GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP

Chia sẻ: bibocumi18

1. Xu hướng đại chúng hoá giáo dục đại học: Cùng với sự phát triển nhanh về mọi mặt của xã hội, giáo dục đại học đã chuyển mạnh từ nền giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống văn hoá và nguồn nhân lực trình độ cao. Số trường đại học mới thành lập gia tăng nhanh chóng cùng với sự đa dạng hoá các loại hình đào tạo [ tại chức, đào tạo từ xa, đào tạo liên thông…] và sự phân tầng các trường về mặt chất...

Nội dung Text: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP

Xu hướng đại chúng hoá giáo dục đại học: Cùng với sự phát triển nhanh
1.
về mọi mặt của xã hội, giáo dục đại học đã chuyển mạnh từ nền giáo dục tinh hoa
sang giáo dục đại chúng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống văn hoá và
nguồn nhân lực trình độ cao. Số trường đại học mới thành lập gia tăng nhanh
chóng cùng với sự đa dạng hoá các loại hình đào tạo [ tại chức, đào tạo từ xa, đào
tạo liên thông…] và sự phân tầng các trường về mặt chất lượng [ bằng tốt nghiệp
các trường có giá trị khác nhau ]. Các tổ chức độc lập quốc gia hay quốc tế định kỳ
đánh giá và xếp hạng các trường lớn ở các nước. Bên cạnh những trường đại học
nổi tiếng vẫn tiếp tục tuyển sinh khắc khe, nhiều trường đã mở rộng cửa cho đầu
vào, nhưng kiểm soát chặt đầu ra, nhất là các trường đại học mở.

Thay đổi mục tiêu đào tạo theo yêu cầu phát triển xã hội: Trong thời
2.
đại thông tin, khối lượng kiến thức của nhân loại gia tăng nhanh chóng, ít nhất là
gấp đôi qua mỗi thập niên, thì vấn đề quan trọng hơn không phải là truyền đạt cho
sinh viên bao nhiêu kiến thức, mà là trang bị cho sinh viên khả năng tự thu thập
kiến thức, tự thân phát triển và năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Vì
vậy, người ta nói: dạy ở đại học trên hết là dạy cách học cho sinh viên. Sự thành
đạt của con người ngày nay dựa chủ yếu vào những kiến thức tự học chứ không
phải là số kiến thức hạn chế do thầy truyền đạt ở nhà trường. Vì vậy, nếu xưa kia
mục tiêu giáo dục đại học tập trung vào việc trang bị kiến thức hàn lâm cho sinh
viên thì ngày nay bên cạnh mục tiêu về kiến thức và đạo đức nghề nghiệp, những
trường danh tiếng còn đề ra nhiều mục tiêu thiết thực không kém phần quan trọng
khác về các mặt: kỹ năng thực hành, khả năng tự học suốt đời [life-long learner],
óc phê phán và sáng tạo [critical & creative thinking], năng lực giải quyết vấn đề
[problem solving], ý thức lập nghiệp [entrepreneurial mentality], kỹ năng giao tiếp
[communication skill], làm việc tập thể [team work], phát triển bền vững và ý thức
về môi trường [sustainable development & environmental commitment], kiến thức
xã hội, đạo đức, thẩm mỹ và tất nhiên cả ngoại ngữ.

3. Thay đổi vai trò của người thầy và cách học của sinh viên: Nếu trước
kia vai trò chính của người thầy là truyền đạt kiến thức còn sinh viên là người tiếp
thu kiến thức chủ yếu từ thầy, thì ngày nay vai trò chủ yếu của người thầy là
hướng dẫn sự học tập [facilitator of learning] của sinh vi ên, còn sinh viên tiếp thu
kiến thức chủ yếu thông qua tự học và thảo luận nhóm, dưới sự hướng dẫn của
thầy, theo phương châm lấy sinh viên làm trung tâm [student centered learning].
Để làm được điều này, các trường đã áp dụng nhiều phương pháp dạy và học phát
huy tính năng động, sáng tạo của sinh viên như nghiên cứu tình huống [case
study], học trên cơ sở giải quyết vấn đề [problem based learning], học qua khám
phá [learning by discovery]…Internet và các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã
được tích cực huy động để hỗ trợ cho việc học tập của sinh vi ên. Sinh viên ngày
càng tham gia nhiều hơn và có hiệu quả hơn vào các công trình nghiên cứu khoa
học để rèn luyện năng lực sáng tạo.

4. Xu hướng giảm sự bao cấp của nhà nước về tài chính: Sự phát triển
mạnh quy mô đào tạo cùng với sự gia tăng nhanh chi phí đào tạo đại học đã trở
thành gánh nặng tài chính đối với các chính phủ. Nếu trước kia các trường đại học
công chủ yếu tồn tại nhờ vào nguồn tài chính công [ở một số nước, ngay cả các
trường tư cũng được nhà nước tài trợ một phần], thì nay một số nước như Thái
Lan và cả nước giàu như Nhật Bản cũng đang thực hiện chính sách giảm dần mức
trợ cấp của nhà nước cho các trường đại học công và cho phép các trường tự
chủ về tài chính. Điều này bước đầu có gây một số khó khăn cho các trường,
nhưng ngược lại cũng thúc đẩy các trường chi tiêu hợp lý hơn, nâng cao tính năng
động và hiệu quả hoạt động trong các lĩnh vực: hợp đồng nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ, tìm nguồn tài trợ, sản xuất và dịch vụ…Mặt khác, học phí
là nguồn tài chính quan trọng nhất của trường, vì vậy các trường cũng phải nâng
cao chất lượng đào tạo để cạnh tranh thu hút nhiều sinh viên, kể cả sinh viên nước
ngoài vào học. Để nhanh chóng nâng cao chất lượng đào tạo, nhiều trường đại học
ở các nước Đông Nam Á đã mở rộng hợp tác với các trường đại học danh tiếng
Âu-Mỹ và giảng dạy bằng tiếng Anh theo chương trình của các trường đó.

Mở rộng quyền tự chủ của các trường: Ngoài những trường ở các nước
5.
đã có quy chế tự chủ từ trước, xu hướng mở rộng quyền tự chủ đại học, nhất là tự
chủ trong đào tạo, được đẩy mạnh ở những n ước vốn chưa có truyền thống này,
tiêu biểu là Trung Quốc, một nước vốn có nhiều điểm t ương đồng với nước ta về
mặt này. Bước đầu các trường đại học lớn ở Trung Quốc đã được phép cấp bằng
tốt nghiệp cho cả tiến sĩ và được quyền phong giáo sư. Quyền tự chủ giúp cho các
trường thoát khỏi việc phải vượt qua những chặn rào thủ tục hành chính không
đáng có để áp dụng những cải tiến, những biện pháp tiên tiến nhất mà hiệu quả đã
được kiểm chứng ở nhiều nước.

Xu hướng trường đa ngành: Ưu thế quan trọng nhất của các trường đa
6.
ngành so với trường đơn ngành là tận dụng hiệu quả hơn nguồn nhân lực và cơ sở
vật chất của trường, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác liên
ngành trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đây là xu hướng đã diễn ra mạnh ở
các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và các nước Đông Âu. Ngoài các trường đa
ngành mới thành lập, nhiều trường đơn ngành trước kia đã chuyển thành các
trường đa ngành, ngay cả khi tên cũ của trường vẫn được giữ như ở Trung Quốc.

Chú trọng sự phát triển năng lực cá nhân: Các chương trình đào tạo
7.
được thiết kế linh hoạt hơn với tỷ lệ phần tự chọn cao hơn và đi đôi với nó là học
chế tín chỉ giúp cho sinh viên nhiều khả năng tự sắp xếp tiến độ học tập cũng như
chọn hướng chuyên sâu theo khả năng của mình. Nhờ vậy những sinh viên giỏi có
thể rút ngắn thời gian hoàn thành chương trình hay học thêm một ngành khác.
Những xu hướng trên đã hình thành trên cơ sở quá trình cải tiến lâu dài
các nền giáo dục đại học trên thế giới và cũng đã chứng minh được tính thích
ứng với yêu cầu phát triển của thời đại. Thật ra một số h ướng chuyển đổi nói
trên đã manh nha ở nước ta, thậm chí một số mặt đã được áp dụng ở miền
Nam từ hơn 30 năm trước. Sự chuyển biến rất chậm ở nước ta phải chăng là
do triết lý giáo dục đại học của ta về cơ bản vẫn không đổi, nên chúng ta chỉ
mới đặt một chân vào rìa của dòng chảy giáo dục đại học hiện đại. Vừa qua
Bộ GD&ĐT đã cho phép các trường trọng điểm quốc gia được đề xuất một
số chương trình đào tạo hiện đại [không bị ràng buộc bởi chương trình khung
của bộ], dựa trên cơ sở tham khảo các chương trình đào tạo của nước ngoài.
Đó thật sự là một tin vui, một chuyển biến rất đáng hoan nghênh.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản