chợ thì nên để rổ rau cải vào tủ lạnh thoáng khí, cắt bỏ những phần úng, tránh chuột bọ không thể bò vào dấy bẩn. Không nên ngâm rau cải cả ngày trong nước để giữ rau được tươi vì ngâm như thế chất bổ dưỡng của rau sẽ tan trong nước và các chất bẩn cũng có thể ngấm vào rau cảị Muốn giữ rau tươi thì cho vào tủ lạnh sau khi rửa, lặt sạch sẽ, hoặc nếu để ngoài thì thỉnh thoảng tưới nước vào rau 3- Đậu hạt: Loại thực phẩm này có thể để lâu hàng tháng không bị hư hỏng nhưng phải giữ ở những nơi khô ráo và mát mẻ Phải để đậu torng hộp bằng kim loại hoặc lu hủ có nắp chặt mới có thể d ự trữ lâu ngày Tai hại do côn trùng gây ra có thể giảm đi nếu sấy đậu với nhiệt độ thấp chừng 20 phút. Riêng gạo, nếp thì nên để vào lu một cục than nước để hút chất ẩm, như thế sẽ lâu bị mốc và sâu mọt. 4- Trứng: Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  9. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Dùng giấy lau sạch trứng, cất nơi mát mẻ, giữ không bị va chạm mạnh làm bể vỏ trứng 5- Trái cây: Chỉ nên rửa trái cây trước khi ăn Muốn dự trữ trái cây tươi như xoài, đu đủ hoặc chuối trong vài ngày, nên lau khô và cất trong tủ lạnh Cam, quýt, bưởi có thể để trong vài tuần nếu được cất giữ nơi khô ráo và nhờ có núm dầy nên chỉ cần bôi vôi trên đầu cuống, vì trùng khó xâm nhập vào Ở nhiệt độ cao, trái cây mau chín, vì vậy cần dành trữ nơi mát mẻ hay trong tủ lạnh Ngoài ra, người ta còn có thể dự trữ trái cây bằng cách làm mứt, vào chai và hộp với nước đường, vì đường có tác dụng ngăn trợ sự sinh sản của vi trùng, do đó trái cây không bị hư hỏng. Phương pháp phơi, sấy để làm mất lượng nước trong trái cây, vì thiếu nước vi trùng và meo mốc không thể sinh sản được. Nhưng cần bảo quản trái cây phơi khô tránh bụi bặm và côn trùng bằng cách phủ lên trái cây 1 lớp vải dệt thưa khi đem phơi khộ Trái cây phơi khô nên cất trong hộp hoặc thùng thật kín. 6- Sữa: Sữa là thức ăn bổ dưỡng nhưng chỉ có giá trị lúc còn tươi tốt. Sữa cất giữ không cẩn thận hoặc để quá hạn sẽ mất bô/? dưỡng mà còn trở nên rất độc cho sức khỏẹ Nên giữ sữa nơi khô sạch, mát lạnh Sữa tươi đã khui nắp, hoặc sữa đã pha phải dùng ngay, không được để lâu quá 2 giờ nếu không có tủ lạnh Sữa đặc đã khui phải đậy nắp kín và không dùng sữa hộp đã khui quá 5 ngày Sữa bộ để kỹ trong lon, có nắp kín có thể giữ lâu trong nhiều tháng. Sữa bột bị đóng thành cục cứng, mất mùi thơm không nên dùng.  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  10. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Tuyên truyền phòng chống HIV HIV là virút gây suy giảm miễn dịch ở người, viết tắt từ tiếng Anh: Human Immuno-deficiency Virus. Có 2 loại HIV, đó là HIV 1 và HIV 2. AIDS là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, do virút HIV gây ra. AIDS viết tắt từ tiếng Anh: Acquired Immuno Deficiency Syndrom. Trước đây, bệnh này được gọi là SIDA (viết tắt từ tiếng Pháp: Syndrome d'Immuno Deficience Acquise), nhưng do tên này trùng với tên của Tổ chức phát triển quốc tế Thụy Điển SIDA và tên của Tổ chức CIDA (Canađa) cũng gọi là "Si đa" nên thống nhất gọi là AIDS để tránh nhầm lẫn và phù hợp với tên quốc tế. I. Đường lây truyền và không lây truyền HIV 1. Đường lây truyền HIV HIV lây truyền qua 4 đường: - Đường tình dục - Máu và các chế phẩm máu - Tiêm chích ma túy - Đường mẹ truyền sang con trong thời kỳ mang thai và cho con bú 2. Đường không lây truyền HIV: Giao tiếp thông thường: ôm, hôn, bắt tay, nói chuyện,ho, hắt h ơi,... Dùng chung nhà tắm, bể bơi, bồn tắm, mặc chung quần áo, ngồi chung ghế,... Ăn uống chung bát đũa, cốc chén,... Côn trùng và súc vật không lây truyền HIV: ruồi, muỗi, chấy, rận, chó, mèo, gà, chim,... II.HIV/AIDS với phụ nữ và trẻ em 1.HIV/AIDS với phụ nữ: Phụ nữ dễ bị nhiễm HIV hơn nam giới: Phụ nữ có nguy cơ bị lây nhiễm cao hơn nam giới từ 2 đến 4 lần. Do các lý do sau: - Lý do sinh học: Diện tích niêm mạc âm đạo của phụ nữ lớn h ơn rất nhiều so với diện tích niêm mạc dương vật của nam giới. Thêm vào đó, phụ nữ là người nhận tinh dịch, mà số lượng HIV trong tinh dịch lại cao h ơn nhiều so với dịch tiết âm đạo. Lý do y học: Do tình trạng sức khoẻ và phụ nữ có nhiều khả năng phải truyền máu trong lúc mang thai, trong khi sinh đẻ,... Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
  11. Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em www.mamnon.com Lý do xã hội: Nam giới thường có nhiều bạn tình hơn nữ giới. Trong quan hệ tình dục, nam giới thường giữ vai trò chủ động. Hơn nữa, phụ nữ thường bị lệ thuộc về kinh tế vào người đàn ông nên trong gia đình, họ chỉ đóng vai trò thứ yếu, chính vì thế việc người phụ nữ chủ động phòng tránh lây nhiễm HIV là rất khó. 2. HIV/AIDS với trẻ em: - Số phụ nữ và trẻ em nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ngày càng tăng - Trẻ em có thể bị nhiễm HIV/AIDS qua cả 3 đường: + Mẹ nhiễm HIV lây sang trẻ khi mang thai, lúc sinh và khi nuôi con bằng sữa mẹ, đây là nguyên nhân gây nhiễm HIV chủ yếu ở trẻ em. + Đường máu: Trẻ em cũng dễ bị nhiễm HIV qua đường máu, tiêm chích, xỏ lỗ tai,... không đảm bảo vô trùng + Đường tình dục: Trẻ em có thể bị lây nhiễm HIV vì bị lợi dụng tình dục, hãm hiếp hoặc bị buộc làm mại dâm,... - Trẻ em nhiễm HIV sớm phát bệnh, dễ tử vong và việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn hơn. - Những nơi đại dịch HIV/AIDS hoành hành phải chịu những hậu quả nặng nề như: số trẻ mồ côi ngày càng gia tăng, nhiều trẻ em thất học, ốm yếu, ăn xin, trộm cắp, thành nạn nhân của lao động cưỡng bức, khai thác tình dục hoặc bị cưỡng hiếp,...  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản