Giáo dục thể chất cho Hoc sinh

Chia sẻ: Nguyễn Biển | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:10

0
546
lượt xem
143
download

Giáo dục thể chất cho Hoc sinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu đào tạo của giáo dục là phát triển con người toàn diện, tăng cường bồi dưỡng cho thế hệ trẻ về năng lực trí tuệ cũng như về phẩm chất, đạo đức, nhân cách.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo dục thể chất cho Hoc sinh

  1. Lí luận Giáo Dục MỞ ĐẦU “GIÁO DỤC LÀ QUỐC SÁCH HÀNG ĐẦU ” Mục tiêu đào tạo của giáo dục là phát triển con người toàn diện, tăng cường bồi dưỡng cho thế hệ trẻ về năng lực trí tuệ cũng như về ph ẩm ch ất, đạo đức, nhân cách. Mục tiêu giáo dục toàn diện phải hội đủ các mặt: Đức - Trí - Thể - Mỹ - Lao động hướng nghiệp, trong đó thể chất là cơ sở để tiếp nhận các mặt còn lại và là chìa khoá để nâng cao tầm vóc, th ể trạng cho h ọc sinh. Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục, mà nội dung chuyên bi ệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người. Trong quá trình học thể chất giúp học sinh thi ết l ập mối quan hệ với bạn bè, hình thành cho trẻ thói quen, tính kiên nhẫn và s ự năng động trong luyện tập, từ đó dần hình thành nhân cách cho trẻ. Giáo d ục th ể ch ất là một quá trình giáo dục đồng thời cũng là một hoạt động văn hoá xã hội, lấy sự phát triển cơ thể, tăng cường thể chất, nâng cao sức khoẻ làm đặc trưng cơ bản. Không những thế, giáo dục thể chất còn giúp hình thành ở học sinh những kĩ năng ứng xử, giao tiếp, những hành vi đạo đức đúng đắn khi luy ện tập. Đồng thời còn góp phần giáo dục lối sống tích cực, lành m ạnh và b ồi dưỡng các phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh để đáp ứng được những gì mà xã hội, đất nước đang mong đợi ở thế hệ trẻ. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, vấn đề giáo dục thể chất trong các cấp bậc học nói chung, bậc tiểu học nói riêng còn tồn tại nhiều bất c ập. Vi ệc giáo dục thể chất cho học sinh chưa nhận được sự quan tâm đúng m ức t ừ phía gia đình, nhà trường và xã hội. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển -1–
  2. Lí luận Giáo Dục thể trạng, sức khoẻ của trẻ, gây mất cân đối, hài hoà giữa phát triển trí tuệ, thể chất và phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế của cả nước với những khu kinh tế sầm uất, dân số đang ngày một gia tăng cũng không tránh kh ỏi những bất cập trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục thể chất ở bậc tiểu học. NỘI DUNG Thực trạng giáo dục thể chất trong các trường tiểu học tại I. thành phố Hồ Chí Minh. “Năm học 2005 – 2006, thành phố Hồ Chí Minh có 809 trường ph ổ thông, trong đó tập trung nhiều nhất là cấp tiểu h ọc (53,26%). Bình quân m ỗi xã, phường có 1,44 trường tiểu học. Số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia 5,9% (27/457). Năm học này, sĩ số bình quân/ lớp là 36,1 h ọc sinh, sĩ s ố này so với qui định của bộ thì mỗi lớp cao hơn 1,1 học sinh, trong đó các qu ận n ội thành số học sinh bình quân trên một lớp là 38,5 học sinh cao h ơn khu v ực ngoại thành 3 đến 4 học sinh”(1). Nhìn chung thì số học sinh tiểu học ở thành phố được đầu tư đi học với số lượng cao hơn so với các vùng miền, đ ược trang bị đầy đủ về cơ sở vật chất, kĩ thuật, trang thiết bị h ọc tập, giảng dạy… 1. Thuận lợi Nhìn chung, ở các trường Tiểu học, các giờ học nội khóa được thực hi ện tương đối nghiêm túc. Trong đó, môn thể dục cũng tương đối ổn định và đi vào nề nếp. -2–
  3. Lí luận Giáo Dục Bên cạnh đó, các phong trào ngoại khóa thể dục thể thao, các môn bơi lội, bóng chuyền… ngày càng nhiều, các giải thể thao như cờ vua, cờ t ướng… và Hội khỏe Phù Đổng cũng được học sinh tham gia tích cực.. Nh ờ vậy, thành tích về thể thao ngày càng được nâng dần. Trong chương trình học, môn thể dục cũng được phân chia ra cho t ừng lớp để mỗi lớp có thời gian, có giáo viên giảng dạy và có sân bãi, d ụng c ụ đ ể tập luyện. Để đảm bảo sức khỏe cho h ọc sinh, s ự thoải mái trong khi t ập luyện, nhiều trường học cũng đã triển khai và tạo điều kiện cho học sinh được mặc đồng phục khi học môn thể dục. Hoạt động giáo dục thể chất trong nhà trường đã được sự quan tâm, hỗ trợ từ các tổ chức Xã hội. “Cụ thể, trong thời gian từ năm 2006-2010, 10 t ỉ đồng dành cho chương trình “Tăng cường giáo dục thể chất và các hoạt động vui chơi ngoại khóa cho trẻ em” là thông tin được Bộ Giáo Dục - Đào tạo và quỹ Unilever Việt Nam công bố ngày 25-7 tại Hà Nội. Để thực hiện điều đó, quỹ Unilever thuộc công ty Unilever Việt Nam đã tiến hành tri ển khai chương trình “Sân chơi vì sự phát triển toàn diện trẻ em Việt Nam”(1). Quỹ này đã đầu tư xây dựng sân chơi tiêu chuẩn quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh và đang ngày càng được mở rộng. Năm 2006-2010, dự kiến qu ỹ sẽ đầu tư mua sắm và lắp đặt đồ chơi, thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục thể chất cho các trường Tiểu học. Ngoài ra cũng sẽ có hàng trăm bộ thi ết bị vui chơi vận động cho các trường Tiểu học. “Theo Tiến sĩ Trịnh Quốc Thái, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học cho biết: Việc đầu tư thiết bị vui ch ơi v ận động cho các trường mỗi năm trị giá 6 tỉ đồng” (2). Với các thiết bị này, các em có điều kiện rèn luyện các kỹ năng vận động nhằm phát triển th ể lực và nhân -3–
  4. Lí luận Giáo Dục cách đạo đức cũng như tạo cơ hội cho các em được vui chơi ngoài trời giúp tinh thần thoải mái, vui vẻ sau những giờ học mệt mỏi trên lớp. Hàng năm số lượng giáo viên tăng dần, trung bình tăng 2,95% một năm. Số giáo viên bình quân trên mỗi lớp ở cấp tiểu học có cao hơn qui định. Với số lượng giáo viên đứng trên lớp tăng thì có được nhiều tiết học hiệu quả hơn và học sinh có được sự quan tâm tận tình của giáo viên hơn, giáo viên có nhiều thuận lợi trong việc nắm bắt tình hình học tập. Đấy là nhìn mặt bằng chung nhưng so với bộ môn giáo dục thể chất ở tiểu h ọc thì không ít nh ững khó khăn hạn chế. 2. Khó khăn “Về chương trình học, số tiết học giáo dục thể chất ở lớp 1 là 1 ti ết/ tuần, còn ở lớp 2 - 12 là 2 tiết/ tuần. Tuy nhiên, trên 75% s ố ti ết d ạy th ể d ục ở Tiểu học do giáo viên chưa được đào tạo chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm dạy thể dục đảm nhiệm”(1). Để đảm bảo cho việc học thể dục đạt được hiệu quả cao thì một trong những điều kiện không thể thiếu là về sân bãi, dụng cụ, phương tiện phục vụ cho việc tập luyện của học sinh. Thế nhưng hiện nay, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học môn thể dục còn rất khó khăn, thi ếu th ốn. Nhi ều tr ường không có chỗ tập cho học sinh, thậm chí có trường còn không có nơi cho h ọc sinh tập trung trong khi theo chương trình của bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành cũng như yêu cầu của môn giáo dục thể chất thì trường nào cũng phải có sân tập cho học sinh. Theo số liệu thống kê cho bi ết, sân bãi ch ỉ đáp ứng 10% nhu cầu của học sinh học thể dục. “Chịu cảnh đất chật người đông, các -4–
  5. Lí luận Giáo Dục trường học ở thành phố ngày càng bị thu hẹp lại, có trường ph ải dùng sân chơi trong trường làm sân học thể dục. Sân thể dục dường như đã trở thành … xa xỉ với học sinh. Điều kiện sân bãi đang dần dần làm biến dạng môn học thể dục”(2). Việc thiếu thốn về sân bãi còn để lại những hậu quả rất đáng tiếc. Chẳng hạn như học sinh bị chấn thương do nhảy ở hố cát không đạt tiêu chuẩn, ngất xỉu khi tập chạy bền hay bị bạn ném banh trúng do bãi tập quá chật… Những điều ấy cũng đã làm cho một số em cảm thấy dị ứng khi học môn thể dục. Nhìn chung dụng cụ, phương tiện phục vụ cho việc tập luy ện còn rất thiếu thốn, học sinh không đủ dụng cụ để tập luyện. Từ những hạn chế trên cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học còn thiếu sự quan tâm. II. Nguyên nhân gây ra những khó khăn trong việc giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học 1. Nhà trường: - Sự phân bổ thời gian giữa việc học kiến th ức và h ọc giáo d ục th ể ch ất trong nhà trường chưa hợp lí. Theo nghiên cứu của TS Trịnh Quốc Thái- V ụ trưởng Vụ giáo dục Tiểu học Bộ GD-ĐT thì thời lượng cho các hoạt đ ộng giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học Việt Nam so với tổng th ời l ượng đào tạo thuộc hàng thấp nhất thế giới. Đó là một điều bất hợp lí trong ch ương trình giáo dục thể chất ở bậc tiểu học. - Nội dung giáo dục thể chất không chỉ ít về th ời l ượng, ti ết h ọc còn chạy theo lí thuyết kĩ thuật mà quên mất mục đích tăng cường s ức khỏe và phát triển thể chất cho học sinh. Theo nghiên cứu của GS.TS D ương Nghiệp Chí- viện Thể Dục Thể Thao thì số trường tiểu học dạy có chất lượng môn -5–
  6. Lí luận Giáo Dục thể dục chỉ chiếm 6-8%. Theo chương trình đổi mới, giáo dục th ể ch ất có s ự kết hợp giữa bộ môn vận động và các môn th ể dục nh ịp điệu, t ạo cho h ọc sinh tâm lí thoải mái sau những giờ học căng thẳng. Do thiếu thốn về cơ sở vật chất, khuôn viên trường học chật hẹp, diện tích sân trường hầu như bị “ xi măng hóa” nên chương trình mang nặng tính hình th ức, nh ững môn nh ư: nhảy cao, nhảy xa… cần có thiết bị bảo hộ nhưng trên thực tế lại không có.. - Bên cạnh đó, “không ít trường quan niệm thể dục là môn ph ụ nên ít chú trọng đến chất lượng giảng dạy của thầy và h ọc t ập c ủa trò. Ch ương trình học lại nặng nề, vì thế mà “vô tư” để dành giờ th ể dục cho h ọc sinh làm bài tập”(1). Một số giáo viên lại cho rằng học sinh đến trường mục đích chỉ “lo cái đầu”, là học văn hóa còn thể dục thể thao chỉ là ph ần h ỗ tr ợ m ục đích trên và thuộc trách nhiệm của gia đình. Thể dục thể thao học đường chưa trở thành sân chơi đích thực cho học sinh trong việc đem lại giá trị phát triển th ể lực góp phần hoàn thiện toàn diện nhân cách cho học sinh. - Nhà trường chưa có sự quan tâm đúng mức đến đội ngũ giáo viên chuyên trách môn thể dục. Ở nhiều trường, đội ngũ giáo viên thiếu trầm trọng. Hầu hết giáo viên phải kiêm nhiệm nên các giờ không th ể theo đúng chương trình đề ra, ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. Ngoài ra còn chưa có chế độ chính sách riêng để họ có thể dạy tốt hơn. 2. Gia đình: - Giáo dục thể chất phát triển hình thể, sức khỏe, hình thành nh ững kĩ năng vận động, góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh. Thế nhưng, h ọc sinh tiểu học hiện nay đang chịu áp lực từ cha mẹ và phải h ọc thêm ngoài gi ờ. Một số phụ huynh không nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục thể -6–
  7. Lí luận Giáo Dục chất, sợ con mệt khi vận động nhiều nên tìm mọi cách cho con mình đ ược miễn học thể dục thay vì khuyến khích con vận động. - Với lí do nhà cửa đô thị chật chội, nhiều phụ huynh cho rằng không có đất cho con họ chạy nhảy, việc đến câu lạc bộ th ể d ục th ể thao thì không có thời gian. Thế là việc giáo dục thể chất cho con được khoán trắng cho nhà trường. “91% các bà mẹ cho biết sau giờ học, con h ọ chỉ xem truy ền hình hoặc video, thiếu vắng những chuyến dã ngoại và vận động ngoài trời”(1). 3. Học sinh: - Với áp lực nặng nề vì chương trình học quá tải, học sinh giành th ời giờ chủ yếu cho việc học. “Ngoài những giờ học chính khóa, 90,3 % dành từ 4-6 tiếng cuối tuần cho việc học thêm. Chỉ có 66,9 % dành 2 ti ếng cho vui chơi, vận động vào ngày cuối tuần”(2). - Nhiều học sinh học môn thể dục như một sự đối phó. Bởi các em chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục thể chất. Bên c ạnh đó, nội dung thể dục không có gì là mới lạ, những nguy hiểm có th ể xảy ra, học sinh bị bắt buộc không được hò hét lớn làm ảnh h ưởng đến các lớp h ọc khác trong khi thể dục là môn giúp trẻ xả Stress sau nh ững giờ h ọc căng th ẳng. Điều đó gây cho học sinh một tâm thế bị động, chán nản với vi ệc h ọc th ể chất. III. Giải pháp nâng cao hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học 1. Nhà trường Giảm tải chương trình học, nội dung chương trình học cần có sự cân bằng hơn giữa việc học và vui chơi, luyện tập thể lực. -7–
  8. Lí luận Giáo Dục Bộ giáo dục nên để sở giáo dục – đào tạo của các địa phương, các trường học tự túc về nội dung học để phù hợp với điều kiện, cơ sở vật chất của từng trường. Đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất phù hợp với điều kiện từng địa phương nhưng phải đảm bảo an toàn, theo tiêu chuẩn phù hợp, tạo cho học sinh sự lôi cuốn, thích thú. Giáo viên dạy thể dục cần được đào tạo bài bản, chính quy, trang bị kiến thức y học để họ biết cách xử trí trong những tình huống đặc biệt. Khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh để có chế độ học tập thể lực phù hợp, nếu học sinh có bệnh tật thì phải có chế độ rèn luyện thích ứng, riêng biệt. Tổ chức các buổi gặp gỡ với phụ huynh học sinh để trao đổi và có sự liên kết đồng bộ giữa các hoạt động trên lớp và gia đình. Tổ chức thường xuyên các buổi picnic, dã ngoại, vui chơi tập thể cho các học sinh. 2. Gia đình. Quan tâm hơn đến việc giáo dục thể lực cho con em mình, ý thức được tầm quan trọng của giáo dục thể chất trong học đường. Thường xuyên liên lạc với nhà trường để biết được tình hình học tập, sức khoẻ của các em. Ủng hộ, tạo điều kiện để nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho các em. Không nên đặt quá nhiều áp lực học tập, điểm số lên các em để các em được “ sống thực sự là một đứa trẻ” 3. Xã hội. -8–
  9. Lí luận Giáo Dục Xây dựng nhiều hơn các mô hình, chương trình vì trẻ em như hoạt động của quỹ Unilever. Tăng cường truyền thông để nâng cao nhận thức của cộng đồng về sự cần thiết của giáo dục thể chất cho học sinh. KẾT LUẬN Sức khỏe thể chất là cơ sở quan trọng của sức khỏe tâm th ần và trí tu ệ con người. Vì vậy, phát triển giáo dục thể chất ở trường học góp phần nâng cao sức khỏe cho học sinh nói riêng và phát triển toàn diện nhân cách nói chung được coi là một trong những nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển thể dục thể thao nước ta. Giáo dục thể chất tạo tiền đề cho h ọc sinh bộc lộ năng khiếu thể chất cũng như rèn luyện phát triển thể lực và trí tuệ. Thông qua giáo dục thể chất, rèn luyện cho h ọc sinh n ếp s ống lành m ạnh, tác phong nhanh nhẹn, thói quen tự giác; học sinh được học tập căn bản về tinh thần kỉ luật, thái độ cư xử tốt đẹp với nhau trong sinh hoạt thể dục thể thao. Tuy nhiên, thực tế giáo dục thể chất cho học sinh nói chung và h ọc sinh tiểu học nói riêng hiện nay vẫn tồn tại nhiều bất cập. Những hạn ch ế trong nhận thức ngăn cản khả năng phát triển toàn diện của các em. Th ực tế trên đòi hỏi phải có sự phối hợp thống nhất giữa gia đình, nhà trường và xã h ội trong việc chăm lo sức khỏe thể chất, tạo điều kiện để các em có th ể nh ận -9–
  10. Lí luận Giáo Dục thức đúng được tầm quan trọng của giáo dục thể chất, phát huy tối đa ti ềm năng vốn có của mình hình thành nên những phẩm chất đạo đức nhân cách, lối sống đúng và đẹp. Tất cả: “ Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người.” ( Hồ Chí Minh ) - 10 –
Đồng bộ tài khoản