GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG

Chia sẻ: trancongphuc

Giáo dục được coi là một hiện tượng xã hội, hiện tượng này nảy sinh, tồn tại, phát triển và tiến bộ cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người, trong đó nổi bật lên là việc các thế hệ đi trước truyền thụ lại các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm hoạt động xã hội nói chung cho các thế hệ sau.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG

GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG
1. Giới thiệu
2. Chương I: Giáo Dục Học Là Một Khoa Học
2.1 Giáo Dục Là Một Hiện Tượng Xã Hội Đặc Biệt
2.1.1 Giáo Dục Là Một Hiện Tượng Xã Hội, Một Nhu Cầu Sống Còn
2.1.2 Những Chức Năng Xã Hội Của Giáo Dục
2.1.3 Tính Quy Định Của Xã Hội Đối Với Giáo Dục
2.2 Đối Tượng Nhiệm Vụ Và Phương Pháp Của Giáo Dục Học
2.2.1 Vài Nét Về Sự Phát Triển Của Giáo Dục Học
2.2.2 Đối Tượng Của Giáo Dục Học
2.2.3 Nhiệm Vụ Của Giáo Dục Học
2.2.4 Hệ Thống Các Ngành Của Giáo Dục
2.2.5 Quan Hệ Giữa Giáo Dục Học Và Các Khoa Học Khác
2.2.6 Một Số Khái Niệm Cơ Bản Của Giáo Dục Học
2.2.7 Các Phương Pháp Nghiên Cứu Giáo Dục Học
2.3 Giáo Dục Trên Bước Đường Đổi Mới
3. Chương II: Giáo Dục Và Sự Phát Triển Nhân Cách
3.1 Một Số Khái Niệm Về Nhân Cách Và Sự Phát Triển Nhân Cách
3.1.1 Khái Niệm Con Người
3.1.2 Khái Niệm Cá Nhân
3.1.3 Khái Niệm Nhân Cách
3.1.4 Khái Niệm Cá Thể - Cá Tính - Sự Phát Triển Nhân Cách
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng phát triển nhân cách
3.2.1 Vai Trò Yếu Tố Bẩm Sinh Di Truyền
3.2.2 Vai Trò Của Môi Trường Sống
3.3 Vai Trò Của Giáo Dục
3.4 Đặc Điểm Phát Triển Nhân Cách Học Sinh Trung Học
4. Chương III: Mục Đích Và Nhiệm Vụ Giáo Dục
4.1 Mục Đích Giáo Dục
4.1.1 Khái Niệm Về Mục Đích Giáo Dục
4.1.2 Mục Đích Giáo Dục Tổng Quát
4.1.3 Mục Đích Giáo Dục Của Các Ngành Học
4.2 Những Nhiệm Vụ Giáo Dục Ở Nhà Trường
4.2 Những Nhiệm Vụ Giáo Dục Ở Nhà Trường
2.1 Giáo Dục Học Là Một Khoa Học
2.1.1 Giáo Dục Là Một Hiện Tượng Xã Hội, Một Nhu Cầu Sống Còn Của Con
Người

1. Giáo dục là một hiện tượng xã hội.
- Giáo dục được coi là một hiện tượng xã hội, hiện tượng này nảy sinh, tồn tại,
phát triển và tiến bộ cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người,
trong đó nổi bật lên là việc các thế hệ đi trước truyền thụ lại các kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm hoạt động xã hội nói chung cho các thế
hệ sau.

- Các nhà nghiên cứu lịch sử giáo dục học đã chứng minh rằng : Từ thời cổ xưa
cho đến nay, khi nói đến giáo dục là người ta nói đến những tác động làm phát
triển con người cả về thể chất lẫn tâm hồn tức là dạy dỗ, bảo ban, nuôi nấng,
chăm sóc. Xã hội ngày càng phát triển, nội dung kinh nghiệm ngày càng phong
phú và việc truyền thụ kinh nghiệm ngày càng được chuyên môn hoá dần. Trong
xã hội dần dần xuất hiện những nhà trí thức – nghề dạy học ra đời.

- Như vậy về thực chất, nếu xét theo phương diện lịch sử, giáo dục là hiện
tượng xà hội trong đó thế hệ trước truyền thụ cho thế hệ sau những kinh
nghiệm lịch sử xã hội (chứa đựng những giá trị văn hoá của xã hội, kinh nghiệm
xã hội bao gồm: Những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, niềm tin, các thái độ …Tức là
các chuẩn mực, các phương thức và các phương tiện của các hoạt động và giao
lưu của con người), thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội đó biến nó
thành kinh nghiệm của bản thân, thành nhân cách của mình để có thể tham gia
vào cuộc sống, tham gia vào hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động xã
hội khác, cũng như các mối quan hệ xã hội. Nếu xét về phương diện xã hội thì
giáo dục là sự truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội giữa
người này và người kia.

Trong quá trình lĩnh hội và sử dụng những kinh nghiệm lịch sử xã hội , nhân cách
được hình thành và ngày càng phát triển đầy đủ hơn. Trong quá trình đó các thế
hệ sau không chỉ tiếp thu, lưu trữ, giữ gìn mà còn phát triển gía trị văn hoá xã hội,
do đó góp phần phát triển xã hội. Cho nên, sự kế tục các thế hệ - đó là quy luật
của sự tiến bộ xã hội.

Có thể nói việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong
quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người là nét đặc trưng cơ bản của giáo
dục với tư cách là một hiện tượng xã hội. Nó là nhu cầu sống còn của con
người, là chức năng không thể thiếu được của xã hội loài người. Giáo dục nảy
sinh là do nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội. Nhờ có giáo dục, các thế hệ
đang lớn mới có thể tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động lao động sản xuất,
các hoạt động xã hội khác cũng như các mối quan hệ xã hội. Nếu không có giáo
dục sẽ không có sự tái sản xuất ra các hoạt động lao động, các hoạt động xã hội
khác cũng như các mối quan hệ xã hội. Như vậy, chính giáo dục đã tái sản xuất
ra xã hội loài người.

- Các nhà giáo dục học đã xem giáo dục như là “quá trình xã hội hóa“ liên tục của
con người. Đặc trưng của giáo dục được thể hiện ở chỗ : Được tổ chức và định
hướng tỉ mỉ, được tiến hành trong các tổ chức được hình thành vì mục đích giáo
dục con người, có những chuẩn mực được xác định một cách tương đối.

Trong lịch sử loài người đã có nhiều kiểu giáo dục khác nhau phù hợp với từng
thời kì lịch sử của xã hội loài người. Ở mỗi trình độ phát triển của một xã hội
nhất định trong một giai đoạn lịch sử cụ thể bao giờ cũng có một nền giáo dục
tương ứng, trong đó mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và hình thức tổ
chức giáo dục đều thể hiện phản ánh tính quy định của các điều kiện lịch sử – xã
hội cụ thể đối với giáo dục. Vì vậy, giáo dục luôn mang tính phổ quát, tính nhân
văn, phản ánh những gía trị văn hóa đạo đức thẩm mĩ chung nhất của nhân loại,
nhưng xét một cách sâu sắc cụ thể thì giáo dục ở mỗi nước, mỗi dân tộc luôn
chứa đựng những yếu tố truyền thống, mang bản sắc riêng.

2. Đặc điểm phổ biến của giáo dục là ở chổ giáo dục tồn tại trong bất cứ
thời kì lịch sử nào của xã hội loài người.
Trong bất cứ một xã hội nào, mục đích của giáo dục đều là chăm sóc, bồi dưỡng
con người ở lứa tuổi đi học, là truyền thụ một cách có ý thức cho thế hệ trẻ
những kinh nghiệm xã hội, những giá trị văn hóa – tinh thần của loài người và
của dân tộc nhằm làm cho thế hệ trẻ có khả năng tham gia mọi mặt của cuộc
sống góp phần phát triển xã hội.

Vì vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người, giáo dục mang tính phổ biến và tồn tại vĩnh viễn với
xã hội loài người.

3. Giáo dục là hiện tượng riêng biệt của xã hội loài người.
Hiện tượng giáo dục chỉ xẩy ra trong xã hội loài người chứ không thể có trong
giới tự nhiên. Các nhà xã hội học và tâm lý học tư sản đã dựa vào sự khéo léo,
tinh khôn của một số động vật như con ong xây tổ, con khỉ làm xiếc…hay đơn
giản như mèo mẹ tha chuột về cho lũ mèo con vờn, chim con tập bay và tha rác
làm tổ cùng chim lớn vv… để cho rằng động vật cũng có giáo dục. Thực ra họ đã
đánh đồng hiện tượng giáo dục của con người với hành động của động vật.

Các nhà giáo dục học Mác Xít Không phủ nhận sự khôn khéo, tinh khôn của một
số động vật. Theo họ đó chỉ là hành động bản năng của động vật dựa trên cơ
chế lặp lại hành động của tổ tiên chúng. Về cơ bản, kinh nghiệm sống của động
vật đã có sẵn.

Ví dụ : Đã là mèo thì biết bắt chuột, đã là ong thợ thì biết xây tổ có những căn
phòng hình lục lăng, vịt thì biết bơi vv…

Trong khi đó kinh nghiệm sống của con người như làm nhà, dệt vải, xẻ núi, lấp
sông và đơn giảm như biết sử dụng đôi đũa để ăn cơm vv…đều không có sẵn,
mà đứa trẻ phải học mới biết. Giáo dục là một loại hoạt động có ý thức, có mục
đích của con người. Chính giáo dục đã làm phát triển các sức mạnh thể chất và
tinh thần của con người, phát triển khả năng của con người trong việc cải tạo tự
nhiên, xã hội và bản thân nhằm làm cho cuộc sống của mình ngày càng tốt đẹp
hơn mà ở động vật không thể có được. Giáo dục là đặc quyền của con người.

2.1 Giáo Dục Học Là Một Khoa Học

2.1.2 Những Chức Năng Xã Hội Của Giáo Dục


Do giáo dục tác động đến con người cho nên nó cũng có khả năng tác động đến
các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá trình xã hội mà con người là chủ
thể. Những tác dụng của giáo dục đối với các quá trình xã hội xét về mặt xã hội
học được gọi là những chức năng xã hội của giáo dục. Có 3 loại chức năng xã
hội của giáo dục : Chức năng kinh tế - sản xuất, chức năng - chính trị xã hội và
chức năng tư tưởng - văn hoá.

Những chức năng này thể hiện vai trò của giáo dục đối với sự tồn tại và phát
triển của xã hội về tất cả các mặt.

a.Chức năng kinh tế – sản xuất
- Các nhà nghiên cứu kinh tế học giáo dục đã chỉ ra rằng : Khoa học – Giáo dục –
Sản xuất là ba bộ phận hợp thành một cơ cấu thống nhất và trở thành nhân tố
quyết định đối với kết quả của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện phát triển
của cách mạng khoa học kỹ thuật, không chỉ tăng cường mối liên hệ giữa khoa
học với sản xuất để biến khoa học thành một lực lượng sản xuất trực tiếp mà
phải thực hiện sự tác động qua lại giữa khoa học giáo dục và sản xuất. Mắt xích
quan trọng trong mối quan hệ này là quan hệ giữa giáo dục và sản xuất.

- Lao động sản xuất dù có đơn giản đến đâu cũng cần phải có sự huấn luyện để
người lao động biết lao động, có kinh nghiệm lao động. Lao động càng phức tạp,
càng hiện đại càng cần phải có sự đầu tư vào việc huấn luyện nhiều hơn.

- Hiệu quả của nền sản xuất vất chất phụ thuộc trực tiếp vào sự phát triển
chung về mặt nhận thức và trình độ chuyên môn của người lao động. Trình độ
học vấn và chuyên môn giúp cho người lao động có khả năng tiếp cận và vận
dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào lao động để tác động đến việc
hoàn thiện công cụ lao động, biến lao động thành hoạt động sáng tạo. Cho nên,
quan hệ giữa trình độ của người lao động với năng xuất lao động đã được coi là
quy luật cơ bản của nền sản xuất hiện đại. Trình độ chuyên môn của người lao
động càng cao thì năng xuất lao động càng cao.

K. Mác đã từng làm rõ mối quan hệ giữa giáo dục với sản xuất trên nền tảng của
sức lao động. Sức lao động xã hội, theo K. Mác chỉ tồn tại trong nhân cách sống
của con người. Giáo dục tái tạo nên sức mạnh bản chất của con người cho nên
giáo dục được coi là phương thức tái sản xuất sức lao động xã hội. Sức lao động
đó có thể là những thành phẩm như kỹ sư, công nhân vv…hay bán thành phẩm
như học sinh.

- Giáo dục luôn luôn phải làm nhiệm vụ bù đắp kịp thời nhân lực thiết hụt (do
nhiều nguyên nhân) trong sức sản xuất xã hội. Với sự giáo dục thường xuyên
người lao động nhanh chóng thích ứng với thay đổi, phát triển mạnh và liên tục
của nền sản xuất. Vì vậy có thể nói : Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho
cho sản xuất, là thứ đầu tư khôn ngoan và có lợi nhất. Đây là chiến lược quan
trọng của các nước phát triển và đang phát triển hiện nay.

Tóm lại : Muốn nền sản xuất phát triển xã hội phát triển thì đòi hỏi giáo dục
phải phát triển. Giáo dục phải đào tạo được một đội ngũ nhân lục lao động có
trình độ đáp ứng kịp thời với yêu cầu của nền sản xuất đó.

b. Chức năng chính trị – xã hội.
- Chức năng này thể hiện vai trò của giáo dục đối với sự phát triển xã hội về
mặt chính trị. Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội, tức là tác động đến các bộ
phận của xã hội bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm xã hội, các mối
quan hệ giữa các bộ phận đó.

- Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội nhằm góp phần biến đổi cấu trúc xã hội
theo mục đích mong muốn. Giáo dục Xã hội chủ nghĩa góp phần làm cho cấu trúc
xã hội trở nên thuần nhất, nghĩa là góp phần xoá bỏ sự phân chia xã hội thành
giai cấp, làm cho các tầng lớp xã hội xích lại gần nhau bằng cách nâng cao trình
độ văn hoá, nhận thức cho toàn thể nhân dân lao động, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc lựa chọn nghề nghiệp vv… Chẳng hạn :

Xã hội bao gồm các mối quan hệ xã hội như : Quan hệ sản xuất, quan hệ đạo
đức, quan hệ pháp quyền vv… Trong tất cả các mối quan hệ này đều chứa đựng
quan hệ giáo dục. Ví dụ : Quan hệ đạo đức xã hội chủ nghĩa chứa đựng quan hệ
giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa và được thúc đẩy bởi quan hệ này.
- Giáo dục góp phần thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu xã hội : Giáo dục dân
số và kế hoạch hoá gia đình góp phần thực hiện mục tiêu về phát triển dân số
của xã hội, giáo dục giới tính góp phần tiến tới đảm bảo sự bình đẳng nam nữ
vv…

- Chính sách ưu tiên theo vùng trong chế độ tuyển sinh hiện nay nhằm góp phần
đảm bảo nguồn nhân lực có trình độ cho các vùng ít có điều kiện phát triển kinh
tế, xã hội : Như các vùng sâu, vùng cao, vv…

c. Chức năng tư tưởng - văn hoá.
Giáo dục có tác dụng to lớn đến việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn xã
hội, xây dựng một lối sống phổ biến toàn xã hội, xây dựng một trình độ văn hoá
cho toàn dân. Giáo dục góp phần phát triển tư tưởng văn hoá bằng cách phổ cập
giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho toàn xã hội. Với một nền giáo
dục phổ thông tốt được phổ cập rộng rãi, sẽ nâng cao dân trí, làm xuất hiện và
bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước.

Tóm lại : Giáo dục đã thực hiện chức năng của công cụ tái sản xuất sức lao
động xã hội, cải biến cấu trúc xã hội, xây dựng hệ tư tưởng và nền văn hoá xã
hội. Do đo,ù giáo dục đã đáp ứng những đòi hỏi phát triển của hình thái kinh tế
xã hội về lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội và ý thức xã hội.

Muốn thực hiện được các chức năng trên đòi hỏi giáo dục cần làm cho tất cả
mọi thành viên của xã hội nâng cao về trình độ học vấn cũng như phát triển mọi
mặt nhân cách, mọi người được chuẩn bị tốt cho cuộc sống của họ. Làm thoả
mãn nhu cầu được học hành, được phát triển nhân cách của con người. Giáo dục
là một phúc lợi, một quyền sống tinh thần, một lợi ích, một hạnh phúc cơ bản
của mỗi thành viên trong xã hội.

2.1.3 Tính Quy Định Của Xã Hội Đối Với Giáo Dục

- Giáo dục luôn biến đổi không ngừng và bao giờ cũng mang tính lịch sử cụ thể.
Tính lịch sử cụ thể thể hiện:

-Tương ứng với mỗi thời kỳ phát triển của lịch sử xã hội là một nền giáo dục. Ví
dụ: lịch sử sự phát triển của xã hội loài người đã trải qua 5 chế độ xã hội khác
nhau và đã có 5 nền giáo dục tương ứng:

Chế độ cộng sản nguyên thuỷ - giáo dục cộng sản nguyên thuỷ. Về phương
pháp đặc trưng của giáo dục là phương pháp truyền kinh nghiệm qua thực tiễn
tự phát.

Chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ - giáo dục chiếm hữu nô lệ. Phương pháp dạy
học chủ yếu là truyền kinh nghiệm bằng lời.

Chế độ xã hội phong kiến - giáo dục phong kiến. Phương pháp dạy học giáo
điều.

Chế độ xã hội tư bản (xã hội tiền công nghiệp ) - giáo dục tư bản. Phương pháp
giải thích minh hoạ

Chế độ xã hội chủ nghĩa - giáo dục xã hội chủ nghĩa. Phương pháp dạy học tích
cực.

Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi nước, mỗi dân tộc khác nhau,
giáo dục một mặt mang tính phổ quát, tính nhân văn, phản ánh những giá trị văn
hoá đạo đức thẩm mỹ chung nhất của nhân loại nhưng mặt khác giáo dục lại
mang những nét khác nhau về truyền thống và bản sắc dân tộc.

Ví dụ : Cũng là giáo dục Tiểu học : Ở Việt Nam, lào, Myama …Là 5 năm;

Mông Cổ, Ba lan chỉ có 3 năm; Tiệp, Hungari, Áo là 4 năm;

Ấn Độ, Chi Lê là 8 năm ( Nhà trường hiện đại trên thế giới – Hoàng Đức Nhuận,
Hà Nội 1995. )

- Ở mỗi nước, trong mỗi giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau, giáo dục cũng
khác nhau.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, Giáo dục mầm non vào khỏang
năm 1981 tuổi bắt đầu đi nhà trẻ là 2 tháng tuổi. Năm 1991 là 6 tháng tuổi, nhưng
từ năm 1993 cho đến nay lại là 3 – 4 Tháng tuổi.

Hoặc giáo dục phổ thông ở Việt Nam (miền Bắc) trước năm 1979 là 10 năm, từ
năm 1979 là 12 năm.

- Nguyên nhân của sự khác nhau đó là do giáo dục chịu sự quy định của các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội và các quá trình xã hội như kinh tế, chính trị,
văn hoá vv…Khi các quá trình xã hội có sự biến đổi bắt nguồn từ những biến đổi
về trình độ sức sản xuất xã hội và tính chất của quan hệ sản xuất xã hội, rồi kéo
theo những biến đổi về chế độ chính trị, về cấu trúc xã hội và hệ tư tưởng xã
hội thì toàn bộ hệ thống giáo dục tương ứng cũng biến đổi theo. Mác – Aêng
Ghen đã từng nói “ Giáo dục là do quan hệ xã hội quyết định. Mục đích, nhiệm
vụ, nội dung và phương pháp giáo dục thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác
nhau “. Hồ Chủ Tịch nói : “Chế độ khác thì giáo dục cũng phải khác”.
Lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường trên thế giới và trong nước đã
khẳng định tính quy định của xã hội đối với giáo dục như là một tính quy luật
quan trọng của sự phát triển giáo dục.

Tóm lại : Mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội là mối quan hệ biện chứng, hữu
cơ, trong đó xã hội quy định giáo dục và ngược lại đến lượt mình giáo dục lại là
điều kiện, động lực để thúc đẩy xã hội phát triển về tất cả các mặt.
2.2 Đối Tượng Nhiệm Vụ Và Phương Pháp Của Giáo Dục Học
2.2.1 Vài Nét Về Sự Phát Triển Của Giáo Dục Học



a. Trong thời kỳ cổ đại, giáo dục được xem là một trong những mặt hoạt động xã
hội bình thường, trong cuộc sống hàng ngày gắn với tiến trình phát triển chung
của xã hội. Vào thời kỹ này xuất hiện các nhà tư tưởng giáo dục nổi tiếng như :
Khổng Tử (551 – 479 TCN); Xôcrát (469 – 399 TCN); Arixtôt (384 – 322 TCN);
Platôn (427 – 347 TCN).

- Xôcơrát (469 – 399 TCN) :




Trong đời, Xôcơrát là nhà giáo dục thực hành. Ông có quan niệm rất nổi tiếng :
giáo dục phải giúp con người tìm thấy, tự khẳng định chính bản thân mình, vì thế
mang giá trị nhân văn rất cao.

Trong hoạt động giáo dục ông nổi tiếng là nhà sáng tạo. Bao giờ ông cũng nêu
câu hỏi để người học suy nghĩ, tự tìm lời giải đáp.

Trong 40 năm hoạt động, ông đã nêu cao tấm gương đức hạnh của mình, tình yêu
chân lí và sự can đảm trong việc bảo vệ chân lí…

- Platôn (427 – 347 TCN) : là học trò của Xôcơrát, ông đã có công ghi lại và xuất
bản phần lớn các tác phẩm của Xôcơrát..

Theo ông, việc giáo dục trước hết liên quan với đạo đức, tâm lí học, xã hội học.
Xét theo quan điểm lịch sử giáo dục, hệ thống giáo dục do Platôn mường tượng
ra mang nặng quan điểm bất bình đẳng của xã hội nô lệ, nhưng ông đã khẳng
định được vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị
đối với giáo dục…
- Khổng Tử (551 – 479 TCN) : là nhà giáo vĩ đại của Trung Hoa cổ đại và của
nhân loại.

Ông quan niệm giáo dục con người phải nhằm mục đích đào tạo nên những
người nhân nghĩa, có phẩm hạnh.

Trong quá trình hoạt động giáo dục, Khổng Tử đã sáng tạo và vận dụng nhiều
phương pháp giáo dục tiến bộ so với đương thời. Ông đã dùng cách gợi mở, đi từ
gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích
cực suy nghĩ để nắm vững vấn đề ; ông đòi hỏi người phải luyện tập, nề nếp và
thói quen trong học tập, theo hướng “ôn cũ để biết cái mới”.

Để gắn nội dung giáo dục với cuộc sống, ông còn dùng phương pháp đối thoại,
yêu cầu học sinh liên hệ những điều đã học vào thực tế hàng ngày…

Vào thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng giáo dục đồng thời cũng là nhà khoa học,
triết học, do đó các tư tưởng giáo dục thường phát triển và được trình bày trong
các tác phẩm triết học và khoa học nói chung…

b. Ơû phương Tây, vào thời kỳ trung cổ, vai trò độc tôn của nhà thờ đã có ảnh
hưởng rất rõ nét đối với sự phát triển của nhà trường nói chung và về tư tưởng
giáo dục nói riêng. Giáo dục học chưa xuất hiện với tư cách là một khoa học độc
lập.

Ở Tây Âu, vào thời kỳ Trung cổ, triết học cùng giáo dục chủ yếu phục vụ cho
thần học. Thời ấy chỉ có các trường của giáo hội, các nhà tôn giáo chủ trương
kết hợp và dung hòa lý trí, sự phát triển trí tuệ với niềm tin tôn giáo, chính đó là
sự thể hiện nguồn gốc nảy sinh ra triết học kinh viện, nhằm chứng minh rằng
niềm tin bao giờ cũng định hướng và ở vị trí cao hơn trí tuệ, có trước trí tuệ và
khoa học. Đây cùng là cơ sở sâu xa của lối học vẹt.

Đến thế kỷ XII – XIII ở Tây âu đã hình thành ba loại trường : Trường tu viện;
trường của nhà thờ và trường dòng. Lúc đầu ở các loại trường này chỉ dạy giáo
lý, kinh bổn. Sau đó dạy thêm số học, hình học, thiên văn và âm nhạc. Bên cạnh
trường tôn giáo có hệ thống giáo dục kỵ sĩ, với nội dung giáo dục “Bẩy đức tính
của kỵ sĩ” : Cưỡi ngựa, bơi, dùng giáo, đấu kiếm, đi săn, đánh cờ, làm thơ. Thực
chất giáo dục tôn giáo và giáo dục kị sĩ ở Tây Aâu đều phục vụ cho chế độ
phong kiến thần quyền đương thời.

c. Đến cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV khi mầm mống của xã hội tư bản xuất
hiện, nhân loại bước vào thời đại phục hưng. Các nhà tư tưởng nhân văn tiên
tiến xuất hiện, tạo nên nhu cầu, động lực mới thúc đẩy giáo dục phát triển với
tư tưởng giáo dục tiến bộ : Vượt ra khỏi khuôân khổ giáo dục kinh viện – tôn
giáo, hướng về chủ nghĩa nhân văn. Các nhà nhân văn chủ nghĩa chủ trương đề
cao giá trị con người, cho rằng con người cần được phát triển toàn diện. Chính
bước quá độ từ chế độ phong kiến qua chủ nghĩa tư bản đã làm xuất hiện những
hệ thống tri thức mới ra đời, trong đó có nhiều khoa học tách ra khỏi triết học.
Giáo dục học từ đây cũng tồn tại và phát triển như là một khoa học độc lập do
công của nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc Comenxki (1592 – 1670). Ông là nhà
lý luận và là nhà tư tưởng giáo dục đã đề cao giáo dục phổ cập, việc dạy tiếng
mẹ đẻ trong các nhà trường và nêu ra luận chứng chặt chẽ trong tác phẩm nổi
tiếng : “Phép giảng dạy vĩ đại”. Rất nhiều nguyên tắc dạy học vẫn được sử
dụng đến ngày nay như : Nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tính khoa học và tính
hệ thống trong dạy học vv…đã được nêu bật trong tác phẩm ấy.

Sau Comenxki, xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu giáo dục học, như Lốccơ (1632 –
1701), Rútxô (1712 – 1778),… trong đó phải kể đến Petxtalogi, ông đặc biệt
nhấn mạnh tác dụng của việc kết hợp lao động với học tập, nhấn mạnh tác
dụng vai trò của trực quan trong dạy học và giáo dục và vạch ra một hệ thống
các phương pháp giáo dục chung.

Cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội tư bản, kinh tế – xã hội, văn hóa
và khoa học phát triển rất nhanh, giáo dục đã được nâng cao. Tuy vậy, mâu thuẫn
xã hội cũng đã xuất hiện và ngày càng gay gắt, tất cả đều được phản ánh rõ nét
trong hệ tư tưởng, trong đời sống xã hội.

d. Vào nửa đầu thế kỷ XIX cùng với sự phát triển chung của khoa học, giáo dục
học cũng đã phát triển và thể hiện sự đấu tranh gay gắt giữa các quan điểm lí
luận giáo dục của giai cấp tư sản và lợi ích giáo dục của nhân dân. Nhiều nhà
giáo dục tiến bộ, như A. Dixtécvéc (1790 – 1866), A. XanhXimông (1760 – 1837)
…đã tiếp tục phát triển quan điểm giáo dục của Petxtalôgi, họ không những kế
thưa tư tưởng giáo dục tiến bộ của ông mà còn phát triển, làm phong phú thêm,
xây dựng cơ sở cho các quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa về sau, nâng cao
tầm tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong giáo dục.

e. Cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác vào những năm 40 của thế kỷ XIX,
giáo dục học tiếp tục phát triển với cơ sở phương pháp luận khoa học, làm cho
giáo dục học tiếp thu, kế thừa và phát huy được toàn bộ thành tựu của các tư
tưởng giáo dục tiến bộ của nhân loại, gắn liền với sự phát triển và tiến bộ của
giáo dục với công cuộc đấu trành giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức bóc
lột, mọi tệ nạn xã hội, góp phần tổ chức lại xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với sự phát triển những giá trị tinh hoa trong di sản giáo dục của nhân loại,
học thuyết Mác – Lênin về giáo dục đã chứng minh một cách khoa học các vấn
đề có tính quy luật trong giáo dục như : Sự hình thành con người, Tính quy định
của kinh tế - xã hội đối với giáo dục, tính lịch sử của giáo dục trong tiến trình
phát triển của xã hội và vai trò của giáo dục trong điều kiện xã hội có giai cấp.
Những luận điểm trên đã được xem là các quan điểm cơ bản, có vai trò định
hướng cho mọi quá trình nghiên cứu, ứng dụng các vấn đề lý luận và thực tiễn
giáo dục, giúp cho giáo dục hXplainọc ngày càng phong phú và phát triển sâu
rộng như nay.



2.2 Đối Tượng Nhiệm Vụ Và Phương Pháp Của Giáo Dục Học

2.2.2 Đối Tượng Của Giáo Dục Học


Đối tượng của giáo dục học : Đó là quá trình giáo dục với hàm nghĩa rộng, bao
quát toàn bộ các tác động giáo dục và dạy học được định hướng theo mục đích
xác định, được tổ chức một cách hợp lí, khoa học nhằm hình thành và phát triển
nhân cách của người học.

Quá trình giáo dục (theo nghĩa rộng) còn gọi là quá trình sư phạm tổng thể có các
đặc điểm sau:

- Là một dạng vận động và phát triển liên tục của các hiện tượng, các tình huống
giáo dục và dạy học, được tổ chức thực hiện theo những quy trình xác định.

- Là một dạng vận động xã hội, có quan hệ (gián tiếp) với các quá trình khác
(kinh tế, chính trị, văn hóa.v.v..) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo
quy luật của giáo dục ).

- Trong quá trình giáo dục luôn luôn có sự tác động qua lại của các thành phần
tham gia : người dạy, người học, trong đó nhà giáo dục giữ vai trò chỉ đạo và
người học là chủ thể hoạt động độc lập, sáng tạo nhằm chiếm lĩnh các giá trị
văn hóa khoa học kĩ thuật, đạo đức thẩm mĩ phù hợp với định hướng chung của
mục đích giáo dục, đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển tiến bộ xã hội.

Quá trình sư phạm tổng thể bao hàm nhiều quá trình sư phạm bộ phận : Quá
trình dạy học, quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) nhưng khi xem xét chúng với tư
cách là đối tượng chung của giáo dục học, người ta không đi vào chi tiết mà chỉ
phản ánh những yếu tố thể hiện những quy luật chung của việc giáo dục của
quá trình sư phạm chung. Qúa trình sư phạm tổng thể cũng như quá trình giáo
dục bộ phận đều được tạo bởi nhiều yếu tố như mục đích giáo dục, nội dung
giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục, các phương tiện,
thiết bị giáo dục và dạy học, hiệu quả và chất lượng giáo dục… Để quá trình
vận hành được phải có các lực lượng: Nhà sư phạm, học sinh, các lực lượng này
hoạt động trong mối tương quan biện chứng của quá trình và trong những điều
kiện không gian và thời gian xác định.

Tất cả đều bị chi phối bởi tính quy định của các quá trình kinh tế - xã hội, các
nhân tố lịch sử xã hội cụ thể. Tất cả các thành phần, các yếu tố kể trên tham gia
trong quá trình cũng đều là đối tượng nghiên cứu của giáo dục học.

2.2 Đối Tượng Nhiệm Vụ Và Phương Pháp Của Giáo Dục Học

2.2.3 Nhiệm Vụ Của Giáo Dục Học


Giáo dục học có các nhiệm vụ sau :

- Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các vấn đề thuộc phạm trù phương pháp
luận khoa học giáo dục, đảm bảo tiếp cận với xu thế phát triển mới mẻ, đa
dạng của giáo dục và khoa học giáo dục ở nước ta và của thế giới trong giai
đoạn mới.

- Nghiên cứu đổi mới, mở rộng nội dung và phạm vi nghiên cứu các vấn đề lý
luận và thực tiễn giáo dục như nội dung nghiên cứu về mục đích giáo dục, nâng
cao tính khả thi, vận dụng lí luận về mục đích giáo dục vào các lĩnh vực giáo
dục, giải quyết các mâu thuẫn, bất cập giữa lí luận và thực tế giáo dục đang đổi
mới và phát triển.

- Nghiên cứu các hoạt động giáo dục trong điều kiện cơ chế thị trường, từ đó
phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, nêu bật được những yếu tố tái hiện tính quy
luật của các hiện tượng giáo dục trong xu thế xã hội hóa, đa dạng hóa giáo dục,
phát huy mọi tiềm tàng của xã hội và của từng cá nhân trong quá trình thực hiện
các mục tiêu, các yêu cầu giáo dục.



2.2 Đối Tượng Nhiệm Vụ Và Phương Pháp Của Giáo Dục Học

2.2.4 Hệ Thống Các Ngành Của Giáo Dục Học



- Lịch sử giáo dục học : Muốn phát triển đúng hướng, giáo dục học luôn phải
vận dụng “nguyên tắc lịch sử trong nội dung và phương pháp nghiên cứu”. Như
vậy, lịch sử giáo dục học có vai trò quan trọng trong hệ thống các khoa học giáo
dục trước hết đối với giáo dục học. Nhờ quán triệt quan điểm đối với các hiện
tượng giáo dục (của các thời đại khác nhau) nhà nghiên cứu sẽ phát hiện đúng
đắn bản chất xã hội của giáo dục ở từng thời đại và hiểu được tiến trình phát
triển và đổi mới liên tục của giáo dục.

Lịch sử giáo dục cung cấp cho giáo dục học các tư tưởng giáo dục tiên tiến, kiệt
xuất, dựa trên sự kế thừa có chọn lọc có phê phán các thành tựu và lí luận giáo
dục có giá trị trong nước và trên thế giới, giúp cho giáo dục học luôn phát triển,
luôn đổi mới, bắt kịp xu thế của thời đại.

- Giáo dục học nằm trong hệ thống của khoa học giáo dục nhưng bản thân nó
cũng bao gồm nhiều phân môn khác nhau như: giáo dục học vườn trẻ, mẫu giáo,
giáo dục học cho lứa tuổi đi học.

Trong thực tế giáo dục học còn được nghiên cứu và giảng dạy ở từng ngành
chuyên môn – nghề nghiệp (giáo dục học y học, giáo dục học quân sự, giáo dục
học kĩ thuật…). Tuy đối tượng phục vụ có khác nhau, nhưng các phân môn giáo
dục học kể trên đều có cơ sở chung là lí luận giáo dục học đại cương, từ những
kiến thức và kĩ năng này mà vận dụng, đáp ứng cho việc giáo dục ở những lĩnh
vực khác nhau.

- Ngành giáo dục học chuyên biệt (đặc biệt) cũng là một bộ phận của giáo dục
học có nhiệm vụ chuyên nghiên cứu những vấn đề dạy học và giáo dục những
trẻ có tật nguyền về thị giác, thính giác hoặc chậm phát triển về ngôn ngữ, trí
tuệ.

- Đối với thực tiễn hoạt động ở nhà trường các bộ môn phương pháp dạy học
bộ môn có vai trò quan trọng như : Bộ môn phương pháp dạy học toán, văn, sử,
địa, sinh, kĩ thuật, v.v..còn gọi là “lí luận dạy học bộ môn


2.2 Đối Tượng Nhiệm Vụ Và Phương Pháp Của Giáo Dục Học

2.2.5 Quan Hệ Giữa Giáo Dục Học Và Các Khoa Học Khác


Giáo dục là một hiện tượng xã hội. Giáo dục học là một khoa học xã hội, nó có
liên quan mật thiết với các khoa học, trước hết là với các khoa học xã hội.

Giáo dục học có liên quan mật thiết với nhiều ngành khoa học như đạo đức học,
mỹ học, kinh tế học, văn học…

* Với triết học Mác - Lê nin : Triết học Mác - Lê nin là nền tảng khoa học cho sự
phát triển của khoa học giáo dục.
Đồng thời có một số vấn đề mà cả hai ngành khoa học này cùng quan tâm nghiên
cứu. Đó là các vấn đề :

- Sự hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa và mục đích giáo dục xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.

- Mối liên hệ giữa quá trình giáo dục với các quá trình xã hội khác.

- Mối liên hệ giữa tập thể và cá nhân ...

* Với đạo đức học.

Đạo đức học giúp cho giáo dục học giải quyết những vấn đề về công tác giáo
dục đạo đức, thế giới quan, tư tưởng chính trị cho học sinh.

* Với sinh lý học.

Sinh lý học là cơ sở khoa học tự nhiên của giáo dục học. Việc nghiên cứu giáo
dục học phải dựa vào những thành tựu của sinh lý học đặc biệt là sinh lý học
thần kinh cấp cao, về hoạt động của hai hệ thống tín hiệu, về sự phát triển và
vận hành của các giác quan và hoạt động của chúng ...

* Với tâm lý học.

Tâm lý học cung cấp cho giáo dục học những tri thức khoa học về các cơ chế
diễn biến và điều kiện tổ chức các quá trình bên trong của sự hình thành nhân
cách con người theo lứa tuổi trong từng hoạt động, làm cơ sở đáng tin cậy cho
việc tổ chức quá trình sư phạm.

* Trong giai đoạn hiện nay, nhiều ngành khoa học khác như điều khiển học, tin
học đang thâm nhập và được ứng dụng trong nghiên cứu về lí luận và thực tiễn
giáo dục, tạo ra những cách thức tổ chức mới, phương pháp và phương tiện mới
trong lĩnh vực giáo dục và dạy học.

Top Download Ngụ Ngôn - Cổ Tích

Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản